Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 năm chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế đáng ghi nhận, với tốc độ tăng trưởng ổn định và đời sống nhân dân được cải thiện Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra cơ hội hội nhập sâu rộng cho nền kinh tế và doanh nghiệp Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách thức và cần có tiềm lực tài chính vững mạnh để nâng cao năng lực cạnh tranh Để đứng vững trên thị trường, doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm Việc bổ sung vốn cho tái sản xuất và đầu tư là rất cần thiết, không thể chỉ dựa vào lợi nhuận giữ lại, mà cần huy động thêm từ bên ngoài qua các hình thức như phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và vay tín dụng.
Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn giữ thói quen vay vốn truyền thống từ ngân hàng hoặc tìm kiếm nguồn vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước, dẫn đến việc bỏ qua kênh huy động vốn quan trọng là trái phiếu doanh nghiệp Việc phát hành trái phiếu thường có chi phí thấp hơn so với phát hành cổ phiếu hoặc vay ngân hàng, điều này có thể giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vốn.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán đã khẳng định nhu cầu cấp thiết tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn chú trọng vào việc phát hành cổ phiếu mà chưa khai thác đầy đủ lợi ích của việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu doanh nghiệp là một kênh huy động vốn hiệu quả và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường vốn, nhưng vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng từ các doanh nghiệp.
Mục đích của đề tài
Bài viết nghiên cứu các vấn đề lý luận về trái phiếu doanh nghiệp, phương thức phát hành và thực trạng phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam Từ đó, bài viết chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu còn tồn tại, đồng thời đề xuất giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện và phát triển bền vững thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam Mục tiêu là góp phần phát triển thị trường vốn, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư ngày càng cao cho nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp.
TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
Trái phiếu doanh nghiệp
Theo Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, trái phiếu doanh nghiệp là chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, cam kết nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác đối với chủ sở hữu trái phiếu.
1.1.2 Loại hình và hình thức trái phiếu
1.1.2.1 Trái phiếu không chuyển đổi
Trái phiếu không chuyển đổi là loại trái phiếu có thể là có bảo đảm hoặc không có bảo đảm, và có thể đi kèm với chứng quyền hoặc không Đối tượng phát hành trái phiếu không chuyển đổi bao gồm công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, trong khi trái phiếu không chuyển đổi có kèm chứng quyền chỉ được phát hành bởi công ty cổ phần.
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, cho phép nhà đầu tư chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp theo các điều kiện đã được quy định trong phương án phát hành.
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể được phát hành dưới dạng có bảo đảm hoặc không có bảo đảm, và có thể đi kèm với chứng quyền hoặc không Đối tượng phát hành trái phiếu chuyển đổi chủ yếu là các công ty cổ phần.
1.1.3 Nguyên tắc phát hành trái phiếu
Danh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn.
Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư.
Việc phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ cần tuân thủ nguyên tắc không phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế bằng đồng Việt Nam Doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhằm đầu tư cho các chương trình và dự án phải duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là 20% trong tổng mức đầu tư Đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định, còn phải tuân thủ các quy định pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài.
1.1.4 Điệu kiện để doanh nghiệp được phép phát hành trái phiếu Điều 13 Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp quy định:
Doanh nghiệp phát hành trái phiếu không chuyển đổi cần đáp ứng một số điều kiện quan trọng Đầu tiên, doanh nghiệp phải hoạt động tối thiểu một năm và có lãi trong năm trước năm phát hành, với báo cáo tài chính được kiểm toán hợp lệ Nếu phát hành trước ngày 1 tháng 4, doanh nghiệp cần có báo cáo tài chính của năm trước và báo cáo quý gần nhất có lãi Thêm vào đó, doanh nghiệp phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn và đáp ứng các yêu cầu về an toàn trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện Cuối cùng, phương án phát hành trái phiếu cần được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định hiện hành.
2 Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, doanh nghiệp phát hành ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng các điều kiện sau: a) Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền; b) Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành; c) Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng”.
Thông báo phát hành trái phiếu của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu sau khi đáp ứng đủ các nhu cầu để phát hành TPDN.
1.1.5 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là phần quan trọng của thị trường vốn, đóng vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho các doanh nghiệp Trên thị trường này, các giao dịch mua bán trái phiếu do doanh nghiệp phát hành được thực hiện Cụ thể, thị trường sơ cấp là nơi giao dịch trái phiếu mới phát hành, trong khi thị trường thứ cấp là nơi giao dịch trái phiếu đã phát hành.
1.1.5.2 Vai trò của việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Đối với nền kinh tế
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn trung và dài hạn, hỗ trợ hoạt động sản xuất và tái sản xuất mở rộng, góp phần phát triển nền kinh tế Trái phiếu doanh nghiệp cho phép các chủ thể kinh tế huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ công chúng một cách tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển Đồng thời, thị trường này cung cấp nguồn vốn dài hạn cần thiết cho các nhu cầu đầu tư, đáp ứng tiêu chí về thời hạn sử dụng và chi phí vốn, từ đó nâng cao hiệu quả phân phối và tái phân phối nguồn lực tài chính trong nền kinh tế.
Sự ra đời của thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tạo ra một kênh huy động vốn linh hoạt và hiệu quả hơn cho các doanh nghiệp so với các phương thức truyền thống Khi cần vốn để đầu tư và mở rộng sản xuất, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn với điều kiện dài hạn Điều này giúp doanh nghiệp giảm áp lực về thời gian hoàn trả so với vay ngân hàng, thường là các khoản vay ngắn hạn và có nhiều điều kiện.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi tiết kiệm thành vốn đầu tư, vừa huy động vốn nhàn rỗi để hỗ trợ nền kinh tế, vừa tạo cơ hội cho các tổ chức và cá nhân chưa đủ điều kiện kinh doanh tham gia vào thị trường chứng khoán Ngoài việc cung cấp cho doanh nghiệp một phương thức tài trợ linh hoạt, thị trường này còn mang lại cho nhà đầu tư nhiều lựa chọn để đa dạng hóa danh mục tài sản của mình.
1.1.5.3 Rủi ro khi đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Đối với các nhà đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp được đánh giá là có mức rủi ro thấp hơn so với cổ phiếu Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế, trái phiếu doanh nghiệp vẫn có thể mang đến cho nhà đầu tư những rủi ro nhất định.
Giá trái phiếu doanh nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất thị trường; khi lãi suất tăng, giá trái phiếu giảm và khi lãi suất giảm, giá trái phiếu tăng Rủi ro lãi suất là một trong những yếu tố chính mà nhà đầu tư cần lưu ý khi đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp.
Rủi ro tái đầu tư
Khi các dòng tiền từ trái phiếu được tái đầu tư, thu nhập từ hoạt động này được gọi là lãi trên lãi, phụ thuộc vào lãi suất thị trường và chiến lược tái đầu tư Rủi ro xảy ra khi lãi suất tái đầu tư giảm, đặc biệt trong các thời kỳ nắm giữ dài hạn Rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư có thể triệt tiêu lẫn nhau Sự thay đổi trong tỷ lệ tái đầu tư do biến động lãi suất thị trường được gọi là rủi ro tái đầu tư.
Rủi ro thanh toán, hay còn gọi là rủi ro tín dụng, là nguy cơ mà nhà đầu tư phải đối mặt khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu không thể thanh toán đúng hạn vốn gốc và lãi Trong khi trái phiếu chính phủ được coi là không có rủi ro thanh toán, thì trái phiếu doanh nghiệp lại tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn Rủi ro này liên quan chặt chẽ đến hệ số tín nhiệm của doanh nghiệp và được đánh giá bởi các công ty xếp hạng tín nhiệm.
Các phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Theo Nghị định 90/2011/NĐ-CP ban hành ngày 14/10/2011 của Chính phủ, hiện có bốn phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm: đấu thầu phát hành trái phiếu, bảo lãnh phát hành trái phiếu, đại lý phát hành trái phiếu, và bán trực tiếp cho nhà đầu tư trái phiếu, đặc biệt áp dụng cho các doanh nghiệp phát hành là tổ chức tín dụng.
1.2.1 Đấu thầu phát hành trái phiếu
1.2.1.1 Khái niệm Đầu thầu phát hành trái phiếu là việc lựa chọn các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu, đáp ứng đủ yêu cầu của tổ chức phát hành.
1.2.1.2 Phương thức đấu thầu trái phiếu Đấu thầu trực tiếp tại doanh nghiệp phát hành trái phiếu Đấu thầu thông qua các tổ chức tài chính trung gian. Đầu thầu thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán (Sở Giao dịch chứng khoán).
1.2.1.3 Nguyên tắc đấu thầu trái phiếu
Bí mật về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu
Bảo đảm sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu.
Cạnh tranh về lãi suất giữa các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu
1.2.1.4 Hình thức đấu thầu trái phiếu Đấu thầu cạnh tranh lãi suất: là việc các tổ chức, cá nhân tham giađấu thầu đưa ra các mức lãi suất dự thầu của mình để tổ chức phát hành hoặc tổ chức được ủy quyền được lựa chọn mức lãi suất trúng thầu Thường thì lãi suất trúng thầu là mức lãi suất thấp nhất trong các mức lãi suất dự thầu. Đầu thầu không cạnh tranh lãi suất: là phương thức phát hành mà nhà đầu tư tham gia đấu thầu đăng ký mua trái phiếu theo lãi suất trúng thầu được xác định từ kết quảcủa đấu thầu cạnh tranh lãi suất Tỷ lệ trái phiếu đấu thầu không cạnh tranh lãi suất trong từng đợt đấu thầu do doanh nghiệp phát hành quyết định nhưng tối đa bằng 30% tổng khối lượng trái phiếu thông báo phát hành của đợt đấu thầu đó.
1.2.1.5 Phí đấu thầu trái phiếu
Phí đấu thầu trái phiếu do tổ chức phát hành thoả thuận với tổ chức được ủy quyền tổ chức đấu thầu trái phiếu.
Phí đấu thầu trái phiếu được xem là một phần trong chi phí phát hành trái phiếu, và sẽ được hạch toán vào chi phí kinh doanh hoặc giá trị của dự án, công trình sử dụng nguồn thu từ việc phát hành trái phiếu, bao gồm cả trường hợp tổ chức phát hành tự tổ chức đấu thầu.
1.2.2 Bảo lãnh phát hành trái phiếu
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm
Bảo lãnh phát hành trái phiếu là quá trình mà tổ chức bảo lãnh hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc thực hiện các thủ tục cần thiết trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán Tổ chức này cũng đảm nhận việc phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại, hoặc mua lại số trái phiếu còn lại chưa được phân phối trong đợt phát hành.
Bão lãnh phát hành bao gồm cả việc tư vấn tài chính và phân phối chứng khoán.
Tổ chức bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định dựa trên số tiền thu được.
1.2.2.2 Một số phương thức bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh với cam kết chắc chắn
Tổ chức bảo lãnh cam kết mua toàn bộ chứng khoán phát hành, bất kể khả năng phân phối Thường thì, các tổ chức này mua trái phiếu với giá chiết khấu và sau đó bán lại cho công chúng với giá cao hơn, thu lợi từ chênh lệch giá.
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất
Tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành cam kết nỗ lực tối đa để bán trái phiếu ra thị trường Trong trường hợp không tiêu thụ hết số trái phiếu, tổ chức bảo lãnh sẽ hoàn trả lại cho tổ chức phát hành mà không bị phạt.
Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không
Tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán một số lượng chứng khoán nhất định; nếu không hoàn thành, toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy Trong trường hợp này, tổ chức bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả tiền cho các nhà đầu tư đã mua chứng khoán.
Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa
Tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh tự do chào bán trái phiếu tối đa theo quy định Nếu tỷ lệ trái phiếu bán được dưới mức sàn, toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng
Tổ chức bảo lãnh cam kết là người mua cuối cùng hoặc chào bán hộ số cổ phiếu của các quyền mua không thực hiện được.
1.2.2.3 Đối tượng và điều kiện tham gia bảo lãnh phát hành Đối tượng tham gia bảo lãnh phát hành gồm các công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng và các định chế tài khác được phép cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành theo quy định của pháp luật hiện hành
Các tổ chức tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu phải đáp ứng các điều kiện sau: có tư cách pháp nhân hợp pháp tại Việt Nam, vốn pháp định tối thiểu 22 tỷ VND, hoạt động kinh doanh có lãi trong năm trước (trừ trường hợp mới thành lập), và có tài khoản tiền đồng tại ngân hàng Doanh nghiệp có thể chọn một hoặc nhiều tổ chức đủ điều kiện để thực hiện bảo lãnh phát hành, và nếu chọn nhiều, cần xác định một tổ chức bảo lãnh chính theo tiêu chí của doanh nghiệp.
1.2.2.4 Quy trình bảo lãnh phát hành trái phiếu
Quy trình bảo lãnh phát hành được thực hiện dựa trên thỏa thuận giữa doanh nghiệp phát hành và tổ chức bảo lãnh, tuân thủ quy định pháp luật và thông lệ thị trường Doanh nghiệp phát hành cần ký hợp đồng bảo lãnh với tổ chức bảo lãnh đã chọn Hợp đồng này phải bao gồm các nội dung cơ bản cần thiết.
Tên, địa chỉ, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phát hành và của tổ chức bảo lãnh phát hành;
Hình thức bảo lãnh; Điều kiện, điều khoản trái phiếu;
Khối lượng bảo lãnh phát hành;
Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan;
Nguyên tắc xử lý khi có tranh chấp xảy ra;
Phí bảo lãnh phát hành do hai bên tự thỏa thuận căn cứ vào tính chất của đợt bảo lãnh phát hành trái phiếu.
1.2.2.5 Ưu và nhược điểm Ưu điểm: Phương thức này có tiến độ huy động vốn nhanh hơn phương thức bán lẻ qua kho bạc nhà nước và đại lý phát hành, khối lượng trái phiếu phát hành đảm bảo tiêu thụ từ phía nhà bảo lãnh.
Nhược điểm của việc bảo lãnh phát hành trái phiếu bao gồm chi phí cao và không nên áp dụng thường xuyên để tránh gây bất ổn cho thị trường tiền tệ Phương thức này chỉ nên được sử dụng cho các chứng khoán có mức độ rủi ro cao.
1.2.3 Đại lý phát hành trái phiếu
THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Tổng quan thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam
Năm 2000 đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam, mở ra một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế Ngày 20/07/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh chính thức hoạt động, theo sau là Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội vào ngày 8/3/2005 Sự xuất hiện của thị trường chứng khoán đã tạo ra bước chuyển biến quan trọng, giúp giảm áp lực lên nguồn vốn vay tín dụng ngân hàng, vốn là nguồn huy động chính của doanh nghiệp Đồng thời, thị trường tài chính cũng chứng kiến sự bùng nổ với nhiều quỹ đầu tư trong và ngoài nước ra đời, cùng với sự gia tăng số lượng ngân hàng thương mại cổ phần, góp phần tạo ra sức mạnh lớn cho nền kinh tế.
Năm 2010 cũng đánh dấu chặng đường 10 năm của thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường cũng đã có những phát triển vượt bậc.
Thị trường đang trải qua sự tăng trưởng mạnh mẽ và vững chắc, trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Sự gia tăng đáng kể số lượng nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước cho thấy thị trường chứng khoán đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ cộng đồng Nhận thức của nhà đầu tư về thị trường chứng khoán cũng ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của thị trường này.
Tổng giá trị Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam theo năm Nguồn:ADB
2.2 Thực trạng hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1 Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Trong giai đoạn 1994 - 2006, mặc dù Nhà nước đã có những quy định hỗ trợ doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn, nhưng phương thức này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi, với giá trị vốn huy động qua trái phiếu còn rất hạn chế so với nhu cầu của các doanh nghiệp Thị trường trái phiếu doanh nghiệp lúc này chỉ mới ở giai đoạn khởi đầu, với tổng giá trị trái phiếu lưu hành năm 2005 đạt 110 triệu USD, chiếm 2,48% toàn thị trường và 0,2% GDP Tuy nhiên, sự ra đời của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp làm quen với kênh huy động vốn mới, từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển của thị trường vốn trong tương lai.
Giai đoạn từ năm 2006 tới nay
Năm 2006, nghị định 52/2006/NĐ-CP đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam Nghị định này không chỉ cho phép các doanh nghiệp nhà nước phát hành trái phiếu mà còn mở rộng đối tượng phát hành bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng trở nên linh hoạt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Trong năm 2006, tổng giá trị trái phiếu phát hành đạt khoảng 22.000 tỷ đồng, bao gồm cả trái phiếu của các ngân hàng thương mại Trong đó, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) phát hành 6.000 tỷ đồng, Vinasin 2.600 tỷ đồng, Tổng công ty Sông Đà 260 tỷ đồng, Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) 365 tỷ đồng, và Công ty May Nhà Bè 36 tỷ đồng Ngoài các doanh nghiệp trên, nhiều tổ chức tín dụng cũng huy động vốn qua phát hành trái phiếu quy mô lớn, như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, mỗi ngân hàng phát hành 5.000 tỷ đồng, cùng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) với 220 tỷ đồng.
Từ năm 2006 đến nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, khác hẳn với giai đoạn trước đó khi thị trường còn nhỏ và chưa đáng kể.
Năm 2007, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ với khoảng 27 doanh nghiệp tham gia huy động vốn qua phát hành trái phiếu, bao gồm cả các ngân hàng thương mại, tổng giá trị vốn huy động đạt khoảng 36.000 tỷ đồng Nổi bật trong số đó là một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu quy mô lớn như Vinashin với 8.000 tỷ đồng và Tổng công ty xuất nhập khẩu và xây dựng.
Vinaconex (1000 tỷ đồng) tập đoàn công nghiệp than khoáng sản việt nam Vinacomin
(1500 tỷ đồng), ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn SCB (1400 tỷ đồng),….
Mặc dù năm 2008 chứng kiến khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng đến thị trường tài chính Việt Nam, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn có những bước phát triển đáng kể Nhiều doanh nghiệp đã chọn phát hành trái phiếu để huy động vốn, trong đó Công ty cổ phần địa ốc Sài Gòn thương tín thực hiện hai đợt phát hành với tổng mệnh giá 850 tỷ đồng vào tháng 2 và 3 Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu cũng phát hành trái phiếu trị giá 1350 tỷ đồng trong tháng 2/2008 Công ty cổ phần Vincom tiếp tục thành công từ năm 2007 bằng việc phát hành trái phiếu 2000 tỷ đồng vào tháng 4 Đặc biệt, năm 2008 đánh dấu sự xuất hiện của hai công ty mới trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Công ty cổ phần du lịch và thương mại Vinpearl với 1000 tỷ đồng trái phiếu vào tháng 5 và Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai phát hành 1000 tỷ đồng vào tháng 9.
Tiếp đà phát triển, năm 2009, trên thị trường có khoảng 39 giao dịch phát hành TPDN với tổng khối lượng vốn huy động đạt gần 45500 tỷ đồng.
TĂNG TRƯỞNG GDP VÀ GIÁ TRỊ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
GIAI ĐOẠN 2010-2015 Năm Tăng trưởng GDP (%) Giá trị phát hành trái phiếu Giá trị hiện hành
2015 6.68 42.769 142.138 Đơn vị: tỉ đồng; Nguồn:Báo đầu tư chứng khoán Và VCBS
Năm 2011, tổng khối lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt trên 6000 tỷ đồng, giảm 10% so với năm 2010, chủ yếu do các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng trái phiếu như một sản phẩm thay thế cho khoản vay Người mua chủ yếu là các tổ chức tín dụng, không chào bán ra thị trường Thị trường trái phiếu doanh nghiệp hoạt động trầm lắng do chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó hạn chế khả năng phát hành trái phiếu Ngoài ra, nhiều quy định mới nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng đã được đưa ra, góp phần làm giảm lượng trái phiếu phát hành.
Năm 2012, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do tình hình sản xuất kinh doanh chưa cải thiện Vì vậy, các doanh nghiệp đã chú trọng hơn đến việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, với tổng khối lượng phát hành trên thị trường trong nước đạt 16.144 tỷ đồng.
Năm 2014, nhiều doanh nghiệp lớn đã tích cực tìm kiếm vốn qua trái phiếu doanh nghiệp, tận dụng tình hình ngân hàng dư thừa thanh khoản và lãi suất thấp kỷ lục.
Theo thống kê của Bộ Tài chính, năm 2015, tổng giá trị phát hành trái phiếu toàn thị trường tăng 7% so với năm 2014, trong đó trái phiếu doanh nghiệp đạt 42.769 tỷ đồng, giảm 11% so với năm trước Tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp cuối năm 2015 đạt 140.000 tỷ đồng, tăng 9,38% so với cuối năm 2014, nhưng tỷ lệ phần trăm GDP chỉ tăng từ 3,25% lên 3,39% Cấu trúc kỳ hạn phát hành chủ yếu từ 3 năm trở lên, phản ánh xu hướng tăng nhu cầu vốn trung và dài hạn trong bối cảnh kinh tế phục hồi.
Trong năm 2015, trái phiếu phát hành với lãi suất thả nổi trở nên phổ biến do áp lực từ tỷ giá và lãi suất cao Biên lãi suất của trái phiếu này phụ thuộc vào từng trường hợp phát hành cụ thể, thường dao động trong khoảng 2 - 4%/năm.
2.2.2 Điểm mạnh của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn hiệu quả hơn so với phát hành cổ phiếu và vay ngắn hạn, giúp các doanh nghiệp có nguồn tài trợ cần thiết Qua đó, nó thu hút và đầu tư vốn xã hội vào doanh nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Việc phát hành trái phiếu không chỉ tăng quy mô đầu tư cho công nghệ và tài sản cố định, mà còn thiết lập cơ chế kiểm tra và kiểm soát hiệu quả kinh doanh dựa trên hiệu quả kinh tế.