Theo số liệu báo cáo trên thế giới và Việt Nam, phụ nữ bán dâm (PNBD) là một trong những nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV. Chương trình giám sát trọng điểm HIVSTI lồng ghép hành vi (HSS+) năm 2022 tại tỉnh Nghệ An điều tra cắt ngang 200 PNBD nhằm mô tả thực trạng sử dụng bao cao su và các yếu tố liên quan đến hành vi không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ với khách quen ở nhóm này. Kết quả cho thấy tỷ lệ PNBD sử dụng bao cao su tất cả các lần quan hệ tình dục với khách lạ là 85,4%, với khách quen là 79,9%, với chồngngười yêu là 29,5%. Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố làm giảm tỷ lệ sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ tình dục của PNBD với khách quen là: Trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống (OR = 4,18; 95%KTC: 1,15 15,15), chưa từng được nhận bao cao su miễn phí (OR = 4,76; 95%KTC: 1,83 12,34), không khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua (OR = 2,51; 95%KTC: 1,04 6,02). Do đó, cần có những biện pháp tăng cường độ bao phủ của các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV và truyền thông cho nhóm phụ nữ bán dâm, từ đó làm tăng tỷ lệ sử dụng bao cao su và giảm tỷ lệ nhiễm HIV cho nhóm này khi quan hệ tình dục với khách hàng đặc biệt là trong nhóm khách hàng được coi là khách quen.
Trang 1DOI: https://doi.org/10.51403/0868-2836/2022/897
SỬ DỤNG BAO CAO SU KHI QUAN HỆ TÌNH DỤC
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI HÀNH VI
KHÔNG SỬ DỤNG BAO CAO SU THƯỜNG XUYÊN KHI QUAN HỆ
VỚI KHÁCH QUEN Ở NHÓM PHỤ NỮ BÁN DÂM, NGHỆ AN NĂM 2022
Lê Thị Quỳnh Trang 1 *, Dương Thị Hiền 1 , Nguyễn Song Hà 1 , Phạm Đình Du 1 ,
Phan Khánh Ly 2 , Đỗ Minh Hiệp 3 , Hoàng Thị Thanh Hà 3 , Phạm Hồng Thắng 3 , Khưu Văn Nghĩa 4 , Trần Văn Hiệp 5
1 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An
2 Cục phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, Hà Nội
3 Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
4 Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh
5 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thanh Hóa
TÓM TẮT
Theo số liệu báo cáo trên thế giới và Việt Nam, phụ nữ bán dâm (PNBD) là một trong những nhóm có nguy
cơ cao lây nhiễm HIV Chương trình giám sát trọng điểm HIV/STI lồng ghép hành vi (HSS+) năm 2022 tại tỉnh Nghệ An điều tra cắt ngang 200 PNBD nhằm mô tả thực trạng sử dụng bao cao su và các yếu tố liên quan đến hành vi không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ với khách quen ở nhóm này Kết quả cho thấy tỷ lệ PNBD sử dụng bao cao su tất cả các lần quan hệ tình dục với khách lạ là 85,4%, với khách quen là 79,9%, với chồng/người yêu là 29,5% Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố làm giảm tỷ lệ
sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ tình dục của PNBD với khách quen là: Trình độ học vấn
từ tiểu học trở xuống (OR = 4,18; 95%KTC: 1,15 - 15,15), chưa từng được nhận bao cao su miễn phí (OR
= 4,76; 95%KTC: 1,83 - 12,34), không khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua (OR = 2,51; 95%KTC: 1,04 - 6,02) Do đó, cần có những biện pháp tăng cường độ bao phủ của các dịch
vụ dự phòng lây nhiễm HIV và truyền thông cho nhóm phụ nữ bán dâm, từ đó làm tăng tỷ lệ sử dụng bao cao su và giảm tỷ lệ nhiễm HIV cho nhóm này khi quan hệ tình dục với khách hàng đặc biệt là trong nhóm khách hàng được coi là khách quen.
Từ khoá: Phụ nữ bán dâm; HIV; bao cao su; giám sát trọng điểm
*Tác giả: Lê Thị Quỳnh Trang
Địa chỉ: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An
Điện thoại: 0973 463 044
Email: quynhtrang4291@gmail.com
Ngày nhận bài: 26/10/2022 Ngày phản biện: 18/11/2022 Ngày đăng bài: 08/12/2022
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Chương trình phối hợp
của Liên hợp quốc về HIV/AIDS năm 2021, các
nhóm nguy cơ cao (phụ nữ bán dâm và khách
hàng của họ, nam quan hệ tình dục đồng giới,
người tiêm chích ma túy, người chuyển giới)
và bạn tình của họ chiếm 70% số ca nhiễm trên
toàn thế giới Cũng theo báo cáo này, phụ nữ bán
dâm (PNBD) có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp
30 lần so với phụ nữ trưởng thành [1] Tại Việt
Nam, dịch HIV vẫn đang tập trung ở các nhóm nguy cơ cao trong đó có nhóm PNBD Theo số liệu giám sát trọng điểm HIV, tỷ lệ nhiễm HIV vào năm 2012 là 2,7% và năm 2018 là 3,6% [2] PNBD cũng là một trong hai nhóm nguy cơ cao trong giám sát trọng điểm HIV hàng năm tại tỉnh Nghệ An Theo kết quả giám sát trọng điểm từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này dao động từ 1% đến 3% [3]
Mặt khác, các nghiên cứu trước đây đã chỉ
ra rằng không sử dụng bao cao su có liên quan
Trang 2đáng kể đến việc lây nhiễm HIV [4, 5] Bên
cạnh đó, đối tượng khách quen là một trong
những đối tượng được cho là thường xuyên có
hành vi mua dâm, những đối tượng này thường
có xu hướng chủ quan tiềm ẩn nhiều rủi ro lây
truyền HIV và các bệnh qua đường tình dục
cho nhóm đối tượng PNBD và ngược lại Các
yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng bao cao su
của PNBD khi quan hệ tình dục với khách quen
đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu trước
đây như thời gian bán dâm, trình độ học vấn,
số lần bán dâm, biết địa điểm xét nghiệm HIV,
biết tình trạng HIV của bạn tình [6, 7]
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện
nhằm mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng bao
cao su và các yếu tố liên quan đến hành vi
không thường xuyên sử dụng bao cao su khi
tiếp khách quen ở nhóm PNBD năm 2022 tại
tỉnh Nghệ An Các kết quả thu được của nghiên
cứu có thể đưa ra những góc nhìn thống kê cụ
thể hơn liên quan đến nhóm đối tượng PNBD
và hành vi sử dụng bao cao su của nhóm này
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nữ giới, 16 tuổi trở
lên (tính đến thời điểm bắt đầu nghiên cứu),
đã từng bán dâm ít nhất một lần trong vòng 1
tháng trước thời điểm thu thập mẫu, và thuộc tụ
điểm điều tra
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiêu cứu: Thị xã Cửa Lò, huyện
Diễn Châu, Quỳnh Lưu, thành phố Vinh - tỉnh
Nghệ An
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được
tiến hành từ tháng 8/2022 đến hết tháng 9/2022
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo hướng dẫn tại Thông tư
09/2012/TT-BYT ngày 24/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc hướng dẫn giám sát dịch tễ học HIV/ AIDS và giám sát các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, cỡ mẫu phụ nữ bán dâm được giám sát từ 150 - 300 mẫu Tại Nghệ An, nhóm phụ nữ bán dâm được giám sát với cỡ mẫu là 200 định kỳ mỗi 2 năm
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu: Lập bản đồ điểm nóng, xây dựng khung mẫu dựa trên số liệu lập bản đồ Lựa chọn ngẫu nhiên các tụ điểm tại các huyện được lựa chọn làm giám sát trọng điểm, sau đó mời tất cả các PNBD có mặt tại tụ điểm đó tham gia vào nghiên cứu Trường hợp tổng số PNBD đã mời tại các tụ điểm được chọn nhỏ hơn số mẫu cần thiết, tiếp tục bốc thăm ngẫu nhiên trong số các
tụ điểm còn lại để bổ sung cho đến khi đủ cỡ mẫu Sau khi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên đối tượng nghiên cứu tại các tụ điểm được chọn, cỡ mẫu cụ thể tại từng huyện là: Quỳnh Lưu với
31 mẫu, Cửa Lò với 35 mẫu, Diễn Châu với 9 mẫu, thành phố Vinh với 125 mẫu
2.6 Biến số nghiên cứu
Gồm 3 nhóm biến số: (1) Một số đặc điểm dân số, xã hội: Tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thời gian bán dâm, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, tiếp cận các dịch vụ dự phòng, kết quả xét nghiệm HIV và STIs; (2) Hành vi:
Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách quen, khách lạ, chồng/người yêu; (3) Nhận dịch vụ can thiệp: Nhận bao cao su miễn phí, nhận chất bôi trơn miễn phí, được tư vấn
sử dụng bao cao su và tình dục an toàn, khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục Biến số đầu ra là tình trạng luôn sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen - là khách hàng thường xuyên của đối tượng nghiên cứu Những đối tượng cho biết chỉ sử dụng BCS khi tiếp khách quen ở mức thường xuyên, thỉnh thoảng
và không sử dụng sẽ được coi là không luôn luôn sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen
2.7 Phương pháp thu thập thông tin
Điều tra viên thực hiện phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu với bộ câu hỏi thiết kế sẵn Sau khi được sự đồng ý của đối tượng
Trang 3nghiên cứu, tiến hành lấy mẫu máu (đối với xét
nghiệm HIV, xét nghiệm giang mai) và mẫu xét
nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục
(đối với xét nghiệm lậu, chlamydia, trùng roi)
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Điều tra viên nhập các thông tin thu thập
được trên ứng dụng ODK Collect, sau đó làm
sạch bằng Excel, xử lý phân tích bằng phần
mềm Stata 14.0
Thống kê mô tả: Kết quả được trình bày
dưới dạng sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm, giá
trị trung bình, độ lệch chuẩn
Phân tích hồi quy logistic: Giá trị OR, KTC
95% được dùng để đo lường mối liên quan
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Người tham gia nghiên cứu được giải
thích cụ thể các quy trình, lợi ích khi tham gia
phỏng vấn Nghiên cứu được thực hiện dựa trên tính bảo mật và tự nguyện của người tham gia Điều tra viên không thu thập các thông tin định danh của người tham gia mà thay bằng
mã số nghiên cứu
Chương trình giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi đã được Bộ Y tế phê duyệt tại Quyết định 373/2016/QĐ-BYT ngày 10/02/2017 về việc phê duyệt kế hoạch giám sát trọng điểm HIV, giám sát trọng điểm các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi của các tỉnh, thành phố
III KẾT QUẢ
Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm
2022 tại tỉnh Nghệ An được thực hiện trên 200 PNBD Phân tích các thông tin đã thu thập chúng tôi thu được một số kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1 Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi ở nhóm phụ nữ bán dâm
tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200)
Tuổi
Nhóm tuổi
Tuổi trung bình (Biến thiên) (năm)
Thời gian bán dâm trung bình (± ĐLC) (năm)
Thời gian bán dâm
Tình trạng hôn nhân
Ly dị, ly thân, góa chồng 85 42,5
Trình độ học vấn
Trang 4Độ tuổi trung bình của nhóm PNBD năm
2022 tại tỉnh Nghệ An là 30,5 ± 8,3, lớn nhất là
63 tuổi và nhỏ nhất là 17 tuổi Nhóm tuổi 14 -
49 chiếm đa số với 68,5% Thời gian bán dâm
trung bình là 1,92 năm, trong đó nhóm có thời
gian hành nghề dưới 1 năm chiếm 48,5%, từ
1 - 3 năm chiếm 32,5%, trên 3 năm chiếm 19%
Tỷ lệ PNBD đang có chồng chiếm ty lệ thấp
nhất với 18,0% Trình độ học vấn của nhóm
PNBD tham gia HSS+ chủ yếu là trung học cơ
sở (56,5%) Trong 1 tháng qua, nhóm PNBD
có số ngày bán dâm từ > 10 - 25 ngày chiếm tỷ
lệ cao nhất (58,0%), số lần bán dâm trung bình trong 1 tháng qua từ 30 - 100 lần chiếm 75,5%,
số PNBD có từ 30 - 100 khách hàng trong 1 tháng qua chiếm 73,5% Không có PNBD nào tiêm chích ma túy, tỷ lệ chồng/người yêu có tiêm chích ma túy là 1,4% (Bảng 1)
Số ngày bán dâm trong 1 tháng qua (ngày)
Số lần bán dâm trung bình 1 tháng qua
Số khách hàng trung bình 1 tháng qua
Đã từng tiêm chích ma túy
Có chồng/người yêu tiêm chích ma túy (n = 147)
Bảng 1 Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi ở nhóm phụ nữ bán dâm
tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200) (tiếp)
Trang 5Bảng 2 Tỷ lệ tiếp cận với các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ bán dâm
tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200)
Nhận bao cao su miễn ph í
Nhận chất bôi trơn miễn phí
Được tư vấn sử dụng bao cao su và tình dục an toàn
Khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua
Lần xét nghiệm HIV gần đây nhất
Kết quả xét nghiệm HIV
n (%; 95% KTC)
Kết quả xét nghiệm giang mai
n (%; 95% KTC)
Kết quả xét nghiệm Chlamydia
n (%; 95% KTC)
Kết quả xét nghiệm lậu
n (%; 95% KTC)
Kết quả xét nghiệm trùng roi
n (%; 95% KTC)
Trang 6Trong vòng 12 tháng qua, tỷ lệ PNBD từng
nhận bao cao su miễn phí là 49,5%, chất bôi
trơn là 40,5%, có 49,5% từng được tư vấn sử
dụng bao cao su và tình dục an toàn Có 44,5%
chưa bao giờ được nhận bao cao su miễn phí,
54% chưa bao giờ nhận chất bôi trơn và 38,5%
chưa bao giờ được tư vấn sử dụng bao cao su
và tình dục an toàn Tỷ lệ PNBD từng khám
các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3
tháng qua là 61,5% Tỷ lệ PNBD có xét nghiệm HIV trong vòng 12 tháng qua là 66%, trên 12 tháng là 19% Trong số đó có 98,8% tự khai báo tình trạng HIV là âm tính Có 15% PNBD chưa bao giờ xét nghiệm HIV (Bảng 2) Kết quả xét nghiệm cho nhóm PNBD tham gia phỏng vấn cho thấy không có ai nhiễm HIV, tỷ lệ dương tính với giang mai là 1%, bị Chlamydia là 0,5% (Bảng 2)
Có 98,5% phụ nữ bán dâm trả lời có sử
dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần
đây nhất, tỷ lệ luôn luôn sử dụng bao cao su
khi quan hệ tình dục với khách quen là 79,9%,
với khách lạ là 85,4% Trong số những phụ nữ
bán dâm có quan hệ tình dục với chồng/người yêu trong 1 tháng qua, có 29,5% sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ, còn lại đa
số không bao giờ hoặc ít khi sử dụng bao cao
su (Hình 1)
98,5
29,5
1,5
70,5
0 10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Lần QHTD gần nhất Với khách quen trong
1 tháng qua Với khách lạ trong 1 tháng qua Với chồng/người yêu trong 1 tháng qua
Có Không
%
Hình 1 Tỷ lệ luôn luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách hàng
ở nhóm phụ nữ bán dâm tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200)
Trang 7Bảng 3 Mô hình đa biến giữa tình trạng không luôn luôn sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen trong 1 tháng qua và các nhóm yếu tố liên quan ở nhóm đối tượng phụ nữ bán dâm trong giám sát
trọng điểm 2022 tại Nghệ An (n = 169)
Biến độc lập
Không sử dụng BCS 100% khi tiếp khách quen
n (%)
OR (95%KTC) OR hiệu chỉnh (95%KTC)
Nhóm tuổi
-Tình trạng hôn nhân
-Trình độ học vấn
Trung học cơ sở 17 (18,9) 1,13 (0,45 - 2,86) 1,47 (0,52 - 4,13) Dưới tiểu học/Tiểu học 9 (28,1) 1,91 (0,65 - 5,63) 4,18 (1,15 - 15,15) Thời gian bán dâm
-Số ngày bán dâm trong 1 tháng qua
-Số lần bán dâm trong tháng
-Nhận bao cao su miễn phí
Chưa bao giờ 26 (34,2) 5,52 (2,32 - 13,14) 4,76 (1,83 - 12,34) Nhận chất bôi trơn miễn phí
-Được tư vấn sử dụng bao cao su và tình dục an toàn
-Khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua
Xét nghiệm HIV
Chưa bao giờ 23 (29,9) 3,83 (1,56 - 9,38) 2,29 (0,81 - 6,47)
Trang 8Mô hình đa biến với biến đầu ra là tình trạng
sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen trong
1 tháng qua và các yếu tố liên quan bao gồm:
Tình trạng học vấn, nhận bao cao su miễn phí,
khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục
trong 3 tháng qua và tình trạng xét nghiệm HIV
Kết quả cho thấy, có 3 yếu tố thực sự có mối
liên quan tới tình trạng sử dụng BCS khi tiếp
khách quen trong 1 tháng qua của phụ nữ bán
dâm Cụ thể, những đối tượng có học vấn dưới
tiểu học/tiểu học có khả năng không sử dụng
BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp 4,18
lần so với những đối tượng có trình độ Trung
học phổ thông trở lên (OR = 4,18; 95%KTC:
1,15 - 15,15) Bên cạnh đó, những PNBD
chưa từng nhận BCS miễn phí có khả năng đã
không sử sụng BCS 100% khi tiếp khách quen
cao gấp 4,76 lần những PNBD đã từng (OR =
4,76; 95%KTC:1,83 - 12,34) Tương tự, những
PNBD không khám các bệnh lây truyền qua
đường tình dục trong 3 tháng qua có khả năng
đã không sử sụng BCS 100% khi tiếp khách
quen cao gấp 2,51 lần so với những đối tượng
có khám trong 3 tháng vừa rồi (OR = 2,51;
95%KTC: 1,04 - 6,02)
IV BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu trên 200 PNBD tham
gia HSS+ tại tỉnh Nghệ An cho thấy tỷ lệ nhiễm
HIV ở nhóm này là 0%, thấp hơn so với kết
quả giám sát trọng điểm tại các tỉnh khác những
năm trước đây: Tại Hải Phòng năm 2016 là 2%
[8], tại khu vực phía Nam năm 2018 là 4,8%
[9] Tỷ lệ luôn sử dụng bao cao su khi QHTD
với khách hàng cũng cao hơn khi so sánh với
kết quả của những nghiên cứu khác tại Việt
Nam [9 – 11] hoặc trên thế giới [12] Những
điểm khác trong các nghiên cứu này có thể do
địa bàn nghiên cứu, thời điểm triển khai nghiên
cứu và cỡ mẫu nghiên cứu khác nhau
So sánh tỷ lệ luôn sử dụng BCS giảm dần
theo mức độ thân quen của các loại bạn tình
giảm dần theo thứ tự với khách lạ (85,4%),
khách quen (79,9%) và với chồng, người yêu
(29,5%), kết quả này tương tự với nghiên cứu
tại khu vực miền Nam vào năm 2018 với các
tỷ lệ lần lượt là 73,0%, 66,7% và 19,9% [6] Thực tế cho thấy, việc tuyên truyền về tình dục
an toàn và sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục chủ yếu hướng đến nhóm đối tượng PNBD Tuy nhiên với kết quả thu được, có thể thấy tỷ
lệ PNBD luôn sử dụng bao cao su khi QHTD với khách hàng vẫn còn thấp so với mong đợi Trong vòng 12 tháng qua, tỷ lệ PNBD từng nhận bao cao su miễn phí là 49,5%, chất bôi trơn là 40,5%, có 49,5% từng được tư vấn sử dụng bao cao su và tình dục an toàn Tỷ lệ PNBD chưa bao giờ nhận bao cao su, chất bôi trơn và được tư vấn tình dục an toàn lần lượt là 44,5%; 54% và 38,5% Tại 4 huyện triển khai nghiên cứu, hiện tại các chương trình can thiệp giảm hại như phát bao cao su, chất bôi trơn, tư vấn xét nghiệm HIV vẫn đang được triển khai Với kết quả thu được như trên, có thể thấy mức
độ tiếp cận của nhóm phụ nữ bán dâm đối với các biện pháp can thiệp là chưa cao
Kết quả xét nghiệm dương tính với HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục của nhóm phụ nữ bán dâm tham gia giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm 2022 tại tỉnh Nghệ
An thấp hơn so với những năm trước đây (tỷ lệ
bị nhiễm HIV, lậu, trùng roi là 0%, giang mai là 1%, chlamydia là 0,5%) [3] Tỷ lệ dương tính với HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục thấp, tỷ lệ từng nhận bao cao su, chất bôi trơn thấp có thể giải thích do nhóm PNBD tham gia nghiên cứu năm nay chủ yếu là nhóm mới hành nghề, đồng thời các chiến dịch truy quét
tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh diễn ra mạnh mẽ, nhóm PNBD ít khi lộ diện và khó tiếp cận, mặt khác từ năm 2019 đến nay do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên các dịch vụ dự phòng như phát BCS, chất bôi trơn miễn phí gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với nhóm đối tượng đích này Khi so sánh các kết quả thu được, có 3 yếu
tố thực sự có mối liên quan tới tình trạng sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen trong 1 tháng qua của phụ nữ bán dâm Cụ thể, nhóm
có học vấn dưới tiểu học/tiểu học có khả năng không sử sụng BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp 4,18 lần so với nhóm có trình độ học vấn cao hơn Những PNBD chưa từng nhận bao cao su miễn phí có khả năng đã không sử sụng
Trang 9BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp 4,76 lần
những PNBD đã từng được nhận, những PNBD
không khám các bệnh lây truyền qua đường tình
dục trong 3 tháng qua có khả năng đã không sử
sụng BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp
2,51 lần so với những đối tượng có khám trong
3 tháng vừa rồi Kết quả này khác với nghiên
cứu của Carin Andrews khi cho thấy yếu tố
có liên quan đáng kể đến việc sử dụng BCS
thường xuyên là thời gian bán dâm ngắn hơn,
trình độ học vấn cao hơn và PNBD không có
bạn tình thường xuyên [7] Việc sử dụng BCS
khi QHTD còn phụ thuộc vào tính sẵn có của
BCS, có thể giải thích cho việc những PNBD
từng được nhận BCS miễn phí sẽ có tỷ lệ sử
dụng cao hơn Đồng thời những PNBD có trình
độ học vấn cao hơn, từng đi khám các bệnh lây
truyền qua đường tình dục sẽ được tư vấn về
tác dụng của việc sử dụng BCS khi QHTD, do
đó cũng sẽ ảnh hưởng đến nhận thức cũng như
hành vi sử dụng BCS của những đối tượng này
Năm 2022, giám sát trọng điểm lồng ghép
hành vi trên nhóm PNBD được triển khai trong
hoàn cảnh dịch COVID-19 đã cơ bản được
khống chế Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi
vẫn còn một số hạn chế như một số đối tượng
được tiếp cận từ chối tham gia vào nghiên cứu,
đối tượng nghiên cứu được lựa chọn thuận tiện
thay vì chọn ngẫu nhiên nên có thể ảnh hưởng
đến tính đại diện của mẫu và kết quả nghiên
cứu Mặt khác, mô hình hoạt động của nhóm
PNBD sau những năm dịch đã có những thay
đổi, do đó kết quả có thể khác biệt so với những
năm trước
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, các
yếu tố về tiếp cận dịch vụ BCS, khám bệnh lây
truyền qua đường tình dục đều là những yếu
tố có thể can thiệp được, từ đó có cơ sở cho
việc đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn cho các
chương trình can thiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ
An nói riêng
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su
tất cả các lần quan hệ tình dục với khách lạ là
85,4%, với khách quen là 79,9%, với chồng/ người yêu là 29,5% Các yếu tố làm tăng tỷ lệ
sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ tình dục với khách quen của phụ nữ bán dâm là: Trình độ học vấn, được nhận bao cao su miễn phí, khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ luôn sử dụng bao cao su với bạn tình
ở phụ nữ bán dâm ở Nghệ An cần tiếp tục được cải thiện Việc tăng cường thêm các biện pháp nhằm mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó có phát bao cao
su miễn phí và khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục là cần thiết, từ đó tăng tỷ lệ tiếp cận dịch vụ ở nhóm phụ nữ bán dâm và giảm tỷ
lệ lây nhiễm HIV trong nhóm này
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin trân trọng cảm
ơn Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An; Cục Phòng, chống HIV/AIDS; Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương; Viện Pasteur Thành phố
Hồ Chí Minh; Viện Pasteur Nha Trang; Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
- Trường Đại học Y Hà Nội; Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ thông qua Dự án hợp tác CDC-RFA-GH 18-1852 - Chương trình Khẩn cấp của Tổng thống về Cứu trợ AIDS (PEPFAR) và đặc biệt là những người người tham gia nghiên cứu đã giúp chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 UNAIDS Global HIV & AIDS statistics — 2020 fact sheet Cited 2021 Jan 22 https://www.unaids org/sites/default/files/media_asset/UNAIDS_ FactSheet_en.pdf.
2 Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương Báo cáo kết quả triển khai giám sát trọng điểm HIV và giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi năm 2021
2022
3 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An Báo cáo kết quả giám sát trọng điểm HIV/STI, giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi - nhóm phụ
nữ bán dâm năm 2020, tỉnh Nghệ An 2020
4 Medhi GK, Mahanta J, Paranjape RS, el al Factors associated with HIV among female sex workers in a high HIV prevalent state of India AIDS Care 2012; 24 (3): 369 – 376
Trang 105 Szwarcwald CL, Damacena GN, de Souza-Júnior
PRB, el al Factors associated with HIV infection
among female sex workers in Brazil Medicine
(Baltimore) 2018; 97 (1 Suppl): S54 – S61
6 Nguyễn Vũ Thượng, Nguyễn Duy Phúc Thực
trạng sử dụng bao cao su và một số yếu tố liên
quan ở phụ nữ mại dâm tại một số tỉnh khu vực
miền Nam năm 2018 Tạp chí Y học dự phòng
2020; 30 (1): 54 - 63.
7 Andrews C, Faxelid E, Sychareun V,
Phrasisombath K Determinants of consistent
condom use among female sex workers in
Savannakhet, Lao PDR BMC Womens Health
2015; 15: 63
8 Trần Thị Bích Hồi, Nguyễn Duy Hùng, Trần Thị
Thúy Hà và cộng sự Thực trạng nhiễm HIV và
các hành vi nguy cơ ở nhóm phụ nữ bán dâm
và nam quan hệ tình dục đồng giới qua giám sát
trọng điểm tại Hải Phòng năm 2016 Tạp chí Y
học dự phòng 2018; 28 (9): 192 - 198
9 Nguyễn Duy Phúc, Khưu Văn Nghĩa, Nguyễn Thị
Bích Hồng và cộng sự Xu hướng và một số yếu
tố liên quan đến nhiễm HIV ở phụ nữ mại dâm qua giám sát trọng điểm tại khu vực phía Nam,
2012 - 2018 Tạp chí Y học dự phòng 2019; 29 (11): 245 - 253
10 Dương Văn Vịnh, Dương Công Thành, Lương Thị Vy và cộng sự Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành
vi lây nhiễm ở nhóm nghiện chích ma túy và phụ
nữ bán dâm tại tỉnh Bắc Giang năm 2014 Tạp chí
Y học dự phòng 2016; 26 (9 (182)): 14 - 20
11 Dương Công Thành, Nguyễn Thị Thanh Hà, Hoàng Thị Thanh Hà và cộng sự Tỷ lệ nhiễm HIV, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và tiếp cận các dịch vụ về HIV/ AIDS trong các nhóm nguy
cơ cao tại Việt Nam năm 2014 Tạp chí Y học dự phòng 2016; 26 (9 (182)): 109 - 116
12 Lépine A, Treibich C, Ndour CT, el al HIV infection risk and condom use among sex workers
in Senegal: evidence from the list experiment method Health Policy Plan 2020 May 1; 35 (4):
408 – 415.