1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

LỜI THƯA Hùng Vương là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta, mà Hùng Vương có ppt

55 292 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lời Thưa Hùng Vương Là Biểu Tượng Của Quốc Tổ Nước Ta, Mà Hùng Vương Có
Tác giả Huỳnh Uy Dũng
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 308,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ CHI LY Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu 1740- TCN lên ngôi khi 29 tuổi... Trăm ngọn đồi y hệt đàn voi Cùng quay về một h

Trang 1

LỜI THƯA Hùng Vương là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta,

mà Hùng Vương có những mười tám(18) đời, mỗi đời

lại có đôi, có ba, có bốn… Chi, (hay có thể nói ngược lại: Hùng Vương có mười tám (18) Chi, mỗi Chi lại

có đôi, ba, bốn đời), mà cũng phải như vậy mới được

Vì thời kì lịch sử Hùng Vương kéo dài đến những hai sáu hai một (2621) năm Nếu không gồm chứa nhiều

Chi hoặc nhiều đời thì thực khó mà giải thích

Vậy, tóm lại Hùng Vương với mười tám (18) đời,

là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta Ngày nay về mặt

những Chi Chi và đặc biệt là qua những truyền

thuyết, chúng ta có thể hình dung ra một thời kì các

Vua Hùng ấy Đó là một cái gì rất đẹp, rất khỏe, rất thơ và rất đạo Đặc biệt là qua những chuyện cổ tích Trong đó ẩn giấu những thông điệp của tổ tiên Hồng Lạc Với tập Sử Thi này, chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giải mã các thông điệp nói trên để tỏ chút lòng hiếu kính

Mong quý bạn đọc chỉ bảo cho những điều sơ sót

Kính bút

Huỳnh Uy Dũng

TẠ ƠN QUỐC TỔ

Một nhà văn nào đó có nói: nếu anh không có lòng biết

ơn, anh không có gì cả May thay, lành thay: Dân tộc Việt Nam chúng ta là một dân tộc biết ơn lắm! Biết ơn

Trang 2

cuộc sống, biết ơn đất nước, biết ơn ông bà cha mẹ, biết

ơn thầy cô- biết ơn tất cả Và trong những điều biết ơn

vô giá ấy, có niềm biết ơn Tổ Tiên Cội Nguồn

Đây không phải là lời nói suông, lời khen suông

Cứ đọc trong sách, cứ nhìn trong đời, chúng ta có thể bắt gặp lòng biết ơn này Khắp nơi từ Bắc chí Nam, tận rừng sâu núi thẳm, tận ngõ hẻm hang cùng, đâu đâu

cũng có bóng của những ngôi đền thờ Quốc Tổ, hầu hết

do chính người dân tự nguyện dựng lên để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc Lòng biết ơn ấy mới quý giá làm sao!

Nó giúp chúng ta lớn lên thành người Nó ban cho chúng ta các đức tính tự hào, tự tin, tự trọng Còn hơn thế nữa, nó giúp chúng ta giữ được nước, dựng được nhà

Và hôm nay chúng ta họp mặt nhau đây cũng là do công biết ơn ấy

Vì lòng biết ơn ấy để cùng lắng lòng niệm ơn các Vua Hùng, Quốc Tổ của chúng ta, đã dầy công gầy dựng nên

nước non này Cho chúng ta có cội mà nhớ, có nguồn

mà thương, có Xã Tắc mà vững Âu Vàng, có Sơn Hà mà bon ngựa đá, có Quốc Tổ để chúng ta vinh hạnh làm người

Hôm nay chúng ta họp mặt ở đây Một là để thêm

một lần nữa trong những ngàn lần tưởng niệm công ơn dựng nước của các Vua Hùng, Quốc Tổ của chúng ta

Hai là để nhắc nhở nhau nỗ lực để giữ lấy nước mình,

Trang 3

giữ lấy nền độc lập tự do của nước mình, giữ lấy hạnh

phúc của dân mình Giữ lấy và củng cố thêm, cho mỗi

ngày thêm lớn, thêm cao, thêm rộng

Cùng với độc lập tự do và hạnh phúc, nhân phẩm

của dân tộc ta ngày một thêm rộng lớn, như núi Trường

Sơn như biển Thái Bình và như lịch sử huy hoàng trên

bốn ngàn năm Đại Nam Văn Hiến

*Chi gọi là nhánh, là nhiều đời gọi là chi

Mười tám chi ấy như sau:

CHI CÀN

Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm

Ngọ (2919 TCN) lên ngôi năm 41 tuổi Tại ngôi tất

cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879-TCN) đến năm

Đinh Hợi (2794- TCN) Ngang với Trung Quốc vào

thời đại Tam Hoàng

CHI KHẢM

Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền

Vương, sinh năm Bính Thìn (2825-TCN) lên ngôi

Trang 4

năm 33 tuổi Chi này tại ngôi tất cả 269 năm, đều

xưng là Hùng Hiền Vương Từ năm Mậu Tý (2797- TCN) đến năm Bính Thân (2525-TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Hoàng Đế ( Ngũ Đế)

CHI CẤN

Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân Lang, sinh năm Canh Ngọ (2570- TCN), lên ngôi khi 18 tuổi, các đời vua đều xưng là Hùng Quốc Vương, tại ngôi tất cả

272 năm Từ năm Đinh Tỵ (2524- TCN) Ngang với Trung Quốc thời Đế Thuấn, Đế Nghiêu

CHI CHẤN

Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 TCN) Đều xưng là Hùng Hoa Vương, tại ngôi tất cả 342 năm từ năm Đinh Hợi (2254 TCN) đến năm Mậu Thìn (1913- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ

CHI LY

Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740- TCN) lên ngôi khi 29 tuổi Truyền

Trang 5

hai đời vua, tại ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương Từ năm Kỷ Sửu (1712- TCN) đến năm

Kỷ Dậu (1632- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Đinh nhà Thương

CHI KHÔN

Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Qúy

Tỵ (1768- TCN) lên ngôi khi 18 tuổi Truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, tại ngôi tất cả

200 năm, từ năm Canh Tuất (1631- TCN) đến năm

Kỷ Tỵ (1432- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời

Tổ Ất nhà Thương

CHI ĐOÀI

Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm

Thìn (1469- TCN) lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Vỹ Vương, tại ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431- TCN) đến năm Kỷ Dậu ( 1332- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Nam Canh nhà Thương

CHI GIÁP

Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375- TCN) lên ngôi khi 45 tuổi Truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Định Vương, tại ngôi tất

cả 80 năm, từ năm Canh Tuất(1331-TCN) đến năm

Trang 6

Kỷ Tỵ (1252- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời

Tổ Giáp nhà Ân

CHI ẤT

Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, sinh năm Giáp Ngọ (1287-TCN) Truyền 3 đời vua, tại ngôi tất

cả 90 năm Từ năm Canh Ngọ (1251-TCN) đến năm

Kỷ Hợi (1162- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân

CHI BÍNH

Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang sinh năm Canh Tuất (1211- TCN) lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Trinh Vương, tại ngôi tất

cả 107 năm Từ năm Canh Tý (1161- TCN) đến năm Bính Tuất (1055- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Thành Vương nhà Tây Chu

CHI ĐINH

Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105- TCN) lên ngôi khi 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương, tại ngôi tất cả 86 năm Từ năm Đinh Hợi (1054- TCN) đến năm Nhâm Tuất (965- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu

CHI MẬU

Trang 7

Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982- TCN), lên ngôi khi 23 tuổi, truyền năm đời

vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, tại ngôi tất cả

115 năm Từ năm Qúy Hợi (968- TCN) đến năm

Đinh Mùi (853- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu

CHI KỶ

Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894- TCN) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Anh Vương, tại ngôi tất cả 99 năm Từ năm (853 đến 755- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Bình Vương nhà Đông Chu

CHI CANH

Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Qúy Sửu (748- TCN), lên ngôi khi 35 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Triệu Vương, tại ngôi tất

cả 94 năm Từ năm Đinh Hợi (754- TCN) đến năm Canh Thân (661- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Huệ Vương nhà Đông Chu

CHI TÂN

Hùng Tạo Vương, húy Đức Lang Quân, sinh năm Kỷ

Tỵ (712- TCN) Truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 92 năm Từ năm Tân Dậu (660- TCN) đến năm Nhâm

Trang 8

Thìn (569- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Linh Vương nhà Đông Chu

CHI NHÂM

Hùng Nghi Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm

Ất Dậu (576- TCN), lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Nghị Vương, tại ngôi tất cả

160 năm Từ năm Qúy Tỵ (568- TCN) đến năm

Nhâm Thân (409- TCN) Ngang với Trung Quốc vào thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu

CHI QUÝ

Hùng Duệ Vương, húy Huệ Lang sinh năm Canh Thân (421- TCN) lên ngôi khi 14 tuổi, truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 150 năm Từ năm Qúy Dậu (408- TCN) đến năm Qúy Mão (258- TCN) Ngang với năm thứ 17 đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56 đời Noãn Vương nhà Đông Chu Trung Quốc

Điều siêu việt nhất dân tộc Việt

Ấy phiến Tâm tha thiết cội nguồn Bánh Dày tròn Bánh Chưng vuông Công cha nghĩa mẹ đời khôn báo đền

Mười tháng ba ngay thiêng Quốc Tổ

Ngày giỗ thiêng Quốc Tổ Hùng Vương

Triệu lòng nghi ngút khói hương

Trang 9

Tỏa mây lành khắp Hùng Sơn bạt ngàn

Ấy là chốn từ đàng cẩm tú

Thuộc Phong Châu- Vĩnh Phú quê mình (10)

Nơi hồn Quốc Tổ quang vinh Nơi hồn Quốc Tổ hiển linh vạn đời

Từ đàng ấy chia ngôi ba bậc

Hạ, Trung rồi, Thượng thật phân minh

Khởi đầu Đền Giếng xinh xinh

Nơi nghìn năm thoảng bóng hình Tiên Nga

Hai công chúa ngọc ngà kiều diễm

Là Tiên Dung rồi đến Ngọc Hoa

Hai “Tiên” từng “tắm ao nhà”

Để cho “Giếng Ngọc” trổ tòa thiên nhiên (20)

Qua Đền Giếng bước lên Đền Hạ

Vượt hai trăm bậc đá rừng xanh Theo lời truyền thuyết lừng danh

Mẹ Tiên trăm trứng hạ sanh Con Rồng

Đền Hạ tọa lạc lưng chừng núi

Có ngôi chùa mở lối Tam Quan Gác chuông vọng tiếng chuông vàng Ngàn năm hồn Mẹ ngân vang điệu huyền

Từ Đền Hạ, thêm trăm sáu tám (168)

Những bậc thang hùng tráng vươn mây (30)

Trang 10

Lên Đền Trung – chính nơi này

Các Vua Hùng đã dựng gầy triều cang

Chốn Lang Liêu bao ngàn năm trước

Đã từng phen lập được kỳ công Một kỳ công đẹp lạ lùng

“Kỳ công thực phẩm” bánh Chưng bánh Dày

Một dấu ấn của ngày mở nước

Nó vuông tròn như một bài thơ Hiếu trung nhân nghĩa dựng cờ

Kỷ cương Âu Lạc rạng tờ sử xanh (40)

Từ Đền Trung vượt nhanh trăm bậc Tới Đền Hùng cao nhất Hùng Sơn Gọi là Đền Thượng – nơi thường

Diễn ra những lễ tạ ơn đất trời

Như thể Vua Hùng đời thứ sáu

Khi giặc Ân cuồng khấu nghênh ngang

Tiến vào bờ cõi Văn Lang Hùng Vương đã lập đàn tràng nơi đây

Để xin đấng cao dày phù trợ Cho thần dân giúp giữ biên cương (50)

Thế rồi: Phù Đổng Thiên Vương

Cho ngàn năm mãi sáng gương anh hùng

Từ Đền Thượng trùng trùng điệp điệp

Trang 11

Trăm ngọn đồi y hệt đàn voi Cùng quay về một hướng thôi

Y như quy phục ngôi trời Hùng Vương

Ôi cả một giang sơn hùng vĩ Một giang sơn tú lệ vô ngần Một giang sơn của thiên thần

Một giang sơn của nhất chân Đồng Bào (60)

Cõi phúc địa mưa rào cam vũ

Miền Nam Thiên Nhất Trụ Tâm Linh

Mười tám đời vương trị bình

Và mười tám chiếc nan xinh quạt ngà

Trên Đền Thượng gấm hoa, không chỉ

Có lăng thờ chư vị tiên hiền

Mà còn một cột đá thiêng

An Dương Vương đã dựng lên một thời

Một cột đá vời vời vậy đó Nguyện giữ gìn nghiệp cả cha ông (70)

Giữ xã tắc giữ non sông

Để thiên thu rạng kỳ công Vua Hùng

Ngoài Đền Chính nơi Hùng Sơn nọ Huyện Phong Châu- Phú Thọ ngày nay

Khắp nơi trên nước non này Bốn phương nam bắc đông tây chốn nào

Trang 12

Hễ có mặt đồng bào Lạc Việt

Ắt có Đền chư liệt Hùng Vương

Ngoài ra, khắp chốn tha phương

Khắp năm châu, còn cơ man Việt Kiều (80)

Dẫu xa nước vẫn yêu dấu nước

Yêu nước sao quên được Hùng Vương

Và từ trăm nẻo tha phương

Vẫn về quê tổ, xin “Chân Hương” về

Kinh Dương Vương vốn họ Hồng Bàng (90)

Sinh trai là Lạc Long Quân Cưới Âu Cơ ấy Cha Rồng Mẹ Tiên

Và kết quả mối duyên thần thoại

Là trăm con thiên tải nhất thì

Dòng Bách Việt giống Long Nhi

Nửa thì theo mẹ nửa thì theo cha

Và Hùng Vương chính là con trưởng

Theo cha đi về chốn phương Nam Dựng gầy cõi nước Văn Lang Mười tám đời một ngai vàng Hùng Vương (100)

Trang 13

Phong Châu mở triều cương Quốc Tổ

Chia nước mười lăm bộ như sau

Văn Lang- Bạch Hạc- Phong Châu

Ấy kinh đô buổi ban đầu Nam Thiên

Rồi Phúc Lộc – Châu Diên – hai bộ Nay thuộc về đất của Sơn Tây Tân Hưng – Hưng Hóa ngày nay

Vũ Định ấy thuộc ngày rày Thái Nguyên

Vũ Hạnh – thuộc Bắc Ninh hiện tại Lục Hải – bây giờ gọi Lạng Sơn (110)

Dương Tuyền – nay thuộc Hải Dương

Ninh Hải – thuộc Quảng Yên đương thời này

Giao Chỉ trước – nay là Hà Nội Hưng Yên – Nam Định với Ninh Bình

Cửu Chân – nay gọi xứ Thanh

Hoài Hoan – xứ Nghệ địa danh anh hào

Cửu Đức - ấy đường vào Nghệ Tĩnh Việt Thường – Quảng hai tỉnh Trị, Bình

Quảng Bình – Quảng Trị trăm xinh

Muôn xưa xinh đẹp bóng hình Văn Lang (120)

Các Vua Hùng giỏi dang việc nước

Mười tám đời sau trước vẻ vang Con trai vua gọi Quan Lang

Con gái vua gọi là nàng Mỵ Nương

Trang 14

Dòng giống Việt can trường thiên bẩm

Lại thêm tình nghĩa nặng thiên thu

Cứ nghe thần thoại nghìn xưa

Đủ hay cái đẹp cái thơ của đời

Cõi Âu Lạc rạng ngời Văn Hiến Nghĩa Tiên Rồng thể hiện âm dương (130)

Một dương thể hiện kiên cường

Một âm thể hiện khiêm nhường nhã nhu

Dương thể hiện thần thông du hí Ơi! con Rồng bất chiến vĩ kia

Âm thể hiện đức thuận tùy

Ơi! nàng tiên của nhu mì đảm đang

Ơi cái nghĩa đá vàng non biển Nghĩa vuông tròn bất biến tùy duyên Nghĩa cha Rồng, nghĩa mẹ Tiên

Nghìn năm Văn Hiến đẹp duyên Tiên Rồng (140)

Những pho sử Vua Hùng thần thoại

Mỗi pho là mỗi dải sông Ngân Mỗi chương một đóa Tường Vân

Mỗi trang là một điệu vần trái sim

Đói lòng ăn trái sim nửa trái Một cõi lòng vạn đại dung thân Trở về nguồn cội tiên nhân

Trang 15

Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân … bao đời

Kinh Dương Vương mở đời tự chủ Dựng gầy ngôi cửu ngũ Văn Lang (150)

Chi Càn trải mấy đời Vương

So ngang thời đại Bắc phương: Tam Hoàng

Tám sáu (86) năm Chi Càn dựng nước

Đến Lạc Long Quân, tức Hùng Hiền

Chuyển qua Chi Khảm nối truyền

Từ Mậu Tí đến Bính Thân nhớ chăng?

Là hai sáu chín (269) năm bình trị Sánh ngang đời Ngũ Đế Trung Hoa

Rồi sang Chi Cấn nguy nga

Hùng Quốc Vương tên húy là Hùng Lân (160)

Với hai bảy hai (272) năm thống trị

Kể từ năm Đinh Tỵ - so ra Ngang đời Đế Thuấn Trung Hoa Vua, tôi trung dựng Sơn Hà Lạc Long

Qua Chi Chấn ngôi Rồng chuyển hệ

Sang Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang

Từ Đinh Hợi, một thời gian

Ba bốn hai (342) năm sang năm Mậu Thìn

Trung Quốc Sử: niên biên nhà Hạ

Chi Tốn: truyền nghiệp cả Bảo Lang (170)

Trang 16

Hùng Hy Vương: một đăng quang Hai trăm (200) năm khéo vẻ vang Tiên Rồng

Chi Ly: ấy Vua Hùng thứ sáu

Hùng Hồn Vương: Tân Dậu tuổi người

Hồn Vương truyền được hai đời

So Trung Quốc sử vào đời nhà Thương

Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương kế vị

Hai trăm (200) năm ngự trị ngai rồng

Năm đời vua, một non sông

Mang chung vương hiệu ấy: Hùng Chiêu Vương

Chi Đoài: Hùng Vỹ Vương trị nước (181)

Năm đời vua chung một hồng danh Trăm năm (100) vận nước Thái Bình

Canh Ngọ - Kỷ Dậu thêm xinh Việt Thường

Chi Giáp: Hùng Định Vương cũng gọi

Ba đời Vua bằng mỗi tên này Tám mươi (80) năm thoảng mây bay

So Trung Quốc sử ngày rày nhà Ân

Chi Ất: Hùng Uy Vương kế vị

Chín mươi (90) năm, nối trị ba đời (190)

Chi Bính: Trinh Vương lên ngôi

Trăm lẻ bảy (107) năm, với bốn đời chung tên

Chi Đinh: tính từ niên Đinh Hợi

Trang 17

Tám sáu (86) năm cũng mỗi tên này Hùng Vũ Vương nối nghiệp dầy

So Trung Quốc sử: ngày rày Tây Chu

Chi Mậu: ấy triều vua Hùng Việt

Trăm mười lăm (115) năm đẹp hùng tâm

Năm đời chung dựng mùa xuân

So Trung Quốc sử: ngang tầm Lệ Vương (200)

Chi Kỷ: Hùng Anh Vương trị nước

Chín chín (99) năm truyền được bốn đời

So Trung Quốc sử ấy thời Bình Vương dựng nghiệp mở đời Đông Chu

Chi Canh: ấy đời vua Hùng Triệu

Ba đời vua chung một hiệu này Chín bốn ( 94) năm kể từ ngày

Từ Đinh Hợi tới ngày rày Canh Thân

Chi Tân: ấy đời Vương Hùng Tạo

Ba đời vua lãnh đạo Sơn Hà (210)

Chín hai ( 92) năm dựng nước nhà

So Trung Quốc sử vẫn là Đông Chu

Chi Nhâm : ấy đời vua Hùng Nghi Bốn đời vua ngự trị Văn Lang

Trăm sáu mươi (160) năm đá vàng

Vũ công văn nghiệp mở trang sử hồng

Trang 18

Chi Qúy: ấy thuộc dòng Hùng Duệ Lên ngôi từ năm Qúy Dậu kia Đến năm Qúy Mão vị chi

Một trăm năm chục (150) năm quy ba đời (220)

So Trung Quốc sử thời ngang với

Hai đời vua thuộc mỗi Đông Chu Tổng cộng Mười Tám Chi Vua

Hai mươi sáu thế kỷ thừa hai mốt ( 2621) năm

Như vậy, họ Hồng Bàng khai sáng

Không chỉ là mười tám đời vương

Mà là mười tám chi Vương Mỗi chi lại có nhiều vương nối đời

Ôi! pho sử tuyệt vời Âu Lạc

Pho sử thi sinh hoạt giống nòi (230)

Dẫu văn tự mất đi rồi Nhưng còn di chỉ vẫn ngời ánh dương

Những hiện vật Đông Sơn Ngọc Lũ

Những lưỡi rìu lưỡi búa vân vân…

Những muôn xưa tiếng Trống Đồng

Đã ngân nga khắp núi sông Việt Thường

Nói lên những bước đường khôi vĩ

Tiến lên chân thiện mỹ huy hoàng

Trong dẻo thơm hạt lúa vàng Trong xinh thắm của y trang con người (240)

Trang 19

Trong ấm đẹp của ngôi nhà ở Lại trong phong vân của bài thơ

Câu hò điệu hát hò lơ Lại trong tiếng sáo lửng lơ non ngàn

Lại trong khúc múa đàn xinh khỏe Chở chuyên tròn nghĩa mẹ tình cha Tình non nghĩa nước bao la Lại trong pho cổ tích hoa gấm vàng

Những cổ tích chiến công Phù Đổng Gọi nôm là Thánh Gióng anh nhi (250)

“ Ngày xưa có chàng Trương Chi

Trang cổ tích đẹp vần thi tình người

Chuyện Tấm Cám mở trời nhân nghĩa

Chuyện nghĩa nhân ăn khế trả vàng

Thạch Sanh với một cây đàn

Cây rìu để đẵn, cây đàn để ngân

Đàn những cái bất nhân bất nghĩa Nhân những điều trí tuệ từ bi

Ơi cây đàn của lương tri

Ngàn năm đồng vọng tư duy Lạc Hồng (260)

Lại còn nữa: Chử Đồng Tử với Nàng Tiên Dung vời vợi tình yêu

Dù cho rào giậu bao nhiêu Cũng khôn ngăn đắp tình yêu con người

Trang 20

Còn nữa: chuyện nắm xôi huyền thoại

Chuyện Thằng Bờm có cái quạt mo Chuyện Trầu Cau đẹp bài thơ Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh… như cuộc đời

Cơ man chuyện ngời ngời cổ tích Lại ngời ngời lai lịch thiên lương (270)

Trời sinh dân nước Việt Thường

Lại cho trọn vẹn sắc hương của lòng

Đẹp nhất chuyện Tiên Rồng dã sử

Là chuyện trăm trứng nở trăm con

Ôi sao quan niệm vuông tròn Như ôm bốn biển năm non vào lòng

Thiên hạ vạn vật đồng nhất thể

Điều những nhà “vạn thể” lập ngôn Việt Nam từ thuở Hùng Vương

Đã trao thông điệp trong nguồn tích xưa (280)

Những lời chư vị thánh hiền

Trang 21

Sao nghe gói trọn trong truyền thuyết kia

Những cổ tích tiền đề Văn Hiến Như chuyện bánh dày chuyện bánh chưng (290)

Món ăn sao đẹp quá chừng Sao nghe cao rộng muôn trùng biển non

Một bánh dày nó tròn nó trăm

Một bánh chưng vuông vắn mượt mà

Một tượng trời rất bao la

Một tượng đất rất Sơn Hà thế gian

Một tượng cho vô vàn che chở Lại muôn vàn hớn hở trăng sao Một tượng mẹ luôn rì rào Như con nước chảy nao nao trong nguồn (300)

Một tượng dương với muôn kỳ vĩ

Muôn hào hùng hạo khí hạo nhiên

Một tượng âm rất đa duyên

Lại rất dịu lại rất hiền như thơ

Nước Việt có hai tờ thơ đẹp Một tờ thơ là nét mạ xinh Lại là hạt thóc lung linh

Lại là hạt nếp trắng tinh trong ngần Một tờ thơ trường xuân lá chuối

Cứ phất pha phất phới mai chiều (310)

Trang 22

Hai tờ thơ của tình yêu Gói trọn cái nghĩa nhiễu điều giá gương

Cho quê mẹ nghìn thơm hương vị Của đất trời, của ý phu thê Của trung trinh , của nguyện thề Của gắn bó, của sum xuê bạt ngàn

Pho lịch sử tròn trang cổ tích

Chuyện Trầu Cau- Ngọc Bích liên thành

Chuyện vợ chồng nghĩa anh em Trầu Cau- Vôi quấn quít thành Văn Lang (320)

Thiếp xin hẹn cùng chàng chung thủy

Anh nguyện cùng em nghĩa tử sinh

Thì ra Lạc Việt nòi tình

Mình đi mình cũng theo mình mình ơi!

Ra cái mình nụ cười giọt lệ

Ra cái mình miêu duệ Rồng Tiên Quê hương Tiên Bụt Thánh hiền

Dệt nên trang cổ tích thiên thu này

Còn chuyện tình nào hay bằng chuyện

Chuyện Trương Chi hay đến cực kì (330)

“ Ngày xưa có chàng Trương Chi

Người thì thực xấu hát thì thực hay”

Người ta yêu cái đầy cái đủ

Trang 23

Người ta yêu cái tú cái thanh Riêng em em lại yêu mình Thoạt vì cái giọng mình xinh như rằm

Ra tiếng hát nó đằm thắm thế

Nó mênh mang chóp bể mưa nguồn

Nó đưa người tới Vu Sơn

Để đong đưa với sắc hương địa đàng (340)

Để tìm trong mộng tan trong mị

Để vong thân- Ừ! Để hóa thân Tiếng hát của chàng ngư nhân

Đã ru ai giấc mộng xuân mơ màng

Trong cái nỗi phòng không bóng lẻ

Nàng Mị Nương lặng lẽ đơn tư

Yêu sao tiếng hát song thu Lênh đênh nhạn trắng tuyệt mù khơi xanh

Đêm bóng ngự năm canh trằn trọc Ngày biếng ăn chín khúc ruột đau (350)

Hỡi ơi tiếng hát đi đâu

Để ai trăm thảm nghìn sầu vì ai

Gã ngư phủ nhất thời cảm hứng Cất tiếng ca lồng lộng cung thương

Vô tình ấy chuyện tai ương

Cho cô ái nữ Mị Nương thất tình

Trang 24

Bấy giờ đấng sinh thành nghiêm phụ Nghe tin nàng ngọc nữ tương tư

Bèn theo lời gã y sư

Triệu Trương Chi tới, dặn ngư dân này (360)

Một là phải đêm ngày thang thuốc

Cho Mị Nương sớm được phục hồi

Hai là phải hát đi thôi Cho bệnh nhân được nghe vui tấc lòng

Trương Chi nhận lời xong bèn đến Bên Mị Nương và tiếng ca chàng

Bèn xuyên vào trái tim nàng Cho nàng mở mắt lại bàng hoàng hơn

Vì cái kẻ giọng dường Tiên Phật Sao mặt mày lại rất như ma (370)

Khiến cô ái nữ nhà ta Thất kinh bèn nhắm mắt… và tỉnh cơn!

Và đúng lúc Mị Nương tỉnh giấc

Là khi tình lại dập Trương Chi

Là vì là bởi tại vì Sao người ngọc lại sinh chi trên đời

Để cho bấy rã rời gan-dạ Cho tả tơi vàng đá như ri

Để người thật xấu Trương Chi Mất linh hồn trước “ cô thùy Mị Nương” (380)

Trang 25

Cái luật của sắc hương là rứa Của sắc thanh hương chữ rõ là Hai tên thủ phạm gây ra

Cơ man thống hận hóa là vô minh

Mình gây họa mà mình đâu biết Cái đẹp mình làm chết người ta

Trương Chi từ gặp người ta

Lại lao mình giữa dòng sông nước

Xác Trương Chi hóa khúc gỗ thơm

Gỗ bạch đàn ngát linh hương

Và sau đó, khúc “gỗ thơm tự trầm”

Lại được một ngư nhân tìm thấy Và- kì diệu thay- lại đem về Bán cho đệ nhất gia kia

Để rồi “ khúc gỗ Trương Chi” cuối cùng (400)

Lại được một nghệ nhân chạm khắc Thành một bộ trà thật là xinh Thế rồi, lại thật kỳ linh

Mị Nương cầm chén trà xinh uống trà

Trang 26

Để lại thấy người ta hiện bóng Trong chén trà dậy sóng trường giang

Tay chèo một chiếc thuyền nan Miệng ca một khúc hò khoan não nùng

Ôi! Cái khúc ca trùng lai điệp Cái nỗi sầu tha thiết bao nhiêu (410)

Nỗi đau tuyệt vọng tình yêu Nỗi đau bạc phận rong rêu phận người

Tiếng ca nó biển trời lai láng

Khiến Mị Nương choáng váng tâm hồn

Thế là, giọt nước mắt tuôn Nhỏ vào giữa chén trà đương hiện người

Và “phép lạ” tức thời xuất hiện

Bóng chàng Trương bỗng biến mất tăm

Hồn oan của Gã ngư nhân Nay nhờ giọt lệ tri âm của Nàng (420)

Mà siêu thoát để tan thành một Ánh trăng vàng siêu mượt hư linh

Cho ta trở lại gặp mình

Văn Lang nước mở trang xinh yêu Vì

Cho cuộc sống thành ghi thành tạc Cho tình yêu thành nhạc thành thơ

Cho tương giao rộng cõi bờ

Trang 27

Cho tri âm biếc xanh tờ sử xanh

Ôi! những chữ trong lành cổ tích

Những trang thơ ngọc bích Văn Lang (430)

Phiến quạt mười tám chiếc nan Hai ngàn sáu lẻ triều quang dâng đời

Pho cổ tích rạng ngời nhân giới

Và Chử Đồng Tử với Tiên Dung

“Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Huống chi chàng với nàng cũng một Như ngôi chùa Một Cột ấy thôi

Lại như hạt gạo cắn đôi Lại như trăm trứng từ nơi mẹ hiền (440)

Trang tình sử tình truyền nhân bản Nhân sinh là nhất bản vạn thù

Ngày đăng: 19/06/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w