Đối với chúng tôi, văn hóa Việt Nam là những gì thuộc về đời sống tinh thần, kể cả đời sống tâm linh, là sự thể hiện tư duy sáng tạo, là ý thức về những lĩnh vực trong đời sống của người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ
Mã lớp học phần : 2304ENTI0111
Nhóm thực hiện : 02
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI GIỚI THIỆU 4
DANH SÁCH THÀNH VIÊN 5
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM……… 6
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 7
CHƯƠNG I: CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KÌ NHÀ LÝ 9
1 Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thời kì nhà Lý 9
a Tình hình chính trị, xã hội 9
b Tình hình kinh tế 10
2 Các giá trị văn hóa đặc trưng 11
a Tôn giáo, tín ngưỡng 11
b Trang phục 12
c Lễ hội 14
d Các loại hình nghệ thuật 14
e Âm nhạc 15
f Văn học 15
CHƯƠNG II: KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA THỜI KÌ NHÀ LÝ TRONG KINH DOANH DU LỊCH 17
1 Khai thác các giá trị văn hóa 17
a Nghệ thuật kiến trúc 17
b Các loại hình nghệ thuật truyền thống 20
2 Đánh giá việc khai thác giá trị văn hóa thời Lý trong kinh doanh du lịch 21
a Thành tựu 21
b Hạn chế 21
3 Hình thành tour du lịch 21
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA NHÀ LÝ 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhóm 02 chúng em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô , người đã trực tiếp giảng dạy chúng
em môn học Cơ sở văn hóa Việt Nam năm học 2022 - 2023 Với chúng em, những kiến thức quý giá của môn học đã giúp em chạm tới gần hơn những kiến thức sâu rộng của bộ môn Cơ
sở văn hóa Việt Nam và những kiến thức áp dụng vào trong cuộc sống thực tiễn
Đề tài thảo luận của nhóm chúng em là : “Phân tích giá trị văn hóa đặc trưng của
Việt Nam thời nhà Lý và khai thác văn hóa đó để phục vụ kinh doanh” Do những hạn
chế về kiến thức, bài thảo luận nhất định còn không ít sai sót, hạn chế Nhóm em rất mong sẽ nhận được sự hướng dẫn, nhận xét của cô để bài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn.Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội” Đối với chúng tôi, văn hóa Việt Nam là những gì thuộc về đời sống tinh thần, kể cả đời sống tâm linh, là sự thể hiện
tư duy sáng tạo, là ý thức về những lĩnh vực trong đời sống của người Việt Nam cùng với những phương thức tiếp cận giá trị đời sống tinh thần qua quan hệ giao lưu với các dân tộc khác Môn học Cơ sở văn hóa Việt Nam giúp các bạn học hiểu những khái niệm cơ bản cần thiết trong việc tìm hiểu về một nền văn hóa, giúp các bạn học nắm được các đặc trưng cơ bản cùng tiến trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam
Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, triều đại Lý được xem như một mốc son chói lọi, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong tư duy, nhận thức của người Việt về lòng yêu nước và tinh thần độc lập, tự cường Thời Lý là thời kỳ nhà nước phong kiến củng
cố và phát triển chế độ trung ương tập quyền, nhiều cải cách về chính trị, kinh tế, quân sự được áp dụng đã đem lại những thành quả rực rỡ về nhiều mặt Trên cơ sở của nền kinh tế – chính trị đó, văn hoá, tư tưởng của dân tộc cũng được phát triển mạnh mẽ Thời kỳ này đã xuất hiện nhiều nhân tài về văn chương, nghệ thuật với nhiều tác phẩm bất hủ Từ những áng văn thơ hào hùng của Lý Thường Kiệt đến những nét chạm khắc tinh tế, uyển chuyển đầy tính sáng tạo và bay bổng trên những con rồng thời Lý,… tất cả đã tạo nên bức tranh đa sắc
về một đời sống văn hoá phong phú Song, nhìn một cách tổng quát, chúng ta sẽ thấy nổi lên
ý thức tự hào dân tộc, một hào khí Đông Á mà hậu thế mãi còn nhắc đến Tuy nhiên, hiện nay, cùng với thời gian và do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, những di sản văn hóa thời nhà Lý đang dần bị mai một và có nguy cơ bị mất đi nhanh chóng Vì vậy, nghiên cứu các giá trị văn hóa Việt Nam thời nhà Lý, trên cơ sở đó, nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa thời nhà Lý trong xã hội Việt Nam hiện nay là việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết Trong xu thế toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế, trước những cơ hội và thách thức mới, các giá trị văn hóa Việt Nam, đặc biệt là thời nhà Lý, phải trở thành sợi xoắn văn hóa quan trọng trong việc bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ trong suốt chiều dài lịch sử, mà cả hiện tại Vì những lý do nêu trên, đề tài thảo
luận của chúng tôi về “Phân tích các giá trị văn hóa đặc trưng thời nhà Lý và khai thác
các giá trị văn hóa đó để phục vụ kinh doanh” là công việc có ý nghĩa nền tảng, khẳng
Trang 5DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT Họ và tên Mã sinh viên Chức vụ Nhiệm vụ
Trang 6BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
STT Họ và tên Lớp học
phần Mã sinh viên
Mức độ đánh giá thực hiện Nhóm
trưởng Giáo viên
Trang 7CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: 20h – 20h15’ ngày 6/01/2023
Địa điểm: Google Meeting
2 Thành phần tham dự:
Thành viên nhóm 2 cơ sở văn hóa
Thành viên vắng
1 Nguyễn Thị Thùy Dung Vắng (Phép)
3 Nội dung cuộc họp
Nhắc lại đề bài: Phân tích giá trị đặc trưng của Việt Nam thời nhà Lý, và khai thác kinh tế để phục vụ kinh doanh
Nội dung cùng hướng đi qua các chương đã học
4 Tổng kết cuộc họp
Mọi người nắm bắt được công việc và tinh thần làm việc
5 Yêu cầu các thành viên:
Hiểu rõ được đề bài mà nhóm phải chuẩn bị
Hà Nội, ngày 06 tháng 01 năm 2023
Trang 8CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: 9h đến 10h30 ngày 22/2/2023
Địa điểm: Google Meeting
Thành phần tham dự: Thành viên nhóm 2 (có mặt đầy đủ)
2 Nội dung cuộc họp
Triển khai tour du lịch
Đưa ra tour du lịch
Đóng góp ý kiến và xây dựng tour du lịch hợp lý
3 Tổng kết cuộc họp
Mọi người nắm bắt được công việc và tinh thần làm việc
Sau cuộc họp phân chia công việc
4 Phân công công việc:
Word : Bùi Thị Linh Chi
Thuyết Trình : Trần Thị Hồng Ánh
Ngô Minh Chi
5 Yêu cầu các thành viên:
Phải hoàn thành đúng deadline
cần có trách nhiệm và ý thức khi nhận được nhiệm vụ
Không chấp nhận bất cứ lý do nào khi công việc của mọi người không hoàn thành deadline và không chất lượng
Hà Nội, ngày 22 tháng 03 năm 2023
Nguyễn Thị Ngọc Bích Bùi Thị Linh Chi
Trang 9CHƯƠNG I: CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA VIỆT
ra Thăng Long của Lý Thái Tổ được xem là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của vương triều Lý Trong vòng 8 thế kỷ tiếp theo, hầu hết các triều đại phong kiến kế tục nhà Lý như nhà Trần, nhà Mạc, nhà Hậu Lê đều tiếp tục dùng Thăng Long làm kinh đô và có thời gian tồn tại tương đối lâu dài
Trong thời đại này, lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền một cách lâu dài đến hơn 200 năm, khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chục năm.Vào năm 1054, hoàng đế Lý Thánh Tông đã đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt mở ra
kỷ nguyên Đại Việt rực rỡ trong lịch sử Việt Nam Nước Đại Việt dưới thời Lý bao gồm Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay Phía Bắc biên giới gần với biên giới Việt - Trung sau này, phía Tây giáp với bộ lạc Ailao, phía Nam là vương quốc Chăm- pa So với những thời đại trước bộ máy quản lý nhà nước của nhà Lý đã có những bước tiến bộ và hoàn chỉnh hơn các triều đại trước đó
- Đứng đầu triều đình là hoàng đế, dưới hoàng đế có ba chức quan đứng đầu các quan lại trong triều, đó là Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo, dưới đó là chức thái úy, tiếp đó là chức Tư không, Thiếu phó, Thiếu bảo, Nội điện đô trị sự, Ngoại điện đô trị sự
- Bộ máy quan lại ở trung ương thời lý cấu trúc theo 3 cấp : trung ương, hành chính trung gian, cấp hành chính cơ sở
- Nhà Lý từ năm 1011 đổi 10 đạo thời Lê thành 24 lộ , đặt thêm một số đạo và trại, châu
và một số châu, trại đổi thành phủ
Về tổ chức quân đội và quốc phòng nhà Lý rất chú trọng xây dựng lực lượng quốc
phòng vững mạnh Chỉ huy quân đội thời Lý có Đô thống, Nguyên soái, Tổng quản, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng Tất cả nam đến tuổi 18 đều phải đăng lính Quân đội nhà Lý được xây dựng có hệ thống đã trở nên hùng mạnh, ngoài chính sách “Ngụ binh ư nông”, các Hoàng đế nhà Lý chủ trương đẩy mạnh các lực lượng thủy binh, kỵ binh, bộ binh, tượng binh cùng số lượng lớn vũ khí giáo, mác, cung, nỏ, khiên và sự hỗ trợ công cụ công thành như máy bắn đá, những kỹ thuật tiên tiến nhất học hỏi từ quân sự Nhà Tống Việc trang bị đầu tư và quy mô khiến quốc lực dồi dào, có đủ khả năng thảo phạt các bộ tộc man di ở biên giới, cũng như quốc gia kình địch phía Nam là Chiêm Thành hay cướp phá thường xuyên, bảo vệ thành công lãnh thổ và thậm chí mở rộng hơn vào năm 1069, khi Hoàng đế Lý Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành và thu về đáng kể diện tích lãnh thổ Quân đội nhà Lý còn vẻ
Trang 10vang hơn khi đánh bại quân đội của Vương quốc Đại Lý, Đế quốc Khmer và đặc biệt là sự kiện danh tướng Lý Thường Kiệt dẫn quân đội đánh phá vào lãnh thổ nhà Nhà Tống vào năm
1075, dẫn đến Trận Như Nguyệt xảy ra trên đất Đại Việt và quân đội hùng mạnh của nhà Tống hoàn toàn thất bại Năm 1042, Lý thái tông ban hành bộ luật "Hình thư"- Bộ luật thành văn đầu tiên của nước quân chủ Việt Nam Bộ hình thư ra đời thay thế cho các quy chế, luật
lệ, chiếu chỉ trước đó Bộ luật Hình thư ra đời, Nhà nước Trung ương tập quyền đã tương đối
ổn định và được xây dựng hoàn chỉnh Bộ luật này về cơ bản bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến nhưng cũng có tác dụng ngăn chặn sự lộng hành của quan lại các cấp
b Tình hình kinh tế
* Nông nghiệp:
Về tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp, ruộng đất trong cả nước đều thuộc quyền
sở hữu tối cao của nhà vua Hằng năm, nông dân phải nộp cho nhà nước một số tô thuế là 100 thăng một mẫu, ngoài ra còn phải nộp một ít tiền tùy theo số diện tích ruộng cày Nhà Lý rất chú trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển bằng nhiều chính sách và biện pháp khuyến nông như:
- Xuống chiếu cho những người phiêu tán về quê làm ăn
- Chiêu tập đi khai hoang lập điền trang , thực hiện chính sách " Ngụ Binh Ư Nông " trong quân đội Bộ phận quân thưởng trực chia thành năm phiên, luân phiên nhau cày cấy nhằm đảm bảo sản xuất nông nghiệp , vừa đảm bảo số quân cần thiết
- Những năm mất mùa đói kém, nhà nước giảm thuế, xá thuế, phát chẩn cho dân nghèo Nhà nước cũng thực hiện những biện pháp tích cực để bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp như: phạt nặng những kẻ ăn trộm trâu, bò, mổ thịt trộm 1 con trâu bị phạt 80 trượng đầy làm lính chăn ngựa, vợ cũng bị phạt 80 trượng đầy làm người chăn nuôi tằm và phải đền trâu
Trang 11
*Thương nghiệp:
Cảng Vân Đồn có vị trí rất quan trọng cho hoạt động ngoại thương, nằm trên trục hàng hải từ Trung Quốc xuống các nước Đông Nam Á Ngoài ra, nơi này còn thuận lợi cho việc đỗ tàu thuyền Ngoài Vân Đồn, vùng biển Diễn châu cũng là nơi có hoạt động ngoại thương phát
triển
Tại vùng biên giới, những người dân tộc thiểu số cũng qua lại buôn bán với nhau Theo sách “Lĩnh ngoại đại đáp” của Nam Tống, người Việt thời Lý thường sang Trung Quốc buôn bán qua hai ngả là trại Vĩnh Bình trên bộ, nằm ở biên giới với Ung Châu, và đường biển là cảng châu Khâm và Liêm Nhà Lý cũng thường cử sứ giả sang buôn bán, gọi là "đại cương" Nhà Lý cử sứ giả sang Trung Quốc ba lần để thống nhất cân đo, tạo điều kiện cho buôn bán Hàng hóa xuất khẩu của Đại Việt chủ yếu là thổ sản; hàng nhập khẩu bao gồm giấy, bút, tơ, vải, gấm Các thương nhân Đại Việt thường mua trầm hương của Chiêm Thành để bán lại cho thương nhân người Tống
* Tiền tệ:
Thương mại phát triển bước đầu, nhu cầu trao đổi hàng hóa trong nước ngày càng tăng Nhà Lý đúc tiền bằng hợp kim đồng – giống như tiền lưu hành ở vùng Đông Nam Trung Quốc khi đó Tuy nhiên, tiền do triều đình đúc ra không đáp ứng đủ nhu cầu lưu thông hàng hóa nên nhiều đồng tiền nhà Tống và thậm chí thời Đường vẫn được lưu hành trong nước Các nhà khảo cổ hiện nay phát hiện được 6 loại đồng tiền được xem là tiền do các vua nhà Lý phát hành: Thuận Thiên đại bảo, Minh Đạo thông bảo, Càn Phù nguyên bảo, Thiên Phù nguyên bảo, Thiên Cảm thông bảo, Thiên Tư thông bảo
2 Các giá trị văn hóa đặc trưng
a Tôn giáo, tín ngưỡng
Thời nhà Lý đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho Đó chính là hiện tượng tam giáo đồng nguyên, tam giáo tịnh tồn ở thời kỳ này Trên nền tảng đó, nhìn chung các tín ngưỡng dân gian, đạo giáo, nho giáo và đặc biệt là phật giáo đã được tôn sùng
Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn với đạo giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích Theo dã
sử, đời Lý Thần Tông, có Trần Lộc dựa trên các tín ngưỡng dân gian đã lập nên đạo Nội Tràng Hình tượng Phật Mẫu Man nương (có nguồn gốc từ chùa Dâu) đã được sùng bái, thờ cúng ở rất nhiều nơi Nhà Lý đã dựng đền "Đồ đại thành hoàng", đền "Đồng cổ" (trống đồng), đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Phùng Hưng, đền thờ Phạm Cự Lạng ở kinh thành Thăng Long; nâng lễ thờ thần Phù đổng thiên vương lên tầm quốc gia
Thời nhà Lý (thế kỉ XI – thế kỉ XIII) là giai đoạn thịnh đạt của Phật giáo ở Việt Nam, đạo Phật hầu như chiếm địa vị độc tôn trong tín ngưỡng của quần chúng nhân dân cũng như tầng lớp phong kiến thống trị Những tư tưởng và đạo lí nhà Phật: từ bi bác ái, khoan dung
Trang 12quảng đại… dễ dàng chinh phục được tấm lòng những người dân Đại Việt và đồng thời cũng
là phương châm trị nước, trị dân của các vua nhà Lý Do đó hoạt động kiến trúc xây dựng chùa tháp Phật giáo thời này thật là “vô tiền khoáng hậu”: triều đình, nhà vua và tầng lớp quý tộc nhiệt tình, sốt sắng đứng ra đầu tư xây dựng, trong quần chúng nhân dân cũng đông đảo nhiều người hướng ứng góp công, góp của khuyến khích dựng chùa Sử sách còn ghi: năm
1031, triều đình bo tiền ra xây dựng 950 chùa, quán Riêng thái hậu Linh Nhân trước sau đã dựng đến 100 ngôi chùa Năm 1129, triều đình mở hội khánh thành 4000 ngôi bảo tháp (tháp bằng đất nung)… một số nhà vua triều Lý như Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Cao Tông (1176-1210) và Lý Huệ Tông (1211-1224) đã từng đi tu, theo đạo Phật Vua Lý Thánh Tông còn sáng lập ra một phái Thiền tông mới ở Việt Nam gọi là “phái Thảo đường” Trong nhân dân, số sư sãi và tín đồ đạo Phật chiếm một tỉ lệ khá đông, theo nhà sử học Lê Văn Hưu (thời Trần) thì vào đời Lý: “… nhân dân quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa.”
Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế, vì vậy trong hơn 10 thế kỉ, nó vẫn chỉ là một lớp váng mỏng đọng lại trong tầng lớp ưu tú Thời Lý, Nho giáo được nhà nước chấp nhận, nhưng vẫn giữ một trí khá khiêm tốn Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng, thờ Chu Công, Khổng Tử và các vị tiên hiền, làm nơi dạy học Hoàng Thái tử Năm 1075, nhà Lý tổ chức khoa thi Thái học sinh đầu tiên, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh; năm 1076, mở trường Quốc Tử Giám Đến năm
1086, Triều đình lập Hàn lâm viện, nho sĩ Mạc Hiển Tích được tuyển bổ làm Hàn lâm học sĩ Ngoài Phật giáo, Nho giáo thì Đạo giáo cũng được lan truyền, tuy có vai trò ít hơn nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định Thời Lý các đạo sỹ luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh Họ thường được mời vào cung làm các lễ tống trừ ma quỷ vào các dịp lễ tết, làm phép cầu đạo, Những đạo sỹ nổi tiếng dưới thời kỳ này như: Thông Huyền đạo nhân, Giác Hải thiền sư… Dưới thời Lý đã tổ chức thi Tam giáo để kén chọn người có kiến thức rộng cả về 3 hệ tư tưởng Phật, Nho, Đạo nhằm giúp vua trị nước
Do vậy, thời Lý, Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đều đồng thời phát triển và có mặt thâm nhập lẫn nhau trong tinh thần “ Tam giáo đồng nguyên” Sự kết hợp nhuần nhuyễn, dung hợp giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đã tạo nên một nền văn minh Đại Việt rực rỡ
bằng vàng, ít nhiều còn ảnh hưởng lối trang sức của nhà Tống)
Năm 1040, nhà vua chủ trương dùng gấm vóc trong nước để may lễ phục mà không dùng gấm vóc của nhà Tống nữa Số gấm vóc của nhà Tống còn lại trong kho thì phát hết ra
Trang 13may áo cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên: áo bào bằng gấm, từ cửu phẩm trở lên: áo bào bằng vóc Điều này biểu thị chí tự cường, tự lập của dân tộc đã khá cao
Năm 1059, vua Lý Thánh Tông định triều phục cho các quan Vào chầu vua, các quan phải đi tất, đi hia và đội mũ phác đầu (mũ này có 4 góc, 4 tai, sau làm 2 tai ngang, tức mũ cánh chuồn, có thể là kiểu mũ từ thời Đinh, sau thêm tai), mặc áo bào tía, cầm hốt ngà, thắt đai da Lệ đội mũ phác đầu, đi hia bắt đầu có từ thời này
Qua võ phục thời Lý, ta bắt gặp những dạng hoa văn, những hình xoắn, hình móc thường thấy trong lĩnh vực trang trí, hội họa thời đó Những biểu tượng cho thiên nhiên, cuộc sống được khắc lại trên trang phục của những nhân vật tượng trưng cho sức mạnh là một đặc điểm hài hòa rất có ý nghĩa Các vũ nữ, tóc thường búi cao lên đỉnh đầu, trên trán có một điểm trang trí, mái tóc điểm những bông hoa, tay đeo vòng, cổ đeo những chuỗi hạt, mặc váy ngắn có nhiều nếp
Trang phục của nhạc công cũng khá độc đáo Mũ chùm kín tóc, phía trên mũ được làm cao lên và trang trí các diềm uốn lượn Áo cánh trong: tay dài và chít ở cổ tay Bên ngoài là một chiếc áo, cộc tay Quanh cổ áo có chiếc vân kiên (như chiếc yếm dài) chùm cả một phần ngực, lưng và vai Quanh bụng đeo những miếng diềm vải rộng có trang trí nhiều đường thêu đẹp Bụng chân quấn xà cạp và chân đi giày vải mũi nhọn Thời gian này vẫn còn tục xăm mình Từ vua đến quân sĩ ai cũng xăm mình Quân cấm vệ xăm vào ngực và chân những dấu hiệu riêng và được phép xăm hình rồng lên người
b.2 Trang phục nhân dân
Thời Lý có lệnh cấm người dân mặc áo màu vàng (1182), con gái dân gian không được bắt chước kiểu búi tóc như cung nhân
Những pho tượng tròn hoặc tượng đắp nổi bằng đá của thời Lý còn lại cũng chứng minh quần áo thời đó đã được may theo quy cách, bằng nhiều loại vải tốt và mịn Ở thời Lý, đàn bà thường đeo khuyên bạc, vũ nữ thường búi tóc cao và buộc diềm hoa trên đầu gợi lại hình ảnh trang điểm ở tượng người phụ nữ trên cán dao găm, trên chuôi kiếm ngắn từ thời Hùng
Vương, hoặc các võ tướng còn đính nhiều quả nhạc trên áo giáp biểu hiện ý thức "nhớ
nguồn", chứng minh tinh thần tiếp nối và phát huy truyền thống
Cùng với những hoa văn, họa tiết trang trí trên trang phục, những hoa văn, họa tiết thời
Lý ở các hiện vật khác không chỉ là yếu tố trang trí nghệ thuật mà còn có nhiều ý nghĩa tượng trưng, như những hình dạng xoắn ốc đôi, chính là ký hiệu mây mưa mà ông cha ta vẫn cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, như hình tượng con rồng thời Lý là "rồng rắn" một đồ án trang trí đẹp và độc đáo, tượng trưng cho nguồn gốc lịch sử dân tộc, vòng uốn lượn mềm mại của thân rồng tượng trưng cho nguồn nước và mây mưa, là niềm mơ ước của cư dân lúa nước
Nghiên cứu trang phục và hoa văn, họa tiết thời Lý như trên, ta thấy một ý nghĩa đặc biệt là nó đã phản ánh được mối tương quan thống nhất trong đời sống kinh tế, quân sự, văn hóa của xã hội thời đó khá rõ nét
Trang 14Cùng với các lễ hội triều đình và những lễ hội mang tính tôn giáo, các vua nhà Lý còn tổ chức những hoạt động mang tính lễ nghi gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước như lễ cày tịch điền, làm lễ cầu ở đàn Xã Tắc, đàn Nam Giao để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu Năm 1038 vua Lý Thái Tông đã cho khôi phục lễ cổ; đích thân vua
tự mình cày ruộng tịch điền để thiên hạ noi theo với ý nghĩa: trên để cúng tông miếu, dưới để nuôi muôn dân Trong các lễ cày tịch điền hàng năm vua đều cày ruộng tịch điền Ngoài việc
tự mình cày ruộng tịch điền, những năm hạn hán, mất mùa nhà vua còn tự mình cầu đảo ở đàn Xã Tắc để cầu mưa thuận gió hoà cho nhân dân Theo sử sách thì đàn Xã Tắc được xây năm 1048 ở ngoài cửa Trường Quảng (nay là khu vực thuộc Ô Chợ Dừa, đường Kim Liên) Nhìn chung, thời Lý ngoài các lễ hội cung đình, các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng, nhiều hoạt đồng sinh hoạt văn hoá, vui chơi giải trí cũng được tổ chức rộng rãi ở trong hoàng cung và các khu vực dân chúng cư trú trong kinh thành Thăng Long như: hội La Hán, khánh thành tượng Phật, tổ chức chơi đá cầu, đua thuyền, đấu vật, chọi gà, chọi trâu, bơi trải… Ngày nay nhiều lễ hội và trò chơi dân gian đó vẫn được truyền lưu và phổ biến trong các lễ hội không chỉ ở Hà Nội mà ở nhiều địa phương trong cả nước Đó chính là những giá trị văn hoá tinh thần quý báu mà thế hệ ngày nay cần phải giữ gìn và phát huy để không bị mai một trong một không gian văn hoá đa dạng, phức hợp như hiện nay
“ An nam tứ đại khí” thì 3 trong số đó được tạo ra trong thời Lý là tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm