Một số kết quả nổi bật đã đạt được như: i Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán đạt chỉ tiêu đề ra; ii các biện pháp có tính hành chính như trần lãi suất huy động đã giải q
Trang 1Hoạt động ngân hàng Việt Nam- Nhìn lại năm 2011 và một số giải pháp cho năm 2012
NGND PGS TS Tô Ngọc Hưng
ThS Nguyễn Đức Trung Trong bức tranh toàn cảnh của kinh tế thế giới năm 2011 với những nét cơ bản gồm “tăng
trưởng chậm, không cân bằng và luôn bất ổn”, nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi
tình trạng tăng trưởng thấp đi kèm với lạm phát cao Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng
Việt Nam cũng đã trải qua một năm đầy khó khăn Ngay từ đầu năm 2011, thực hiện tinh thần
Nghị quyết 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành
chính sách tiền tệ với mục tiêu trọng tâm là kiềm chế lạm phát Một số kết quả nổi bật đã đạt
được như: (i) Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán đạt chỉ tiêu đề ra; (ii) các
biện pháp có tính hành chính như trần lãi suất huy động đã giải quyết một số bất ổn vĩ mô
trước mắt; (iii) dòng vốn tín dụng bước đầu đã được định hướng tốt hơn vào khu vực sản xuất
nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như sản xuất hàng xuất khẩu; (iv) thị
trường ngoại tệ và điều hành chính sách tỷ giá có nhiều chuyển biến tích cực; (v) việc kiểm
soát hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) được cải thiện thông qua những đổi mới
trong điều hành của NHNN như việc xây dựng nhóm G12, và tăng cường kỷ cương của thị
trường tài chính ngân hàng…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu kể trên, vẫn còn một số những tồn tại cố hữu
trong hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam Bài viết phân tích các tồn tại trong hoạt
động của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2011 và đưa ra một số giải pháp cho năm 2012
1 Những tồn tại trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2011
Những bất cập chính trong hoạt động của các NHTM Việt Nam tựu trung gồm: (i) Tốc độ
tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm với nâng cao chất lượng tín
dụng; (ii) Huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ
thống ngân hàng; (iii) Khả năng sinh lời của hệ thống NHTM thấp; (iv) Giám sát an toàn hệ
thống ngân hàng của NHNN còn có những bất cập
1.1 Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm với nâng
cao chất lượng tín dụng
Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô năm 2011 nhiều khó khăn và ngành Ngân hàng quyết liệt thực
hiện Nghị quyết 11/NQ-CP, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng của các NHTM đã suy
giảm nhiều so với những năm trước (Hình 1 và 2) Nguyên nhân thứ nhất là do các NHTM
buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt giới hạn tăng trưởng tín dụng trong cả năm 2011 là dưới 20%
Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái và những dự báo bi quan về triển vọng phục hồi, nhu cầu
vay vốn kinh doanh của các doanh nghiệp và vay vốn tiêu dùng của các cá nhân đều sụt giảm
là nguyên nhân thứ hai Hơn nữa, do lãi suất cho vay tăng lên quá cao, có thời điểm trên
25%/năm, đã vượt quá khả năng chịu đựng của khách hàng Việc áp dụng chung cho tất cả
các ngân hàng mức tăng trưởng tín dụng dưới 20% là chưa phù hợp với thực trạng của từng
ngân hàng: Các ngân hàng lành mạnh có thể tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn đảm bảo an toàn,
trong khi các ngân hàng yếu kém cần hạn chế mở rộng tín dụng
Trang 2.Hình 1 Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản tính
đến tháng 9/2011
Hình 2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến
tháng 9/2011
Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM
Ngoài ra, phải kể đến việc NHNN áp dụng tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất trên tổng dư
nợ xuống mức 22% đến 30/6/2011 và 16% đến 31/12/2011, khiến cho những nhu cầu vay vốn
khác của người dân như mua nhà để ở, xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp… không
được đáp ứng khi tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất của NHTM đã đạt tỷ lệ quy định Đây
là một thực tế khó khăn đối với các NHTMCP quy mô nhỏ, do vừa phải tăng vốn điều lệ lên
mức tối thiểu theo quy định là 3.000 tỷ đồng nhưng không thể mở rộng tín dụng, khiến cho
hiệu quả sinh lời bị ảnh hưởng rõ rệt Chỉ đến giữa tháng 11/2011, NHNN mới ban hành văn
bản loại trừ bốn nhóm dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất nhằm tạo điều kiện cho các
NHTM mở rộng cho vay các nhu cầu kể trên
Xét trên góc độ vĩ mô, mở rộng tín dụng quá mức giảm lợi ích biên của tín dụng với nền kinh
tế Việt Nam Tốc độ mở rộng tín dụng của Việt Nam kể từ năm 2007 đã tăng nhanh hơn rất
nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP (Hình 3) So với các quốc gia khác trong khu vực, tỷ lệ
Tín dụng/GDP của Việt Nam có sự biến động mạnh trong suốt thập niên đầu thế kỉ 21, khi
tăng từ 44,8% GDP lên mức 135,8% GDP năm 2010 (Hình 4) Từ năm 2007, khi tín dụng
vượt quá GDP, nền kinh tế Việt Nam đã liên tiếp phải đối mặt với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô
Nhằm đánh giá tác động của việc gia tăng tín dụng với tốc độ cao tới tăng trưởng kinh tế Việt
Nam, chúng tôi đã xây dựng mô hình kinh tế lượng có dạng sau:
Hình 3 Tăng trưởng GDP, tín dụng và
tỷ lệ Tín dụng/GDP của Việt Nam
Hình 4 Tỷ lệ Tín dụng/GDP của một số quốc gia giai đoạn 2001-2010
Trang 3Nguồn: ADB statistics, Tổng cục Thống kê
Số liệu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tín dụng (DC), chi tiêu chính phủ (GE), lạm phát
(CPI) được thu thập từ Tổng cục Thống kê theo quý, từ quý 1/2004 đến quý 2/2011 Biến giả
DU bằng 0 khi tỷ lệ Tín dụng/GDP nhỏ hơn 100% và bằng 1 khi tỷ lệ Tín dụng/GDP lớn hơn
100% Nhằm loại bỏ các hồi quy giả mạo trong các phương trình, chúng tôi thực hiện kiểm
định tính dừng Augumented Dickey- Fuller với tất cả các biến trong mô hình, độ trễ trong
kiểm định được lựa chọn theo tiêu chuẩn Schwarz Information Kết quả kiểm định cho thấy
khi lấy sai phân bậc nhất thì các chuỗi dữ liệu đều là các chuỗi dừng với mức ý nghĩa 1%, 5%
và 10% Hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất với các biến trễ từ một
quý tới ba quý, các biến không có ý nghĩa thống kê bị loại bỏ cho kết quả như sau:
Thời kỳ tỷ lệ Tín dụng/GDP nhỏ hơn 100%:
(2,713685) **1 (-1,858623) *
(2,289505) ** ( 2,317125) ** (-2,348098) **
(2,717401) ** (3,234798) ** (-2,587218) **
Thời kỳ tỷ lệ Tín dụng/GDP lớn hơn 100%:
(2,713685) ** (-1,858623) *
(2,289505) ** (2,317125) ** (-2,348098) **
(2,717401) ** (3,234798) ** (-2,587218) **
Các phương pháp kiểm định khuyết tật cho thấy mô hình không có khuyết tật phương sai sai
số thay đổi, tự tương quan và phần dư có phân phối chuẩn Qua phân tích kết quả của mô hình
1
*, **: ở mức ý nghĩa 1% và 5%
Trang 4có thể thấy mở rộng tín dụng có tác động làm tăng GDP do tổng các hệ số tín dụng ảnh hưởng
tới GDP là dương Tuy nhiên, khi tín dụng vượt quá GDP thì đóng góp của tín dụng bị giảm
xuống, thể hiện ở biến giả DU mang dấu âm Theo nhận định của chúng tôi, tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 trở lại đây dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư, trong đó
tín dụng là kênh chủ yếu bên cạnh đầu tư công và đầu tư nước ngoài Vốn đầu tư tăng cao hơn
mức độ tiết kiệm của nền kinh tế đi kèm với việc sử dụng vốn không hiệu quả, thể hiện ở chỉ
số ICOR ngày càng giảm, khiến cho nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng tăng trưởng kinh
tế sụt giảm và luôn đối mặt với lạm phát cao
Xét trên góc độ vi mô, còn quá nhiều vấn đề bất cập trong hoạt động tín dụng của hệ thống
ngân hàng Những vấn đề cụ thể gồm:
(i) Chất lượng các khoản vay suy giảm mạnh
Hậu quả của việc theo đuổi tăng trưởng tín dụng cao trong thời kỳ trước, trong khi năng lực
quản lý rủi ro của hệ thống ngân hàng còn thấp, cộng với những biến động bất lợi của nền
kinh tế đã khiến cho tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu tăng lên đáng kể trong năm 2011 Nhóm
NHTMNN có tỷ lệ nợ xấu cao hơn hẳn so với nhóm NHTMCP (chênh lệch tỷ lệ nợ xấu của 2
nhóm ngân hàng là 1,18%) Nguyên nhân của tình trạng trên chính là việc nhóm NHTMNN
phải gánh chịu khoản nợ xấu của các doanh nghiệp Nhà nước, trong đó phải kể đến các tập
đoàn kinh tế và tổng công ty hoạt động không hiệu quả
Bảng 1 Tỷ lệ nợ xấu của các TCTD tại Việt Nam
Tỷ lệ nợ xấu
Công ty cho thuê tài chính 51,7%
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 1,21%
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 1,63%
Công ty cho thuê tài chính 5,88%
Nguồn: Định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam 2011-2015
Năm 2011 đã bộc lộ nhiều điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam Có thể nhận thấy khi
mà tăng trưởng tín dụng chỉ đạt mức thấp thì giá trị các khoản nợ quá hạn, nợ xấu lại tăng
mạnh, tỷ lệ nợ xấu tăng cao, bộc lộ sự suy giảm chất lượng tín dụng và rủi ro tín dụng đã trở
thành mối quan ngại sâu sắc đối với việc quản trị ngân hàng
Hình 5 Tỷ lệ nợ xấu tính đến tháng
9/2011
Hình 6 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
tính đến tháng 9/2011
Trang 5Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM
Việc gia tăng các khoản nợ nhóm 2 (Bảng 2) do các khoản vay bị chuyển từ nợ nhóm 1 sang
cho thấy khả năng chất lượng các khoản nợ này có thể tiếp tục xấu đi và bị chuyển sang các
nhóm nợ xấu hơn Trước tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, nguy cơ các khoản vay yếu
kém này tiếp tục không có khả năng thu hồi là rất dễ xảy ra Nợ nhóm 5, nhóm nợ có khả
năng mất vốn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nợ xấu, càng cho thấy mức độ rủi ro tín
dụng trong hệ thống ngân hàng Một quan ngại đáng lưu ý là chất lượng của những con số
thống kê về tình hình nợ xấu do các NHTM công bố, đặc biệt là nếu như phân loại theo chuẩn
mực quốc tế thì sẽ ở mức cao hơn con số công bố hiện nay nhiều
Bảng 2 Tỷ trọng nợ nhóm 2 và 5 trên tổng dư nợ tính đến tháng 9/2011 Ngân
hàng
2008 2009 2010 9/2011 2008 2009 2010 9/2011
VCB 2,71% 5,67% 9,91% 15,12% 3,07% 1,88% 2,08% 2,65%
BIDV 18,97% 16,05% 11,17% 10,20% 0,71% 0,62% 1,37% 1,90%
ACB 1,15% 0,58% 0,24% 0,79% 0,05% 0,23% 0,19% 0,26%
STB 0,37% 0,17% 0,04% 0,22% 0,20% 0,30% 0,43% 0,21%
EIB 3,19% 0,60% 0,39% 1,51% 1,05% 1,24% 0,69% 0,70%
SHB 2,65% 0,44% 2,45% 3,05% 0,19% 1,24% 1,09% 0,82%
HBB N/A 11,64% 20,18% 23,85% N/A 1,16% 1,01% 1,87%
Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM nêu trên
Do chất lượng các khoản vay bị sụt giảm nên các ngân hàng buộc phải tăng cường trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng Đặc biệt, các NHTMNN có tỷ lệ trích dự phòng rủi ro tín dụng trên
tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng cao hơn rất nhiều so với các NHTMCP Với tình hình
khó khăn của các doanh nghiệp như hiện nay thì khoản mục trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
được dự báo sẽ tiếp tục tăng lên trong tương lai, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Tuy
nhiên, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD Việt Nam vẫn còn quá mỏng so với các
Trang 6quốc gia khác trên thế giới Phần trăm tỷ lệ trích lập dự phòng của Việt Nam chỉ là 47,85%
trong khi của Hàn Quốc là 111,2%; của Trung Quốc là 230,2% Tỷ lệ trích lập dự phòng quá
thấp của các TCTD Việt Nam sẽ làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam nhạy cảm với những
bất ổn kinh tế trên thế giới nói chung cũng như bất ổn kinh tế của Việt Nam nói riêng
(ii) Nguy cơ từ tín dụng bất động sản
Nợ xấu gia tăng tại nhiều ngân hàng trong quý 1 và quý 2 năm 2011 phần lớn bắt nguồn từ dư
nợ tín dụng bất động sản Theo báo cáo của các TCTD, dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất
động sản đến cuối tháng 9/2011 là 203.600 tỷ đồng (giảm 13,46% so với cuối năm 2010),
tương đương 8,15% tổng dư nợ tín dụng Nếu bao gồm cả các khoản tín dụng được bảo đảm
bằng bất động sản thì dư nợ tín dụng đối với bất động sản là 1.331.032 tỷ đồng, tương đương
53,3% tổng dư nợ tín dụng, trong đó dư nợ tín dụng được bảo đảm bằng bất động sản của các
TCTD Việt Nam tương đương 57,3% tổng dư nợ tín dụng của các TCTD Việt Nam Dư nợ tín
dụng đối với bất động sản lớn, song chất lượng tín dụng thấp và đang có chiều hướng giảm do
thị trường bất động sản suy giảm đang trở thành rủi ro rất lớn đối với các TCTD
(iii) Tín dụng ngoại tệ tăng nhanh do sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa hai đồng tiền
Theo dữ liệu của NHNN, năm 2011 tín dụng tăng 12%, trong đó tín dụng VND tăng 10,2% và
tín dụng ngoại tệ tăng 18,7%, tuy nhiên tín dụng ngoại tệ đã có xu hướng tăng chậm lại từ
tháng 8 cho đến cuối năm 2011 Nhu cầu vay vốn ngoại tệ tăng cao thời gian qua chủ yếu do
lãi suất quá hấp dẫn so với nội tệ Kỳ vọng tỷ giá ổn định cũng là lý do khiến các doanh
nghiệp không quá lo lắng về rủi ro khi vay ngoại tệ rồi bán ra lấy tiền đồng kinh doanh Để
hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ trên tài khoản, đã có lúc NHNN áp trần lãi suất tiền gửi
ngoại tệ ở mức 2% (đối với cá nhân) và 0,5% (với tổ chức) Sau thời gian dài nghiêm túc chấp
hành, các ngân hàng đã âm thầm đẩy lãi suất huy động ngoại tệ vượt trần, thậm chí sẵn sàng
trả tới 4% Với mặt bằng huy động như vậy, lãi suất cho vay ngoại tệ cao nhất cũng không
quá 9%/năm, thấp hơn nhiều so với mặt bằng lãi suất cho vay VND (20-22%)
Việc các ngân hàng chạy đua gom USD được lý giải nhằm đáp ứng nhu cầu vay của doanh
nghiệp Tính đến cuối tháng 6/2011, dư nợ tín dụng ngoại tệ tăng 2,3% so với tháng 5/2011 và
tăng đến 23,31% so với cuối năm 2010 Còn nếu so với cùng kỳ năm trước, dư nợ ngoại tệ
tăng 46,3% Doanh nghiệp khi vay bằng USD đã bán ra, lấy tiền đồng kinh doanh, khiến
nguồn cung ngoại tệ trên thị trường dồi dào Nhưng khi các hợp đồng vay đáo hạn, doanh
nghiệp lại phải mua USD trả nợ cho ngân hàng, khi đó cầu tăng mạnh, gây áp lực tỷ giá leo
cao Từ tháng 8 đến cuối năm 2011 là giai đoạn chuẩn bị hàng hóa phục vụ Tết và cũng là chu
kỳ nhập khẩu tăng lên, khiến cho nhu cầu USD tăng mạnh, tỷ giá tại các NHTM luôn trong
tình trạng kịch trần, nhiều NHTM giá thu mua USD bằng giá bán ra Nguồn cung ngoại tệ
khan hiếm khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn gốc và lãi
các khoản ngoại tệ
Bên cạnh đó, giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12/2011 chứng kiến chu kỳ tăng giá mạnh của
vàng (nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động đầu cơ của một số tổ chức, cá nhân), nhu cầu tích
trữ vàng sản xuất cuối năm, đã khiến giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới rất nhiều (có
lúc chênh tới hơn 4 triệu đồng một lượng), theo đó kích thích nhu cầu nhập vàng (đặc biệt là
Trang 7nhập lậu vàng) Do sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới cao đã kích
thích việc gom USD chợ đen để nhập theo đường tiểu ngạch
(iv) Tỷ lệ nợ xấu quá chênh lệch giữa đánh giá của Việt Nam và các tổ chức quốc tế dẫn đến
những câu hỏi cho ngành Ngân hàng Trong khi Việt Nam tính tỷ lệ nợ xấu trong 6 tháng đầu
năm 2011 chỉ là 2,72%, thì theo đánh giá của Fitch (một tổ chức có uy tín cao trong đánh giá
xếp hạng tín nhiệm trên thế giới), tỷ lệ này lên đến 13% tổng dư nợ
Việc đo lường nợ xấu nhằm cảnh báo rủi ro hệ thống có đạt được mục tiêu đề ra? Với tỷ lệ nợ
xấu năm 2011 được công bố là 3,39%, rủi ro tín dụng hệ thống ngân hàng nằm trong mức cho
phép Nhưng tỷ lệ công bố trên là tính theo chuẩn mực phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro của Việt Nam, theo đó nợ được trả từng phần, từng tháng từng quý Nếu đến hạn mà không
trả được phần nợ đó, thì chỉ phần nợ đó được đưa vào nợ xấu Trong khi theo chuẩn mực quốc
tế, nếu phần nợ đến hạn không trả được, thì toàn bộ khoản nợ phải được xếp vào nợ xấu Hơn
thế, ngay cả với cách tính theo chuẩn Việt Nam, nhiều NHTM cũng không phân loại nợ đúng
theo quy định của NHNN (Báo cáo đánh giá công tác thanh tra của NHNN tháng 12/2011)
(hộp cắt) Những bất cập chính của thị trường tín dụng của Việt Nam trong năm 2011: (1) Tốc
độ tăng trưởng tín dụng tuy đã chậm lại nhưng không đi kèm nâng cao chất lượng tín dụng;
(2) tín dụng cho nền kinh tế (có thể đo lường qua chỉ số Tín dụng/GDP) đang ở ngưỡng
không hiệu quả; (3) Chất lượng khoản vay suy giảm mạnh, tín dụng bất động sản và ngoại tệ
còn nhiều vấn đề đáng quan ngại, mối quan hệ phức tạp giữa tín dụng chính thức và tín dụng
phi chính thức cũng như câu hỏi đặt ra về khả năng đảo nợ làm đẹp bảng cân đối kế toán của
các NHTM Nếu không giải quyết triệt để những bất cập trên thì tín dụng ngân hàng có thể
tiếp tục gây ra những mất cân đối vĩ mô cho nền kinh tế trong các năm tiếp theo
1.2 Khả năng sinh lời của hệ thống NHTM có xu hướng giảm
Trong năm 2011, hệ thống NHTM vẫn đạt được mức sinh lời khá ổn định, với chỉ số ROE
của nhiều ngân hàng tập trung từ 10% đến 15%, cao hơn nhiều ngành khác trong bối cảnh
kinh tế hiện nay Nguyên nhân chính là chênh lệch giữa lãi suất huy động được giới hạn tại
mức trần 14% theo quy định của NHNN, trong khi lãi suất cho vay được duy trì ở mức cao
trong suốt năm 2011
Nếu quan sát mức sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam, chỉ số ROE và ROA đều ở mức
cao trong suốt giai đoạn 2005- 2010 (Bảng 6) Như vậy, thậm chí ở mức chênh lệch lãi suất
đầu ra- đầu vào tương đối thấp của năm 2010, các NHTM Việt Nam vẫn thông báo tỷ lệ lợi
nhuận cao Rõ ràng, các NHTM khó lý giải về trách nhiệm đối với nền kinh tế khi nhìn nhận
tương quan giữa chênh lệch lãi suất cho vay và tiền gửi với khó khăn của các doanh nghiệp
Như vậy, vấn đề đạo đức kinh doanh của các NHTM cần được đặt ra sau những diễn biến của
hoạt động huy động vốn 2011
Bảng 3 Chênh lệch lãi suất cho vay và huy động giai đoạn 2005-2011
Đơn vị: %/năm
Chênh lệch lãi suất cho vay
& huy động của các NHTM
2005 2006 2007 2008 2010 2011 3,42 4,63 4,45 4,62 2,50 5,23
Nguồn: Thống kê của nhóm nghiên cứu
Trang 8Tuy nhiên, trước tình hình khó khăn của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói
riêng, mức sinh lời của các NHTM đều có xu hướng giảm so với các năm trước (Hình 11, 12)
Tính đến tháng 10/2011, ROA (tính theo lợi nhuận trước thuế) và ROE của hệ thống ngân
hàng là 1,02% và 10,4%
Hình 7 Chỉ số ROA tính đến tháng 9/2011 Hình 8 Chỉ số ROE tính đến tháng 9/2011
Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM
Các NHTMNN mặc dù có tỷ lệ nợ xấu và trích lập dự phòng cao nhưng vẫn đạt được mức
sinh lời cao hơn so với các NHTMCP Tính đến tháng 10/2011, nhóm NHTMNN có tỷ lệ
ROA và ROE bình quân ở mức 1,02% và 13,05%, cao hơn so với mức 1,03% và 10,8% của
nhóm NHTMCP Hình 6 cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của các NHTMCP đã giảm xuống
đáng kể từ năm 2008 trở lại đây Chất lượng các khoản tín dụng đi xuống, cụ thể là việc nợ
quá hạn và nợ xấu tăng lên, sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của hệ
thống ngân hàng trong tương lai Nếu như phân loại nợ theo đúng như chuẩn quốc tế thì các
NHTM Việt Nam sẽ phải trích lập dự phòng một lượng rất lớn Trong khi tài sản bảo đảm cho
các khoản vay chủ yếu là bất động sản (chiếm tới 57,3% tổng dư nợ), nhưng thị trường luôn
biến động theo tình hình tín dụng, hiện rơi vào tình trạng suy giảm mạnh, nên nguy cơ khoản
trích lập dự phòng tăng nhanh sẽ choán hết vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng là hoàn
toàn có thể xảy ra Đáng chú ý là trong khi một số ngân hàng (điển hình là các NHTMNN)
vẫn báo lãi lớn, thì hiện đã có 2 ngân hàng chính thức báo lỗ năm 2011 là Tienphongbank và
Habubank Chắc chắn là số ngân hàng thua lỗ năm 2011 sẽ nhiều hơn 2, bởi ngay trong 6
tháng đầu năm 2011 đã có 13,69% số ngân hàng trong hệ thống báo lỗ
Bên cạnh đó, khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam là thấp hơn khi so sánh với các
nước trong khu vực và trên thế giới (bảng 4)
Bảng 4 ROA và ROE một số quốc gia năm 2010
Trang 9Indonesia 3,1% 25,9%
Nguồn: Asia Economic Monitor, December 2011
(còn nữa- kỳ sau đăng tiếp)
1.3 Huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ
thống ngân hàng
(i) Thị trường huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế sụt giảm so với các năm trước
Đối với toàn bộ thị trường, lượng tiền gửi huy động đã suy giảm nhanh chóng Theo NHNN,
số dư tiền gửi của khách hàng tại các NHTM tháng 10/2011 giảm 0,74% so với tháng 9, còn
tháng 9 giảm 1,07% so với tháng 8 và giảm mạnh nhất là tiền gửi VND Đến cuối tháng
10/2011, huy động thị trường I đạt 2.819,6 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 8,4% so cuối năm 2010
(bình quân tháng tăng 0,84%; trong khi mức bình quân tháng của năm 2010 là 3,1%)
Tính từ thời điểm tháng 3/2011 khi Thông tư 07 được ban hành, số dư tiền gửi của khu vực
ngân hàng giảm trong 2 tháng kế tiếp đó (tháng 3 và 4/2011) Sau đó, tỷ lệ này tăng trở lại với
biên độ không ổn định Đáng chú ý là tổng tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại NHTM đã giảm
mạnh trong năm 2011, dẫn đến giảm tốc độ luân chuyển tiền tệ của toàn nền kinh tế Thêm
vào đó, chính sách trần lãi suất huy động VND ở mức 14% đã gây ra sự suy giảm nguồn vốn
huy động tiền gửi từ dân cư, đồng thời khuyến khích sự tích lũy “đóng băng” dưới các dạng
tài sản khác (chủ yếu là vàng, ngoại tệ, bất động sản ) của dân chúng Điều này làm trầm
trọng hóa vấn đề vàng hóa và đô la hóa, vốn tồn tại cố hữu trong nền kinh tế Việt Nam từ lâu
Thị trường vàng cũng đã chứng kiến nhiều biến động trong tháng 9 khi nhu cầu tích trữ của
người dân tăng mạnh khiến NHNN phải cho phép nhập vàng nhằm bình ổn thị trường
(ii) Các “đối phó” với chính sách nhằm đảm bảo thanh khoản
Cuộc đua lãi suất giữa các NHTM những tháng cuối năm 2010 vẫn được tiếp tục trong năm
2011 với lãi suất huy động phổ biến ở mức 14- 16%, bất chấp đồng thuận lãi suất của các
thành viên Hiệp hội Ngân hàng Lãi suất huy động VND có kỳ hạn tháng 2/2011 vẫn ở mức
14%/năm, nhưng lãi suất huy động không kỳ hạn đã tăng từ 3%/năm lên 8-9%/năm, thậm chí
Seabank đưa ra sản phẩm có lãi suất không kỳ hạn lên 12%/năm Nhằm hạn chế cuộc đua lãi
suất và kéo hạ lãi suất cho vay, NHNN ban hành Thông tư 02/TT-NHNN ngày 3/3/2011 quy
định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng VND của các NHTM bao gồm cả khoản chi
khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm, riêng các Quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở không vượt quá 14,5%/năm Đồng thời, NHNN ban hành Thông tư 09/2011/TT-NHNN
áp dụng từ 13/4/2011 quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng USD của NHTM
là 1,0%/năm (giữ nguyên so với mức cũ) và đối với cá nhân là 3,0%/năm (trước đó các
NHTM huy động lãi suất USD từ 5- 6%/năm)
Tuy nhiên, việc tăng giá xăng dầu 2 lần, vào ngày 24/2/2011 và 29/3/2011, và tăng giá điện
Trang 10bình quân 15,28% so với mức áp dụng năm 2010 kể từ 01/3/2011, đã khiến kỳ vọng lạm phát
tăng cao Bên cạnh đó, các mặt hàng lương thực thực phẩm cũng tăng giá mạnh do tác động
của tăng giá thế giới cũng như nguồn cung trong nước thiếu hụt, đã gây áp lực gia tăng lớn
đến lạm phát Các NHTM đã thực hiện các biện pháp “lách luật” với nhiều sáng tạo trong các
sản phẩm huy động như: “tiết kiệm lãi suất linh hoạt”, “tiết kiệm rút gốc linh hoạt”, “nhận
tiền gửi tiết kiệm bằng VND đảm bảo bằng USD” hoặc sản phẩm “hợp tác đầu tư, nhận vốn
và cho vay theo yêu cầu của bên ủy thác” được phát triển phổ biến trong hệ thống NHTM
Trước tình hình đó, NHNN tiếp tục ban hành Thông tư số 04/2011/TT-NHNN quy định áp
dụng lãi suất không kỳ hạn trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại các
NHTM Để đối phó, các khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt trước đây của các NHTM được
chuyển thành các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần hoặc không kỳ hạn Hơn thế, sự căng thẳng về thanh
khoản thể hiện rõ qua việc niêm yết lãi suất gần như ở mức ngang bằng nhau (và bằng đúng
lãi suất trần 14%) trong các kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng tại các ngân hàng trong 5 tháng đầu năm
2011 Với CPI tháng 4/2011 tăng tới 3,32% so với tháng trước, mức tăng cao nhất kể từ tháng
3/2008, và tăng 9,64% so với tháng 12/2010, vượt xa mức chỉ tiêu 7% cho cả năm được Quốc
hội phê duyệt, nhiều NHTM đã dùng nhiều biện pháp “phá trần lãi suất huy động” lên trên
17%/năm, thậm chí có nơi lên tới 20%/năm Tình hình vi phạm trần lãi suất tiếp diễn cho đến
đầu tháng 9, khi Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 7/9/2011 được ban hành, yêu cầu chấp hành quy
định trần lãi suất huy động của các NHTM là 14%/năm đối với VND; huy động USD là
2%/năm đối với cá nhân và 0,5%/năm đối với tổ chức Chỉ thị 02/CT-NHNN cũng nêu rõ
những biện pháp xử lý đối với các NHTM cố tình vi phạm trần lãi suất huy động nhằm xác
lập lại kỷ luật thị trường Tuy nhiên, một số NHTM tiếp tục lách quy định này bằng cách áp
dụng mức lãi suất 14%/năm đối với cả các khoản tiền gửi kỳ hạn ngày, tuần, khiến cho lãi
suất thực tế lên cao hơn 14%/năm Vì vậy, NHNN đã phải ban hành Thông tư 30/TT-NHNN
ngày 28/9, quy định rõ trần lãi suất huy động 14%/năm được áp dụng đối với tiền gửi VND
có kỳ hạn 1 tháng trở lên, với kỳ hạn dưới 1 tháng và không kỳ hạn, lãi suất huy động tối đa là
6%/năm Trước những hành động quyết liệt của NHNN, “chính sách trần lãi suất huy động”
đã phát huy tác dụng theo đúng bản chất của nó Đó là giúp xác định rõ những NHTM hoạt
động không hiệu quả, sử dụng biện pháp cạnh tranh lãi suất huy động nhằm đầu tư vào lĩnh
vực bất động sản
(iii) Thanh khoản căng thẳng do hệ lụy của “độ trễ” của tăng trưởng tín dụng thiếu hợp lý
trong giai đoạn 2007- 2010
Tình hình thanh khoản của một số NHTM Việt Nam trở nên căng thẳng một phần do tiền gửi
suy giảm trong toàn bộ nền kinh tế, nhưng một phần nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ
việc tăng trưởng tín dụng bất hợp lý trong giai đoạn trước đây Không tính những ngân hàng
như ACB hoặc trường hợp đặc thù của HabuBank và SHB, các ngân hàng còn lại trong hình 9
đều có xu thế tăng mạnh tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi Thực tế là các NHTM không hề dễ
dàng trong xử lý vấn đề thanh khoản khi đã cấp nhiều khoản tín dụng bất động sản trong các
năm trước đây
Hình 9 Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng tính đến 9/2011