Cao Đông Vũ Thạc sỹ,NCV — -nÈ- Tom tat Trong đề tài này, các phương pháp phân tích nguyén t6 NAA, XRF, AAS két hop với các phương pháp thống kê đa biển CA, PCA, CDA va MD di được sử dụng
Trang 1BAO CAO THUONG NIEN
DE TAI KHOA HQC CONG NGHE CAP BO 2010-2011
1 Tênchủnhiệêmđềtài: Cao Đông Vũ
2 Đơnvi Trung tâm Phân tích, Viện Nghiên cứu hạt nhân
3 Điện thoại +ð4-633-552.365; 0983804046
4 Tên đề tài: Nghiên cứu nguân gốc di vật đất nung khu di ích Cát Tiên bằng phương pháp phân tích hạt nhân và thống kê đa biển
5 Mã số da tai ĐT.01/10NLNT
6 Thời gian thực hiện 3/2010 - 2/2012
7 Danh sách cán bộ thực hiện đề tài
Hạc vị, ngạch
its HOSY Pong Trung cấp,KTV ya tigu xây dựng Lâm Đồng
2 Trung Kién Thees¥iNCV a1 baying vung Nara BS
Ban quản lý Di tích Khảo cỗ học Cát Tiên
Phòng Vật lý-Điện tử, Vien
3 Lương Nguyên Minh Hoa sf, CV
4 Phạm Ngọc Sơn Thạc sỹ,NCV Nghi cứu Hạ nhận
5.- Nguyễn Thị Sỹ Cử nhân,NCV _ 1u nhận
6 Nguyễn Thị Thọ Cử nhân,NCV — -nt-
7 Cao Đông Vũ Thạc sỹ,NCV — -nÈ-
Tom tat
Trong đề tài này, các phương pháp phân tích nguyén t6 NAA, XRF, AAS két hop với các phương pháp thống kê đa biển CA, PCA, CDA va MD di được sử dụng để nghiên cứu nguồn gốc các đối tượng di vật đất nung đặc trưng tại khu di tích Cát Tiên tinh Lam Béng, Ham lượng của hoảng 34 nguyên tố trong 363 mẫu vật bao gồm: 111
sét, 16 mẫu cát, 158 mẫu gạch cổ, 65 mẫu gốm cổ, 10 mẫu ngói cỗ và 3 mẫu chất dính đã được xác định Một đải rộng khoảng 12.600 ha trên chiêu dài hơn 30 km dọc
bờ sông Đồng Nai trên địa bàn của 8 xã thuộc 3 huyện của 2 tỉnh Lâm Đồng và Đằng Nai đã được khảo sát qua để tài Trong đó, đã khoanh vùng và xác định đặc trưng phân
bố chỉ tiết cho ba nguồn sét tham khảo tại cánh đồng C2 trên diện tích xấp xỉ 500 ha tại
xã Quảng Ngãi huyện Cát Tiên Kết quả cho thấy cánh đồng C2 không phải là một nguồn sét đồng nhất mà là tập hợp của ba nguồn sét có đặc trưng khác nhau được chúng tôi gọi là Cụm nguồn sét C2 bao gồm: nguồn sét Bờ sông, nguồn sét vùng lõi cánh đồng C2, và nguồn sét Chân đồi Ba nguồn sét này được đặc trưng bởi nhóm nguyên tổ Mn
@C1, PC4), As ŒC1, PC3), Tb ŒC2) và Ba (PC2), trơng đó quan trọng nhất là cặp
1⁄8
Trang 2nguyên tố Mn-As Qua kết quả nghiên cứu, có 93% mẫu gạch cỗ thu thập từ 12 gò tháp bao gồm: Gò 2A, 2B, 2C, 2D D1, 2D2), Gò 3, Gò 4, Gò 6A, 6B, Gò 7, Gò 8A, 8B và 8C trong số 14 gò tháp tại khu di tích Cát Tiên có nguồn gốc từ nguồn sét Bờ sông, là nguồn sốt được sác định qua nghiên cứu này, Ngoài ra, hông có dấu hiệu nào rõ rằng cho thấy có sự liên quan giữa gạch cỗ thu thập từ khu di tích và gach cổ thu thập từ các
lò gạch được tìm thấy tại cánh đồng Bảy mẫu Đối với hai loại hình đi vật đất nung là
và ngói tai khu đi tích Cát Tiên có phân bố nguồn khá phân tán, trong khuôn khổ
đề tài này nguồn gốc của chúng chưa được xác định
Giới thị
Năm 2007-2008 nhóm tác giả đã xây dựng một để tài nghiên cứu cấp Bộ về
“Nghiên cứu tíng dụng phương pháp NAA và các phrong pháp xử lý thống lê đa biến trong nghiên cứu nguân gốc các đối tượng mẫu khảo cỗ đất mùng rại một số kim dã chỉ,
di tích ở Việt Nam” Đề tài này có thể được xem là đề tài đầu tiên tai Viét Nam theo hướng nghiên cứu ứng dụng này Có thể tóm tắt một số kết quả chính đã đạt được qua
để tài như sau:
- Thiết lập qui trình phân tích đa nguyên tố bằng phương pháp NAA cho đối tượng mẫu Khảo cỗ đất nung,
- Nghiên cứu thiết lập qui trình xử lý thống kê đa biến số cho bộ số liệu phân tích nhằm đưa ra các thông tin, dữ liệu đặc trưng về nguồn gốc của các đối tượng nghiên cứu,
- Khảo sát, lấy mẫu và phân tích 29 nguyên tổ trong 278 mẫu vật các loại, bao gồm: Sết nguyên liêu, gach cổ, gốm cỗ tại ba khu di tích Cát Tiên, Mỹ Sơn và Thành Hoàng nhằm khảo sát tính khả thi của qui trình đã xác lập,
- Đề lài đã đưa ra được những thông tin, dữ liệu ban đầu về nguồn gốc của các đối tượng nghiên cứu tại các vị trí khảo sát Những kết quả của đề tài là cứ liệu hoàn toàn mới mẻ và đã khẳng định được về mặt phương pháp luận, chứng minh được tính khả
ủa các phương pháp khoa học tự nhiên trong việc giải quyết vẫn đề nghiên cứu nguồn gốc các cỗ vật đất nung tại Việt Nam Những kết quả ban đầu tuy còn rất khiêm tốn, nhưng đã được các nhà khảo cỗ trong nước thực sự đón nhận
Bén cạnh đó đề tài này còn tồn tại một số hạn chế như sau
~ Nhằm khảo sát tính khả thi của phương pháp và xây dựng qui trình nghiên cứu nguồn
„ đề tài pha 1 (2007-2008) đã nghiên cứu dàn trải trên 3 khu di tích (Mỹ Sơn, Thành Hoàng Đề và Cát Tiên), điều này dẫn đến số lượng mẫu nghiên cứu trên từng đối tượng
là không đảm bảo tính thống kê,
- Số lượng nguồn sét tham khảo là quá ít chỉ mang tính đại điện (1 nguồn sét tham khảo cho 1 địa điểm nghiên cứu) về nguyên tắc thì tất cả các nguồn sét khả đĩ lân cận khu di tích đều phải được khảo sát một cách tường minh,
- Qui trình lầy mẫu sét nguyên liệu chưa tôi ưu,
- Các công cụ phân tích, toán học chưa hoàn thiện;
- Cuối cùng là kết quả của đề tài chưa đưa ra được các thông tin, cứ liệu về nguồn gốc mmột cách đây đủ và tường mình cho một khu di tích cụ thể nào, từ đó kết quả nghiên cứu chưa đóng góp một cách cụ thể cho ngành khảo cỗ
Để kết quả của đề tài thực sự có ý nghĩa và có thể đồng gớp một cách thiết thục cho ngành khảo cỗ thì hướng nghiên cứu này cần thiết phải tỉ
hoàn thiện các công cụ phân tích @RFA, NAA), cải tiến phương pháp lấy
nguyên liệu, định lượng hóa các kết quả đầu ra, tăng số lượng mẫu nghiên cứu trên từng,
2/8
Trang 3đối tượng, v.v Đồng thời, triển khai áp dụng trên một khu di tích cụ thé thi kết quả nghiên cứu sẽ có tính thuyết phục và ứng dụng cao hơn
Khu di tích Cát tiên đã được chọn làm địa điểm nghiên cứu trong pha tiếp theo của
đề tài với các lý đo: () Khu di tích Cát Tiên là một trong 3 khu di tích đã được khảo sát trong pha 1 của đề tài nên việc chọn Cát Tiên làm địa điểm nghiên cứu sẽ có nhiều thuận lợi, G) Là một khu di tích khảo cỗ học có quy mô lớn, mang phong cách kiến trúc không rõ ràng và chưa rõ chủ nhân Cho đến nay, khu đi tích Cát Tiên vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu của các nhà khảo cỗ treng nước, va (iil) Góp phần vào hoàn thiện bộ hỗ sơ xin công nhận khu di tích Cát Tiên là di sản văn hóa thể giới
Từ những phân tích ở trên, mục tiêu của đề tài pha 2 (2010-2012) được xác định là Khảo sát các nguồn sét lân cận khu di tích Cát Tiên, bừ đó phân nhóm và xác định nguồn gốc các đối tượng di vật đất nung đặc trưng tại khu di tích Cát Tiên theo các nguồn sét nguyên liệu
1 Thực nghiệm
1.1 Các phương pháp phân tích nguyên tổ
a Phương pháp phân tích kích hoạt notrén trén 1d phn tng - NAA
b Phương pháp phân tích huynh quang tia X —XRFA
© Phương pháp phân tích hấp thụ nguyên tử - AA8
12 Các phương pháp xử lý thống kê
a Phương pháp phân tích nhóm - CA
b, Phương pháp phân tích thành phần chính - PCA
c Phương pháp phân tích biệt thức chính tắc DA
d Phương pháp tính xác suất - MD
II Quy trình
Nghiên cứu nguồn gốc di vật khảo cỗ đất nung là một quá trình gồm nhiều hợp phần công việc khác nhau Từ khâu nghiên cứu khảo sát nơi di vật được tìm thầy, quy hoạch lay mẫu đến các công việc phân tích thành phần, xử lý thông kê số liệu thực nghiệm, v.y và cuối cùng là giải đoán và bình luận kết quả đễ đưa ra những thông tin liên quan đến nguồn gốc của di vật
Có thể chia quá trình nghiên cứu nguồn gốc thành 10 bước G1ình 1) như sau:
Bước 1: Khảo tả lập hỗ sơ hiện vật
Trong bước này cần phải tiến hành các công việc liên quan đến việc xác định loại hình
di vật, ghi chép các thông tín liên quan, chụp ảnh, vẽ hình, mã hóa, mô tả lập hồ sơ hiện vật càng chỉ tiết càng tốt, Bước này niên được thực hiện bởi các nhà chuyên môn khảo
cỗ
Bước 2: Khảo sát vùng nghiên cứu
hi đã có những thông tin ban đầu của di vật cần nghiên cứu, cần tiến hành thu thập và
xử lý các tài liêu liên quan đến loại hình di vật, di tích, địa điểm nơi phát hiện di vật (khu di tích hoặc hồ khai quật) bao gồm cả những thông tin về địa chất học của các khu vực có liên quan đến di vật, đi tích Tiến hành các bước khảo sát hiện trường, phân vùng, nghiên cứu, lập kế hoạch, sơ đồ lầy mẫu khảo sát va tiến hành lấy mẫu khảo sát tại các
vị trí được chon
Bước 3: Thụ thập mẫu
3⁄8
Trang 47 Beb Bi =
- Đối với mẫu di vật là đối tượng chính cần
nghiên cứu, tiến hành chọn mẫu đại điện cho từng ¬-
nhóm đã được phân loại hoặc tất cả các mẫu bày
theo số lượng mmấu cần nghiên cứu và sổ mẫu có
được trong từng nhóm
- Đối với mẫu sét nguyên liệu, chỉ tiến hành thu
thập mẫu khi đã có kết quả nghiên cứu các mẫu [Sas
khảo sát và bản đồ quy hoạch lây mẫu chỉ tiết cho =
Bước 4: Lập hà sơ, mã hóa mẫu nghiên cứu =.=
Mẫu sau khi được thu thập chuyên về PTN, cần 2eieser ae
được tiến hành các thủ bạc mã hóa, lập hỗ sơ quản —
lý mẫu theo các quy trình, thủ bục của PTN để
tránh nhằm lẫn, hư hỏng trong quá trình vận
chuyên, bảo quân và lưu trữ mẫu,
Bước 5: Chuẩn bị mẫu và luu mẫu
Tiến hành các thủ tục chuẩn bị mẫu theo quy
trình PTN cho bừng phương pháp phân tích khác
nhau Phần mẫu còn lại được lưu theo thủ tục lưu
mau cha PIN
Bước 6: Phân tích mẫu
Tiến hành Phân tích tất cả các nguyên tố có thể
xác định được bằng hai phương pháp INAA G0
nguyên LÔ) và XRFA (6 nguyên Lô) theo CÁC đỦỶ Hình ]: Quy gình rong nghiên cứn tanhchuan RIN: Bước 7: Biền tập, tễ chức dĩ liệu thành phân hóa ` nguồn gốc di vật đất nung
học (số liệu đầu vào)
Dữ liệu phân tích của trên 30 nguyên tố cho các mẫu vật được biên tập thành các tập tin đầu vào (input file) cho các chương trình quản lý và xử lý số liệu thống kê
Bước 8: Xử lý thông kê
Tiến hành xử lý thông kê cho các tập dữ liệu thành phần hóa học bằng các chương trình
xử lý chuyên dụng (MURRAP, MSAP, v.v ) với các phương pháp xử lý thống kê đa biến
Bước 9: Biên tập, tỔ chúc và lưu trữ kết quả xử lý (4# liệu đầu ra)
Kết quả của phép xử lý thống kê đa biến được xuất ra dưới dang tập tin số liệu và hình ảnh, được sử dụng trong việc xác định nguồn gốc của các mẫu vật, nhóm mẫu vật nghiên cứu
Bước 10: Giải đoán bình luận kết quả và báo cáo
Giải đoán, bình luận các kết quả đâu ra của pháp sử lý thống kê đa biển và kết hợp với các thông tin của mẫu vật để rút ra các thông tin về nguồn gốc của các mẫu vật, nhóm mấu vật nghiên cứu
1H Kết quả và thảo luận
TIL.1 Kế quả khảo sét cum nguon C2
4/8
Trang 5
Tĩnh 2 Kế quả nữ lý PCA 2chiêu ĐỢI- _ Hình 3: Váctơ các nguyên tô đồng gốp trong
PC2-PC3 cho cum nguén sét C2 cụm nguồn sét C2 (PCI-PC2)
Xết quả xử lý PCA (Hinh 2) cho thấy sét cánh đồng C2 là không hoàn toàn đồng nhất
yề thành phin héa hoe ma có sự phân chia thành 3 vùng có đặc trưng khác nhau Sự khác biệt về hàm lượng tập trung vào 4 nguyên tố: Mn @C1, PC4), As C1, PC3), Tb (PC2) va Ba (PC2), trong đó quan trọng nhất là cặp nguyên tố Mn-As (Hinh 3) Điều nay còn có nghĩa là hầu hết thành phần của các nguyên tổ còn lại là tượng đương nhau
Từ kết quả này và sơ đồ vị trí mẫu trân hiện trường chúng ta có thể xác định được không gian địa ly của các nguồn một cách hương đối đ1ình 4) Hình 5 chỉ ra kết quả nội suy him long Mn trên toàn cánh đồng C2, kết quả này giúp xác định chính xác hơn đường biên giữa các vùng Ba vùng sét này được chúng tôi gọi là Cụm nguồn sét C2, được sử dụng như Nguễn tham khảo cho các đối tượng đất nung khu di tích Cát Tiên
Ì cÁT TIÊN
Tình 5: Phân bồ hàm lượng
‘Mn trén cánh đồng C2
TH.2 kết guả xác nhi ngân gốc mẫu, Tiên th tì thập tại khu di ích Cát Tiên
5/8
Trang 6
Tĩnh 6; Kết quả xử lý PCA 2 chiều PCI.PC2 _ Hình? Kếtquazxù lý PCA của cácnhóm gồm của nhóm gạch cụm gỏ 2ABCD, 3, 4, 6AB, 7 cổ di tích Cất Tiên
và BABC với cụm nguồn sét C2
Kết quả PCA cụm các gò 2ABCD, 3, 4, 6AB, 7 và SABC với cụm nguồn C2 trong
Hình 6 cho thấy gạch tại các gò này có phân bố gân như trùng hoàn toàn lên nhau trong không gian của các thành phần chính và nằm trong phân bố của nguồn sét Bờ sông, Tổng hợp kết quả tính xác suất Bảng 1 của nhóm gach các gò 2ABCD, 3, 4, 6AB, 7 và SABC so với cụm nguồn C2 cho thay có tới 121/130 mẫu (chiếm 93%) trong nhém này
có nguồn gốc từ nguồn sét Bờ sông, 4/130 mẫu (chiếm 3⁄4) trong nhóm này có liên quan đến nguồn sét Bảy mẫu, 4/130 mẫu (chiếm 34) là không xác định và 1/130
có thể thuộc nguồn sét C2 Trong khi đó gạch thu thập từ các gò 1A, 5 và Mộ tháp, phân bố khá phân tán, chỉ có 22/35 mẫu (62 8⁄2) thuộc nguồn xét Bờ sông, 7/35 mẫu
(209) có nguồn sét bừ vùng lõi C2 và 6/35 mẫu (17,1%) chưa xác định
Bảng 1: Kết quả tính xác suất của 205 mẫu gạch thu thập từ 19 vị trí go tháp tại khu di
tích Cát Tiên với Cụm nguồn sét C2
Tengu ¡ SUYY ¡S4 HỜ | Sết Chẩn) gu aạ | Không xác mẫu — sôn đâi định Tổng số
Tổng số 25 146 0 177 17 i 205
6/8
Trang 7Tử những kết quả trên hoàn toàn có thể kết luận rằng những mẫu gạch thu thập bử 12
gd 2ABCD, 3, 4, 6AB, 7 và 8ABC trong khu di tích Cát Tiên đều có cùng một nguồn gốc từ nguồn sét Bờ sông được chỉ ra trong nghiên cứu này Ngoài ra, cũng cần phải nói thêm rằng nhóm gạch từ 12 gò này không có đầu hiệu nào rõ rằng cho thầy có sự liên quan đến nhóm gạch lò gạch tại cánh đồng Bảy mẫu
1V Kết luận
Qua hơn hai năm thực hiện đề tài “Nghiên cm nguận gắc di vật đất nung km dã tích Cát Tiên bằng phương pháp phân tích hạt nhân và thông kê đa biến”, các nội dung đặt ra trong đề tài đã được thực hiện, theo đó đề tài đã đạt được những kết quả như sau
- Đã khảo sát, quy hoạch và thu thập 1.496 mẫu vật các loại trên diện tích khoảng 12.600 ha kéo dài trên 30 km dọc theo bờ sông Đồng Mai thuộc địa bàn của 8 xã, 3 huyện của 2 tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai Trong đó, có 783 mẫu sét theo độ sâu tử 1 m đến 4,7 m, 324 mẫu gạch cô tử 19 gò tháp tại khu di tích Cát Tiên, 305 mẫu gốm cỗ tại
6 vị trí trong khu di tích, 62 mẫu ngói cổ; 19 mẫu cát tại 12 vị trí đọc bờ sông và 3 mẫu
chất kết dính
- Đã liền hành thí nghiệm khảo sát sự ảnh hưởng của quá trình nung và pha trộn lên thành phần hóa học của nguyên liệu trong quy trình sản xuất Kết quả cho thay hầu hết hàm lượng của các nguyên tố tăng lên sau khi nung trung bình 8%, su thay đổi này không làm ảnh hưởng đến kết quả sử lý thống kê Đôi với việc phối trên nguyên liệu gồm làm thay đỗi hàm lượng rất rõ rằng tủy theo tỉ lệ pha trộn Điều này gây ra nhiều khó khăn trong quá trình truy tìm nguồn gốc cho đối tượng gồm
- Qua 2 pha của để tài, một bộ số liệu về hàm lượng hơn 15.500 chỉ tiêu phân tích (pha 1: 3.422 chỉ tiêu, pha 2: 12 342 chỉ tiêu) của hơn 30 nguyên tố trong 481 mẫu vật pha 1; 118 mẫn, pha 2: 363 mẫu) bao gồm 205 mẫu gach cỗ, 147 mẫu sét, 95 mẫn gém cổ, 16 mẫu cát, 15 mẫu ngói cỗ và 3 mẫu chất kết dính đã được xác định Đây là một cơ sở đữ liệu quan trọng cho khu di tích Cát Tiên không những phục vụ cho những, nội dụng nghiên cứu qua các pha của để tài này mà còn có thể được sử dụng cho nhiều mục đích nghiên cứu khác sau này,
- Một chương trình xử lý thống kê đa biến có tên MBSAP 1.0 với đầy đủ các chức năng đã được phát triển qua 2 pha đề tài Cùng với chương trình MURRAP (lở clurong trình xử lý thông kê ân biễn chuyên đồng cho nghiên cứu nguôn gốc trong khảo cỗ được phát triển bởi MURR, do chính G5 M D Giascock, trông PTN khảo cỗ, Trang tâm là phần ứng nghiên atu ala dat hoe Missouri, Hoa kp true tiếp cung cấp và hướng dẫn sử đhơng), chương trình MSAP 1.0 đã được sử dụng để xử lý bộ số liệu của 481 mẫu vật các loại cho khu di tích Cát tiên Tuy nhiên, qua thực tế sử dụng và so sánh với chương trình MMUERAP, chương trình MSAP 1.0 đã cho thầy một số khuyết điểm như mất nhiều thời gian cho khâu chuẩn bị số liệu đầu vào, khó sử dụng, v.v , trong tương lai chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển để chương trình MSA.P 1.0 hoàn thiện hơn
Từ những kết quả đạt được có thể rút ra một số kết luận như sau
- Cánh đồng C2 có điện tích khoảng 500 ha tại xã Quảng Ngãi huyện Cát Tiên không phải là một nguồn sét đồng nhất mà là tập hợp của ba nguồn sét có đặc trưng khác nhau được chúng tôi gọi là Cụm nguồn sét C2 bao gồm: (1) nguồn sắt Bở sông
(127 ha), (2) nguồn sét vùng lõi cảnh đồng Œ2 (220 ha), và (3) nguồn sét Chân đâi (120
1⁄8
Trang 8ha) Ba nguồn sét này được đặc trưng bởi nhóm 4 nguyên tổ Mn C1, PC4), As ƠI, C3), Tb (PC2) và Ba (PC2), trong đó quan trọng nhất là cặp nguyên tố Mn-As,
- Qua để tài đã sác định được nguồn gốc cho các trấu gạch cỗ nu thập từ 12 gò tháp
bao gồm: Gò 2A, 2B, 2C, 2D D1, 2D2), Gò 3, Gò 4, Gò 6A, 6B, Gò 7, Gò 8A, 8B và
Gò 8C trong số 14 gò tháp tại khu di tích Cát Tiên là tử nguần sát Bờ sông, là một trong
ba nguồn sét thuộc cánh đồng C2 được xác định qua đề tài nay
- Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng không có sự liên hệ nào rõ rằng giữa những miu gach cổ thu thập tại các gò tháp trong khu di tích và những mẫu gạch cổ thu thập, tại các lò gạch được tìm thầy tại cánh đồng Bảy mẫu
- Đối với hai loại hình di vật đất nung là gốm và ngói tại khu di tích Cát Tiên có phân bồ nguồn khá phân tán, trong khuôn khỗ để tài này nguồn gốc của hai đối tượng này chưa được xác định
- Đồi với các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quy trinh nghiên cứu nguồn gốc di vật đất nung, bao gồm các phương pháp phân tích nguyên lô và các phương pháp xử lý thống kê, cho đến nay có thể nói rằng đã tương đổi hoàn thiện tại Viên Nghiên cứu Hạt nhân và có thể triển khai áp dụng rộng rãi trên thực tế
Tài liệu tham khảo
1 Glascock M D (1992) Characterization of archaeological ceramics at MURR by neutron activation analysis and multivariate statistics, Chemical Characterization of Ceramic Pastes In Archaeology, pp 11-26
2 Glascock M D and Neff H (2003) Neutron activation analysis and provenance research in archaeology, Meas Sci Technol 14, pp 1516-1526
IAEA -TecDoc (2003) Technical Report series N" 416
4 Johannes H Sterba et Al (2009) The influence of different tempers on the composition of pottery, J Archaeol Sci., 36, 1582-1589
5, Neff H (2000) Neutron activation analysis for provenance determination in archaeology, Modern Analytical Methods in Art and Archaeology (Chemical Analysis Series) 135, New York: Wiley
6 Sayre, EV (1975) Brookhaven Procedures for Statistical Analyses of Multivariate Archaeometric Data, Brookhaven National Laboratory Report BNI-23128 New York (unpublished)
7 Weigand, P.C., Harbottle, G., Sayre, E.V Eds.) (1977) Turquoise Sources and Source Analysis: Mesoamerica and the Southwestem USA, Academic Press, New York
8.B, C Hoàng, P Q Sơn (1986) Điều tra khảo cổ học ở huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng, Tài liệu lai Trung tâm Nghiên cứu Khảo cỗ
9 C Ð, Vũ và công sự 2008)a Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp Bộ 2007-2009, M8: ĐT.06/07-09/NLNT, Bộ Khoa học và Công nghệ
10 Ð L Côn và cộng sự (200%) Điều tra cơ bản và khai quật di chỉ khảo cỗ học Cát Tiên Œâm Đồng), Báo cáo kết quả thực hiện dự án 2002-2004, Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam
11.N T Đông (2002) Khu di tích Cát Tiên Œâm Đồng), Luận án Tiến sỹ Lịch sử, Viện Khảo cỗ học Việt Nam
12 Sở Văn hoá thông tín tỉnh Lâm Đồng (2001) £ÿ yếu hội thảo khoa học di tích khảo
cễ học Cát Tiên
9/8
Trang 9ANNUAL REPORT
1 Subjectmanager’ CaoDong Vu
2, Institution: Center for Analytical Techniques, Nuclear Research
Institute
3, Telephone: +84-633-552.365; 0983.804.046
Subject title: Provenance research of the archaeological earthenware collected at Cattien relic by nuclear analytical methods and multivariate statistics
5 Period Mar 2010 — Feb 2012
6 Participants
1 Hosy Don Intermediate level, Lamdong Building Materials
J2©^2Hế, Technical officer and Mineral joint Company
Center for Archaeology,
2 Hawes Rann Msc., Researcher Southem Institute of
Nuclear Physics and
Center for Analytical
5 Nguyen ThiSy Bsc., Researcher Techniques, Nuclear
Research Institute
6 NeguyenThiTho Bsc, Researcher = Ditto -
7 Cao Dong Vu Mso., Researcher = Ditto -
Abstract
Jn this research, methods of INAA, XRF, AAS combined with the multivariate statistics have been applied for provenance search of the earthenware at the Cattien relic About 34 elements in 363 samples have been characterized, Number of samples are 111; 16, 158, 65; 10 and 3 for clay, sand; ancient brick, ancient ceramic; ancient tile and agglutinative substance, respectively The sampling area was 12,600 ha, 30 km in length along Dong Nai river belonging to Dateh, Cattien districts of Lan Dong province and Tan Phu district of Dong Nai province Three reference clay sources with area of approximately 500 ha at Quang Ngai town, Cattien have been localized and classified Multivariate statistics such as CA, PCA, CD, MD were applied to analyze set of data The results showed that: The C2 field is a combination of 3 different sources of clay that are the riverside, the field center and the hill base rather than a homogenous source, These three sources are characterized by indicator elements such as Mn (PC1, PC4), As C1, PC3), Ba ŒC2) and Tb (PC2), in which pair of Mn - As is the most important Through multivariate analysis, clay from riverside of the C2 field was identified to be the source of 93% of the ancient brick used to build twelve towers 2A, 2B, 2C, 2D
Trang 10(2D1, 2D2), 3, 4, 6A, 6B, 7, 8A, 8B and C out of 14 towers at Cattien relic On the other hand, it is found that there is no clear relation between the bricks collected at the relic and those at Bay Mau field Distribution of ancient pottery and tile is quite diverse, therefore, their source has not been found in this study
Introduction
In period 2007 — 2008, a research topic named “Study for application of NAA and multivariate statistics analysis for provenance study of the earthenware archaeological objects collected at some relic sites of Vietnam” was carried out The main obtained results were
ANAA analytical procedure for archaeological pottery was estab lished
A multivariate statistics routine for analyzing data to get the information of provenance of the research objects was studied
Investigation, collection and analysis of 29 elements in 278 samples including raw clay material, ancient brick, ancient pottery at three archaeological site which are the Cattien site, the My Son relic and the Emperor rampart were done to test the feasibility ofthe procedures
Through the research, some initial information about the provenance of the research objects at investigated sites These results prove the feasibility of natural sciences methods in provenance study of the ancient earthenware in Vietnam and have been accepted by domestic archaeologists
How ever, this research also has some limit as follow
In order to study on methodology, the research was carried out in 3 areas (Cattien,
My Son and Emperor Rampart) This means that the number of sample at each site is small, so that the results are not statistically assured
With each studied site, there is only one reference clay source However, as principle, every local source need to be clearly investigated
The procedure for clay samples collection was not optimal
The computer program and analytical processes were not completed
Adequate and explicit information on the provenance of the pottery has not been given, so, the result did not contribute to the archaeology of Vietnam
The research has been enlarged for (i) completion of the analytical methods (KRFA, NAA), (i) improvement of the clay raw material sampling and Gii) Quantification of the output data ete In addition, this method should be implemented for a certain site for
to get persuadable and applicable results
Cattien archaeological relic was chosen for this study with three reasons as: (@ Cattien archaeological relic was one of three archaeological sites that were investigated
in the first phase of this project; (ii) Cattien archaeological relic is a large-scale archaeological site with unclear architecture style and owner undefined, (iii) This study
will contribute to the documentation of Cattien relic that will be submitted to UNESCO
for consideration for becoming the World Heritage
I Experiments
1.1 Elemental analytical methods
a Neutron Activation Analysis - NAA