1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa (bước đột phá thứ nhất hntw6 (81979); bước đột phá thứ hai hntw8 (61985); bước đột phá thứ ba hn bộ chính trị kho

46 36 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa
Người hướng dẫn GVHD: Lê Văn Nguyên, Nguyễn Thị Lan Phương
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng trăm xí nghiệp của miền Nam mà dự kiến sẽ là những đầu tàu đưa cả nước cất cánh trên con đường công nghiệp hóa thì bây giờ một số lớn đã phải đóng cửa, cho công nhân nghỉ việc hoặc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÀI THẢO LUẬN

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐẦU TIÊN TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ KINH TẾ VÀ Ý NGHĨA (BƯỚC ĐỘT PHÁ THỨ NHẤT: HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 (8/1979); BƯỚC ĐỘT PHÁ THỨ HAI: HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 (6/1985); BƯỚC ĐỘT PHÁ THỨ BA: HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ KHOÁ V

(8/1986))

Bộ môn : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Lớp học phần : 2222HCMI0131

Nguyễn Thị Lan Phương

Sinh viên thực hiện : Nhóm 10

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Nguyên nhân dẫn đến các bước đột phá 3

2.1 Bối cảnh thế giới trước đổi mới 3

2.2 Bối cảnh trong nước trước đổi mới 5

2.2.1.Tình hình kinh tế 5

2.2.2 Tình hình chính trị 7

2.2.3 Tình hình xã hội 8

PHẦN II: PHÂN TÍCH 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐẦU TIÊN TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ KINH TẾ VÀ Ý NGHĨA 10

1 Bước đột phá thứ nhất: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8-1979) 10

1.1 Hoàn cảnh 10

1.2 Nội dung 11

1.3 Quá trình thực hiện 13

1.3.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp 13

1.3.2 Trong lĩnh vực công nghiệp 16

1.4 Kết quả 21

1.4.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp 22

1.4.2 Trong lĩnh vực công nghiệp 22

1.4.3 Ý nghĩa 23

2 Bước đột phá thứ hai: Hội nghị Trung ương 8 (6/1985) 23

2.1 Hoàn cảnh 23

2.1.1 Về kinh tế-xã hội 23

2.1.2 Các yếu kém vẫn tồn tại sau bước đột phá thứ nhất: Hội nghị trung ương 6 (8/1979) 24

2.2 Nội dung 27

2.3 Quá trình thực hiện 30

2.3.1 Về giá cả 30

2.3.2 Về lương 30

2.3.3 Về tiền 31

2.4 Kết quả 31

3 Bước đột phá thứ ba: Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8/1986) 32

3.1 Hoàn cảnh 32

3.1.1 Bối cảnh thế giới 32

Trang 3

3.1.3 Các yếu kém vẫn tồn tại sau bước đột phá thứ hai 33

3.2 Nội dung 34

3.2.1 Về cơ cấu sản xuất 34

3.2.2 Về cải tạo xã hội chủ nghĩa 35

3.2.3 Về cơ chế quản lý kinh tế 36

3.3 Quá trình thực hiện 38

3.3.1 Về cơ cấu sản xuất 38

3.3.2 Về cải tạo xã hội chủ nghĩa 39

3.3.3 Về cơ chế quản lý kinh tế 41

3.4 Kết quả 42

3.4.1 Trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp 42

3.4.2 Về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật 42

3.4.3 Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa 42

PHẦN III, TỔNG KẾT 44

Tài liệu tham khảo 44

Trang 4

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cách đây hơn 35 năm, nước ta tiến hành đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bằng sự nỗ lực sáng tạo của toàn đảng toàn dân, chúng ta đã vượt qua khủng hoảng và đạt được rất nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cải thiện được đời sống của đại bộ phận quần chúng nhân dân Có được những điều này chính là nhờ Đảng và Nhà nước ta đã nhận ra được những sai lầm trong cơ chế quản lý, sự tụt hậu của kinh tế Việt Nam so với thế giới để từ đó đổi mới tư duy về kinh tế

Nhận thức được đổi mới tư duy về kinh tế là một vấn để hết sức quan trọng đối với mỗi người dân Việt Nam và đặc biệt là những sinh viên kinh tế như chúng em Vậy nên nhóm 10 chúng em sau một thời gian học tập, cùng với sự chỉ dẫn nhiệt tình của Thầy giáo

Lê Văn Nguyên, đã thực hiện đề tài: “Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa (bước đột phá thứ nhất: HNTW6 (8/1979); bước đột phá thứ hai: HNTW8 (6/1985); bước đột phá thứ ba: HN Bộ Chính trị khoá V (8/1986)”

Bài thảo luận của chúng em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý từ phía Thầy giáo và các bạn Chúng em xin chân thành cảm ơn!

2 Nguyên nhân dẫn đến các bước đột phá

2.1 Bối cảnh thế giới trước đổi mới

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Liên Xô là nước thắng trận nhưng chịu thiệt hại nặng

nề về người và của Để tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, ngay từ đầu năm 1946, Đảng và nhà nước Xô Viết đã đề ra kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế đất nước với kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1946-1950) Cuộc cải cách thành công đã đưa Liên Xô vượt qua khó khăn, phát triển ổn định cả về kinh tế, xã hội và khoa học, quân sự

Đến đầu những năm 70, Liên Xô đã hoàn thành khôi phục kinh tế nhưng đất nước vẫn còn nhiều khó khăn Vì vậy, Liên Xô phải tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của CNXH bằng việc thực hiện hàng loạt các kế hoạch dài hạn: Kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1951 – 1955), lần thứ 6 (1956 – 1960) Kể từ đây nền kinh tế Xô viết tăng trưởng mạnh mẽ, khoa học - kỹ thuật đạt được những thành tựu to lớn, càng khẳng định vị thế của XHCN trên trường quốc tế Về kinh tế, trong hai thập niên 50 và 60 của thế kỉ XX, nền kinh tế Liên

Trang 5

công nghiệp chiếm khoảng 20% của toàn thế giới; sản lượng nông phẩm trong những năm

60 tăng trung bình hàng năm là 16% Điều này đã khiến Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai thế giới sau Mĩ Về khoa học - kỹ thuật, Liên Xô liên tục chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học kĩ thuật thế giới, đặc biệt là ngành khoa học vũ trụ Về quân sự, Liên Xô đạt được thế cân bằng chiến lược sức mạnh quân sự nói chung và tiềm lực hạt nhân nói riêng so với các nước đế quốc Đặc biệt, năm 1972, Liên Xô đã chế tạo thành công tên lửa hạt nhân

Ở Trung Quốc, từ năm 1959 đã lâm vào tình trạng đầy biến động và kéo dài tới 20 năm (1959 – 1978) do bất đồng về đường lối và tranh giành quyền lực của nội bộ ban lãnh đạo Đảng, Nhà nước, để lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân Trung Quốc

Tháng 12 - 1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra đường lối mới,

mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội của đất nước với nội dung: lấy phát triển kinh tế làm trung tâm; chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường chủ nghĩa linh hoạt hơn; cải cách mở cửa nhằm hiện đại hóa đưa đất nước Trung Quốc trở thành đất nước giàu mạnh văn minh Kết quả đạt được nhiều thành tựu nổi bật như: Năm 1977: Tổng giá trị xuất nhập khẩu là 325,06 tỉ USD Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc hơn 521 tỉ USD và 145 nghìn doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Trung Quốc Đén năm 1964, Trung Quốc đã thử thành công bom nguyên tử Những thành tựu của Liên Xô và Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nước trong đó có Việt Nam Tiếp đó, công cuộc cải tổ không thành công năm 1985 dẫn tới sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là bài học phản diện cho Việt Nam những kinh nghiệm không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, giải quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

Những cuộc cải cách, đổi mới thành công của các nước XHCN đã gieo rắc cho Đảng

ta tư duy về kinh tế, đặt ra vấn đề thực tiễn là cần phải có sự đổi mới để khôi phục phát triển Bên cạnh đó sự tác động của những biến đổi của tình hình thế giới đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, phải có cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan khoa học trên cả phương diện

lý luận và thực tiễn về nền kinh tế lúc bấy giờ

Trang 6

2.2 Bối cảnh trong nước trước đổi mới

2.2.1.Tình hình kinh tế

2.2.1.1 Cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam trước đổi mới

 Thời kì bao cấp là giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế hạch hóa, kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy

 Vào thời bao cấp nhà nước không chấp nhận kinh doanh tự do mà phân phối vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như: gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc, , toàn bộ nguồn cung cấp đều thông qua chế độ tiêu chuẩn tem phiếu có định mức mua cho từng đối tượng Hàng hóa không được mua bán tự do trên thị trường, không được tự do vận chuyển, hạn chế trao đổi bàng tiền mặt

 Chế độ hộ khẩu được thiết lập để phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người, tiêu biểu là sổ gạo - ấn định số lượng và mặt hàng được phép mua

 Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ

sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định

 Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định của cơ quan hành chính gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh

 Quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát - giao nộp" Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý

 Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động, vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động

2.2.1.2 Những thành tựu kinh tế Việt Nam đạt được trước đổi mới

Trang 7

 Khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh xâm lược do đế quốc

Mỹ gây ra và của cuộc chiến tranh biên giới

 Khôi phục phần lớn cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá, nạn đói được đẩy lùi

 Củng cố kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ở miền Bắc, bước đầu cải tạo và sắp xếp công thương nghiệp tư doanh ở miền Nam, đưa một bộ phận nông dân Nam Bộ, nông dân Nam Trung Bộ vào con đường làm ăn tập thể

 Bước đầu phân bố lại lực lượng lao động xã hội; tăng cường một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân

2.2.1.3 Những khó khăn kinh tế Việt Nam đối mặt trước khi đổi mới

 Những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội, thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn

⇒ Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút

 Vào giai đoạn 1976 - 1986 hội nghị trung ương 8 khóa 5 cuộc cải cách giá lương điền được đưa ra với mục tiêu xóa bỏ quan liêu bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN đã mắc phải sai lầm: cuộc vỡ trận trong việc đổi tiền, lạm phát bùng nổ năm 1986 (tăng 774%), giá bán lẻ tăng (590%)

 Việt Nam là một nước nông nghiệp, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động

là nông dân, dù vậy nhưng Việt Nam vẫn thiếu ăn nhiều người phải ăn bo bo, khoai lang, khoai mì, trong thời gian dài, lương thực giảm liên tục

 Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp thời kì này không tạo được động lực phát triển làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh

tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối trong phân phối và lưu thông

⇒ Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang một cơ chế quản lý mới trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách nhất đó nền nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Những khó khăn trên có nguyên nhân chính là:

Trang 8

 Sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển trong đó nổi bật là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình kinh tế XHCN ở Miền Nam (Miền Nam mới dành được đất nước hòa bình từ đế quốc Mỹ)

 Đất nước Việt Nam vừa thoát khỏi chiến tranh và tình hình quốc tế nhiều bất lợi

2.2.2 Tình hình chính trị

Chiến thắng Mùa xuân năm 1975 đã mở ra nhiều vận hội tuyệt vời cho cả nước: Ngày 30/04/1975, Sài Gòn được giải phóng Vài ngày sau đó, toàn bộ phần còn lại của miền Nam Việt Nam đã ngừng tiếng súng, quân đội Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, nộp vũ khí cho chính quyền cách mạng Ở tất cả các nơi, chính quyền về tay Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, việc tiếp quản đã diễn ra nhanh chóng và êm thấm, không đổ máu

Từ nhiều tháng trước đó, Trung ương Cục đã có sự chuẩn bị và kịp thời của các lực lượng về tiếp quản Vì thế, ngay từ ngày đầu tiên sau khi tiếp quản, điện vẫn sáng, các vòi nước vẫn chảy, chợ vẫn họp, nhân dân sinh hoạt như thường Mọi hoạt động của xã hội không những đã trở lại bình thường mà còn tốt hơn nhờ sự trần an về tinh thần: Từ nay không còn chiến tranh, từ nay không còn bom đạn, từ nay có thể yên ổn sống trong hòa bình

Một không khí lạc quan, phấn khởi bao trùm khắp miền Nam Kể cả những lực lượng của đối phương cũ cũng cảm thấy có một cuộc sống mới yên ổn Một cuộc sum họp gia đình, sum họp của cả nước đã bắt đầu sau hơn 20 năm xa cách

Khung cảnh này, đúng như Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định Võ Văn Kiệt nhớ lại:

"Tất cả mọi người ôm chầm lấy nhau, vui sao nước mắt lại trào Tôi còn nhớ mãi câu nói đầu tiên của anh Ba khi vừa bước xuống cầu thang máy bay: Thắng lợi này là thắng lợi của

cả dân tộc Việt Nam chứ không của riêng ai."

Sau chiến thắng oanh liệt 30/04/1975, Việt Nam đã là một đất nước thống nhất trong hòa bình, hòa hợp Từ đây, đã có khả năng Nam - Bắc hỗ trợ cho nhau để phục hồi, đi lên tiến kịp và sánh v thế giới Sau 1975, không chỉ các nước anh em trong phe XHCN, mà cả các nước trong khu vực và hầu hết các nước phương Tây đều chìa tay ra với Việt Nam, muốn giúp Việt Nam khắc phục những khó khăn và hàn gắn những vết thương của quá khứ Có thể nói, lúc này, hầu hết bầu bạn khắp năm châu đều sẵn sàng giúp đỡ và tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập với môi trường quốc tế Với những thuận lợi đó, dẫu là có một

Trang 9

2.2.3 Tình hình xã hội

2.2.3.1 Tình hình xã hội miền Bắc:

Miền Bắc Việt Nam đã chuẩn bị tiền đề để đi vào mô hình này từ những năm cuối của thập kỉ 50, với hai cuộc cải tạo lớn: Cải tạo nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp trong ba năm 1958 – 1960

Từ thập kỷ 60, với Đại hội Đảng lần thứ Ⅲ và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1965), miền Bắc bắt đầu trực tiếp áp dụng mô hình kinh tế XHCN Những nguyên tắc tổ chức và quản lý nền kinh tế của mô hình đó đã dần dần hình thành Các sách giáo khoa về quản lý công nghiệp, nông nghiệp, nội và ngoại thương tiền tệ, giá cả của Liên Xô đã được dịch và đưa vào giảng dạy tại các trường Đảng và các trường Đại học Cũng từ các trường này, đã hình thành đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế trong tất cả các ngành, các cấp của nền kinh tế quốc dân

(1961-Trong không khí thời đại lúc bấy giờ, xét cả về mặt quốc tế cũng như trong nước, mô hình kinh tế XHCN ở miền Bắc không phải là quyết định đơn phương của riêng ai, của một nhóm nào mà là sự lựa chọn chung của xã hội Trong đó có cả 3 yếu tố xã hội quan trọng nhất: Đảng và Nhà nước, giới nghiên cứu và quần chúng nhân dân

Những đêm dài thiếu đói trước Đổi mới

Nông thôn miền Bắc những năm 80 thế kỷ trước như một bức tranh ít gam sáng Đại

bộ phận gia đình từ nông thôn đến cán bộ rơi vào cảnh khó khăn, quanh năm thiếu đói Nguyên nhân một phần sản xuất nhỏ lẻ, manh mún cộng thêm cơ chế quản lý theo mô hình hợp tác xã được đánh giá là “kéo lùi sự phát triển xã hội”

Năm 1984 là cao điểm đói kém Mùa mưa năm ấy, đê sông Cầu Chày bị vỡ, cả xã Phú Yên (Thanh Hóa) chìm trong nước lũ, mùa màng mất trắng Dù không có người chết

vì đói lả, nhưng đời sống cơ cực khiến dân làng phải đi tứ tán tìm hái rau má, mót sắn ăn qua bữa…Trong chăn nuôi, lợn giống xã viên phải tự mua, tự nuôi nhưng khi bán thì không được đem ra chợ bán mà phải bán cho cửa hàng thực phẩm của xã với giá “bán như cho” Lợn ốm, xã viên muốn giết mổ phải được đội quản lý cho phép Thái Bình thời điểm đó có rất nhiều ao, nhưng là của tập thể Những ao bỏ không, xã cũng không cho cá nhân nuôi

cá, tôm Cua cá ở ngoài ruộng cũng là của hợp tác xã Xã viên nào tự ý bắt là bị gom lên

xã liền Không chỉ đói ăn, người dân còn thiếu cái mặc Mỗi năm mỗi người được phân phối một bộ quần áo bằng vải chéo xanh, vải xô hay vải phíp (loại vải Nga dùng làm bì đựng phân được tận dụng may quần áo) Vải xấu song cũng không đủ phân phối Có gia

Trang 10

đình ông bà già bốc thăm phải hai bộ quần áo trẻ con đành ngậm ngùi lấy về, đem đổi cho người khác hoặc cho con cháu mặc, còn họ vận bộ quần áo vá chằng vá đụp

2.2.3.2 Tình hình xã hội miền Nam:

Trong nông nghiệp, miền Nam đã quen sử dụng phân bón, máy móc để canh tác, chuyên chở, chế biến Sau giải phóng, máy móc thì còn, nhưng xăng dầu ngày càng khan hiếm Do thiếu xăng, máy cày, máy bơm không hoạt động được, ghe thuyền không vận chuyển được, xe cộ cả loại hai bánh lẫn bốn bánh cũng gặp khó khăn Nhiều xe vận tải đã chuyển sang chạy bằng than củi Xe Honda phải pha thêm dầu hôi (dầu hỏa) vào xăng Xe xích lô máy thì chạy hoàn toàn bằng dầu hôi

Trong công nghiệp, nguồn điện chủ yếu cũng dựa vào xăng dầu để sản xuất ra điện cũng bắt đầu khó khăn Chỉ gần một năm sau giải phóng, miền Nam phải hạn chế điện theo giờ để ưu tiên cho sản xuất Một số nhà máy thiếu nhiều nguyên vật liệu quan trọng Nhà máy đường thiếu đường thô Nhà máy thuốc lá thiếu sợi thuốc Nhà máy dệt thiếu sợi dệt, thuốc nhuộm Nhà máy in thiếu mực, giấy Các lò bánh mỳ thiếu bột mỳ, men nở Các cơ

sở sản xuất bánh kẹo thiếu đường Các nhà máy làm đồ nhựa thiếu hạt nhựa

Trong nhiều sự thiếu hụt, thì sự thiếu hụt phổ biến nhất là thiếu hụt phụ tùng thay thế Các nhà máy thiếu vòng bi Xe cộ thiếu săm lốp Ngay những chiếc xe Honda cũng bắt đầu khủng hoảng về xích cam, bạc đạn, pitston Trên các nẻo đường của miền Nam bắt đầu xuất hiện các tiệm sửa xe đề biển "phục hồi bugi cũ", "làm lại xích cam, "doa xilanh"

Trang 11

PHẦN II: PHÂN TÍCH 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐẦU TIÊN TRONG ĐỔI MỚI

TƯ DUY VỀ KINH TẾ VÀ Ý NGHĨA (BƯỚC ĐỘT PHÁ THỨ NHẤT: HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 (8/1979); BƯỚC ĐỘT PHÁ THỨ HAI: HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 (6/1985); BƯỚC ĐỘT PHÁ THỨ BA: HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ

Đối với miền Bắc: Qua hơn 20 năm (1954 - 1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ

nghĩa, miền Bắc đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây dựng được những

cơ sở vật chất - kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong quá trình đó, phải trải qua 2 lần chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân rất tàn bạo của đế quốc

Mĩ, kéo dài khoảng 5 năm Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khi đó bị tàn phá nặng nề trong hai cuộc chiến tranh phá hoại năm 1964-1968 và năm 1972

Đối với miền Nam: Dù đã hoàn toàn giải phóng nhưng hậu quả của 30 năm chiến

tranh đối với cả nước và chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam phải giải quyết vô cùng nặng nề; miền Nam hậu quả của chiến tranh và chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tệ nạn xã hội gia tăng, giặc đói, giặc dốt còn nhiều, đội ngũ thấy nghiệp lên tới 1,5 triệu người Bên cạnh đó, nền kinh tế trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản, song về cơ bản vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng

nề vào viện trợ từ bên ngoài Các nước XHCN gặp nhiều khó khăn, đã bộc lộ trì trệ, đòi hỏi phải cải cách, cải tổ

Sau cuộc đại thắng, lúc này chúng ta có những tư tưởng chủ quan, có sự nóng vội muốn đưa đất nước tiến nhanh đến xã hội chủ nghĩa trong khoảng thời gian ngắn mà không xem xét kĩ lại tình hình thực tế bấy giờ Chính vì vậy khi cải cách đã xuất hiện nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó về quản lý kinh tế, những khuyết điểm của mô hình

kế hoạch hóa tập trung, bao cấp bộc lộ ngày càng gay gắt, dẫn tới đất nước dần dần lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng

Theo Hội nghị Trung ương lần thứ 24, cần phải xóa bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hóa cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý Từ đó, Nhà

Trang 12

nước phải nắm độc quyền ngoại thương, độc quyền phát hành giấy bạc, độc quyền ký kết các hiệp định kinh tế với nước ngoài, tiến tới việc Nhà nước nắm hoàn toàn khâu bán buôn Đối đối khâu bán lẻ thì nắm một phần và phải chi phối việc bán lẻ phần lớn các mặt hàng quan trọng đối với đời sống nhân dân

Tình hình viện trợ ở miền Nam sau 1975:

- Mỹ chấm dứt viện trợ cho miền Nam đột ngột từ 30/04/1975 đã làm ảnh hưởng tới

cả sản xuất lẫn tiêu dùng Hàng trăm xí nghiệp của miền Nam mà dự kiến sẽ là những đầu tàu đưa cả nước cất cánh trên con đường công nghiệp hóa thì bây giờ một số lớn đã phải đóng cửa, cho công nhân nghỉ việc hoặc đi làm ruộng rẫy kiếm ăn, số còn sản xuất cầm chừng

- Không chỉ vậy, sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm sút Điều này khiến Nhà nước không còn đủ điều kiện để cung ứng vật tư cho xí nghiệp, không có hàng

để trao đổi với nông dân, không có tiền để trả lương cho công nhân, viên chức

- Năm 1978: 300.000 người Hoa bỏ đi, mà đó lại là những người chủ kinh doanh lớn hơn cả, làm cho sản xuất càng thêm sa sút, dẫn tới việc sản lượng công nghiệp tư doanh từ

137 tỷ đồng (1976) tụt xuống còn 8,07 tỷ đồng (1978)

Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề sống còn là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng Muốn vậy, trước hết phải thay đổi mạnh mẽ cách nghĩ, cách làm Từ đó có những tìm tòi thử nghiệm và cách làm ăn mới, đưa ra những lời giải đáp mới cho những vấn đề đặt ra

bỏ những trạm kiểm soát để người sản xuất có quyền tự do đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường Hội nghị chủ trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hóa; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế lương thực và giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối nội bộ hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng, v.v

Trang 13

Đi vào một số chủ trương cụ thể, Hội nghị đã thể hiện một loạt chuyển biến về quan điểm như sau:

1 Về chủ trương đối với các thành phần kinh tế, Hội nghị phê phán xu hướng tả khuynh trước đây, chỉ muốn sớm đưa cá thể vào hợp tác xã, đưa hợp tác xã lên quốc doanh, tưởng như cứ làm như thế là đã có chủ nghĩa xã hội Hội nghị xác định một cách nhìn mới

về thành phần kinh tế "Phải tận dụng các thành phần kinh tế: quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, cá thể (kể cả tư sản được kinh doanh hợp pháp)."

Các ngành và các tỉnh miền Nam phải tích cực giáo dục, giúp đỡ và mạnh dạn giao việc cho công nhân, viên chức, trí thức vùng mới giải phóng, nghiêm cấm mọi thái độ thành kiến, phân biệt đối xử

2 Về kết hợp kế hoạch với thị trường, Hội nghị thể hiện thái độ phê phán cách nghĩ

và cách làm trước đây, muốn gò tất cả vào kế hoạch, coi thị trường là một cái gì bất hợp pháp, càng dẹp bỏ sớm càng tốt

Chấp nhận cho các cơ sở sản xuất được tham gia thị trường trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cũng được liên doanh, liên kết với nhau để giải quyết những nhu cầu của sản xuất và đời sống

3 Về chính sách phân phối lưu thông

Hội nghị chủ trương một cơ chế phân phối lưu thông tự do hơn, phê phán cơ chế thu mua dựa trên những biện pháp hành chính, cưỡng bức như trong các năm trước

"Để nắm lương thực, không phải dùng hình thức hành chính, kiểm soát, bắt buộc như cách làm vừa qua ở một số nơi, mà phải có chính sách đúng về thuế, về ổn định nghĩa vụ

và hợp đồng hai chiều đề giá cả, để vừa bảo đảm cho Nhà nước nắm được lương thực, vừa khuyến khích nông dân hăng hái sản xuất và vui vẻ bán lương thực cho Nhà nước Phải tính toán lại giá thu mua lương thực, để thật sự bảo đảm cho nông dân làm lương thực được mức lãi cao hơn các ngành khác

Về giá cả, Hội nghị quyết định giao cho Ban Bí thư, Hội đồng Chính phủ và các cơ quan hữu quan chuẩn bị tiến hành sửa đổi hệ thống giá:

- Sửa lại giá lương thực và giá các nông sản khác cho hợp lý để khuyến khích sản xuất

và mở rộng nguồn thu mua của Nhà nước

Trang 14

- Nghiên cứu điều chỉnh giá một số mặt hàng cần thiết nhằm phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống, xuất khẩu và tích luỹ, tiến tới chấm dứt sớm tình trạng bù lỗ không hợp lý

1.3 Quá trình thực hiện

1.3.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp

Chỉ trong thời gian ngắn sau khi nghị quyết số 20-NQ/TW ra đời, trong cả nước đã xuất hiện nhiều điển hình về cách làm ăn mới Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ Tĩnh thí điểm hình thức khoán

1.3.1.1 Khoán tại Hải Phòng

bị đói, nông dân không chịu gặt lúa

Trong sự bức bách đó, phương thức khoán đã xuất hiện trở lại Nói cách khác, sau khi đất nước đã được giải phóng khỏi ngoại xâm, lại phải bắt đầu một cuộc “giải phóng” nữa: Giải phóng về cơ chế

b, Nhen nhóm mô hình khoán: Từ năm 1974, theo đề nghị thiết tha của hầu hết xã viên, một vài đội của hợp tác xã Tiến Lập đã quyết định khoán ruộng cho các hộ Cứ một sào xã viên nộp lại cho hợp tác xã 70 kg thóc Kết quả: Trong cơ chế làm ăn tập thể, năng

Trang 15

suất chỉ đạt 60-70 kg/sào Từ khi cho khoán, năng suất mỗi sào đạt 1,4-1,5 tạ Sau khi nộp

"tô" cho hợp tác xã, mỗi sào cũng còn ngót 1 tạ

c, Đoàn Xá đi đầu về khoán

Ngày 10/06/1977, Ban Thường vụ Đảng ủy xã đã họp phiên bất thường và ra "Nghị quyết miệng" cho phép khoán sản phẩm Ban Quản trị HTX cũng đưa ra "Quyết định miệng" để triển khai khoán Bước đầu triển khai, có 160 mẫu ruộng đẹp nhất được chia cho 2.000 xã viên, với mức khoán 70 kg thóc/sào Ròng rã một tháng liền chuẩn bị, đến một buổi sáng mờ đất ngày 14/06/1977, cả xã Đoàn Xá âm thầm dẫn nhau ra đo đất, cắm cọc nhận ruộng và giao khoán

Kết quả:

Vụ Mùa năm 1977, Đoàn Xá trúng sản lượng gấp 6 lần mức bình thường, gấp 36 lần

vụ Đông Xuân vừa thất bát trước đó Chỉ tiêu nộp thuế và bán lúa nghĩa vụ cho Nhà nước được hoàn thành rất sớm Nông dân mừng rỡ Làng xóm nhộn nhịp Từ đây, lãnh đạo nói

- dân tin, ra lệnh - dân nghe

Sang vụ Đông Xuân 1978, Đoàn Xá đã sắm thêm được nhiều xe, thuyền, cày, bừa, rộn ràng bước vào mùa mới Lại do tận dụng tối đa khả năng lao động của địa phương nên đất đai lại trở nên thiếu, chứ không còn cảnh đề hoang như trước Ngoài việc sử dụng được hết đất đai hiện có, dân Đoàn Xá còn lấn biển thêm được hơn 66 ha

d, Sự sát nhập về tư duy - từ Đoàn Xá đến huyện Đồ Sơn

Ngày 05/03/1980, xã Đoàn Xá chính thức nhập về huyện Đồ Sơn theo Quyết định số 72-CP của Chính phủ Tháng 5/1980, Huyện ủy Đồ Sơn ra Nghị quyết số 05- NQ/HU về cái gọi là "Thu chiêm, làm mùa" mà nội dung chính là cho phép triển khai khoán sản phẩm trên 50% diện tích đất nông nghiệp toàn huyện Đến tháng 5 năm 1980, tất cả các xã trong huyện Đồ Sơn đã lén lút khoán như Đoàn Xá rồi Nay được dịp "thả phanh" thì bùng dậy công khai hóa ngay và tiến rất nhanh tới con số 100% diện tích cho khoán

Kết quả: Mức ăn của nông dân năm 1980 so với năm 1979 tăng 3kg/người/tháng Giá trị ngày công tăng từ 0,70 lên 0,90 kg/công, về nhất huyện trong việc hoàn thành nghĩa vụ lương thực với Nhà nước: Trước thời hạn hai tháng

e, Từ Đồ Sơn lên thành phố

Trang 16

Ngày 27 tháng 6 năm 1980, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TU, cho áp dụng khoán trên 100% đất nông nghiệp của Hải Phòng Lựa chọn của Hải Phòng là: Mạnh dạn đi trước, thuyết phục sau Để nhân rộng mô hình khoán, Thành ủy quyết định chọn huyện Kiến An làm điểm để chỉ đạo triển khai Nghị quyết 24 Toàn bộ ruộng đất trong huyện được phân làm năm hạng, tùy theo chất lượng Mỗi hạng đều được xã viên bình về năng suất, mỗi sào là bao nhiêu ki lô Trên cơ sở đó, giao khoán ruộng đất gắn với giao khoán nghĩa vụ Tất cả các hộ căn cứ vào số lao động để nhận ruộng một cách công bằng

Kết quả: Năm 1980, vào vụ xuân hè, khi chưa thực hiện khoán, năng suất của toàn huyện chỉ đạt 16 tạ/ha Đến vụ mùa, thực hiện khoán, năng suất đã đạt tới 25 tạ/ha Có một

số hợp tác xã điểm như Hợp tác xã Trường Sơn đã đạt năng suất tới 40 tạ/ha Không những năng suất cao, mà vì lợi ích của mình, người nông dân rất hăng hái làm việc Việc cày bừa, bơm nước và cấy chỉ sau 15 ngày toàn huyện đã xong, hoàn toàn khác thời kỳ còn hợp tác

xã cao cấp Khi thu hoạch, không còn hiện tượng bỏ mặc cho lúa rụng ngoài đồng, cũng chỉ trong 15 ngày toàn bộ cánh đồng đã được gặt hết

f, Lên đến trung ương

Để thực hiện kế hoạch thuyết phục trung ương, Bí thư Thành ủy bàn với Chủ tịch ủy ban Nhân dân cùng các cán bộ phác ra một lộ trình: Bắt đầu từ Tổng Bí thư Ngày 2 tháng

10 năm 1980, Tổng Bí thư xuống thăm Hải Phòng: ông thăm HTX Trường Sơn Tổng Bí thư được mắt thấy tai nghe: Riêng một vụ mùa đầu tiên "có khoán", thu nhập ròng theo định mức là 580kg, thu nhập vượt khoán mỗi hộ từ 600 đến 800 kg nữa Vị chi mỗi hộ có gần 2 tấn thóc trong 1 vụ - điều trước đây chưa bao giờ có

1.3.1.2 Chỉ thị 100-CT/TW

Ngày 21/10/1980, Ban Bí thư ra nghị quyết số 22 TB-TW về ý kiến về công tác khoán trong hợp tác xã và đội sản xuất, ghi nhận và đánh giá những tác dụng tích cực của hình thức khoán mới, cho phép các địa phương thử nghiệp các hình thức khoán sản phẩm với cây lúa Tháng 12 năm 1980, Hội nghị Trung ương 9 khóa IV đã họp bàn về việc thực hiện

và hoàn thiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp

Báo cáo khẳng định sự tiến bộ của khoán sản phẩm so với khoán việc Khoán sản phẩm vừa nâng cao được ý thức trách nhiệm của tập thể và mỗi cá nhân, cụ thể hoá chế độ làm chủ tập thể, vừa đảm bảo nguyên tắc phân phối công bằng cho người lao động nên khuyến khích được hợp tác xã và xã viên tích cực tận dụng lao động, đất đai, thâm canh,

Trang 17

tăng vụ, phát triển sản xuất, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao động

Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW

về Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp chính thức công nhận khoán sản phẩm Chỉ thị này cho phép áp dụng chế độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp cả nước Theo Chỉ thị, mỗi xã viên nhận khoán theo diện tích và tự mình làm các khâu, cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn những khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm

Chỉ thị 100 nêu rõ ba mục đích của khoán sản phẩm là: bảo đảm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế (trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động, kích thích tăng nǎng suất lao động, sử dụng tốt đất đai, tư liệu hiện có), củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn, nâng cao thu nhập của người lao động

Nguyên tắc khoán sản phẩm: quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, quản lý và điều hành lao động phải trên cơ sở gắn với kết quả cuối cùng của sản xuất, thực hiện khoán theo 5 khâu và 3 khâu; trong phân phối giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích người lao động

Phạm vi khoán sản phẩm: áp dụng đối với mọi loại cây trồng và vật nuôi

Khoán 100 có tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ gia đình cả

về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dân chủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp Trong thời gian đầu, khoán 100 đã có tác dụng làm sống động nền kinh tế nông thôn và tạo ra một khối lượng nông sản lớn hơn so với thời kỳ trước

1.3.2 Trong lĩnh vực công nghiệp

Từ sau giải phóng miền Nam, mô hình kinh tế của miền Bắc được áp dụng cho cả nước Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác, nền kinh tế của miền Nam có hàng loạt đặc điểm

mà không thể đơn giản áp dụng mô hình kinh tế của miền Bắc vào Những phản ứng từ cuộc sống không dễ dập tắt chỉ bằng mệnh lệnh, lại càng không thể chỉ bằng một nhát đập bàn của một ai đó Trước sự sa sút hiển nhiên về kinh tế những năm 1978-1979, khó còn

có thể tiếp tục giải thích bằng những nguyên nhân nào khác ngoài bản chất cơ chế kinh tế

và sự bất lực của những phương cách cứu chữa cũ Từ đây, bắt đầu thời kỳ rất sống động của việc tìm tòi Ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An đã xuất hiện nhiều hiện tượng

Trang 18

“xé rào” (chỉ hành động của những lãnh đạo ở cấp cơ sở vượt qua các hàng rào thể chế để tháo gỡ ách tắc của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung) Hội nghị Trung ương 6 khóa IV với chủ trương làm cho “sản xuât bung ra” làm cơ sở, tiền đề, hợp pháp hóa giúp cho các doanh nghiệp tự chủ trương thực hiện những đổi mới để khắc phục khó khăn Những Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 vừa như luồng gió mới, vừa như một lá bùa “hộ mệnh”

để các địa phương, các ngành thêm năng động sáng tạo trong việc “phá rào” nhằm tìm kiếm những giải pháp khắc phục những ách tắc trong sản xuất, lưu thông, giải tỏa những bức xúc trong cuộc sống

1.3.2.1 Đột phá tại Xí nghiệp Thành Công

a, Tình hình Xí nghiệp Thành Công trước đột phá

Xí nghiệp Dệt Thành Công Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc là một xí nghiệp dệt tư nhân tên là Tái Thành Kỹ nghệ, được chủ hiến cho Nhà nước sau ngày giải phóng miền Nam Từ đó, nó do Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý Đây là một xí nghiệp dệt lớn, được trang bị hiện đại nhất nhì ở miền Nam trước năm 1975

Mấy năm sau giải phóng, xí nghiệp vẫn còn hoạt động tương đối bình thường Nhưng

từ năm 1978, Việt Nam đi vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế thiếu hụt, xí nghiệp bắt đầu lâm vào tình trạng thiếu đầu vào do đó giảm sút đầu ra

b, Nguyên nhân dẫn đến quyết định “phá rào”

Năm 1980, Nhà nước chỉ cung cấp cho nhà máy khoảng 40- 50% nguyên liệu so với

kế hoạch, có thứ thì chỉ được 20% Do đó, đầu ra cũng giảm sút tương ứng…Nhà máy đứng trước nguy cơ phải đóng cửa Khó khăn lúc bấy giờ chính là sự thiếu hụt nguồn ngoại

tệ để có thể nhập khẩu được những nguyên vật liệu cũng như bảo dưỡng máy móc định kỳ

c, Quá trình “phá rào”

 Tạo đầu ra cho sản phẩm

Trong tình huống lúc bấy giờ, công nhân và cán bộ của nhà máy đã nghĩ đến biện pháp tự cứu mình Nhưng muốn cứu thì trước hết phải có ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu Từ khi có Nghị quyết 6 (tháng 9/1979) của Trung ương, xí nghiệp nghĩ ra những biện pháp “bung ra”, “cởi trói” bằng cách liên kết với những cở sở để bán hàng thu ngoại

tệ như Công ty Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Cảng Sài Gòn, Công ty Xuất khẩu Thủy sản Ramexco, Cửa hàng miễn thuế ở sân bay Tân Sơn Nhất,…

Trang 19

Giám đốc Nguyễn Xuân Hòa đã “thuyết khách” với thủy sản Ramexco: tôi bán vải, anh bán cho ngư dân để mua tôm cá của họ Tôm, cá đó xuất khẩu thu ngoại tệ thì xin anh trả cho tôi bằng ngoại tệ Với du lịch và cảng biển, anh cứ bày vải của tôi ở cửa hàng để bán cho khách nước ngoài tiền gốc tiền anh trả tôi nhưng bằng ngoại tệ

 Vay vốn ngân hàng để mua nguyên liệu:

Ngày 08/09/1980, phương án 304/80 TC đã soạn xong với các nội dung Xí nghiệp Dệt Thành Công xin vay ngân hàng Vietcombank 180.000 USD, lãi suất 18% và 1,5% phụ phí/năm Với số tiền này, xí nghiệp dùng 120.000 đô la để nhập 40 tấn tơ, sợi, 60.000 USD

để nhập phụ tùng thuốc nhuộm ới phương án: Vay 180.000 USD, trong đó, 120.000 USD

để mua 40 tán sợi, còn lại mua hóa chất, phụ tùng, thuốc nhuộm Sau khi sản xuất được vải

xí nghiệp đem bán cho các đối tác, ngoại tệ thu được trước hết trả ngân hàng, còn lại để nuôi công nhân, cải tạo dây chuyền, tích lũy và nộp ngân sách

 Thuyết phục bộ chủ quản duyệt phương án:

Trong cơ chế lúc đó những việc như tự đi vay vốn, tự mua nguyên liệu giá ngoài, tự sản xuất theo kế hoạch riêng rồi tự bán ra ngoài đều là những điều cấm kỵ Nếu đưa thẳng

ra Hà Nội thì không những không được duyệt mà có khi còn bị kỷ luật Khi đó, giám đốc tìm đến vị lãnh đạo có tư tưởng thoáng nhất ở Bộ Công nghiệp nhẹ là thứ trưởng Vũ Đại Giám độc đưa phương án đệ trình lên, thấy được cái hay của dự án Thứ trưởng Vũ Đại và cầm bút ký

Xí nghiệp xuất lô hàng đầu tiên cho khách Sau khi bán hết số ngoại tệ, xí nghiệp đã

đủ ngoại tệ để trả cả vốn lẫn lãi cho Vietcombank, và vẫn còn dư ra 82.000 USD

Cuối năm 1980, Bộ Công nghiệp nhẹ tiếp tục thông báo sang năm 1981, Nhà nước vẫn còn khó khăn về nhập khẩu, không có khả năng cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy Việc “tự cứu” lại được tiếp tục, nhưng trên quy mô lớn hơn Ngay từ đầu năm, xí nghiệp

đã xây dựng phương án sản xuất kinh doanh (Phương án số 60-TC/KH ngày 10/02/1981)

Xí nghiệp vay của Vietcombank số tiền 1,7 triệu USD, nhập về 650 tấn sợi, 20 tấn hóa chất làm thuốc nhuộm và một số phụ tùng thiết yếu, với nội dung: vay ngoại tệ thực hiện cơ chế

“xuất khẩu tam giác” để tự cân đối kế hoạch Cơ chế này được giải trình trong phương án như một đặc cách của cơ chế riêng để thoát khỏi cơ chế chỉ tiêu, chính sách tự cân đối vốn, nguyên liệu, lương công nhân, được mở tài khoản ở Vietcombank, được giao dịch trực tiếp

và trực tiếp xuất nhập khẩu, được khoán quỹ lương

d, Kết quả, thành tựu

Trang 20

Cuối năm 1981, xí nghiệp dệt Thành Công từ chỗ không có đồng USD nào trong tay,

đã có một số vốn ngoại tệ tự có là 1,3 triệu USD

1.3.2.2 Công nghiệp thuốc lá - Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội

a, Tình hình Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội trước đổi mới

Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội vốn là Nhà máy Thuốc lá J.BASTOS Đó là nhà máy thuốc lá đầu tiên của Pháp ở Việt Nam, được thành lập ở Sài Gòn từ năm 1936 Trong thời

kỳ 1946-1954, nhà máy đã liên kết với hãng thuốc lá MIC thành một hiệp hội, cùng bắt tay nhau thống lĩnh, thao túng thị trường thuốc lá ở Việt Nam

b, Nguyên nhân dẫn đến quyết định “phá rào”

Ngày 19/09/1976, Hãng J.BASTOS chính thức được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản và đến ngày 01/01/1978, được đổi tên thành Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội Từ đây, nhà máy đi vào hoạt động theo phương thức, nội dung hoàn toàn mới về bản chất: Công nhân được làm chủ tập thể, sản xuất nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây cũng là khoảng thời gian nhà máy bắt đầu gặp nhiều khó khăn về vật tư, vốn Tình trạng này là do thiếu ngoại tệ để nhập khẩu nguồn nguyên liệu cho nhà máy, nguồn cung cấp trong nước ngày càng teo lại và do cơ chế quản lí thay đổi một cách đột ngột, Xí nghiệp không có quyền chủ động trong việc tìm kiếm vật tư, nguyên liệu, thị trường

Đến năm 1979, số phận kinh tế nhà máy đã xuống đến đáy vực: có tháng thiếu nguyên liệu phải ngừng sản xuất, công nhân bỏ việc nhiều có nguy cơ đội ngũ công nhân nhà máy tan rã

c, Quá trình “Phá rào”

Giám đốc nhà máy Lê Đình Thụy được sự nhất trí của Đảng ủy xí nghiệp và đã đến tìm gặp ông Nguyễn Văn Phỉ - Giám đốc Imexco saigon, Nguyễn Nhật Hồng – Giám đốc Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh, đều được cả hai đồng ý ủng hộ Tuy nhiên, Giám đốc Vietcombank không có quyền và trách nhiệm trực tiếp chạy ngoại tệ cho một xí nghiệp địa phương Giám đốc Sở Ngoại thương đã liên lạc với Chonimex đứng ra nhận giúp đỡ Ngay khi nhận được nguyên vật liệu, xí nghiệp đã phát động chiến dịch để hoàn thành sản lượng mà nhà nước giao với ba phương châm: Gọn nhẹ, năng động, giải quyết kịp thời

và hiệu quả mọi vấn đề đề phát sinh trong sản xuất Xí nghiệp tổ chức lại khâu sản xuất,

áp dụng một chế độ lương mới, tổ chức các khâu cung ứng, đời sống, điện, nước, y tế,

Trang 21

một cách tối ưu Nhà máy đã mạnh dạn áp dụng “Bản quy chế về thưởng tăng năng suất có lũy tiến”

d, Thành tựu kết quả sau đổi mới

Sau khi nhận được nguyên vật liệu, trong một tháng cuối năm nhà máy đã sản xuất được 31 triệu bao, hoàn thành được nhiệm vụ Nhà nước giao cho Liên hiệp Xí nghiệp Năng suất lao động tăng vọt, một tháng làm hơn một quý, bằng gần nửa năm

Từ năm 1981, Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội đã tung ra thị trường các mẫu thuốc lá mới chất lượng cao, đẹp mắt không thua kém hàng nhập ngoại mà giá thành lại rẻ hơn Sau một thời gian, đã đẩy lùi những thuốc lá nhập lậu, chiếm lĩnh thị trường

1.3.2.3 Quyết định 25-CP và quyết định 26-CP

Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25 – CP (1/1981) về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Hội đồng Chính phủ quyết định một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục cải tiến công tác kế hoạch hoá và hạch toán kinh tế ở các xí nghiệp quốc doanh theo những nguyên tắc sau đây: Trên cơ sở bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, mở rộng quyền chủ động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp theo nguyên tắc lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dung đúng đắn các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường, tạo ra những điều kiện linh hoạt, cơ động cần thiết cho xí nghiệp đẩy mạnh được sản xuất và kinh doanh có lãi

Tăng cường quyền tự chủ tài chính của xí nghiệp, thúc đẩy xí nghiệp tính toán trong việc sử dụng các nguồn vốn thiết bị, vật tư, lao động của xí nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh

tế cao nhất, trên cơ sở đó giải quyết đúng đắn 3 lợi ích: Nhà nước, tập thể xí nghiệp và cá nhân người lao động, trước tiên là khuyến khích người lao động tăng năng suất, tăng sản lượng, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đồng thời bảo đảm nguồn thu của Nhà nước Tạo mọi điều kiện cho xí nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước, đồng thời khuyến khích xí nghiệp tận dụng mọi tiềm lực để sản xuất thêm của cải cho xã hội, củng cố vững chắc kinh tế quốc doanh và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Quyết định nêu rõ cần cải tiến công tác kế hoạch hoá trên cơ sở phương hướng và nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh mới và phù hợp với điều kiện hiện nay, xí nghiệp quốc doanh xã hội chủ nghĩa phải không ngừng mở rộng phạm vi kế hoạch hoá, phát huy tính chủ động của mình nhằm tận dụng các năng lực hiện có và tiềm năng, đạt hiệu quả kinh tế

Trang 22

ngày càng cao Ngoài nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, Nhà nước khuyến khích xí nghiệp chủ động sản xuất thêm sản phẩm chính, sản phẩm phụ, làm các công việc có tính chất công nghiệp (đối với xí nghiệp sản xuất) hoặc mở rộng diện kinh doanh (đối với xí nghiệp thương nghiệp) nếu xí nghiệp còn năng lực sản xuất và có khả năng tự cung ứng những điều kiện vật chất

Cùng ngày 21-1-1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 26-CP về việc

mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước Trước hết ta hiểu lương khoán, lương sản phẩm và tiền thưởng là gì? Lương khoán là:hình thức trả lương của doanh nghiệp cho người lao động khi người lao động hoàn thành xong khối lượng công việc theo đúng chất lượng đã được giao Lương theo sản phẩm là hình thức trả lương mà người sử dụng lao động thực hiện cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm mà người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm ra và đơn giá sản phẩm được giao Tiền thưởng

là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất đối với người lao động trong quá trình làm việc, qua đó nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian làm việc

Quyết định 26 nêu rõ: Các Bộ quản lý sản xuất, kinh doanh, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào tình hình đặc điểm của ngành kinh tế kỹ thuật và từng đơn vị trực thuộc để ban hành các định mức lao động (định mức ngành hoặc định mức địa phương)

và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm và đơn giá luỹ tiến, để thi hành cho cả năm 1981.Việc xác định các định mức trên đây phải được tiến hành cẩn thận, bảo đảm tăng năng suất lao động và trên cơ sở đó hình thành mức thu nhập của công nhân, viên chức một cách thoả đáng; chú ý giữ mối quan hệ tương đối hợp lý giữa các ngành, nghề, các đơn

vị cơ sở trong điều kiện kinh tế hiện nay Ngoài lương khoán, thu nhập của công nhân, viên chức trong xí nghiệp còn có thể được tăng thêm do việc bổ sung tiền thưởng tích từ quỹ lương hoặc từ lợi nhuận xí nghiệp Cơ sở để trả lương khoán, lương sản phẩm và tiền thưởng phải căn cứ vào sự ghi chép, hạch toán và kiểm tra chặt chẽ số lượng và chất lượng sản phẩm khi nhập kho Trong việc trả lương khoán, lương theo sản phẩm, phải chú ý gắn lợi ích của mỗi người lao động, kể cả người lao động phục vụ cho việc sản xuất ra sản phẩm đó (quản lý, cung ứng, kỹ thuật, y tế, giữ trẻ, cấp dưỡng, bảo vệ, v.v ) với kết quả sản phẩm cuối cùng, bảo đảm các mối quan hệ hợp tác sản xuất, kinh doanh và quản lý được tốt

Những chủ trương chính sách nêu trên giúp cơ sở tự giải quyết một phần khó khăn, góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nước

Trang 23

1.4.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp

 Ưu điểm

Sau khi chỉ thị 100 được ban hành, như được cởi trói, khoán sản phẩm đã được triển khai, thực hiện phổ biến ở các hợp tác xã và các tổ, đội sản xuất Nhìn chung, năng suất lúa sau khi thực hiện khoán sản phẩm ở các hợp tác xã tăng lên, nơi tăng ít khoảng 4-5%, tăng vừa từ 15-20%, cá biệt có nơi tăng 50%

Với chỉ thị 100, được nhân dân cả nước ủng hộ, nhanh chóng thành phong trào quần chúng sâu rộng Sản lượng lương thực bình quân đạt từ 13,4 triệu tấn/năm thời kỳ 1976-

1980 tăng lên 17 triệu tấn/năm thời kỳ 1981-1985; những hiện tượng tiêu cực, lãng phí trong sản xuất nông nghiệp giảm đi đáng kể

 Hạn chế

Khoán 100 cũng chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp Hệ thống này cùng tính chất mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là hộ nhận khoán Mức khoán không ổn định, được điều chỉnh theo từng năm, ngày càng cao hơn khiến xã viên vượt khoán được hưởng lợi rất ít, người nông dân chỉ còn lại khoảng 16 – 20% sản lượng khoán, không bù đắp được vốn và sức lao động bỏ ra, vì vậy, động lực vừa mới được tạo ra đã dần bị triệt tiêu Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất Khoán việc quay trở lại và xã viên không hào hứng với các công việc

Ngày đăng: 09/10/2023, 06:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w