Thơng qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà Mác đã tìm ra quy luật vận động của lịch sử lồi người và trên ong i li cơ sở đĩ, ơng khẳng định s
Trang 1TRONG THỜI KỲ PHÁT TRIEN NEN KINH TE
HÀNG HÓA NHIEU THANH PHAN G NƯỚC TA
HỶ YẾU Để TÀI HHOR HỌC cấp nỘ
Chủ nhiệm để tài : DI Thư ký để tài zE
Trang 2
S.PTS Trần Phúc Thăng
Xây dụng kiến trúc thượng tăng chính tị phà hợp với cơ xử:
Tạ tầng - Vên câu cấp bách của công cuộc đốt mói ở Việt Nam
3 Thas si VOT
Đặc điển của cơ sở hạ tdng ~ Mgt x6 mau thud nảy sinh trong
sua trình phát triển theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
3 Bùi Công Trang
Kiểi trúc thượng tăng chính tị ô Việt Nam hiện nay - Những
didn mand cơ bản và những điển yếu còn tổn tai
4.P1S, Trần Văn Phòng,
Vai iro eta Ddug Cong sdn Viet Nam trong qué trink phir
triển nến kinh tế nhiều thành phan
5 Nguyễn Tuyết Nhung
Vai tô của Nhà nước trong thời kỳ quá độ định hướng vây
chứng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
6, PTS Dé Ngoc Ninh
Các doàn thể nhân dân và các tổ chúc xã hội trong thôi ky
phat tridh nén kink té hang héa nhiéu thank phdn d mie to
trang
1
85
Trang 3Tần hiển một số mâu thuận giữa cơ sở hạ tổng với kiến trú
thường tảng cbính aị trong công cuộc đổi mới biện nay
9, Hài Thị Thanh Hương
Mâu thuẫn giãu ca sở hạ tổng và Kiết túc thượng tổng ở
nông thân Viet Nan trong giai đoạn hiện nay
10, Thạc Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Dự báo at hướng biếu động của mối quan hệ giữa cơ sở hạ
tằng tà Äiến trúc thượng tổng chính trị trong thời kỳ công nghiệp
hồu - biện dại hỏa dit nie
1, PTS Vũ
Thuan
Một xế giải nhấp có tnh: nguyên tắc phuong phap iudn dim
dui se pli hợp của kiến trúc thượng tâng với cơ sử hạ tổng biện
NON C HƯỚC túc
12 PQS.PTS Nguyễn Tĩnh Gia
Vi trò của Đẳng nà Nhà nước đối với nên kinh tế tl tường
ditch hướng sd hoi chit nghia & Vide Nain - Nhitng gidi pháp
Trang 4ĐĐổi mới hệ thống chính ị phân ánh tính đa đụng của cơ
cẩn kinh tế nhiều thành phần định luớng xã hội chủ nghĩa
L5 Thạc sĩ Lhiểu Quang Đông
Đối mới tổ chức và phương thức hoạt
lộng của Nhà nước để năng cao năng lực quản l§ kính tế và phất triển nên kinh tế quốc dân
~ Danh mục tài liệu tham khảo để tài khơa học cấp Bộ
175
188
199
Trang 5XAY DUNG KIEN TRÚC THƯỢNG TẦNG CHÍNH TRI PHÙ HỢP VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG - YÊU CẦU CAP BACH
CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
PGS.PTS, Trần Phúc Thăng
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là lý luận nên tẳng của chủ nghĩa duy vật lịch xử Nhờ có lý hiận này mà các hiện tượng xã hội được nhận thức một cách khoa học Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà Mác đã tìm ra quy luật vận
động của lịch sử loài người và trên ong i li cơ sở đó, ông khẳng định sự phát triển lý khẳng định sự pl
của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên,
"Erong các mối quan hệ đa dạng và phức tạp của mỗi hình thái kinh tế
- xã hội, Mác không những đã chỉ ra quy luật về sự phù hợp của các quan
bệ sẵn xuấi với nh chất và trình độ của lực lượng sản xuất mà ông còn đặc biệt chú ý phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Sự tác động qua lại giữa hai nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận động của của mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Có sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ cắc quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kính tế của một hình thái kinh tế ~ xã hội nhất định
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ các quan điểm chính trị, pháp luật, uạo đức, tôn giáo, nghệ thuật v.v và các (hể chế tương ứng của nó
Trong các xã hội có giai cấp, mối quan hệ giữa cơ sở hạ tổng được thể hiện tập trưng ở mỗi quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đậc biệt là mối
quan hệ giữa các quan hệ sản xuất với kiếu trúc thượng tầng chính tị.
Trang 6Kiếp trúc thượng ting chính trị là các quan điểm chính trị và các thiết chế chính trị như Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội khác
Theo quan điểm Mác-xÍL cơ sở hạ tăng bao giờ cũng giữ vai trò
quyết dịnh đối với kiến trúc thượng ting, Co 66 ha ting nào thì kiến trúc thượng tầng ấy Cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hoặc muộn kiến trúc thượng tầng cũng “bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng”
Song kiến túc thượng tầng chính trị khòng phải là nhân tố bị động
Nổ có thể tác động hết sức mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng vì “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kính tế ”, do đó “chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế ”(V.1.Lê-niu toàn 1Ạp/T42, Nxb TB.M.1977 tr 349)
“việc duy tủ nguyên vẹn phương thức sẵn xuất cũ là diều kiện tiên quyết
cho sự tổn tại của nó” (C.Mắc và F.Áng-gheu tuyển tập, T.1 tr 545),
Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, vai trò kiến trúc thượng lắng chính trị
dối dán
cố sự thị kể vì “ giai cấp từ sẵn không thể tồn tai nếu không luôn
tuôn ách mạng hoá công cụ sản x do đó ich mang hoá những quan hệ
Trang 7sản xuất nghìa là cách mạng hoá toàn bộ xã bội ” (C.Mác và K.Ang-ghen
trị của nó để bảo vệ các quan hệ sở hữu hiện có mà eờn luôn luôn diều
chỉnh các quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất, Chính diểu đó đã làm cho chủ nghĩa tư bản có thể tôn tại vượt qua nhiễu cuộc khủng hoãng trong lịch sử
Nam 1917, cách mg “Tháng Mười Nga thành công tạo bước ngoặt trong sự phát triển loài người, đồng thời nó tạo ra hoàn cảnh lịch sử mới để vận dụng lý luận hình thái kình tế - xã hội vào thực tiễn đời sống
Ciich mang Tháng Mười Nga cũng như bất kỳ cuộc cách mạng nào khác đêu phải dựa rên sự phát triển của những điều kiện chủ quan và khách
quan, xuất phát từ những mâu thuẫn xã hội và những điều kiện để giải quyết mâu thuẫn ấy Đó là những mâu thuẫn nảy sinh từ trong lòng chế độ tư bản
chủ nghĩa Chủ nghĩa tự bảu từ giữa thế kỷ XIX đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gấi đó lì mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giữa cơ sở hạ Lắng và kiến trúc thượng tầng Những mâu thuẫn này đã đưa tới cuộc chiến tranh lần thứ nhất làm che nude Nga trở thành mắt khâu yếu nhất của chủ nghĩa để quốc Điển đó tạo điêu kiện cho cách mang XHCN Tháng Mười nổ ra thành công Nhưng sự thành công của cách mạng
Trang 8điều chưa từng có trong lịch sử Chính sách hà khắc của Nhà nước tư bản và
sự cạnh tranh nghiệt ngã của nền kình tế thị trường TRCN đã lắm cho kinh
tế XHCN không thể ra dời được trong lòng nó Hoàn cảnh này đã buộc
nước XHCN trước dây,
Tuy nhiên, mọi cái đều có giới hạn Việc kếo quá dài phương pháp trên đây đã làm cho bệnh chủ quan duy ý chí ngày cảng tăng Do phải đi
trước mội bước nên kiểu trúc thượng tầng không được xây dựng từ cơ sử
Kinh tế mà từ những mô hình chung đã có sẩn Điều đó đã làm cho kiến trúc thượng táng chính trị đặc biệt là hệ thống chính trị ở hầu hết các nước XHCN ngày càng trở nên nặng nể, cổng kếnh, nhiều tầng nấc và kém hiệu
Trang 9Trong khi đó, các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập
ngày càng nhanh không phd hyp voi tính chất và tình độ của lực lượng 'sân xuất đã tạo thành lực cản của sự phát triển sản xuất, làm cho tình hình kinh tế xã hội ngày càng gặp nhiều khó khăn Kết quả là hầu hết các nước
xã hội cliủ nghĩa trước đây rơi vào tình trạng khủng hoảng Sự tan rã của
Liên Xô, sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là một tổn thất nặng nê,
Tất nhiên, không thể quy toàn bộ sự tan rä của hệ thống xã hội chủ
nghĩa trước dây cho mối quan hệ giữa cơ sở hạ tìng và kiến túc thượng
tầng chính trị Mật khác, cũng không nên xem sự đồ vỡ này chỉ là do nguyên nhân bên trong mà không kể đến những tác động vô cùng to lớn
và hết sức nguy hiểm của nguyên nhân bên ngoài Mặc dù vậy cũng phải
thiu nhận rằng, những mâu thuẫn gay gắt và kéo dài giữa cơ sở hạ lắng
và kiến tíc thượng lầng là một trong những nguyên nhân quan tong whit
đã đưa đến sự yếu kém của chủ nghĩa xã hội vào những năm 7Ú và 8Ù của
thế kỷ này, Vì vậy, từ những thực tế trên đây, những người cộng sản cần
út ra những bài học nghiêm lúc đồng thời tìm ra những giải pháp cụ thể
để khúc phục những sai lê đã mắc phải
Nude Việt Nam đã phát triển dất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa gần 40 năm nay ở miền Tắc và hơn 2() năm trong cả nước
Sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng đã thu được
những thành tựu quan trọng, Đất nước sau hàng trăm năm bị thực đân dô
tu những cuộc kháng chiến khốc liệt chống các đế quốc mạnh như
Pháp và -Mỹ đã dược hồi sinh Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở % miều Bắc rước đây đã tạo ra những điều kiện vật chất và tỉnh thản cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất dất nước Nước Việt Nam sau
Trang 10biết bao vất và và hy sinh, biết bao sự tìm kiếm, thể nghiệm đã xác định được các bước đi của mình và có vị trí nhất định trên trường quốc tế,
Mười năm đổi mới(1986-1996) đã đem lại những kết quả không nhỏ Đất nước đã thoát khỏi Khủng hoảng và để có những tiên đê về
ật chất và tình thân để số thể tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
“Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đây thử thách và khó khan, Trong diều kiện thế giới có những diễn biến phức tạp, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiệo đại hoá chỉ có thể được hoàn thành khi giải quyết được thoả đáng các mâu thuẫn đang nảy sinh trong đó có mâu thuẫn giữa cư sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính trị
'Trước thời kỳ đổi mới, ở nước ta tổn tại chủ yếu là quan hệ sẵn xuất
xã hội chủ nghĩa với hai hình thức cơ bản là sở hữu tập thể và sở hữu toàn
dân Các loại hình kinh tế khác vẫn tồn tại nhất là ở miền Nam nhưng vai
trd cha nd bi thu hep
Từ khi đổi mới, nước ta phát triển nên kinh tế hàng hoá nhiều thành Phần Những hình thức kinh tế mới nảy sinh làm xuất hiện các loại hình
quan hệ sản xuất khác nhau tạo nên một kết cấu kinh tế mới Chính diều
này làm cho cơ sở hạ tầng biếu dổi
Trong khí cơ sở hạ tầng có những biến đổi to lớn
à mạnh mẽ như thế thì kiến toíc thượng tầng chính trị cũng cổ những biến dồi cán thiết
Sự biến đổi của kiến trúc thượng Lắng chính trị trước hết là sự chuyển biến:
vẻ sự lãnh đạo của đẳng, đổi mới phương thức quản lý của nhà nước Do yêu cầu phát triển của nẻn kinh tế thị trường nên việc quản lý của nhà
nước bằng pháp luật được tăng cường Dân chủ xã hội chủ nghĩa được
phát huy trên nhiều lĩnh vực, trước nhất là trên lĩnh vực kinh tế, Nẻn hành clứnh được đổi mới từng bước về thể chế và cơ cấu tổ chức Phương thức lãnh dạo của Đảng đối với Nhà nước đã đổi mới theo hướng tạo tiền đê
9
Trang 11
cho việc k
gn toàn và phát huy vai trò, hiệu lực cña quản lý nhà nước, Do
có những sự đổi mới cần thiết và kịp thời mà Đẳng ta vẫn giữ vững dược vai trò lãnh dạo trong toàn xã hội Nhà nước đã đưa ra dược những chính sách phù hợp và thiết thực nhằm phát triển kinh tế xã hội,
Mặc dù vậy, cho đến nay, mâu thuẫn giữa cơ sở kính tế và kiến trúc thượng tầng chính trị vẫn được xem là “cái tạo thành mắt xích chủ yếu” của quá trình đổi mới ở nước ta
Kiến trác thượng tầng chính trị đặc biệt là các tổ chức Đăng và Nhà
nước còn bộc lộ nhiều bất cập
Tổ chức của bộ máy nhà nước vẫn còn cổng kênh sau bao nhiều lần đổi mới Nạn quan liêu lãng phí quá nghiêm trọng Tham những trở thần]: quốc nạn Đội ngũ cán bộ, cóng chức nhìn chung chưa ngang tầm với nhiệm vụ, một bộ phân cần bộ thoái hoá biến chất Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa tạo được khuõn khổ pháp lý cần thiết cho các hoạt động của con người Việc thí hàuh pháp luật chưa nghiêm dẫn đến kỷ cương phép nước bị xem nhẹ
Sự lãnh đạo của Đảng chưa được tăng cường đúng mức Có nơi vẫu còn tình trạng Đảng bao biện làm thay, có nơi vai trò lãnh đạo của Đảng
của một số đẳng viên, của công nhân, thanh niên giảm sút
Chính từ mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tổng
chính trị mà những kẻ thù của chủ nghia Mác đã lợi dụng ngay cả những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác để chống chủ nghĩa Mác
10
Trang 12Theo một số người thì thực chất cửa mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng chính trị là mâu thuẫn giữa cơ cấu kính tế nhiều thành phần với nhất nguyên chính trị, Mục đích của lập luận này không phải là đòi hôi thu hẹp kinh tế để giữ vững chính trị mà dòi hỏi phải da nguyên chính tị để phá vỡ hệ thống chính trị và xoá bỏ vai trò lãnh dạo của Đảng
Cũng có người cho rằng sự tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo Sự phâu hoá giàu nghèo sẽ mâu thuẫn với việc thực hiện công
Đằng xã hội Như vậy,lăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không thể
đi lên đựưkvới nhau
Lập luận này dã nâng lên đến mức khẳng định một cách đới khoá fing kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không phải là một Muốn có chủ nghĩa xã kội thì phải bỏ kinh tế thị trường, muốn có kinh tế thị trường phải bổ chủ nghĩa xã hội và đựa vào cách lập luận đó người ta muốn bỏ chủ nghĩa xã hội để giữ lại nên Kinh tế thị trường theo kiểu tư bản chủ
xít đêu đi đến mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ thể chế chính trị hiện hành
“Theo họ, cách làm đó là để “ưu tiên”, “mở ca” cho sự phát triển kinh tế nhưng trong thực tế là để mớ đường cho clứnh tị tư sắn xâm nhập và thay
thế nên chính trị mang tính xã hội chủ nghũa,
Điểm qua một số nết trên đây ta càng thấy mối quan hệ giữa kinh tế
xà chính trị là yấn đề cốt tử
Suy cho cùng mọi sự phát triển của xã hội đều bát nguồn từ kinh tế
và đêu trên cơ sở của sự phát triển kinh tế Nhưng từ khi chính trị ra đời
thì chính Irị là công cụ hiệu nghiệm nhất để phát triển kình tế và bảo vệ
"
Trang 13kinh tế Vì vậy, ở nước ta hiện nay,việc phát triển theo định hướng xã hội
chú nghĩa của nền kính tế hàng hoá nhiều thành phán chỉ có thể thực hiệu được khi có định hướng chính trị vững vàng Nhưng một nền chính trị chỉ thực sự vững vàng khi nó phù hợp với cơ sở kinh tế và có thể biến dối phù hợp với sự biến đổi của kinh tế,
“Trong điều kiện hiện nay, tình hình trong nước và trên thế giới có những diễn biến phức tạp Thời cơ cũng có nhưng nguy cơ cũng nhiều Mọi khả năng đều có thể xây ra,kể cả khả năng tốt cũng như khả nãng
Các nguy cơ tụt hậu, chệch hướng, diễn biến hoà bình, tham nhũng chẳng những dang tổn tại nhà còn tác động ngày càng mạnh mẽ hơn, ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh chính trị của đất nước Chính vì vậy, mối quan
hệ giữa cơ sở hạ tổng và kiến trúc thượng tầng chính trị có thể diễn ra
theo những xu hướng khác nhau
Xu hướng tốt đẹp nhất là kiến trúc thượng tầng sẽ từng bước biến đổi phù hợp với cơ sở hạ tầng Điều dé sé lam cho co si ha ting phát triển
dúng hướng, mạnh mẽ Đất nước sẽ từng bước đi lên theo hướng xã hội
chủ ngiữa một cách vững chắc
Xu hướng thứ hai là kiến trúc thượng tấng biến đổi quá chậm so với
cơ sở hạ tầng làm cho cơ sở hạ lắng bị căn trở, phát triển khó khăn Sự nghiệp phát tiểu theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ chậm chạp, quá nhiều quanh co, phức tạp
Xu hướng thứ ba là Kiến trú thượng tầng chính trị chộch hướng Các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hẻ Chí Minh bị
ví phạm Nhiêu cần bộ bị thoái hoá biến chất Chiến lược diễn biến hoà bình của thế lực thù dịch thành công Định hướng xã hội chủ nghĩa mờ nhạt dẫn và cuối cùng bị chuyển hoá
12
Trang 14Tất cả những kha ming trén day déu 1a nhing kha nang hién thuc Kinh nghiệm ở Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã
cho ta thấy rõ điều này
Hoạt động của con người thậm chí một Đẳng, một giai cấp không
bao giờ có thể loại bỏ được những khả năng khách quan Nhưng những
hoạt động này lại có thể tạo ra những điểu kiện cho các khả năng tốt trở thành hiện thực và tăm cách ngăn chặn rút bổ các điều kiện để các khả năng xấu không trở thành hiện thực
Nhiệm vụ đặt ra biện nay là phải (an mọi cách để đổi mới kiến trúc
thượng tầng chính trị
làm cho nó phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế làng hoá nhiễu thành phân, làm cho chính trị vừa phân ánh được xhũ cầu phát triển của kinh tế vừa định hướng được cho sự phát triển kinh
tế, Như Ang ghen đã chỉ rõ: “Sau khí bạo lực chính trị đã trở thành độc lap đối với xã hội, sau khi đã từ đầy tớ mà trở thành người chủ rồi, tHì nó
có thể tác độug (leo hai chiều hướng Hoặc nó tác động theo ý nghĩa và chiểu hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật Như thế thì giữa bạo lực chính tị và sự phát triển kinh tế không có sự xung đột nào và sự phát triển kinh tế sẽ được đẩy nhanh hơn, Hoặc nó sẽ chống lại sự phát
Trang 15Đó là nhiệm vụ phải được đặt ra trong suốt thời kỳ phát triểu dất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó cũng là nhiệm vụ cấp bách trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước những năm trước
mắt.
Trang 16ĐẶC ĐIỂM CUA CO SG HA TẦNG - MỘT SỐ MÂU THUẪN NẤY SINH TRÓNG QUÁ 'TRÌNH PHÁT TRIỂN THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
sĩ Vũ Hồng Sơn
Mô hình của chủ nghĩa xã hội trước đây xây dựng trên nền tảng chế
độ công hữu chiếm ưu thể tuyệt đối với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn
dan va sở hữu tập thể, hoạt động theo nguyên tắc kế hoạch hoá tập trung
cao độ dưới sử chỉ đạo tập trung thống nhất theo mệnh lệnh từ Trưng ương Lúc đầu mô hình ấy đã dạt được những thành tựu nhất định và đặc biệt tả ra phù hợp trong điểu kiện chiến tranh, nhưng càng về sau này, trong hoàn cảnh hoà hình thì mô hình đó tó ra không còn phù hợp, đẩy nên kinh tế vào tình trạng tiền khủng hoảng, lòng tìn của nhân dân vào chủ nghĩa xã hội bị giảm sút nghiêm trọng Tình hình ấy đòi hỏi phải có những cải cách, đổi
múi
Mới đâu nhiều người tưởng rằng chỉ cẩn cải tổ về căn bản phương thức quản lý kinh tế mà nội đung chủ yếu là chuyển từ phương pháp quản lý chỉ huy, mệnh lệnh theo kiểu lập trung hoá sang những phương pháp kiểu kinh tế thị trường là đủ xoay chuyển tình hình kinh tế trì trệ và bế tắc do mô hình kinh tế cửa chủ nghĩa xã hội trước đây đem lại, Hàng loạt các biện
pháp tháo gỡ đã lược đưa ra giải quyết nhưng càng đi vào chiêu sâu của
15
Trang 17
công cuộc đổi mới thì càng thấy tð nguyên nhân sâu xa hơn lại là từ vấn đê
sở hữu và thấy rằng phát triển đa dạng hoá các hình thức sở hữu, đa dạng
hoá các quan hệ sắn xuất là tất yếu khách quan ở nước ta
Các hình thái kinh tế xã hội thay thế nhau thực chất là thay thế chế
độ sở hữu này bằng chế độ sở hữu khác tiến bộ hơn Sự thay thế đó không điển ra ngay một lúc, mà là cả một quá trình, có tính kế thừa lịch sử Không
có chế độ sở hữu nào thuần tuý cả Theo quy luật phủ định của phủ định, mỗi sự vật, mỗi hiện Lượng mới ra đời đều kế thừa những cái tích cực của sự vật hiện tượng cũ, mỗi hình thái kinh tế xã hội mới ra đời đều kế thừa những ntân tố tích cực của hình thái - kinh tế xã bội trước đó Cái mới và cất cũ đan kết với nhau trong mỗi sự vật, đấu tranh với nhau, tác động lẫn
nhau Mỗi phương thức sản xuất có một hình thức sở hữu cơ bản, đặc trưng
bên cạnh những hình thức sở hữu khác, kế cả hình thức sở hữu cũ, đổi
kháng với hình thức sở hữu cơ bản Chẳng hạn, chủ nghĩa tư bản vẫn duy trì
ở hữu ruộng đất của địa chủ, quý tộc, dùng bình thức đó phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản Tính tất yếu kinh tế của một chế độ sở hữu, một hình
thức sở hữu déu do sy phất triển của lực lượng sản xuất, nhất là năng suất
lao động quyết định Đất nước ta bước vào thời kỳ quá độ dịnh hướng lên chủ ogtfïa xã hội từ nêu sản xuất nhỏ lạc hậu tiền tư bản chủ nghĩa, nhưng trong điểu kiện lực lượng sản xuất ngày cầng mang tính chất quốc tế hoá cao độ, tạo nên sự phát triển da dạng của lực lượng sản xuất, thì việc xây dựng một tiên kinh tế đa dạng với các hình thức số hữu, các quan hệ sản
16
Trang 18xuất khác nhau là tất yếu khách quan, phờ hợp với quy luật vận động của lịch sử
Lịch sử chứng mình rằng không có một chế độ xã hội nào chỉ dựa vào một thành phần kinh tế, một hình thức sở hữu mà khai thác hết được tiểm năng của đất nước Trong xã hội, các hình thức sở hữu đan xen với nhau,
vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để phát triển Một hình sở hữu không
thể phát triển được nếu tách khỏi các hình thức sở hữu khác
Sự phát triển đa dạng các quan hệ sở hữu tạo nên đặc điểm cơ bản
của cơ sở hạ tẳng ở nước ta hiện nay là một kết cấu đa dạng, phức tạp, thậm
chí còn tồn tại cả hình thức kint tế tự nhiên, vận động theo những khuynh hướng trái ngược nhau và lÀ nguyên nhân của sự xuất hiện những mâu thuẫn phức tạp ảnh hưởng đến quá trình phát triển theo định hưỡng xã hội
chủ nghĩa
Những năm 90 trở về trước, kinh tế Nhà nước có hơn 12.300 đơn vị trong cả nước chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm xã hội, và khoảng 26% giá trị sản lượng công nghiệp, đóng góp khoảng 90% tổng thu ngân sách quốc gia, VỀ mặt hình thức,kinh tế Nhà nước có đủ điều kiện để giữ vai trò chủ đạo đối với nên kinh tế, nhưng ương thực tế, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước lại rất thấp Ví dụ : ð Thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà các đơn vị kinh tế quốc doanh tương đối năng động và thích ứng với cơ chế thị trường, nếu xét hệ số bình quân giữa doanh số hoạt động và tổng số vốn
kinh doanh thì công nghiệp quốc doanh địa phương chỉ đạt 0,67 lin va cong
Trang 19nghiệp quốc doanh Trung wong la 1,7 lấn, trong khi đó hệ số trên của khu vực tư nhân là 4 lần Nếu xét trên hiệu quả sinh lời của vốn đầu tư, bình
quân một đồng vốn lạo nên giá trị mới là 0,04 đồng trong 1 năm, con số
trên đối với khu vực kinh tế tư nhân là 0,12 dồng (gấp 3 lần) [theo tạp chí
Thông tin lý luận số 12 năm 1992, trang 20]
Trước thực trạng ấy Chính phủ đã phải cải cách doanh nghiệp Nhà nước Tháng I I/1991, Nghị định 388/HĐBT đã ra đời nhằm sắp xếp lại các
doanh nghiệp Nhà nước Đến cuối năm 1994, doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ 12.296 đơn vị xuống còn khoảng 6.300 đơn vị, trong đó có gần
2000 doanh nghiệp do Trung ương quản lý (chiếm 29,3%) và hơn 4000
doanh nghiệp do dịa phương quản lý (chiếm 70,6%), như vậy số doanh nghiệp dã giảm 45% Số doanh nghiệp bị giải thể, chuyển hình thức sở hữu (khoảng hơn 2000 doanh nghiệp) hoặc sát nhập thành doanh nghiệp lớn hơn
(Khoảng 4000 doanh nghiệp) Nam nam qua, sau khi tiến hành sắp xếp lại
cấc doanh nghiện Nhà uước, kinh tế quốc doanh đã có tốc độ tăng trưởng
gần gấp rưỡi so với bình quân toàn nên kinh tế và gần gấp đôi so với kinh tế
ngoài quốc doanh Nếu so với những năm trước thì sự tăng trưởng trong những năm 1991 - 1994 có tốc độ khả ổn dịnh và thường xuyên được nâng lên: giảm được nhiều khoản bao cấp và vay nợ nước ngoài Tỷ lệ doanh nghiệp Nhà nước trong GISP từ 32,4% năm 1990 tang lên 36,7% nam 1994 Riêng trong công nghiệp, tỷ lệ nầy trong các năm tương ứng tăng từ 64,6%
lên 69,3% Thu nộp ngân
h của doanh nghiệp Nhà nước tăng nhanh, bình quân 3 năm 1991 - 1993 tảng 482%, trong đồ công nghiệp tăng
is
Trang 2068,8%, thương nghiệp dịch vụ tăng 38,2% Phần đóng góp của các doanh nghiệp Nhà nước vào ngân sách Nhà nước năm 1995 là 49% Các doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ lệ áp đão vẻ xuất nhập khẩu [số liệu trong tạp chí Cộng sản số { thang 1 nam 1996, trang 26]
Mặc dù dạt được các kết quả quan trọng riêu trên, nhưng các doanh
im 1994 vẫn còn 46,1% số doanh nghiệp có số lao động dưới
100 người, và 49,2% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng Tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp Nhà nước là phổ biến vä nghiệm
trọng Trình độ công nghệ ở các doanh nghiệp Nhà nước cũng còn lạc hậu
‘Theo (Ai liệu khảo sát nhiều doanh nghiệp thuộc 7 ngành, thì máy móc thiết
bị, đây chuyển sản xuất lạc hậu so với thế giới từ 1Q - 20 năm, mức hao
mòn hữu hình từ 30% - 50%, thậm chí 38% số này dang ở dạng đợi thanh
lý Nhiều doanh nghiệp sau khi sắp xếp lại vẫn tiếp tục làm ăn thua lỗ Năng suất lao động trong hệ thống doanh nghiệp Nhà nước quá thấp Theo
kết quả diều tra, xét về mặt hiện vật, năng suất lao động ở Việt Nam về chế
biến đầu thực vật chỉ bằng 10% miức của thế giới, về sản xuất các săn phẩm
det, may, giấy, nhựa, chỉ bằng 30 - 40 mức của thế giới, về thì công cầu đường chỉ bằng 1/20 mức của Pháp [số liệu theo tạp chí Cộng sẵn số Í tháng 1 uăm 1996, trang 26, 27) Việc sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả chưa cao, theo két quả điều tra đến ngày 30/6/1995 toàn bộ nên kinh tế Việt Nam:
Trang 21có 29.995 doanh nghiệp thuộc các thành phân kình tế đã đăng ký vốn với
tổng số vốn là 72.250 tỷ đồng Việt Nam, trong đó vốn của các doanh
nghiệp Nhà nước là 63.681 tý đồng, chiếm 86,8% nhưng hiệu quả đồng góp cho GIP chỉ có 43% Do những điều chưa hợp lý nên một đồng vốn bô vào doanh ¡ighiệp Nhà nước trong một năm chỉ thu lãi rồng 5,1%, nhưng
nếu gửi vào ngâu hàng theo quy định lãi suất của Nhà nước cũng (hụ được
gần 20% Rõ rằng qua nhiều lân sắp sếp nhưng hiệu quả kinh tế mạng lại văn thấp [số liệu trong báo Hà Nội mới chủ nhật số ra ngày 12 tháng 5 năm 1996)
Phong trào hợp tác xã cũng phát triển rất chậm Từ I988 - 1994 cả nước đã có 2958 hợp tác xã nông nghiệp (hơn 17% tổng số hợp tác xã) và 33.804 tập dodn sẵn xuất nông nghiệp giải thể (bằng 93% tổng số tập đoàn),
có tỉnh không còn hợp tác xã và tập đoàn sản xuất Tình bình hợp tác hoá trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng không mấy sáng sửa Có trên 42.000 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, vận tải, xây dựng, dịch vụ tín dụng cũ không còn hoạt động [số liệu trong tạp chí Gộng sản số 16 tháng 8 năm 1997, trang 7 - 9| Từ những năm 80, Đẳng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương đổi indi hợp tác xã, dến nay phong trào hợp tác xã đã có bước
phát triển đáng khích lộ, nhưng nhìn chung vẫn còn yếu Ví dụ, ở huyện
Lục Nam, Hà Bắc có 26 xã ;hì chỉ còn 14 xã duy trì hợp lác xã Nhưng chỉ
có 3 trong 58 hợp tác xã hoạt động tốt [trong bài "fù một số mô hình hợp
tác xã nông nghiệp ở là Bắc
tác giả Đức Lượng, đăng trên báo Nhân
dân ngày 25 tháng 11 năm 1996) Phân loại hợp táo xã toàn quốc vào cuối
20
Trang 22năm 1993 có 3 loại hợp tác xã như sau : Thứ nhất, loại hợp tác xã kiểu cũ,
dựa trên cơ sở tập thé hod quyên sở hữu ruộng đất của nõng dân chuyển đổi được sang hợi tác xã kiểu mới dựa trên cơ sở quyển tự chủ của kinh tế hộ
nông dân (l y chiếm khoản 1096); Thứ hai, loại hợp Me xf kidu oft dang lúng túng trong quá tình đổi mới tuy làm được vài khâu dịch vụ cho kinh tế hộ nhưng hoạt dộng rất khó khâu, bị thua lỗ, phải thu của kinh tế hộ khoảng, 1:5 - 2% sản lượng trên điện tích anh táo của nông hộ để có nguồn tài chính bù lỗ cho các hoạt đọng địch vụ của hợp tác xã, điêu này trái với bắn chất của hợp tác xã dích thực đoại mày chiếm 40,4%) Thứ ba, loại hợp tác xã chỉ còu tốn tại trên hình thức, loại này chiếm 43,3% [báo Hhân đân
số ra ngày 23 tháng 5 năm 1996, trong bài "Đổi mới, phát triển hợp tác xã
và các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác da đạng của nông dân" của tác giả
PGS, Ngo The Dân hoặc trên tạp chí Cạng sắn số 16 tháng 8 năm 1997, trang 7 | Do hợp tác xã kiểu cũ không còn phù hợp, nên thời gian qua nhiều lợp tác xã và tổ sản xuất đã tự tiến hành đổi mới tổ chức và quản lý sản xuất, hình thãnh những hình thúc lợp tác kiểu mới đa dạng như : tố đường nước, tổ liên gia vay vốn ngân hàng, tổ dịch vụ đầu vào, đầu ra Nói
chung, hợp tác xã kiểu mới chưa phát triển thành một phong trào mạnh mẽ
và còn nhiều mật chưa hoàn thiện
Trong khí kinh tế Nhà nước, kinh lế tập thể còn non yếu như vậy thì kinh tế tư nhân lại phất triển nhanh, Ví dụ : ở tỉnh Lạng Sơn, trước năm
1990, khu vực kinh tế tư nhân hầu như không có, sau khi có chính sách đổi
mới với chủ trương phát triển nên kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được
21
Trang 23thí hành, thì chúng có điều kiện phát triển mạnh mẽ Đến cuối năm 1992,
cả tỉnh mới chỉ có một doanh nghiệp tu nhan dang ky thành lập, nhưng đến
ngày 1 tháng 10 năm 1996 đã có 30 doanh nghiệp tư nhân và 22 Công ty TNHH dược
hành lập (tổng cộng là 52 cái) với tổng số vốn xấp xỉ 35,8 tỷ đồng và khoảng 800 lao động [ xem tạp chí Thông tin lý luận số 2 năm
1997, trang 30] Xót trên phạm: vì cả nước, đến cuối năm 1994 mới có hơn 22.000 doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư bản tư nhân được thành lap theo luật công ty, Số với các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp loại này mới bằng 14,2% về vốn, 7,2% về luo động, 20% về doanh thụ, 67% về tổng mức nộp ngân hàng [theo tạp chí cộng sản số 23 tháng 12 năm 1996] Đến giữa năm 1995 |30 tháng 6 nim 1995] đã có 22.445 doanh nghiệp thuộc thành phẩn này, trong đó có 16.064 doanh nghiệp tư nhân, 6.226 Công ty TNHH, 148 công ty cổ phần Trong đó có một số doanh nghiệp lớn
có số lao dộng từ 5000 đến trên dưới 10.000 người Tổng giá trị sản phẩm tạo ca bằng khoảng 9% GDP của cả nước [theo tạp chí €ộng sản số 16 tháng
8 nấm 1997, trang 9|
Qua phân tích số liệu trên ta thấy kinh tế Nhà nước đang giữ vai trò chủ đạo trong nên kính tế quốc dân nhưng với những yếu kém của hệ thống kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư
Trang 24Đặc biệt trong diéu kiện hiện nay đi kèm với sự yếu kếm của kinh tế
Nhà nước thì hiện tượng tbam nhũng đang trở thành quốc nạn trong toàn bộ
nên kinh tế, cũng như trong khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng Qua kiểm
tra của ngành kiểm soát, hiện lượng tham những là rất nghiêm trọng Tỉnh
đến tháng l1 năm 1990 mới kiểm tra 6 tỉnh đã thấy ngành thuế lấy 3,2 tỷ đồng chi trả lương, chí ứng nội bộ Số tiền thuế bj tham 6 xam tiêu ở 14 tỉnh là 417 triệu đồng Theo thống kê chưa đầy đủ, các cơ quan nội chính đã thụ lý 3.380 vụ án liên quan đến tham những với 5270 bị can, nhưng mới truy tố được 1.054 vụ với 1.674 bị cạn, Trong tổng số 3380 vụ án đã có :
- 900 vụ với 1.552 bị can phạm tội tham 6
1.551 vụ với 1.810 bị cạn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt lài sản
- 52 vụ với 113 phạm tội hối lộ
- 673 vụ với 1041 bị can phạm tội lừa đáo
- 170 vụ với 422 bị can cố ÿ làm sai lệch chính sách
Các ngành nội chính dã kiến nghị thu hồi số tài sản của Nhà nước bị thăt thoát trị giá 542 Lý 781 triệu đồng Và thực tế đã thu được
76 tỷ 907 triệu đồng Việt Nam và 2.542.763 USD [ theo lap chi Cong sản số 8 năm 1991, trang 43, 44 ]
tiến nay hiện tượng tha hoá, tham những chựa khắc phục được, mà
còn gia tăng với những vụ cực lớn như vụ tham những xây dựng đường đây
2a
Trang 25500 kỉ lô vốn, vụ Tamêexcô, và gần đây là vụ tham những của Tổng Giám
đốc Tổng công ty đệt may Việt Nam kiêm Tổng Giám đốc Công ty đệt
Nam Định Nguyễn Duy Kiểm Tệ nạn tham những đang là một thực tế và nguy cơ của nó không kém gì nguy cơ tụt hậu về kinh tế Tệ quan liêu,
them những và suy thoái về phẩm chất đạo đúc của một bộ phận cán bộ, dang vién Tim cho bộ máy Đảng và Nhà nước, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và NHà nước suy yếu lồng tín đối với chế dộ bị xói mòn, các chủ
trương chính sách của Đáng và Nhà nước
hi hành sai lệch, Tệ nạn này đã
và đang góp phần làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa Đó là mảnh đất thuận lợi cho "diễn biến hoà bình" Đây là một yếu tố làm tăng thêm tính phức tạp của những mâu thuẫn trong quá tình phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang đứng trước một
mâu (thuẫn là : quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhưng lại thực hiện phát triển
câ thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa Và phát triển thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng lại không theo con đường tư bản chủ nghĩa Sự tôn tại
và phát triển của cơ chế thị trường dựa trên sự đa dạng hoá sở hữu, mở rộng
hợp tác kinh tế quốc tế nói chung và đặc biệt là của kinh tế tư bản tư nhân
mói riêng luôn luôn lì nguồn gốc của những mân thuẫn phức tạp trong thời
kỳ quá độ làm tăng nhân tổ tự phát phát triển tư bản chủ nghĩa trong nên
Trang 26Song mở rộng và phát triển hình thức sở hữu này sẽ làm xuất hiện một khả năng thực tế : kết cấu sở hữu của nên kinh tế dễ sẽ không còn đặc trưng của nên kinh tế xã hội chủ nghĩa Sự phát triển của hình thức sở hữu tư nhân không chỉ hình thành những nguy cơ kinh tế, mà còn din đến cả những,
nguy cơ về chính trị Sự phát triển của nó đến một mức độ nào đó vẻ mật xã
hội có thể hình thành những tầng lớp, giai cấp đối lập, có thế lực và địa vị kinh tế Khi đó việc tham gia vào cơ cấu quyền lực chính trị của cáo tầng lớp, giai cấp này cũng sẽ được dat ra vi mau thuẫn trực tiếp với bản chất
của toàn bộ chế độ chính trị quyền lực chỉ thuộc vẻ nhân
nguy cơ về chính trị cũng đã có nhưng chưa đặt ra một cách trực tiếp, nhưng
ở Trung Quốc đã xuất hiện nguy cơ này Trong "bức thư vạn chữ" dang lưu
hành trong nội bộ Đẳng cộng sản Trung Quốc đã viết rằng : các nghiệp chủ
tư doanh đang muốn chiếm giữ và thực tế dã nắm giữ một số chức vụ chính quyền ở cấp Lỉnh và cơ sớ Có một số nghiệp chủ tư doanh cồn đồi ra một số
tờ báo, muốn cố "tiếng nói" riêng của mình Hiện tại đã xuất hiện báo "xƒ
triển Đây là những mâu thuẫn nan giải dặt ra đối với việc phát triển nền
kinh tế đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các quan hệ sẵn xuất, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 27Ngoài ra cũng cần thấy thêm rằng, sử dụng cơ chế thị trường, mở cửa
với bên ngoài là điều kiện tuyệt đổi cần thiết để phát huy những tiểm nang của đất nước và thể giới đua đất nước tiến vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây đựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Song đây cũng,
là thời cơ, điều kiện dé các nhân tố tư bản chủ nghĩa phát triển dẫn đến
nguy cơ làm chệch hướng đi của xã hội ta Biểu hiện ở chỗ : Một là, trong liên doanh với nước ngoài, mức vốn đóng góp của nước la nói chung còn
thấp: thường không quá 1⁄3 và chủ yếu là giá trị đất đai, Thông thường đầu
tư nước ngoài tại các nước trong khu vực vốn của các nước nhận đầu tư
đó, công nghệ của các Công ty liên doanh với nước ngoài thường lạc hậu tới
i, hon 76% thiết bị công
hai, ba thế Hệ so với mức trung bình của thế g
nghệ sản xuất từ những năm 50, 60 thậm chí có tới 27% sản xuất từ những, nam 1916, có dự án lắp đặt xong công nghệ đã quá lạc hậu, nhà máy không hoạt động được [ số liệu theo Tạp chí nghiên cứu lý luận số 4 năm 1996,
trang 49], Trong điều kiện ấy thử bồi chúng ta có thể gữi được định hướng
xã hội chủ nghĩa hay không ? Dây là một mâu (huẫn thực tế đang đặt ra đối
với định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình da đạng hoá các hình thức
26
Trang 28sở hữu, các quan hệ sản xuất, Hai là, sử dụng cơ chế thi trường và mở cửa lam ăn với các nước tư bản là cơ hội để kẻ thù của độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội tìm mọi cácH lợi dụng thực È "diễn biến hoà bình" Chủ
nghĩa để quốc đứng dấu là để quốc Mỹ không hề giấu giếm ý đồ của mình khí chủ trương chuyển hướng chiến lược từ "ngân chan" sang "vượt trên ngăn chặn" để "phần lan hoá" Dong Âu và các nước xã hội chủ nghĩa Tổng thống Mỹ Bin Clin ‘Ton trong bài phát biểu tuyên bổ bình thường hoá quan
hệ với Việt Nam đã công khai nói rõ : "Tôi tin rằng việc bình thường hoá và
tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy
sự việc tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước
đây" Lời tuyên bố đồ cũng đủ để cho chúng ta thấy rằng, cuộc đấu tranh
“ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghìa tư bản còn nhiều cam go, phúc tạp Chính khát vọng "điển biến hoà bình" của Phương Tây sau nhiều
thập kỷ không tiêu điệt nổi chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực, đã cổ vụ mạnh
mẽ các thế lực thờ địch bên trong các nước xã hội chủ nghĩa Thực chất của
“diễn biến hoà bình" là nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa và xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Thủ doạn thường thấy của chúng là sử dụng tổng hợp các lực lượng phá hoại thông qua các hoạt động kinh tế - chính trị,
tự tưởng, văn hoá, xã hội, từng butớc thực hiện các mưu đổ một cách lặng lẽ, thẩm dần làm “mục ruỗng" từ bên trong, kích động các lực lượng, khuynh hướng phản động, phản nhân dâo nổi dây mà không cần phải dòng đến bạo
Tực vũ trang xâm lược, Thực tế ở các nước Đông Âu và Liêu Xô trước đây
cho thấy, chính các thể lực này đã đẩy các nước đó trượt nhanh sang đường
ray tư bản chủ nghĩa Ngày nay, có thể nói cách thức đối với độc lập dân tộc.
Trang 29và chủ nghĩa xã hội vẫn là chủ nghĩa đế quốc, nhưng chúng không dùng chiến tranh xâm lược, mà là "chiến tranh lạnh" với những thủ đoạn, phương pháp mới nguy hiểm hơn nhiều, đó là "diễn biến hoà bình" Miâu thuẫn giữa độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và các thế lực đế quốc tư bản vẫn còn đó,
nó chỉ thay đổi hình thức đối kháng mà thôi
Nước la phải trải qua một thời kỳ quá độ, ở đó không chỉ mang những
mãnh, những bộ phận, những thành phần của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa
xã hội, mà còn mang những mảnh, những bộ phận, những thành phần của
cả 3 loại kết cấu xã hội : xã hội xuất phát (xã hội tiền tư bản,thậm trí còn
tồn tại cả hình thức kinh tế tự nhiên), xã hội bỏ qua (xã hội tư bản), và xã hội định hướng (xã hội xã hội chủ nghữa) Trong thời kỳ nầy còn phải sử
dụng những hình thức kính tế trung gian để quá dộ lên chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ ấy, nếu không có tác động định hướng thì sự chuyển tiếp của
các khâu trung gian rất dễ trở thành những cái không phải xã hội chủ nghĩa, bởi vì sự chuyển hoá này luôn luôn chứa dụng các mặt vừa thống nhất, vừa đấu tranh, tạo nên những khả nãng chuyển hoá khác nhau Có thể nói mâu
thuẫn giữa khuynh hướng, con đường phát triển tư bản chủ nghĩa và khuynh
¡ chủ nghĩa là mâu thuẫn cơ bản của thời
hướng, con đường phát triển
kỳ quá độ Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta là mâu thuẫn giữa một bên là các nhân tố tiên tư bản và có khuynh
hướng tự bản, voi mat ben kia là những nhân tổ xã hội chủ nghĩa và có
khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đang nảy sinh và ngày càng phát triển Đấu
hiện tổng quát của cuộc dấu tranh giai cấp
tranh giữa hai con đường là b
28
Trang 30trong thời kỳ quá độ ở nước ta Đấu Iranh giữa hai con đường - con đường
xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa - diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống kinh Iế ~ phính (rj, lu tưởng, văn hoá Đó là cuộc dấu tranh giữa các lực lượng, các nhân tố thúc dẩy dất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với các lực lượng, các nhân tố thúc đẩy đất nước đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa, đi vào chế độ tư bản chủ
nghĩa Văn để trung tâm, cơ bản của cuộc đấu tranh giữa hai
và đấu Icanh với thực dâu Pháp, Tưởng Giới Thạch, và bọn can thiệp Mỹ, thể hiện trong chỉ thị "hoà để tiến”, hiệp định cơ bộ 6/3/1946, và tạm ước 14/9/1946 Tình thế cách mạng hiện nay cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường ở nước ta chắc chấn sẽ diễn ra gay go, phức tạp, khó khăn, lâu dài, như Chủ tịch Hỏ Chí Minh đã nói : "Thắng đế quốc
và phong kiến là lương dối dễ, thắng bẩn cùng và lạc hậu cồn khó hơn
Và Người thường nhắc nhớ : "Xây dụng chủ nghĩa xã hội là một
29
Trang 31cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài" [Hồ Chí Minh : toàn tập, tập Š, nhà xuất bản sự thật Hà Nội, 1984, trang 3] Trong bài nói
Con dường đi đến chủ nghĩa xã hội còn dài Trong quá trình ấy chúng
ta cồn phải xử lý nhiều mâu thuẫn phức tạp : Một là, tiến lên chủ nghĩa xã hội là tiên tới một xã hội không còn sở hữu tư nhâo tư bản chủ nghĩa, nhưng
trong diều kiện hiện nay ở nước ta sở hữu Iự nhân đang là một động lực phất triển kinh tế - xã hội Ngăn cần hay hạn chế đó sẽ làm mất một dong
lực phát triển nhưng nếu để nó phát triển một cách tự do không cỏ sự kiểm
soát thì không tránh khỏi đi tới chủ nghĩa tư bản; Hai là, tiến lên chủ nghĩa
xã hội là tiến tởi một xã hội không còn giai cấp đối khẩng, không còn còn
áp bức bóc lột, nhung điều kiện sử dụng cơ chế thị trường hiện nay lại phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo, dẫn đến khả năng phân chia
và mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột; Ba là, mâu thuẫn giữa quyên lực của nhân dâu dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đội tiên phong,
của giai cấp công nhân với các thế lực muốn xoá bỏ quyền lực ấy
Trong bối cảnh phức tạp như thế chỉ có kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin tư tưởng Hồ Chí mình và sự lãnh dạo cia Dang cộng sản Việt Nam
với một đường lối mềm dẻo, lĩnh hoại, sáng tạo mới có thể đưa chủ nghĩa
xã hội đến thắng lợi cuối cùng, Song tự bản thân đường lối, quan điểm
30
Trang 32chính trị của Đảng không thể làm thay đổi tích cực đối với hiện thực nếu
Ong, tích cực, sáng tạo của nhân dân lao động trở thành một điều kiện cơ bản để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi
AI
Trang 33KIEN TRUC THUONG TANG CHINH TRỊ Ở VIỆT
NAM HIỆN NÀY NHỮNG ĐIỂM MẠNH CƠ BẢN VÀ
NHŨNG ĐIỂM YEU CON TON TAI
1, Kiến trúc thượng tầng vã vị trí của nó trong cấu trác chung cửa
một hình thái kinh tế xã hội là một vấn dé có ý nghĩa lý luận cực kỳ quan
trọng và sâu sắc Vì thế vấn dé này đã từ lâu thu hút tâm lực của nhiều
trường phái khoa học có quan diểm hết sức khác nhau thậm chí trái ngược nhàu: Xung quanh vấn để này vẻ phương diện lý luận là tiêu điểm của cuộc đấu tranh giữa lai thế giới quan duy tâm và duy vật, giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hình Những quan điểm khác nhau này đã nổ ra,
dae biel là đầu trước của cuộc cách mạng vĩ đại của giai cấp vô sản Nga,
cách an tháng 1Ô năm 1917 Sau dó cuộc đẩu tranh vẫn tiếp tục kéo
ý ngÌĩa liết sức quan trọng nhằm củng cố, nang cao và phát triển tính
khoa học và tính cách mạng của chủ ngiĩa Mác trong thời dại mới, thời
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
nhận ứnh độc lập và năng dộng, tác động trở lại của kiến trúc thượng
32
Trang 34dối với cơ sở hạ tầng Họ xem kiếu trúc thượng tầng chỉ như một phiên
ban thăng hoa, duy nhất,là sự phản ánh sao chép một chiều của cơ sở hạ
tầng , Do đó, kiến trúc thượng tầng chỉ như một sản phẩm thụ động khô
cứng, không phải là một hiện thực sống động, không có dược một đời xống dộc lập tương i đổi so với cơ sở hạ tầug tương ứng Tuyệt đối hoá tính ạ tầng tưởng dng Tuy
thứ nhất của cơ sở hạ tổng, họ xem cơ sở hạ tắng phải là một cái gì hoàn chính, hoàn thiệu và chỉ trong trường hợp dó nó mới sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng tường ứng Những người thuộc khuynh hướng này không thừa nhận có sự quá độ, cũng không thờa nhận có những bước tiến mang tính cách mạng trong đời sống xã hội Đối với họ lị
\ sử chỉ là một quá
trình tiệmtiễn, tuần tự chậm chạp, mà ở đó vai trò của con người không
có.gì khác ngoài sự phụ thuộc vào hoàn cảnh
Nếu về mật lý luận những người theo oguyên tắc quyết định luận
mấy móc thường tự xem mình như là người duy vật triệt để, những người
số vẻ “ tả khuynh” thì về mặt thực tiễn cách mạng họ lại rơi vào chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, Xuất phát từ chỗ cho rằng cơ sở lạ tầng quyết định duy nhất và tất cả, mà cơ sở hạ tầng lại được quyết định bởi lực lượng sản xuất, họ “ chứng mình ”
ing, cách mạng vô sản không thể và
“không nên nổ ra ở một nước Nga lạc hậu thời bấy gị Gi vì nếu có nd
ra thì
ai cấp vỡ sản cũng không thiết lập được thượng tầng kiến trúc của
mình do không có điều kiện thiết lập một cơ sở hạ tầng dựa trên một nên
tảng công nghì
(1) Lênin đã phê phá kịch liệt những luận diệu trên và
chỉ rõ tính phi khoa học của nó về mặt lý luận và sự phản bội nguy hiểm
của nó đối với giai cấp võ sản về mặt thực tiễn ” Ngày nay những lập
luận như vậy không hẳn đã hoàn toàn chấno đút, chỉ có hình thức biểu hiện
Trang 35khuynh hướng cứ hội hữu khuynh đưới mọi mầu sắc sẽ coi đây là một cơ hội để công kích chú ughữa Mác và sự nghiệp cách mạng ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó có Vet nam ching ta
Khuynh hướng thứ hai ngược lại với chủ nghĩa duy vật máy móc, là khuynh hướng chủ quan duy ý chí
Nguồn gốc của khuynh hướng này, về mặt lý luận bất dâu từ ví
sự phát triển của cơ sở hạ tầng, ngược lại nếu kiến trúc thượng tầng không
phù hợp sẽ cẩn trở sự phát triển của cơ sở hạ Lẳng Chính nguyên lý đó
cho phép cuộc cách mạng của giai cấp vò sản trong khi vừa xây dựng một
vừa có thể hoàn
cơ sở hạ tầng cho một hình thái kinh hội mị
thiện lừng bước kiến trúc thượng tầng tương ứng Sự khuyếch đại hoặc nhấn mạnh quá mức tính độc lập và năng động của kiến trúc thượng tẳng
sẽ làm mất di lình hỗu của phép biện chúng Mác xít
Về mặt lịch sử, xu hướng thổi phỏng vai trò của kiến trúc thượng tổng đã xuất hiện từ thời Mác,Ăng ghen và hai ông đã phải ;a sức dấu tranh để khắc phục khuynh hướng lý luận sai lâm đó trong phong trào công nhân quốc lế, Dến thời Lênin, xu hướng này cũng phát triển và do
vậy Lênin cũng đã đấu tranh không khoan nhượng để khắc phục những
sai lầm lí luận này Đáng chú ý là sau khi Lênin qua đời,xu hướng này có
diễn biến khá phức tạp và cồn lan rộng trong giới khoa học Mác xí, kể cả
34
Trang 36
những người lãnh đạo một số đẳng cộng sản và công nhân trong phong trảo cộng sẵn và công nhân quốc tế
Nếu về mặt lý luận, xu hướng quá thổi phềng vai trò của kiến trúc
thượng lắng rơi vào chủ nghĩa duy tâm thì về mặt thực tiễn đó là sự biểi
hiện của chủ quan duy ý chí Từ chỗ cho rằng kiến trúc thượng tầng có tính năng động, đã biến nó thành cái quyết định cả cơ sở hạ tầng Vì tế bắn thân cơ sở hạ tổng trong lý thuyết này mất di tính phát triển tự nhiên vốn có và trở thành sản phẩm pha thude hoàn toàn vào kiến trúc thượng tầng Trong thực tiễn, từ kiến trúc thượng tầng chính trị, người ta đã tạo ra
một cơ sở lạ tổng tương ứng thòng qua các cuộc cái cách vân động cách
mạng nhằm thử tiêu mau ebóng các yếu tố không phù hợp vơi kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa và biến các quan hệ sản xuất xã hội vốn đa dang và phong phú thành một quan hệ sản xuất dưới hai hình thức sở hữu
nliầ nước và sở hữu tập thể Phải thừa nhận rằng, do những nỗ lực của
đẳng cộng sản và sự cố gắng cao độ của nhân dân, những nắm đầu của
cuộc cách mạng này đã đưa lại những thành quả lớn lao chưa từng có và
đã giúp các nước đi theo con dường xã hội chủ nghĩa khắc phục biết bao
ây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng
Trang 37
tỉnh thâu vấn hoá bị sói mồn, niềm tìn của quần chúng bị giảm sút
Trước tình trạng đó nhiều đẳng cộng sản cẩm quyền đã có những nhận
thức mới vẻ lý luận và cải cách trong thực tiễn, các khái niệm “ cải tổ ”,
“cải cách ”, “đổi mới ”' với những nội dung có thể khác nhaủ nhưng đều hàm chứa một ý tưởng là cân phải nhận thức lại và đổi mới phương thức lạoạch định đường lối chính sách phù hợp với thực tiễn Mặc đủ có chung một lý tưởng nhưng do đường lối khác nhau và điều kiệu cụ thể ở từng
quốc gia khác nhau và kết quả cuối cùng lại hoàn toàn khác nhau Liêu xô
c nước Đông Âu tiến hành “cải tổ " và cuối cùng là sự sụp đổ chế dộ
xã hội chủ nghĩa, Ngược lại ở Việt nam, Trung quốc và một vài nước khác chẳng những chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn đứng vững mà còn làm cho đất nước thoát khỏi khủng hoảng và tạo diều kiện để tiến lên trên con đường, phát
chủ nghĩa
ién theo định hướng xã hộ
2 Ở Việt nam, khuynh hướng duy vật máy móc thường nhấn mạnh tính chất lạc hậu của một nên sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu để phù
nhận việc xây dựng một kiến trúc thượng tầng tiên tiến xã hội chủ nghĩ:
Khuynh hướng này không quan (âm đến những yếu tố cực kỳ quan trọng như bối cảnhlịch sử eụ thể cũa đất nước ta, mối Lương ruan giai cấp và các yếu tế của thời đại Những người theo khuynh hướng này một mực cho rằng, đất mước ta phải trải qua con đường tư bản chủ nghĩa và sau đó mới
có thể tính đến việc đi lêu chủ nghĩa xã hội(1) Thực tiến tháng lợi của cách mạng Việt nam đã hoàn loàn bác bổ các khuynh hướng cơ hội hữu khuynh đó và càng ngày càng làm sáng tổ những luận điểm khoa học và cách mạng của Lênin và của Nguyễn Ái Quốc về mối liên hệ hữu cơ giữa lực lượng tư bẵn phản động chính quốc và hệ thống thuộc địu Chính những thẳng lợi của phong Hào giải phổng dân tộc Ù các thuộc địa dã giảng một đòn chí tử vào chủ nghiã đế quốc và tạo diều kiện cho giai cấp
36
Trang 38
Xét trên bình điện thực tế, chính những điều kiện lịch sử của phong trào
cách mang & nude ta, đặc biệt là những thẳng lợi c
te kỳ vĩ đại của nhân dan 1a dưới sự lãnh đạo của dẳng trong công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã khiến cho các loại cơ hội hữu khuynh không thể tin được chỗ đứng Vì thế các xu hướng lý luận sai lắm siêu hình máy móc như vừa nói trên cñng không có điều kiện phát triển và ân sâu bám rễ vào trong quân chúng Nói như vậy không có nghĩa là giờ đây
u hướng sai lãm này đã hoàn toàn bị loại bỏ khỏi đời sống xã hội Ngược
lại trong điều kiện đổi mới, nên kinh tế nhiều thành phần vận hãnh theo
cơ chế thị trường mổ rộng quan hệ quốc tế, các thứ lý luận sai lầu này
vẫn có cơ lội sống lai và thâm nhập vào nhân đân với những hình thức và màu sắc khác nhau, nhiều khi rất khó phân biệt
Củng với khuynh hướng siêu lần máy móc, trong cuộc cách nưịng ở nước ta cũng xuất hiện các kbuynh hướng chủ quan, đặc biệt là trong
công cuộc xây dựng kinh tế Trong điều kiện nước ta còn là một nền sản
xuất nhỏ nông nghiệp là chủ yếu, việc kế hoạch hoá và diều hành nêu kinh tế một cách tập trung đã nhiều lúc phát huy tác dụng bởi lẽ nó phát huy được sức mạnh của chính quyển nhà nước trong kinh tế, tập tung
nguồn vốn, nhân tài vật lực điều tiết trên bình diện vĩ mô Tuy nhiên
Trang 39trong đời sống kính tế thự quy luật cúng cảu, quy loật gid Ui, quy 1uat
xuống cấp, người lao động mất dộng lực sản xuất Cùng với một cơ chế
diễn hành sản xuất bằng các mệnh lệnh hành chính như vậy thì sự tập trừng chỉ huy ngày căng phát triển Nhưng trong điều kiện các cơng ty, báo cáo đều thiếu tính thực tiễn như vậy thì tất yếu tình trạng quan liêu cũng ngày càng nãy nở và trở thành một sánh nặng một cản trở lớn cho
Tại Đại Hội đại biểu lần thứ 6 với únh thần đổi mới tư duy, nhìn
lg vào sự thật, đảng ta đã nêu lêu những thành tựu của cách) mạng Việt
nam, trong đĩ đặc biệt là những thành tựu về xây dụng, củng cổ và phát
triểu các yếu tổ của kiến trúc thượng tổng, nhất là thành tổ chính trị Sự
thắng lợi của cách mạng Việt nam trong cơng cuộc giải phĩng, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc Irong mấy thập kỷ qua gắn liền với sự lãnh đạo của
đẳng, cũng cố và phát huy hệ thống chính trị, vận dụng một cách khoa học và sáng tạo tư tuổng chính trị của Mác - Lêọn và lễ Chí Minh,
38
Trang 40“Trên cơ sở một kiến trúc thượng tầng xã hội, nhất là thượng tấn
chính trị, đẳng ta đã vận dụng của qui luật về mối tương tác giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng để cũng cố và phát huy sức mạnh kinh tế Chính vì vậy mà trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại cũng như khi hoà bình xây dựng đấú nước, đẳng ta, _ nhân đân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hồng cách mung, lòng dũng cẩm, thông tỉnh, sáng tạo, dưa cách
mạng Việt nam vượt qua những chặng đường hy sinh, gian khổ nhất,
cả khi mà đất nước bắt đầu lu vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế xã hội trong điều kiệp quốc tế diễn biến hết sức phức tạp không có lợi chớ cách mạng nước ta,
Biên cạnh những thành tựu to lớn đó, đẳng ta cũng nghiêm khác chỉ
rõ những khuyết điểm nhiêu khi trâm trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn Về 1uật nhận thức lý luận,đẳng đã chỉ rõ những căn bệnh chủ quan, giáo điều thiếu sáng tạo Về mật thực tiễn,đảng đã chỉ rõ các sai lam như đuy ý chí hành chính, quan liêu, tình trang tập trung bao cäj kéo đài và nhiều vấn để có liên quan đến phẩm chất đạo đức cán bộ đảng viên
ảnh hưởng xấu đến niềm tỉn của nhân dân vào cách mạng Đại hội VI cũng đánh đấu một bước ngoặ
võ cùng quan trọng rong quá trình đổi
mới Lừ kinh tế xã hội đến chính 1, nhưng Irước hết là về mặ kinh tế
Trong đó,điều quan trọng bậc nhất là đẳng ta đã chủ trường xây dựng một nén kinh tế nhiều thành phẩn vận hành theo cơ chế thị trường và với sự quân lý của nhà nước, Đồng thời tăng cường xây dụng suột kiếu lrúc thugng ting thể hiện bản chất của chế độ ta mà trước hết là xây dựng một
hệ thống chính tị đưới sự lãnh dạo của đảng phần ánh quan điểm “của
dân, đo dân, vì đâu”, và mang bắn chất giai cấp vô sản
Tiến đại hội đại biển của đảng ta lân thứ VI], trên cơ sở tổng kết 5
năm thực hiện nghị quyết của đại hội V1, đẳng ta đã khẳng định dnb ding
30