--- NGÔ VĂN TÂN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRANG TRẠI CÔNG TY GREENFEED XÃ LAM CỐT, HUYÊN TÂN HUYÊN, TỈNH BẮC GIANG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÓA L
Trang 1-
NGÔ VĂN TÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRANG TRẠI CÔNG TY GREENFEED XÃ LAM CỐT, HUYÊN TÂN
HUYÊN, TỈNH BẮC GIANG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, năm 2023
Trang 2NGÔ VĂN TÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRANG TRẠI CÔNG TY GREENFEED XÃ LAM CỐT, HUYÊN TÂN
HUYÊN, TỈNH BẮC GIANG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Mạnh Cường
Thái Nguyên, năm 2023
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt 6 tháng thực tập và bài khóa luận tốt nghiệp này em xin gửi lời cảm ơn chân thành Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, các Thầy giáo, Cô giáo giảng viên đã tạo cơ hội cho em thực tập tốt nghiệp tại trại chăn nuôi Nguyễn Hữu Thái Đặc biệt em xin cảm ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn TS Nguyễn Mạnh Cường đã tận tình hướng dẫn cũng như động viên trong quá trình thực tập
và làm bài khóa luận thành công hơn
Tiếp theo là lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo trong công ty Greenfeed đã tạo hết sức mọi điều kiện tốt nhất để em có thể tiếp cận và tìm hiểu, nắm rõ các vấn đề liên quan đến quá trình thực hành và làm khóa luận Điều cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến anh Nguyễn Hữu Thái cùng với các anh chị công nhân viên kĩ thuật đã đồng hành cùng em trong thời gian thực tập, anh chị giúp em thực hành và cung cấp đủ đúng số liệu cần thiết để hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất
Trong khi đó em xin cam đoan bài khóa luận của mình hoàn toàn chân thực được ghi lại trong quá trình thực tập, không sao chép, ghi khống và không ghi sai sự thật về số liệu của cơ sở thực tập Trong bài khóa luận đều có trích dẫn và có chú thích rõ ràng và minh bạch từ các tài liệu đã được các tác giả công bố Không có sự ghi khống hay bịa đặt làm ảnh hưởng đến bản quyền tác giả, em xin chịu trách nhiệm về lời nói và từ ngữ của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày …tháng … năm 2023
Sinh Viên
Ngô Văn Tân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại trong 2 năm (2021-2022) 18
Bảng 4.2 Năng suất lợn phối tại trại 19
Bảng 4.3 Năng suất lợn đẻ tại trại 20
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 22
Bảng 4.5 Lịch phòng bệnh vaccine đàn nái và hậu bị 25
Bảng 4.6 Một số loại thuốc dùng trong sát trùng chuồng nuôi 27
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công tác khác 33
Bảng 4.8 Các bệnh khác được điều trị 36
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn nái 35
Bảng 4.10 Kết quả mắc viêm tử cung trong chăn nuôi tại trại 36 Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại 39
Trang 5: Mastitis Metritis Agalactia (hội chứng viêm vú,
viêm tử cung, mất sữa ở lợn)
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Cơ sở vật chất 3
2.1.3 Hoạt động sản xuất, kinh doanh 4
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn nơi thực tập 4
2.2 Tổng quan tài liệu 5
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2.1.1 Khái niệm bệnh viêm tử cung 10
2.2.1.2 Nguyên nhân và triệu chứng viêm tử cung 10
2.2.1.3 Các thể viêm tử cung 12
2.2.1.4 Hậu quả của viêm tử cung 13
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 16
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
3.3 Nội dung nghiên cứu 16
3.4 Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 16
Trang 73.4.1.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu 16
4.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.2 Phương pháp xử lí số liệu và công thức tính toán 17
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 18
4.1.1 Công tác chăn nuôi 18
4.1.1.1 Tình hình chăn nuôi tại trại trong 2 năm 18
4.1.1.2 Một số chỉ tiêu về năng suất lợn phối của cơ sở 19
4.1.1.3 Một số chỉ tiêu năng suất lợn đẻ của cơ sở 20
4.1.1.4 Chỉ tiêu lợn con sinh ra 21
4.1.2 Công tác thú y 22
4.1.2.1 Lịch phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại 22
4.1.2.2 Quy trình phòng trị bệnh cho đàn lợn của cơ sở 23
4.1.2.3.Kết quả thực hiện công tác điều trị khác tại trại 32
4.1.2.4.Kết quả thực hiện công tác thú y tại trại 33
4.1.3 Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm 34
4.2 Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu 35
4.2.1 Kết quả điều trị cho nái trong quá trình theo dõi 35
4.2.2 Tình hình viêm tử cung trong chăn nuôi tại trại 36
4.2.3 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 37
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
I Tài liệu Tiếng Việt 40
II Tài liệu Tiếng Anh 41 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 8PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Thị trường ngành chăn nuôi Việt Nam cũng như nước ngoài trong những năm gần đây có nhiều biến động xảy ra, với mục đích hạ giá thành sản phẩm
và tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế sản xuất diễn ra rất khốc liệt Sau khi có
sự càn quét của đại dịch tả châu phi thì hầu hết các trang trại quy mô hộ gia đình, hộ nhỏ lẻ đều chuyển hướng sản xuất của mình
Để phát triển tốt đàn lợn hậu bị tốt cũng như phối giống không gặp vấn đề bệnh tật, qua đó sinh sản tốt và cung cấp cho thị trường đủ nguồn thực phẩm là vấn đề rất chú trọng quan tâm Trong đó không tránh khỏi những rủi do, những yếu tố khách quan làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản cũng như sinh trưởng tới đàn nái đang nuôi và chăm sóc tại trại như quá trình thao tác chăn nuôi, một số giống mới thử nghiệm nội bộ đang dần thích nghi với kiểu khí hậu Hòa Bình hoặc quá trình chăm sóc, phối giống và trình độ kĩ thuật là yếu tố con người tác động nên gây ra một số bệnh không mong muốn ở sinh sản của lợn nái
Đặc biệt gây nên tình trạng như viêm vú, viêm mủ, đây là một bệnh chiếm
tỉ lệ cao trong quá trình lên giống tại hầu hết các trang trại chăn nuôi Việt Nam
Nhưng nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo của nhà nước, cùng với sự vào cuộc của các công ty chăn nuôi lớn trong và ngoài nước nên cơ bản tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát Hiện nay các công ty lớn đầu tư vào chăn nuôi, có thể nói đến công ty GreenFeed Việt Nam chuyển đổi từ mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn,
Qua đó đã phần nào thấy được tầm quan trọng trong chăn nuôi về việc
áp dụng kĩ thuật tiên tiến và trình độ thao tác quá trình nuôi dưỡng chăm sóc đàn lợn thịt một cách có chủ đích, tạo ra một lượng thực phẩm cung cấp cho thị
Trang 9trường nội địa và xuất khẩu đáp ứng đủ nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng, cho
nên đề ra quy trình tìm công tác khảo sát tình hình chăn nuôi là rất cần thiết, Sự tiên tiến của khoa học
kĩ thuật đã được áp dụng rất nhiều vào chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn thịt
đòi hỏi số lượng công nhân lớn, vì thế máy móc đã thay thế vấn đề này
Một số nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình chăm sóc và
phối giống như thức ăn, chăm sóc vệ sinh kém, cung cấp nước uống hằng
ngày không hợp vệ sinh cũng tạo ra điều kiện lí tưởng cho một số vi khuẩn,
virus phát triển và gây ra tác hại lớn đối với vật nuôi và người chăn nuôi
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề:
“Nghiên cứu bệnh viêm tử cung và biện pháp phòng trị cho đàn lợn nái nuôi tại
Công ty Greenfeed, Xã Lam Cốt , Huyện Tân Yên , Tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Hiểu và nắm bắt được quá trình và quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
tại trại
- Nắm được quy trình thực hiện khẩu phần ăn cho lợn nái qua các thời kỳ
- Nắm được các vấn đề bệnh tật xảy ra và cách phòng trị hiệu quả
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đưa ra đánh giá bản thân về tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Từ đó áp dụng những biện pháp nuôi dưỡng vào chăn nuôi
- Xác định rõ và nắm bắt được tình hình bệnh sinh sản trên lợn để đưa
ra giải pháp phòng trị
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Tân Yên nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc
Giang khoảng 15 km về phía tây, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 60
km, có vị trí địa lý:
Phía đông giáp huyện Lạng Giang
Phía tây giáp huyện Hiệp Hòa và huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Phía nam giáp thành phố Bắc Giang và huyện Việt Yên
Phía bắc giáp huyện Yên Thế
Lam Cốt là một xã thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam
Xã Lam Cốt có diện tích 9,06 km², dân số năm 1999 là 6673 người, mật độ dân số đạt 737 người/km²
sự thông thoáng cho vật nuôi trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng
Thức ăn chăn nuôi được chứa trong một silo cao và sức chứa mỗi silo hàng chục tấn, khi có hoạt động cho ăn thì chỉ cần ấn nút, thức ăn sẽ tự động bơm vào chuồng nuôi và chảy xuống máng ăn
Trại Nguyễn Hữu Thái có quy mô 600 nái, 70 hậu bị, 2500 thịt và được chia làm 04 khu: khu vòng ngoài, khu sinh hoạt, khu sản xuất và khu
xử lý xác chết, rác thải nguy hại
Trang 11Chuồng nuôi khu sản xuất gồm: 01 chuồng PTHB, 01 chuồng phối, 01 chuồng bầu, 04 chuồng đẻ, 01 chuồng cai sữa, 01 nhà chuồng cách ly, 04 chuồng thịt
2.1.3 Hoạt động sản xuất, kinh doanh
Trại được tổ chức và bố trí nguồn nhân lực như sau
01 trưởng trại, 03 trưởng khu, 2 kỹ thuật và 25 công viên
Bố trí và vị trí làm việc của các kĩ thuật viên đều được sắp xếp làm việc một cách khoa học, cả hai khu chính trong khu sản xuất đều được chia nhân công hợp lí và đủ số lượng, cùng với đó số lượng sinh viên thực tập cũng được
bố trí theo mong muốn về nghiên cứu đề tài để đảm bảo sự phát triển khả năng của bản thân
Thị trường cũng gặp biến động không kém, giá cả lên xuống có lúc giá lợn hơi giảm từ 1.300.000/con loại 10kg/con xuống còn 700-800 nghìn/con
Như vậy chúng ta cũng hiểu khó khăn như nào đối với ngành chăn nuôi Việt Nam nói chung và tại cơ sở thực tập nói riêng
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn nơi thực tập
Thuận lợi
Trang trại được xây dựng cách xa dân cư đúng theo quy chuẩn của bộ nông nghiệp, hệ thống giao thông thuận lợi nên việc vận chuyển đàn lợn cũng không gặp bất kì khó khăn và trở ngại nào
Được thiết kế xây dựng trang trại với tầm nhìn xa và theo đó chất lượng
và số lượng theo quy mô công nghiệp, trang thiết bị được lắp đặt hiện đại, hoàn toàn tự động nên rất phù hợp với nền kinh tế thị trường và điều kiện tổ chức chăn nuôi công nghiệp hóa hiện đại như ngày nay
Khó khăn
Trang 12Do nằm tại nơi có khí hậu đặc trưng của miền bắc, nên với khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo ra những biến đổi thất thường, làm cho quá trình phòng chống bệnh tật gặp rất nhiều khó khăn
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái
Theo Nguyễn Văn Thanh (2016)[11], cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật và tiền đình) Âm môn (Vulva): hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi
(Labia vulvae), nối liền hai môi bằng hai mép (Bima vulvae) Bờ phía trên hai môi của âm môn có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn và tuyến tiết mồ hôi
Âm vật (Clitoris): giống như dương vật được thu nhỏ lại Bên trong có các thể hổng
Bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng và ống dẫn trứng)
Âm đạo (Vagina) Cấu tạo âm đạo chia ba lớp:
Buồng trứng (Ovarium): gồm một đôi Bên ngoài là một lớp màng liên
kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn, bên trong chia làm hai miền: miền vỏ và
Trang 13miền tủy, hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra cho buồng trứng một chất đệm (Stromaovaris)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop): Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo
ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
Tua diềm: Có hình giống như tua điềm
Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
Phồng ống dẫn trứng: Đoạn ống giãn rộng xa tâm
Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung
Sinh lí của lợn nái
Theo Goel G and Makkar H.P (2012)[16], sự thành thục về tính của gia súc đặc trưng bởi thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là thay đổi bên trong của cơ quan sinh dục
Lợn cái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15-16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ Chu kỳ động dục của lợn cái bình quân là 21 ngày (18-24 ngày)
Theo Nguyễn Thị Liên Hương (2017)[4], Một chu kỳ tính của lợn cái thường chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn trước động dục: Thường kéo dài 1-2 ngày và được tính từ
khi thể vàng của lần động dục trước tiêu biến đến lần động dục tiếp theo Đây
là giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp nhận tinh trùng, đón trứng rụng và thụ tinh
Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3, gồm có 3
thời kỳ nhỏ là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Giai đoạn này dài hay ngắn
Trang 14tùy theo từng giống lợn, lợn nội thường kéo dài 3-4 ngày, lợn ngoại và lợn lai thường kéo dài 4-5 ngày
Giai đoạn sau động dục (giai đoạn yên tĩnh): Là giai đoạn kéo dài từ
ngày thứ 3-4 tiếp theo của giai đoạn động dục, lúc này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn cái không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn
Giai đoạn yên tĩnh thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến (khoảng 14-15 ngày kể từ lúc trứng rụng)
Đây là giai đoạn dài nhất trong cả kỳ sinh dục, con vật không có biểu hiện về tính dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo, theo Nguyễn Quang Linh và Phùng Thăng Long (2020)[7]
Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mang thai
Trong dây chuyền sản xuất lợn giống, chăn nuôi lợn nái đóng vai trò cực
kì quan trọng và cấp thiết Mục đích và yêu cầu của kỹ thuật chăn nuôi lợn nái
có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị sảy
thai hoặc đẻ non, mỗi lứa đẻ nhiều con, lợn con có sức sống cao, khối lượng sơ sinh cao, lợn mẹ phát triển bình thường
Còn những lợn cái không có chửa có kế hoạch phối giống kịp thời.Thời gian chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113-116 ngày) Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm hai kỳ:
Thời kỳ chửa kỳ I: Từ khoảng thời gian 84 ngày trở xuống là thời kì
chửa đầu
Để chắc chắn phối giống và đậu thai thì chúng ta xem sau 21 ngày khi phối nái không có hiện tượng đông dục trở lại
Trang 15Thời kỳ chửa kỳ II: Phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn
nái sau khi phối giống cho lợn nái 21 ngày mà lợn nái không có biểu hiện động dục thì có thể coi đây là lợn nái đã có chửa
Ngược lại khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn xong không chịu đi nằm, tai cúp, đuôi ve vẩy, âm hộ có hiện tượng hơi sung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống kịp thời.Cần chú ý có những trường hợp sau thường xảy ra: hiện tượng động dục giả và hiện tượng chửa giả
Theo Guo C và cs (2019)[17], Viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ này đến kì dộng dục tiếp theo có thể gây giảm độ mắn đẻ
Biện pháp nâng cao năng suất sinh sản cho lợn
Lợn nái sinh sản thấp hay cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền,
độ tuổi hay yếu tố nội tiết của bản thân con vật Tùy thuộc vào nhiều phương pháp chúng ta tác động trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như phối giống để có thể cải thiện nâng cao tỉ lệ đậu thai
Dùng đực thí tình: Trong quá trình phối giống, đầu tiên chúng ta có thể dùng đực để thí tình, kích thích con nái động dục Do con đực tiết ra một hoocmon Pheromon kích thích con cái ham muốn và tỉ lệ thụ thai đậu cao hơn, trước khi đưa lợn nái về dãy phối thì ta sẽ để con đực ở phía trước đường luồng, cho con vật đi lại và chạm mũi vào nhau để kích thích Bổ sung sự kích thích
đó bằng việc mát xa cho con lợn đạt đến mức độ mê lì rồi tiến hành các bước phối để đạt được tỉ lệ thụ tinh cao, tránh bị trào tinh ra ngoài
Tiến hành cai sữa sớm: Việc cai sữa sớm cho lợn con đảm bảo cho lợn
mẹ đi vào động dục sớm và tiến hành khai thác vào chu kỳ tiếp theo
Ghép ổ: Trong khi tỉ lệ chết của con nái cao hay con nái nào đang nuôi con với số lượng ít thì chúng ta tiến hành ghép ổ bằng cách ghép những con lợn con vào chung một mẹ cho đủ số lượng để lợn mẹ còn lại không phải nuôi con
Trang 16mà tiến hành nghỉ ngơi để chuẩn bị đi vào động dục trở lại để phối giống vào chu kì tiếp theo
Nhưng tùy thuộc vào điều kiện nuôi và phương thức nuôi để tiến hành cai sữa cho lợn con, có thể cai sữa sớm nhất vào 21 ngày tuổi và muộn nhất là
28 ngày tuổi
Để lợn con cai sớm như vậy thì trước tiên chúng ta phải cho lợn con tập
ăn sớm trong khoảng thời gian từ 7-10 ngày, cùng với đó thì hạn chế cho lợn con bú sữa để lợn con làm quen dần với việc ăn Cùng với việc làm đó phải đảm bào lợn con phải khỏe mạnh, biết ăn thành thục và dự trữ đầy đủ thức ăn nước uống cho lợn con
Tiêm kích thích nái động dục: thông thường chúng ta sẽ sử dụng thuốc kích thích động dục nái bằng các thuốc như PHSG, H5X với liều 1ml/con
Áp dụng với những con nái chậm lên giống hay trải qua nhiều lần phối nhưng không đậu thai, hoặc qua kì cai sữa một thời gian rồi mà vẫn chưa thấy biểu hiện động dục Do vậy nếu chúng ta dùng thuốc kích thích động dục cho lợn nái chậm động dục hoặc kích thích hàng loạt đều mang lại kết quả rất tốt
Mát xa kích thích điểm G: Trong quá trình phối giống chúng ta đều thực hiện đầy đủ các bước phối Nhưng chúng ta thường chủ quan trong việc xoa bóp mát xa bầu vú cho con vật phê, để làm được điều đó chúng ta cần chú tâm vào thời gian phối và quá trình thao tác khi phối Việc đầu tiên khi đưa vào hàng phối, ngoài đực thí tình ra thì ta phải mát xa qua các bước như xoa bóp bầu vú khoảng thời gian 30 giây
Tiếp đến xoa âm hộ con lợn nái khoảng thời gian 1 phút, sau đó xoa hai bên hông con vật và cuối cùng trèo lên lưng vật, tiến hành đút que phối và bơm lượng tinh từ từ vào tử cung
Kĩ thuật phối giống cho lợn nái
Trang 17Hầu hết các trang trại chăn nuôi hiện đại và khép kín hiện nay thường không dùng phương pháp thụ tinh trực tiếp (dùng đực để nhảy) mà chủ yếu dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo vì có nhiều ưu điểm hơn, môi trường vệ sinh sạch sẽ, dễ thao tác, xác định được thời điểm phối giống và dự kiến ngày sinh một cách khoa học có chủ động
Kĩ thuật thụ tinh nhân tạo: Chuẩn bị những dụng cụ cần thiết như: găng tay, nước nóng để ngâm dụng cụ, ống dẫn tinh, túi đựng tinh, khăn giấy, kẹp vàng
Bước đầu tiên khi phối giống là phải lau sạch sẽ vùng âm hộ của lợn, sau
đó tiến hành đo nhiệt độ tinh, tăng dần từ nhiệt độ ban đầu là 15-20°C lên 25°C sau 5 phút, nâng tiếp35° sau 10 phút
Khi chuẩn bị hết xong tiến hành đút que phối, dùng gel bôi trơn đầu que phối và đút hơi chếch 45° lên và đút từ từ ngược chiều kim đồng hồ, tiến hành nối bao chứa tinh vào đầu ống dẫn
Tiếp đó chọc que kim tiêm vào vùng đáy của bao chứa tinh để tinh có thể vào dễ dàng hơn
Khi dẫn tinh phải đợi tinh dịch chả hết vào trong và chờ tử cung đóng lại thì mới được rút ống phối, sau phối xong nên nhốt riêng nái để tránh nhảy lên nhau và bị trào tinh
2.2.1.1 Khái niệm bệnh viêm tử cung
Viêm là phản ứng của cơ thể kích thích ra để chống lại mọi sự xâm nhập hay xâm nhiễm của các yếu tố bên ngoài tác động nên, được thể hiện tại vị trí cục bộ mô của tế bào Viêm ở tử cung cũng có thể được hiểu là sự dọn sạch các
tế bào và mô bị tổn thương, đào thải chúng ra khỏi khu vực đó để hạn chế bị nhiễm khuẩn
2.2.1.2 Nguyên nhân và triệu chứng viêm tử cung
Nguyên nhân
Trang 18Thời điểm bệnh tiến triển và gây ra thông thường vào khoảng thời gian
từ sau khi đẻ đến 10 ngày
Theo Nguyễn Thị Liễu Kiều (2018)[6] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân như: gieo tinh, đỡ đẻ, môi trường chăm sóc…
Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát Tỷ lệ viêm
tử cung ở lợn nái ngoại F1(LxY) khác nhau giữa các lứa đẻ Nhóm có tỷ lệ mắc viêm tử cung cao nhất là nhóm lợn nái lứa đẻ >5 (39,68%)
Nhóm có tỷ lệ mắc viêm tử cung thấp nhất là nhóm lứa 2-5 (23,30%) và nhóm lứa 1 có tỷ lệ mắc viêm tử cung là 37,13%, theo Nguyễn Công Toản và Nguyễn Văn Thanh (2018)[13]
Triệu chứng
Triệu chứng điển hình của bệnh này là có những dấu hiệu bất thường về đường sinh dục, đặc biệt phía bên ngoài âm môn như sưng to không đối xứng hay âm đạo luôn tiết ra một chất dịch nhờn màu vàng nhạt hay màu trắng bẩn đục có mùi hôi rất khó chịu Theo Phạm Ngọc Thạch và Phạm Thị Lan Hương (2021)[14], lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai thì thai chết lưu
Khi con vật bị viêm thì cho chúng ta thấy rằng PgF2α tiết ra đã làm giảm hay mất quá trình co bóp tử cung của con vật,do thành tử cung dày và mềm hơn hoặc cứng hơn bình thường nên làm cho con vật bị viêm
Thành tử cung bị viêm sẽ gây ra co bóp yếu và không thể đẩy các chất nhày, mủ ra ngoài được, do đó sẽ tích tụ những chất độc hại cho cơ thể của con vật
Tùy thuộc vào trạng thái con vật bị nặng hay nhẹ mà tiết ra chất nhầy hay đọng lại chất nhầy bẩn bên trong Cũng như biểu hiện kích thước bị viêm
Trang 19như sưng to nhìn rõ được mạch máu và sâu tận sừng tử cung cũng sưng hoặc dịch chảy là màu vẩn đục hay vàng nhạt
Có thể nặng hơn do mủ không được đẩy ra ngoài (mủ bã đậu) gây ra hoại
tử các tổ chức tử cung dẫn đến con vật không có khả năng sinh sản trong chu
kỳ tiếp theo
2.2.1.3 Các thể viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh (2016)[11] Tùy thuộc vào vị trí tác động của
quá trình viêm, người ta chia ra 3 thể khác nhau:
Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Trong các thể viêm thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất và nguy hiểm đến khả năng sinh sản của lợn nái Viêm nội mạc làm cho lớp niêm mạc bên trong của tử cung bị bong tróc và tổn thương dẫn đến sự hoạt động hay co bóp cơ trơn bị giảm đi hoặc không có khả năng co bóp Đây cũng chính là nguyên nhân chính làm mất đi khả năng làm mẹ của lợn cái
Viêm nội mạc có mủ ở thể catta cấp tính: thể này gây ra tổn thương ở
một chỗ là niêm mạc tử cung Những triệu chứng điển hình khi vật mắc bệnh ở thể này là thân nhiệt bắt đầu tăng cao 39,5-40°C Con vật luôn tiết ra những
mủ đặc hoặc dịch nhớt màu vàng nhạt hay tro xám tùy thuộc vào trạng thái bệnh, chảy ra với liều lượng tương đối nhiều tại vị trí âm hộ
Viêm nội mạc tử cung thể màng giả: trong trường hợp nay, tại thể viêm
màng giả này thường ít sảy ra vì thông thường sẽ can thiệp kịp thời từ thể đầu tiên nên rất ít khi xảy ra Khi thể này sảy ra thì kéo theo nhiều hệ lụy đối với con vật vì niêm mạc tử cung sẽ dần hoại tử, con vật bắt đầu xuất hiện những triệu chứng bất thường và nguy hiểm Khi đo thân nhiệt sẽ thấy nhiệt độ lên rất cao từ 40-41 độ kèm theo đó là viêm vú kế phát
Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Trang 20Khi bị viêm cơ tử cung sẽ làm giảm đi khả năng co bóp của cơ trơn, từ
đó cơ trơn không thể co bóp được dẫn đến nhiễm trùng sinh mủ và dần dần chuyển sang hoại tử Khi bị hoại tử thì tử cung dần chuyển sang màu đen xám
và nguy cơ bị thủng tử cung rất cao
Cũng như những thể khác, thể viêm cơ tử cung cũng làm cho con vật không có khả năng làm mẹ, mất đi chức năng sinh sản và ảnh hưởng đến người
chăn nuôi, thiệt hại về kinh tế ngành chăn nuôi gia súc Việt Nam
Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)
Do vùng thành tử cung sưng dày lên và tương mạc dính với lại một số tổ chức nên khi ta quan sát sẽ rất khó phát hiện ra buồng trứng vì tổ chức viêm đã che kín hết cả cổ tử cung
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ Đối với lợn nếu điều trị kịp thời thì bệnh chuyển thành thể viêm mãn tính
2.2.1.4 Hậu quả của viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[2], một số hậu quả kèm theo khi nái
bị viêm tử cung thường là những hậu quả rất đáng tiếc xảy ra như khô thai, lưu thai và sinh con kém phát triển
Chẩn đoán lâm sàng
Theo Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2018)[10], lợn được coi
là mắc hội chứng MMA khi có một hoặc bao gồm các biểu hiện sau: viêm tử cung, dịch tiết âm đạo có pH > 8, lười vận động, thân nhiệt > 39,40°C, viêm
vú Theo Việt Linh (2018)[7] Lợn mẹ sốt 39-35°C, mệt mỏi cảm giác khó ăn, kém
ăn, âm môn sưng tấy, dịch tiết chảy ra từ âm đạo nhầy trắng đục, mùi hôi thối khó chịu
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trang 21Tại Việt Nam, có rất nhiều tổ chức hay các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành đang rất chú trọng quan tâm và phát triển dự án nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên đàn gia súc
Bệnh viêm tử cung cũng là một bệnh khá phổ biến và hầu hết những người chăn nuôi hàng đầu đều chú trọng quan tâm Trong đó lứa đẻ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng phát triển của lợn nái bị viêm tử cung, theo Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh(2016)[9]
Với công bố của tác giả Nguyễn Thị Liễu Kiều(2018)[6]: lợn nái đẻ lứa đầu và lợn nái đã đẻ nhiều lứa có tỷ lệ mắc viêm tử cung sau đẻ cao hơn ở các lứa khác Cho nên việc đốc thúc nghiên cứu tìm ra phương án là rất cấp thiết
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012)[3], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen)
Hầu hết tất cả các trang trại chăn nuôi lợn nái đều mắc bệnh viêm tử cung, theo Hồ Thanh Thâm và cs (2017)[12] Vấn đề cấp thiết đặt ra hàng đầu cần phải tìm ra phương thức điều trị hoặc phòng chống, hạn chế tỉ lệ mắc bệnh cho người chăn nuôi
Theo Thủy Tiên (2022)[15], chăm sóc và nuôi dưỡng tốt có tỉ lệ viêm tử cung thấp, việc sử dụng các sản phẩm sinh học như các chế phẩm vi sinh vật
có lợi, axit hữu cơ và các sản phẩm tự nhiên như tinh dầu từ thảo dược có thể giúp giảm thiểu tác động của bệnh viêm tử cung ở lợn Hà Xuân Bộ và Đỗ Đức Lực (2020)[1] cũng chỉ ra rằng bất kể giống nội hay ngoại đều mắc bệnh viêm
tử cung
Trang 222.2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài `
Nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở lợn đang tiếp tục được thực hiện trên toàn thế giới nhằm tìm ra các giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động của bệnh này đối với ngành chăn nuôi lợn, theo Valadao L và cs (2020)[19] Tuy nhiên, vì bệnh viêm tử cung ở lợn có tính chất lây nhiễm cao, nên việc phòng chống bệnh vẫn được coi là yếu tố quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi lợn trên toàn cầu
Khi bị viêm và giảm đi sự co thắt đồng nghĩa với việc giảm lượng Progesterone, làm giảm đi đáng kể phôi thai gắn chặt vào tử cung
Sau khi đàn nái trải qua một thời gian điều trị khỏi viêm tử cung thì sau sinh, đến kì động dục chúng lại có tỉ lệ tái phát rất cao, từ đó làm giảm độ mắn
đẻ của lợn nái
Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng lốc, không đậu thai hoặc mang thai giả và kèm theo đó thường hay mắc hội trứng MMA, làm cho tỉ lệ lợn con cai sữa cực kì thấp
Trang 23PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Hữu Thái công ty Greenfeed
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Trang trại lợn Nguyễn Hữu Thái công ty Greenfeed, xã
Lam Cốt, huyện Tân yên, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian tiến hành: từ ngày 28/11/2022 đến ngày 28/05/2023
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tình hình sản xuất của trại
- Thực hiện quy trình phòng bệnh
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi, dưỡng đàn lợn nái tại cơ sở thực tập
- Thực hiện công tác chẩn đoán, điều trị đàn lợn tại trại
- Thực hiện các công tác khác tại cơ sở thực tập
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu
3.4.1.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Hoạt động nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Nguyễn Hữu Thái, xã Lam Cốt , huyện Tân Yên , tỉnh Bắc Giang
- Đưa ra giải pháp trong khâu phòng bệnh
- Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại
- Phương pháp điều trị bệnh trên lợn nái nái
Trang 244.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi trại lợn Nguyễn Hữu Thái,
xã Lam Cốt , huyện Tân Yên , tỉnh Bắc Giang
- Thống kê toàn bộ số lượng lợn cần theo dõi
- Khảo sát và theo dõi tình trạng tiến triển sức khỏe và bệnh tật của đàn
lợn để đưa ra những giải pháp khi phát hiện bệnh
- Phương pháp phòng bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái đang mang thai
nuôi tại trại
3.4.2 Phương pháp xử lí số liệu và công thức tính toán
Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Excel 2021