Những người tiêm chích mà túy là quần thể có nguy cơ cao nhiễm HIV, đặc biệt những người có hành vi dùng chung bơm kim tiêm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm nhóm đối tượng tiêm chích ma túy và một số yếu tố liên quan đến tình trạng sử dụng chung bơm kim tiêm tại Thái Nguyên năm 2019. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 318 đối tượng tiêm chích ma túy (TCMT) tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 042019 đến tháng 062020. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đối tượng tham gia chủ yếu là nam giới (99,7%), tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 35 49 tuổi; đa số đối tượng có trình độ văn hóa từ trung học cơ sở trở lên. Loại ma túy được sử dụng nhiều nhất là heroin (96,2%), 310 người tiêm chích ma tuý có thời gian sử dụng ma túy trên 3 năm. Tỷ lệ người tiêm chích ma túy đã từng dùng chung bơm kim tiêm tại Thái Nguyên khá cao (43,4%). Các yếu tố tình trạng hôn nhân, xét nghiệm HIV, điều trị ARV, nhận được bơm kim tiêm sạch có liên quan tới hành vi dùng chung bơm kim tiêm của những người tiêm chích ma tuý. Do đó cần tăng cường cung cấp và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các nhóm tiêm chích ma tuý nói riêng và các đối tượng nguy cơ cao nói chung.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM NHÓM TIÊM CHÍCH MA TÚY VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG CHUNG BƠM KIM TIÊM TẠI THÁI NGUYÊN NĂM 2019
Hoàng Thị Hải Vân 1 , Trần Ngọc Ánh 1 , Phạm Phương Mai 1 , Đinh Linh Trang 1 , Đặng Thị Lơ 2 , Phan Thị Thu Hương 2 , Lê Minh Giang 1 , Bùi Hoàng Đức 2 *
1 Viện đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
2 Cục phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, Hà Nội
TÓM TẮT
Những người tiêm chích mà túy là quần thể có nguy cơ cao nhiễm HIV, đặc biệt những người có hành vi dùng chung bơm kim tiêm Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm nhóm đối tượng tiêm chích ma túy và một số yếu tố liên quan đến tình trạng sử dụng chung bơm kim tiêm tại Thái Nguyên năm 2019 Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 318 đối tượng tiêm chích ma túy (TCMT) tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2020 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đối tượng tham gia chủ yếu là nam giới (99,7%), tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 35 - 49 tuổi; đa số đối tượng
có trình độ văn hóa từ trung học cơ sở trở lên Loại ma túy được sử dụng nhiều nhất là heroin (96,2%), 310 người tiêm chích ma tuý có thời gian sử dụng ma túy trên 3 năm Tỷ lệ người tiêm chích ma túy đã từng dùng chung bơm kim tiêm tại Thái Nguyên khá cao (43,4%) Các yếu tố tình trạng hôn nhân, xét nghiệm HIV, điều trị ARV, nhận được bơm kim tiêm sạch có liên quan tới hành vi dùng chung bơm kim tiêm của những người tiêm chích ma tuý Do đó cần tăng cường cung cấp và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các nhóm tiêm chích ma tuý nói riêng và các đối tượng nguy cơ cao nói chung
Từ khóa: Sử dụng chung bơm kim tiêm; người tiêm chích ma túy; Thái Nguyên
Ngày nhận bài: 25/10/2022
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo kết quả nghiên cứu tổng quan hệ thống
của Louisa Degenhardt và cộng sự năm 2015,
ước tính trên thế giới có 15,6 triệu người tiêm
chích ma túy (TCMT), chiếm khoảng 0,33%
những người trong độ tuổi 15 - 64 Tỷ lệ
người TCMT cao nhất ở khu vực phía Đông
Á và Đông Nam Á [1], trong đó Việt Nam có
189.400 người TCMT năm 2018 [2] Mặc dù
số ước tính người TCMT nhỏ hơn 1% dân số,
nhưng những người TCMT là một trong những
nhóm dễ bị nhiễm HIV nhất Tỷ lệ nhiễm HIV
trong nhóm TCMT ở Việt Nam năm 2021 là
12,10% [3], mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong
nhóm đối tượng này đã có xu hướng giảm đáng
kể (từ 29,3% năm 2002) [4] HIV/AIDS và các
bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (STIs) ảnh hưởng đến kinh tế, tâm lý xã hội và ảnh hưởng nặng nề đến hệ thống y tế, vì vậy tìm hiểu và quan tâm nhiều hơn đối với đối tượng TCMT là một việc làm cần thiết
Theo tài liệu của UNODC và WHO về các nguyên tắc điều trị nghiện [5], những người TCMT rất dễ bị nhiễm các vi rút lây truyền qua đường máu và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục do dùng chung/tái sử dụng dụng cụ tiêm chích, dung dịch pha thuốc, quan hệ tình dục với những người tiêm chích khác và có quan hệ tình dục có nguy cơ cao Số liệu về quy mô số người TCMT của 130 nước cho thấy
có tới 10% những ca bị nhiễm HIV toàn cầu là
do hành vi TCMT không an toàn, và nếu tính
*Tác giả: Bùi Hoàng Đức
DOI: https://doi.org/10.51403/0868-2836/2022/884
Trang 2cả khu vực Châu phi thuộc cận sa mạc Sahara,
có tới 30% các ca nhiễm HIV toàn cầu là do
TCMT không an toàn Dùng chung dụng cụ
tiêm chích bị nhiễm bẩn là con đường lây lan
HIV chủ yếu ở nhiều khu vực, bao gồm Đông
Âu, Trung Á, Nam Á và Đông Nam Á và một
số nước ở Châu Mỹ La Tinh [6]
Thái Nguyên là tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV
trong nhóm tiêm chích ma túy cao thứ 3 cả
nước sau Điện Biên và Thành phố Hồ Chí
Minh [7] Nghiên cứu này được thực hiện nhằm
mô tả đặc điểm nhóm TCMT và một số yếu tố
liên quan đến tình trạng sử dụng chung bơm
kim tiêm ở nhóm này tại Thái Nguyên năm
2019 nhằm cung cấp thêm thông tin cho việc
xây dựng các biện pháp can thiệp dự phòng lây
nhiễm HIV phù hợp và hiệu quả
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những người
TCMT từ 18 tuổi trở lên; hiện tại (trong vòng
90 ngày) báo cáo có TCMT (không cho mục
đích điều trị); đã và đang sống tại thành phố
Thái Nguyên trong sáu tháng qua; và tự nguyện
đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Người tiêm chích ma
túy có 1 trong những tiêu chí sau sẽ bị loại khỏi
điều tra: Không có khả năng hiểu và trả lời câu
hỏi; sau khi tham gia, đã nảy sinh bất kỳ tình
huống nào, mà theo ý kiến của điều tra viên là
có thể vi phạm thỏa thuận tham gia điều tra
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2020
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng một phần số liệu từ nghiên cứu ước lượng quần thể và các hành vi nguy cơ cao của đối tượng TCMT tại tỉnh Thái Nguyên (bao gồm thành phố Thái Nguyên và các huyện) Bài báo này chỉ sử dụng dữ liệu tại thành phố Thái Nguyên
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu tính cho thành phố Thái Nguyên dựa trên cỡ mẫu tổng thể ước lượng quần thể Nghiên cứu sử dụng công thức Slovin, để ước tính tỷ lệ không xác định trong dân số hữu hạn:
n ≥ DEFF * 1 + Nd2 x (1 - NR)N Trong đó: n = cỡ mẫu mục tiêu tối thiểu N
= số người tiêm chích ma túy (PWID); Z(1 - α/2)
= z - score tương ứng với mức ý nghĩa mong muốn d = 1/2 độ rộng của khoảng tin cậy mong muốn DEFF = hệ số thiết kế NR: Không phản hồi hoặc thiếu dữ liệu
Số người tiêm chích ma túy (PWID) 5200
1/2 độ rộng của khoảng tin cậy mong muốn (%) 5,00%
Không phản hồi hoặc thiếu dữ liệu (%) 5%
Bảng 1 Các thông số sử dụng tính toán cỡ mẫu cho nghiên cứu
Trang 3Dựa trên tổng kích thước mẫu là 782 và
lấy mẫu theo tỷ lệ dân số của thành phố và
các huyện, cỡ mẫu cho mỗi địa điểm nghiên
cứu dao động từ 61 đến 332 cho mỗi địa điểm
nghiên cứu (Phụ lục II) Cỡ mẫu cho địa điểm
thành phố Thái Nguyên là 332 đối tượng
nghiên cứu
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu
dây chuyền có kiểm soát Quá trình chọn mẫu
bắt đầu bằng các “hạt giống” đáp ứng tiêu chí
là những người có đặc điểm khác biệt nhau, ở
nhiều địa điểm khác nhau và biết rõ mạng lưới
quần thể nghiên cứu Các “hạt giống” này được
tuyển chọn thông qua sự giới thiệu của cơ quan
công an Sau khi qua bước sàng lọc đủ tiêu
chuẩn nghiên cứu các đối tượng này được mời
tham gia nghiên cứu, ký bản thoả thuận tham
gia nghiên cứu, tham gia phỏng vấn theo bộ câu
hỏi nghiên cứu, nhận tiền bồi dưỡng phỏng vấn
và nhận 3 phiếu (coupon) để mời 3 người tiếp
theo đáp ứng với các tiêu chí của nghiên cứu
Với mỗi đối tượng được mời tham gia nghiên
cứu “hạt giống” sẽ được nhận tiền bồi dưỡng
mời đối tượng tham gia nghiên cứu theo quy
định Tổng cộng có 318 đối tượng tại thành phố
Thái Nguyên tham gia nghiên cứu
2.6 Biến số nghiên cứu
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn
nhân, điều trị methadone, đã từng điều trị ARV
Hành vi tiêm chích ma túy: Loại ma túy, các
loại ma túy sử dụng (từ trước đến nay/trong 1
tháng qua), thời gian sử dụng ma túy, số lần
TCMT trong 30 ngày gần nhất, tần suất sử dụng
bơm kim tiêm chung (từ trước đến nay/trong
vòng 6 tháng qua/trong vòng 30 ngày qua), sử
dụng bơm kim tiêm chung với đối tượng, sử
dụng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích
gần đây nhất
Yếu tố liên quan đến hành vi dùng chung
bơm kim tiêm: Nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân,
trình độ học vấn, đặc điểm dịch vụ can thiệp giảm hại
2.7 Phương pháp thu thập thông tin
Các đối tượng được thu nhận vào nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp bởi các cán bộ CDC Thái Nguyên đã được tập huấn dựa trên
bộ câu hỏi thiết kế sẵn với các biến số đã được xác định
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu dược nhập liệu bằng phần mềm Epi data 3.1 và sử dụng phần mềm STATA 14.0 để phân tích số liệu
Các thuật toán thống kê mô tả cho các biến
ở phần đặc điểm chung của đối tượng, các hành
vi tiêm chích ma túy: Tính tần suất, tỷ lệ cho các biến định tính; và tính trung bình, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng
Mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến được áp dụng nhằm kiểm định mối liên quan giữa hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm
và các yếu tố liên quan như đặc điểm chung của đối tượng, đặc điểm sử dụng chương trình giảm hại, đặc điểm tình trạng xét nghiệm HIV
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y Hà Nội phê duyệt, đáp ứng các yêu cầu đạo đức trong nghiên cứu y sinh học theo chứng nhận số 13/HMUIRB ngày 19/04/2019
III KẾT QUẢ
Trong tổng số 318 đối tượng tiêm chích tham gia nghiên cứu có 317 đối tượng là nam giới (chiếm 99,7%) và chỉ có 1 đối tượng là nữ giới (chiếm 0,3%) Hầu hết đối tượng đang có vợ/chồng (60,4%), đối tượng chưa lập gia đình cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (22%), đối tượng đã
ly dị, ly thân và góa vợ/chồng có tỷ lệ lần lượt
là 13,5%, 3,1% và 0,9% Không có đối tượng nào đang sống chung mà không kết hôn
Trang 4Nhóm tuổi 35 - 49 chiếm tỷ lệ lớn nhất
(64,2%), tiếp theo là nhóm tuổi trên 49 (23,6%) và 25 - 34 (11%), nhóm tuổi dưới 25 tuổi chỉ chiếm 1,3%
Trình độ học vấn chủ yếu là trung học phổ
thông (49,4%), tiếp đến là trung cấp, cao đẳng, đại học (36,2%), trung học cơ sở (14,0%), và chiếm tỷ lệ thấp nhất là mù chữ, tiểu học (0,3%)
1,3%
11%
64,2%
23,6%
Dưới 25 tuổi 25 - 34 tuổi 35 - 49 tuổi Trên 49 tuổi
0,3%
14%
49,4%
36,2%
Mù chữ, �ểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung cấp, cao đẳng, đại học
Hình 1 Phân bố độ tuổi của nhóm tiêm chích ma túy (n = 318)
Hình 2 Đặc điểm trình độ học vấn của nhóm tiêm chích ma túy (n = 318)
Trang 5Bảng 2 Tình trạng sử dụng ma túy của nhóm tiêm chích ma tuý tại Thái Nguyên (n = 318)
Bảng 3 Tần suất sử dụng bơm kim tiêm chung của nhóm tiêm chích ma tuý tại Thái Nguyên (n = 318)
Các loại ma túy sử dụng từ trước đến na y
Các loại ma túy sử dụng trong 1 tháng qu a
Thời gian sử dụng ma tú y
Số lần tiêm chích ma túy trong 30 ngày gần đâ y
Sử dụng bơm kim tiêm chung từ trước đến na y
Sử dụng bơm kim tiêm chung trong vòng 6 tháng qu a
Sử dụng bơm kim tiêm chung trong vòng 30 ngày qu a
Loại ma túy được người TCMT sử dụng
nhiều nhất là heroin (96,2%) Trong vòng một
tháng qua loại ma túy được sử dụng nhiều
nhất là heroin (94,3%), các loại ma túy khác
ít được sử dụng thuốc phiện (5,4%); hàng đá,
cục, hồng phiến (5,0%); và kê-tamin (1,6%)
310 đối tượng TCMT (97,5%) có thời gian sử dụng ma túy của các đối tượng chủ yếu là trên
5 năm Số lần TCMT trong 30 ngày gần đây của nhóm TCMT có trung vị (khoảng tứ phân vị) là 4 (2 – 12,8), thấp nhất là 0 lần và nhiều nhất là 80 lần
Trang 6Bảng 4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi dùng chung bơm kim tiêm từ trước (n = 307)
Đặc điểm Phân tích đơn biến
Phân tích đa biến (n = 307) (PseudoR 2 = 26,8, p < 0,0001)
Đặc điểm nhân khẩu học
Tình trạng hôn nhân
Đã ly dị 1,44 0,74 - 2,79 1,53** 0,74 - 3,17
Đã ly thân 12,33 1,53 - 99,29 16,06** 1,83 - 140,8 Đặc điểm sử dụng dịch vụ can thiệp giảm tác hại
Có xét nghiệm HIV
Từ trên 6 đến 12 tháng qua 1,925 0,94 - 3,94 1,71 0,76 - 3,84 Trên 12 tháng qua 2,193 1,30 - 3,72 1,87* 1,03 - 3,39 Chưa bao giờ 2,045 0,96 - 4,37 3,27** 1,46 - 7,33 Điều trị ARV
Có 6,96 3,51 - 13,80 8,35*** 4,03 - 17,29 Nhận được bơm kim tiêm sạch
Đã từng nhận 2,168 1,20 - 3,94 2,55** 1,32 - 4,93
Kết quả phân tích đa biến cho thấy các biến
số có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với
hành vi dùng chung BKT từ trước đến nay bao
gồm: Tình trạng hôn nhân, xét nghiệm HIV,
điều trị ARV, nhận được BKT sạch Những
người TCMT đã ly thân có nguy cơ dùng
chung BKT cao hơn 16,06 lần so với người
TCMT đang có vợ/chồng (OR = 16,06; KTC 95%: 1,83 - 140,8) Người TCMT có xét nghiệm HIV trên 12 tháng qua và chưa bao giờ xét nghiệm HIV có nguy cơ dùng chung BKT cao hơn người TCMT xét nghiệm HIV trong vòng 6 tháng qua (OR lần lượt là 1,87 và 3,27, KTC95% lần lượt là 1,03 - 3,39 và 1,46
Từ trước đến nay, nhóm TCMT có tỷ lệ
người sử dụng BKT chung chiếm 43,4% Trong
đó chủ yếu là thỉnh thoảng sử dụng BKT chung
(40,9%), chỉ có 2,2% người sử dụng BKT
chung ở đa số các lần và 0,3% đối tượng sử
dụng BKT chung ở tất cả các lần Trong vòng 6
tháng qua, nhóm TCMT có tỷ lệ người sử dụng
BKT chung chiếm 15,4%, sử dụng BKT chung
ở tất cả các lần và đa số các lần chiếm tỷ lệ lần
lượt là 14,5% và 0,9% Trong vòng 6 tháng qua,
không có người TCMT sử dụng BKT chung ở
tất cả các lần Trong vòng 30 ngày qua, sử dụng BKT chung ở nhóm TCMT chiếm 4,4%, trong
đó có 3,5% tỷ lệ người TCMT thỉnh thoảng sử dụng, và 0,9% tỷ lệ người TCMT sử dụng BKT chung ở đa số các lần
Đối tượng TCMT chủ yếu sử dụng chung BKT với bạn chích (97,8%), chỉ có 1,5% đối tượng sử dụng chung BKT với bạn tình Không
có đối tượng nào sử dụng BKT với phụ nữ/nam bán dâm
***p <0,0001, **p <0,01,*p <0,05
Mô hình hồi quy đa biến có kiểm soát các biến tuổi, trình độ học vấn, biết kết quả xét nghiệm HIV hay không, có đang tham gia điều trị Methadone hay không
Trang 7- 7,33) Nhóm TCMT có điều trị ARV có nguy
cơ dùng chung BKT cao gấp 8,35 lần nhóm
không điều trị ARV (KTC 95%: 4,03 - 17,29),
Nhóm TCMT đã từng nhận BKT sạch có nguy
cơ dùng chung BKT cao hơn 2,55 lần so với
nhóm TCMT chưa bao giờ nhận được BKT
sạch (KTC 95%: 1,32 - 3,94)
IV BÀN LUẬN
Giảm tần suất tiêm có liên quan đến việc
giảm 36% nhiễm khuẩn sau 3 tháng và giảm
26% sau 6 tháng, mà nhiễm khuẩn là nguyên
nhân chính gây bệnh tật và tử vong cho những
người TCMT [6] Tần suất TCMT trong vòng
30 ngày qua trên nhóm TCMT ở thành phố
Thái Nguyên có trung vị (khoảng tứ phân vị) là
4 (2 – 12,8), là khá thấp so với các tỉnh thành
khác trên cả nước năm 2017 (trung bình là
34,2 lần) [7] Điều này cho thấy mặc dù Thái
Nguyên là tỉnh tỷ lệ số người TCMT cao trên
cả nước, tuy nhiên tần suất TCMT thấp có thể
giảm tình trạng nhiễm khuẩn và tử vong cho
người TCMT so với các tỉnh thành khác
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ dùng chung
BKT trên nhóm TCMT ở thành phố Thái
Nguyên giảm xuống đáng kể, tỷ lệ dùng chung
BKT từ trước đến nay là 43,4%, tỷ lệ này trong
vòng 6 tháng gần đây và 30 ngày gần đây giảm
xuống còn lần lượt là 15,4% và 4,4% Tỷ lệ
dùng chung BKT trong vòng 30 ngày qua thấp
hơn so với năm 2017 ở 20 tỉnh thành (5,6%)
[7] và chủ yếu là thỉnh thoảng dùng chung chứ
không phải đa số hay tất cả các lần
Nhóm TCMT ở TP Thái Nguyên năm 2019
chủ yếu ở độ tuổi 35 - 49 tuổi (64,2%), tỷ lệ
cao hơn nhiều so với tỷ lệ người ở độ tuổi 35 -
49 của nhóm TCMT ở 20 tỉnh thành năm 2017
(41,6%) [7] Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu
của nhóm TCMT ở TP Thái Nguyên hơn ba
phần tư số người tham gia có trình độ học vấn từ
trung học phổ thông trở lên, kết quả này không
tương đồng với kết quả giám sát trọng điểm 20
Các chương trình can thiệp cho các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS không chỉ cần tập trung vào việc nâng cao tỷ lệ người bệnh tham gia điều trị ARV, nâng cao tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị mà cần phối hợp các chương trình giáo dục và tư vấn [8], phát hiện và điều trị trầm cảm Đây đang là một trong các chiến lược thành công để giảm thiểu nguy cơ mắc và lây nhiễm HIV/AIDS một cách hiệu quả [9] Trong số những người TCMT ở thành phố Thái Nguyên, tỷ lệ đối tượng chưa bao giờ được làm xét nghiệm HIV là 10,4%, tỷ lệ này là thấp hơn
so với tỷ lệ chung của 20 tỉnh thành trên cả nước năm 2017 [7] Mặc dù vậy, để đạt tỷ lệ xét nghiệm HIV cao hơn và từ đó thực hiện các chương trình can thiệp tốt hơn, cần đề xuất tăng cường chương trình tư vấn xét nghiệm HIV Người TCMT đã ly thân có nguy cơ dùng chung BKT cao hơn 16,06 lần so với người TCMT đang có vợ/chồng Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh sự hỗ trợ của gia đình là một yếu tố tác động tích cực đến các hành vi
và điều trị HIV trong nhóm TCMT và thiếu sự
hỗ trợ của gia đình khiến việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của các đối tượng này gặp khó khăn
Nhóm TCMT đã từng nhận BKT sạch có nguy cơ dùng chung BKT cao hơn 2,55 lần so với nhóm TCMT chưa bao giờ nhận được BKT sạch Các tài liệu về các can thiệp giáo dục sức khỏe cho người TCMT đã mang lại kết quả hỗn hợp, với một số nghiên cứu cho thấy giảm hành
vi nguy cơ [10], nhưng những nghiên cứu khác cho thấy ít hiệu quả [11] Tương tự như các nghiên cứu khác tại Thành phố Hồ Chí Minh [12] và Estonia [13], những người tham gia nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh mức
độ hiểu biết cao về nguy cơ lây truyền HIV cụ thể của việc dùng chung kim tiêm (98,7%) và quan hệ tình dục không được bảo vệ (96%) trong khi báo cáo tỷ lệ dùng chung kim tiêm
và quan hệ tình dục không được bảo vệ tương đối cao
Trang 8BKT chỉ là giả thuyết; nghiên cứu được thực
hiện tại 1 thành phố không mang tính đại diện
cho cả vùng hoặc toàn quốc Do đó cần các
nghiên cứu sâu hơn và triển khai tại nhiều tỉnh
thành khác nhau
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong vòng
30 ngày qua ở nhóm tiêm chích ma túy ở Thành
phố Thái Nguyên là 4,4%, trong vòng 6 tháng
qua là 15,4% và từ trước đến nay là 43,4% Kết
quả phân tích đa biến cho thấy các yếu tố có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hành vi
dùng chung bơm kim tiêm từ trước đến nay:
Tình trạng hôn nhân (những người đã ly dị
hoặc ly thân có nguy cơ dùng chung bơm kim
tiêm cao hơn những người đang có vợ/chồng),
xét nghiệm HIV (những người xét nghiệm HIV
trên 12 tháng và những người chưa từng xét
nghiệm có nguy cơ dùng chung bơm kim tiêm
cao hơn), điều trị ARV (những người đang điều
trị ARV có nguy cơ dùng chung bơm kim tiêm
cao hơn), nhận được bơm kim tiêm sạch (những
người đã từng nhận bơm kim tiêm sạch có nguy
cơ dùng chung bơm kim tiêm cao hơn) Do đó
cần tăng cường cung cấp và tiếp cận dịch vụ
chăm sóc sức khỏe cho các nhóm tiêm chích
ma túy nói riêng và các đối tượng nguy cơ cao
nói chung
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin trân trọng cảm
ơn Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái
Nguyên, Cục Phòng chống HIV/AIDS, Viện
Đào tạo YTCC và YHDP, Trung tâm kiểm soát
bệnh tật Hoa Kỳ thông qua Dự án hợp tác
CDC-RFA-GH 18-1852 – Chương trình Khẩn cấp
của Tổng thống về Cứu trợ AIDS (PEPFAR)
và đặc biệt là những người tham gia nghiên cứu
đã giúp chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Degenhardt L, Peacock A, Colledge S, et al
Global prevalence of injecting drug use and
sociodemographic characteristics and prevalence
of HIV, HBV, and HCV in people who inject drugs: a multistage systematic review Lancet Glob Health 2017; 5 (12): e1192 – e1207.
2 AIDSinfo UNAIDS Accessed 10/25/2022 https://aidsinfo.unaids.org/
3 Bộ Y tế Báo cáo kết quả công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2020 Số 124/BC-BYT ngày 4/2/2021
4 Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương Báo cáo kết quả triển khai giám sát trọng điểm HIV và giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi năm 2021 Số 1444/VSDTTƯ-HIV, ngày 22/6/2022
5 UNODC-WHO Principles of Drug Dependence Treatment.pdf Accessed 10/25/2022 https:// www.unodc.org/documents/drug-treatment/ UNODC-WHO-Principles-of-Drug-Dependence-Treatment-March08.pdf
6 Islam S, Piggott DA, Moriggia A, et al Reducing injection intensity is associated with decreased risk for invasive bacterial infection among high-frequency injection drug users Harm Reduct J 2019; 16 (1): 38.
7 Viet Nam Administration of HIV/AIDS Control Results from HIV Sentinal Surveillance plus Behavioural Component (HSS+) 2017.
8 George G, Beckett S, Cawood C, et al Impact
of HIV testing and treatment services on risky sexual behaviour in the uMgungundlovu District, KwaZulu-Natal, South Africa: a cross - sectional study AIDS Res Ther 2019; 16: 20.
9 Paterson DL, Swindells S, Mohr J, et al Adherence
to protease inhibitor therapy and outcomes in patients with HIV infection Ann Intern Med 2000; 133 (1): 21 – 30.
10 Martin GS, Serpelloni G, Galvan U, et al Behavioural change in injecting drug users: evaluation of an HIV/AIDS education programme AIDS Care 1990; 2 (3): 275 – 279.
11 Calsyn DA, Saxon AJ, Freeman G, et al Ineffectiveness of AIDS education and HIV antibody testing in reducing high-risk behaviors among injection drug users Am J Public Health 1992; 82 (4): 573 – 575.
12 Hien NT, Giang LT, Binh PN, et al Risk factors of HIV infection and needle sharing among injecting drug users in Ho Chi Minh City, Vietnam J Subst Abuse 2001; 13 (1 – 2): 45 – 58.
13 Wilson TE, Sharma A, Zilmer K, et al The HIV prevention needs of injection drug users in Estonia Int J STD AIDS 2007; 18 (6): 389 – 391.
Trang 9CHARACTERISTICS OF INJECTED DRUG USERS
AND SOME FACTORS RELATED TO THE BEHAVIOR
OF SHARING NEEDLES AND SYRINGES IN THAI NGUYEN IN 2019
Hoang Thi Hai Van 1 , Tran Ngoc Anh 1 , Pham Phuong Mai 1 , Dinh Linh Trang 1 ,
Dang Thi Lo 2 , Phan Thi Thu Huong 2 , Le Minh Giang 1 , Bui Hoang Duc 2
1 Institute for preventive medicine and public health, Hanoi Medical University
2 Vietnam Authority of HIV/AIDS control, Ministry of Health, Hanoi
People who inject drugs are a population
at high risk of HIV infection, especially those
who share needles This study was conducted
to describe the characteristics of injecting
drug users and some factors related to needle
sharing in Thai Nguyen in 2019 A
cross-sectional, retrospective descriptive study using
available data on 318 TCMT in Thai Nguyen
city, Thai Nguyen province from April 2019
to June 2020 Research results show that the
percentage of participants is mainly male
(99.7%), mainly in the age group of 35 - 49
years old, most of the subjects had a cultural
level from junior high school or higher The
most commonly used drug is heroin (96.2%),
310 TCMT have used drugs for more than 3 years The percentage of injecting drug users who have ever shared needles in Thai Nguyen
is quite high (43.4%) Factors such as marital status, HIV testing, antiretroviral therapy, and receipt of clean condoms are related to the behavior of sharing condoms Therefore, it
is necessary to strengthen the provision and access to health care services for TCMT in particular and high-risk groups in general
Keywords: Sharing needles and syringes;
people who inject drugs; Thai Nguyen