1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an

73 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi Hoàng An
Tác giả Nguyễn Thị Hồng
Người hướng dẫn TS. Phạm Diệu Thùy
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (9)
    • 1.1. Đặt vấn đề (9)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề (10)
      • 1.2.1. Mục tiêu (10)
      • 1.2.2. Yêu cầu (10)
  • Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (11)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (11)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (11)
      • 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (13)
      • 2.1.3. Mô tả sơ lược về phòng khám thú y (15)
    • 2.2. Cơ sở khoa học (16)
      • 2.2.1. Hiểu biết chung về loài chó (16)
      • 2.2.2. Cấu tạo và sinh lý da chó (24)
    • 2.3. Một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó (31)
      • 2.3.1. Bệnh mò bao lông (do Demodex canis) (31)
      • 2.3.2. Nấm da (38)
      • 2.3.3. Bệnh ghẻ ngầm (Sarcoptosis) (43)
    • 2.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (48)
      • 2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (48)
      • 2.4.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài (49)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH (51)
    • 3.1. Đối tượng (51)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (51)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (51)
    • 3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện (51)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (51)
      • 3.4.2. Phương pháp theo dõi (thu thập thông tin) (51)
      • 3.4.3. Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh (52)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (54)
  • Phần 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (55)
    • 4.1. Kết quả theo dõi tình hình chó đến khám chữa bệnh tại phòng mạch thú y (55)
    • 4.2. Kết quả theo dõi số chó được đưa đến tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh tại phòng mạch thú y Vi Hoàng An (56)
    • 4.3. Kết quả chẩn đoán một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó được đưa đến khám tại phòng mạch (58)
      • 4.3.1. Tình hình mắc bệnh ngoài da ở chó đến khám chữa bệnh tại phòng mạch (58)
      • 4.3.2. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da trên chó được đưa đến khám tại phòng mạch thú y (59)
      • 4.3.3. Kết quả theo dõi chó mắc bệnh ngoài da theo kiểu lông (lông ngắn, lông dài) (61)
    • 4.4. Kết quả điều trị bệnh ngoài da cho chó đến khám tại phòng mạch thú y (61)
    • 4.5. Kết quả thực hiện một số công tác khác tại phòng mạch thú y (63)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (66)
    • 5.1. Kết luận (66)
    • 5.2. Đề nghị (66)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ sở nơi thực tập

Phòng mạch thú y Vi Hoàng An tọa lạc tại số 12, đường Hoàng Hoa Thám, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, gần trường THPT Lương Ngọc Quyến, nằm ngay trung tâm thành phố Thái Nguyên.

Phòng mạch thú y Vi Hoàng An, nằm trên địa bàn thành phố Thái

Khí hậu của phòng mạch thú y tại tỉnh Thái Nguyên có đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với thời tiết phân chia thành 4 mùa rõ rệt.

Xuân - Hạ - Thu - Đông song chủ yếu là hai mùa chính: mùa mưa và mùa khô

Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 - 10, nhiệt độ trung bình dao động từ 25 -

Nhiệt độ trung bình 30°C và độ ẩm từ 80-85% cùng lượng mưa 160 mm/tháng, chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8, tạo ra điều kiện khí hậu đặc thù Với tình hình thời tiết này, việc phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi là rất quan trọng.

Mùa khô diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, với khí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 12 - 26 độ C và độ ẩm từ 70 - 80% Trong mùa Đông, gió mùa Đông Bắc gây rét và sương muối, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của vật nuôi.

Thành phố Thái Nguyên, đô thị loại I thuộc tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch và dịch vụ của tỉnh cũng như khu vực trung du miền núi phía Bắc Nằm cách thủ đô Hà Nội 80 km, thành phố có tổng diện tích tự nhiên lên tới 18.970,48 ha.

• Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương

• Phía Đông giáp thành phố Sông Công

• Phía Tây giáp huyện Đại Từ

• Phía Nam giáp thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình

Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú

Tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 312,35 ha, chiếm 17,65% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, đất phù sa không được bồi hàng năm có 100,19 ha (0,75% tổng diện tích tự nhiên), chủ yếu phân bổ ở phường Phú Xá Đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có diện tích 379,84 ha, chiếm 2,35% tổng diện tích tự nhiên Bên cạnh đó, đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ là 271,3 ha (1,53%), trong khi đất bạc màu phát triển trên nền phù sa có sản lượng feralit trên nền cơ giới nặng là 545,6 ha (3,08%).

Rừng Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327 và PAM, cùng với vùng chè Tân Cương và các loại cây trồng như nhãn, vải, quýt, chanh Cây lương thực chủ yếu bao gồm lúa nước, ngô, và đậu, phát triển tốt trên các vùng đất bằng, đặc biệt là đất phù sa, đất mới phát triển và đất trung tính ít chua.

Hai tuyến sông lớn, sông Cầu và sông Công, cung cấp một lượng cát và sỏi dồi dào cho thành phố, đáp ứng nhu cầu xây dựng của toàn khu vực Thành phố nằm trong vùng sinh khoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành xây dựng.

5 Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn

Hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có lượng nước ngầm phong phú

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thành phố Thái Nguyên có tổng dân số 317.580 người, trong đó phường Hoàng Văn Thụ có 22.549 người Khu vực này hiện có hơn 1.000 hộ kinh doanh cá thể, gần 200 cơ quan, doanh nghiệp và trường học, cùng nhiều công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng và di tích lịch sử.

Thành phố Thái Nguyên, trung tâm y tế của vùng trung du miền núi Bắc Bộ, nổi bật với nhiều bệnh viện lớn và trung tâm khám chữa bệnh tư nhân có trình độ chuyên môn cao Trạm y tế phường Hoàng Văn Thụ, trang bị nhiều thiết bị hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là người già, phụ nữ và trẻ em.

Thành phố Thái Nguyên nổi bật với hệ thống giáo dục đa dạng, bao gồm nhiều trường đại học, cao đẳng và trung cấp nghề Tại phường Hoàng Văn Thụ, có nhiều cơ sở giáo dục quan trọng như Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trường trung học Bưu Chính Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin, cùng với các trường THPT Lương Ngọc Quyến, THCS Nguyễn Du, THCS Chu Văn An và Tiểu học Đội Cấn.

Khu vực thương mại tập trung nhiều tòa nhà lớn như Victory, Đông Á, trung tâm thương mại Sao Việt, Quang Đạt New World và FCC Hoạt động thương mại tại đây diễn ra sôi nổi và đa dạng.

6 khá phát triển với nhiều tuyến phố thương mại như: Hoàng Văn Thụ, Bắc Kạn, Lương Ngọc Quyến, Minh Cầu, Phủ Liễn,

Thành phố Thái Nguyên, nằm trong vùng kinh tế năng động của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm các thành phố Sông Công và thị xã Phổ Yên, là trung tâm công nghiệp lâu đời với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú Khí hậu thuận lợi tại đây tạo điều kiện cho sự phát triển của các loại cây rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi Đặc biệt, Thái Nguyên còn có tiềm năng lớn để phát triển du lịch, nổi bật với Hồ Núi Cốc - một di tích lịch sử cách mạng quan trọng.

Thép Thái Nguyên - cái nôi của ngành thép Việt Nam

Thành phố Thái Nguyên sở hữu đội ngũ cán bộ và công nhân dày dạn kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao Hàng năm, thành phố còn có lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường Đại học và các cơ sở đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội của địa phương.

Thành phố đang áp dụng nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm thu hút đầu tư Để cải thiện môi trường đầu tư, UBND thành phố đã chủ động cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư Quy trình "1 cửa" được triển khai nhằm rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục, giúp nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc bắt đầu hoạt động đầu tư và kinh doanh tại thành phố.

Năm 2016, thành phố Thái Nguyên đạt các chỉ tiêu kinh tế như sau: Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất năm 2016 đạt 15,5% Trong đó:

- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 15.130 tỷ đồng, tăng 18,1%

- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 38.903 tỷ đồng, tăng 15%

- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.202 tỷ đồng, tăng 5%

- Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (theo giá so sánh 2010) năm

2016 ước đạt 6.300 tỷ đồng, vượt 1,6% so với kế hoạch lu an va n

- Thu ngân sách: năm 2017 đạt 2.500 tỷ đồng

Năm 2018, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 16% Thu ngân sách 8 tháng đầu năm 2018 đạt 3.008 tỷ đồng Tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 34.000 tỷ đồng

Năm 2019, thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt gần 1.200 tỷ đồng

Năm 2020, dự toán tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố là 2.137.700 triệu đồng

Về sản xuất nông nghiệp: Khoảng 80% số hộ dân sản xuất nông nghiệp với sự kết hợp hài hòa giữa 2 ngành trồng trọt và chăn nuôi

Cơ sở khoa học

2.2.1 Hiểu biết chung về loài chó

* Một số giống chó địa phương

Chó Phú Quốc là giống chó đặc trưng của đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Việt Nam, với kích thước vừa phải, cao từ 60-65 cm và nặng từ 15-25 kg Chúng có bộ lông ngắn, dày và đặc biệt là phần lông giữa lưng mọc ngược thành một hàng dài, tạo thành xoáy, là đặc điểm nổi bật của giống chó này Màu lông phổ biến của chó Phú Quốc gồm vàng, hung và đen Đặc biệt, chúng rất thông minh và nhanh nhẹn, là bạn đồng hành lý tưởng cho nhiều gia đình.

Chúng rất cảnh giác và bơi lội, trèo giỏi Ngày nay người ta sử dụng chúng vào việc săn bắn, trông nhà và canh gác, báo động

Chó vàng đã được thuần hóa và nuôi dưỡng bởi con người khoảng 3.000 - 4.000 năm trước Công Nguyên, với trọng lượng trung bình từ 12 - 18 kg và chiều cao 50 - 55 cm, trong đó chó cái thường nhỏ hơn chó đực Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh và cộng sự (2016), giống chó này nổi bật với sự nhanh nhẹn, hoạt bát, khả năng thích ứng tốt với môi trường, sức khỏe bền bỉ, dễ ăn uống và khả năng bơi lội xuất sắc Chó đực có thể phối giống từ 15 - 18 tháng tuổi, trong khi chó cái có khả năng sinh sản từ 12 - 14 tháng, mỗi lứa thường đẻ trung bình 5 con.

Hình 2.2: Chó Vàng lu an va n

Chó theo mô tả của Hoàng Nghĩa (2005) có bộ lông xù đẹp mắt và bờm nổi bật, với nhiều màu sắc đa dạng như đen, trắng, xám và đặc biệt là hung đỏ Chúng thuộc giống chó kích thước trung bình, có thân hình cân đối với chiều dài lớn hơn chiều cao, khung xương chắc khỏe Bộ lông dày và đuôi xoắn cuộn lên lưng là những đặc điểm nổi bật Chó đực có chiều cao từ 57 đến 65 cm, trong khi chó cái cao từ 52 đến 60 cm, với trọng lượng dao động từ 25 đến 35 kg.

* Một số giống chó nhập ngoại

Chó Poodle là giống chó cảnh nổi bật với sự nhanh nhẹn và thông minh Chúng có thân hình vuông, chiều dài cơ thể tương đương với chiều cao từ chân đến vai, đầu tròn và nhỏ với mõm dài, thẳng và hốc mắt hình bầu dục xa nhau Đôi tai dài rủ xuống và chân thẳng với bàn chân hình bầu dục nhỏ và các ngón chân cong Bộ lông của Poodle rất đa dạng về màu sắc như đen, nâu, vàng, kem, và thường có kết cấu xoăn.

Chó Phốc, có nguồn gốc từ Đức và đã du nhập vào Việt Nam, là giống chó nhỏ với trọng lượng khoảng 1,5 - 2,05 kg Chúng sở hữu bộ lông bóng mượt, cơ thể cân đối với những đường nét thanh thoát, ngực nở và bụng thắt Hai chân trước thẳng, bàn chân nhỏ và mềm mại, trong khi mặt có hình quả xoài giống như mặt hươu Mắt hình ô van màu sẫm và tai dựng mỏng, được gọi là tai giấy Đuôi của chúng thường được cắt ngắn từ khi còn nhỏ, và Chó Phốc có nhiều màu sắc đa dạng như đỏ, vàng, đen và sôcôla.

Hình 2.5: Chó Phốc hươu lu an va n

Chó Phốc sóc, hay còn gọi là chó Pom, có nguồn gốc từ Đức và Ba Lan Đây là giống chó cỡ nhỏ, với chiều cao từ 18 - 30 cm và trọng lượng từ 1 - 3 kg, có đầu hình nêm cân xứng với cơ thể Đuôi của chúng xù và uốn cong lên lưng, trong khi lông kép dày với lớp ngoài dài, thẳng và hơi cứng, lớp trong ngắn, mềm và dày hơn Lông ở vùng cổ và ngực dài hơn, tạo nên vẻ ngoài nhỏ nhắn, xinh xắn và ấm áp Chó Pom có màu lông đa dạng, bao gồm đỏ, cam, kem, trắng, xanh và nâu.

Hình 2.6: Chó Phốc sóc (Pomeranian)

Chó Becgie, có nguồn gốc từ Đức, đã được nhập vào Việt Nam từ những năm 1960 Theo nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2006), giống chó này có kích thước lớn hơn so với nhiều giống chó khác tại Việt Nam, với chiều dài từ 110 - 112 cm và chiều cao từ 56 - 65 cm đối với chó đực, trong khi chó cái có chiều dài từ 62 - 66 cm và trọng lượng từ 28 - 37 kg.

Chó có bộ lông ngắn, mềm với màu đen sẫm trên thân và mõm, trong khi đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm Hình dáng đầu của chó là hình nêm, mũi phân thùy và tai dỏng hướng về phía trước.

Chó đực có khả năng phối giống khi đạt 24 tháng tuổi, trong khi chó cái có thể sinh sản từ 18 đến 20 tháng Mỗi năm, chó cái có thể sinh sản một lần Chó có đặc điểm nhận dạng với mắt đen, răng lớn và khớp răng cắn khít.

Chó Corgi, có nguồn gốc từ xứ Wales, Anh quốc, là giống chó có kích thước trung bình với thân hình dài và chân ngắn Chiều cao của chúng khoảng 30,5 cm và trọng lượng đạt khoảng 12 kg.

Giống Corgi, nổi tiếng với vai trò là chó săn và chăn dắt gia súc, có khả năng chạy theo đàn và cắn vào gót chân những con vật không chịu theo Chúng cần hoạt động thể chất hàng ngày và có tuổi thọ khoảng 15 năm Màu lông phổ biến của Corgi thường là vàng - trắng và xám - trắng.

Hình 2.8: Chó Corgi lu an va n

Chó Golden Retriever, có nguồn gốc từ Scotland, là giống chó cỡ trung với thân hình cân đối và khỏe mạnh Chúng sở hữu bộ lông từ màu vàng kem đến vàng nâu, được cấu tạo bởi lớp lông ngoài không thấm nước và lớp lông mịn dày bên trong Với cái đầu to và mõm hơi vát, chúng có hàm rộng và khỏe cùng với hàm răng sắc bén Tuổi thọ của chúng thường dao động từ 12 đến 15 năm.

Chó Alaska là một giống chó kéo xe nổi tiếng tại Alaska, Hoa Kỳ, với khung xương cao to và chắc khỏe, đặc biệt là ở chân Giống chó này có bộ lông đa dạng về màu sắc, thường gặp nhất là xám trắng, xám lông chồn kết hợp với trắng, hoặc đen trắng, và có thể hoàn toàn trắng Bộ lông của chúng gồm hai lớp, giúp bảo vệ trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt Chiều cao trung bình của chó Alaska từ 63 đến 68 cm và trọng lượng khoảng 34 đến 38 kg.

Chó Husky, có nguồn gốc từ Siberia, Nga, nổi bật với ngoại hình và hành vi tương đồng với tổ tiên là chó sói Chúng giao tiếp chủ yếu bằng cách hú thay vì sủa và thường có xu hướng đi lang thang cũng như tìm cách thoát khỏi sự gò bó.

Chó Husky là giống chó hiếu động và thân thiện, sở hữu bộ lông dày gồm hai lớp: lớp lông lót ngắn và dày bên trong cùng lớp lông dài, mỏng bên ngoài giúp chúng chống chọi với cái lạnh khắc nghiệt Màu lông phổ biến của Husky bao gồm trắng - đen, nâu - trắng, và xám - trắng Đôi mắt hình quả hạnh nhân, cách nhau vừa phải và hơi xếch lên, có màu sắc đa dạng, thậm chí một số con còn có hai màu mắt khác nhau Kích thước của chó Husky thuần chủng cao từ 51 - 58 cm và nặng từ 16 - 27 kg, với tuổi thọ trung bình từ 12 - 15 năm và mỗi lứa sinh sản từ 6 - 8 con.

2.2.2 Cấu tạo và sinh lý da chó

Một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó

2.3.1 Bệnh mò bao lông (do Demodex canis)

2.3.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo

Mò bao lông, theo Bùi Khánh Linh (2017), là loại mò nhỏ có kích thước từ 0,1 đến 0,39 mm, với cơ thể dài và không có lông, sống ký sinh tại tuyến nhờn bao lông Cấu trúc cơ thể của chúng được chia thành ba phần chính: đầu, ngực và bụng.

- Đầu: là đầu giả, ngắn, hình móng ngựa gồm một đôi xúc biện có 3 đốt, đốt cuối có 4 - 5 tơ hình que, một đôi kìm, một tấm dưới miệng

- Ngực: có 4 đôi chân rất ngắn, tiêu giảm giống như hình mấu

- Bụng: dài, có nhiều vân ngang ở mặt lưng và mặt bụng

Demodex canis đực có đặc điểm dương vật nhô lên ở phần ngực của mặt lưng, trong khi Demodex canis cái có âm hộ nằm chính giữa phần thân của mặt bụng, từ gốc chân thứ tư kéo xuống phía dưới bụng.

Trứng Demodex canis có hình bầu dục với kích thước từ 0,07 đến 0,09 mm Theo nghiên cứu của Sakulploy R và Sangvaranond A (2010), hình thái của D canis trưởng thành là thanh mảnh và thon dài, với chiều dài phần bụng dao động từ 91 đến 115 micron, chiều rộng cơ thể từ 40 đến 45 micron, và tổng chiều dài cơ thể lên đến 167 micron.

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], thân dài khoảng 0,25 mm Đầu giả rộng và lồi cạnh Ngực mang một đôi chân hình mấu, ngắn

Bụng dài có vân ngang trên lưng và bụng, với phần phụ miệng bao gồm một đôi xúc biện, kìm và tấm dưới miệng Xúc biện có 3 đốt, trong đó đốt cuối có 4 - 5 tơ hình que, trong khi kìm có hình trâm, dẹp và mỏng Cơ quan sinh dục đực nằm ở mặt lưng phần ngực của con đực, trong khi âm môn ở mặt bụng, trước lỗ sinh dục của con cái Trứng có hình thoi.

Mò bao lông ký sinh trên nang lông của chó trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, tiền nhộng và nhộng, trước khi trở thành trưởng thành trong khoảng 20 - 30 ngày Mỗi con trưởng thành có 4 đôi chân, mỗi chân gồm 5 đốt, trong khi giai đoạn ấu trùng chỉ có 3 đôi chân Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh và cộng sự (2011), toàn bộ vòng đời của ghẻ mò bao lông diễn ra trên cơ thể chó, với thời gian phát triển từ trứng đến con trưởng thành khoảng hai tuần, phụ thuộc vào điều kiện sống và thời tiết Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho biết mò bao lông phát triển trên da vật chủ và ấu trùng có ba đôi chân, tồn tại qua ba giai đoạn Mò bao lông có khả năng sống sót tốt, có thể tồn tại vài ngày ngoài cơ thể vật chủ trong môi trường ẩm ướt, và trong điều kiện thực nghiệm, chúng có thể sống tới 21 ngày trên một miếng da ẩm và lạnh.

2.3.1.5 Đặc điểm dịch tễ của Demodex canis gây bệnh trên chó

Nghiên cứu dịch tễ học cung cấp cơ sở vững chắc cho việc phòng và trị bệnh do Demodex canis Sự phát triển và khả năng gây bệnh của Demodex canis chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau.

Demodex canis có khả năng gây bệnh trên tất cả các giống chó (Bùi

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], Demodex canis là ký sinh trùng thường thấy trên tất cả các giống chó

Demodex canis thường không lây nhiễm cho con người nhưng có thể lây nhiễm cho con chó khác

Tỷ lệ mắc bệnh do Demodex canis ở chó thay đổi theo độ tuổi, với sự gia tăng rõ rệt theo lứa tuổi (Bùi Khánh Linh và cs., 2014).

Mò bao lông Demodex canis lây lan qua tiếp xúc trực tiếp, đặc biệt dễ mắc ở chó con, chó lông ngắn và chó gầy yếu Những chú chó có làn da nhạy cảm và thường xuyên tắm bằng xà phòng kiềm cao cũng dễ bị nhiễm bệnh Mò này cũng có thể xuất hiện trên da của những con vật khỏe mạnh, đặc biệt là ở chó già.

Theo Nayak D.C và cs (1997) [29] cho biết: chó ở độ tuổi từ 1 đến 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn chó lớn hơn 2 tuổi

Qua kết quả nghiên cứu thực tế của các tác giả, tỷ lệ nhiễm Demodex canis qua các lứa tuổi ở chó khác nhau

Bệnh do Demodex canis trên chó xảy ra tất cả các mùa trong năm (Bùi Khánh Linh và cs (2014) [8]) lu an va n

Theo Chen Y-Z và cs (2012) [35] cho biết: tỷ lệ Demodex canis theo mùa cho thấy cao nhất là tháng ba và thấp nhất là tháng mười hai

Theo Fondati A và cs (2010) [23], Demodex canis đã tồn tại với số lượng nhỏ trên da của hầu hết các con chó khỏe mạnh

Barriga O O và cs (1992) [21] cho biết: chó có hiện tượng suy giảm miễn dịch trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng do Demodex canis gây nên

Khi sức đề kháng của chó giảm rất dễ cảm nhiễm Demodex canis

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) chỉ ra rằng khí hậu nóng ẩm của Việt Nam, đặc biệt vào mùa hè và thu, khiến nhiều giống chó ngoại nhập gặp khó khăn trong việc thích nghi Sự căng thẳng này làm suy giảm sức đề kháng của chúng, tạo điều kiện cho Demodex canis phát triển và gây bệnh.

2.3.1.6 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do Demodex canis trên chó

Khi nghiên cứu về bệnh lý, lâm sàng, các tác giả đều cho thấy: bệnh thể hiện ở nhiều mức độ từ thể nhẹ đến nặng

Thể nhẹ là tình trạng xuất hiện các hạt viêm hình tròn với đường kính từ 2 đến 10 mm, thường tập trung ở những khu vực riêng biệt trên cơ thể chó, như vùng mặt, quanh mắt, hoặc trên chân trước và cả bốn chân.

Chó bị viêm da có dấu hiệu ngứa ngáy, da đỏ, mụn mủ và chảy dịch vàng kèm mùi hôi khó chịu Nhiễm trùng kế phát có thể tạo lớp nhầy màu vàng trên da, khiến chó rụng lông theo vết thương Tình trạng này dẫn đến giảm ăn, mất ngủ, và nếu không điều trị kịp thời, chó có thể suy mòn và tử vong.

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), có hai dạng bệnh thường gặp Dạng đầu tiên là da dày lên, nhăn nheo, xuất hiện vẩy hoặc thể vẩy, lông rụng, da ửng đỏ, và cuối cùng chuyển sang màu xanh hoặc màu vàng đỏ Dạng thứ hai liên quan đến mụn lu an.

Dạng 27 đỏ nhiễm vi khuẩn thường xuất hiện trước dạng vẩy, với sự phát triển của những mụn nhỏ có đường kính vài mm hoặc nốt apce, đôi khi kèm theo ổ hoại tử Trong khi đó, dạng vẩy ít khốc liệt hơn.

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012) [15], triệu chứng thường xuất hiện hai dạng

Dạng ghẻ khô là giai đoạn đầu của bệnh, với dấu hiệu chó rụng lông ở trán, mí mắt và bốn chân, da trở nên dày cộm và có màu đỏ sẫm Chó bị bệnh thường cảm thấy ngứa và thường xuyên dùng chân để gãi.

Dạng ghẻ mủ ở chó gây ra các mụn mủ sưng mọng trên da, chứa dịch màu vàng xám Những vùng da này trở nên nhăn nheo, lông rụng, và lâu ngày dẫn đến tình trạng chết da, tạo thành các vẩy khô cứng Trong trường hợp nặng, chó có thể bị trụi lông toàn thân và xuất hiện nhiều mụn ghẻ mủ đặc quánh, đặc biệt ở những vùng da mỏng như bẹn, bụng và nách, nơi hình thành các ổ áp xe Khi các ổ áp xe vỡ, mủ chảy ra ngoài kèm theo mùi hôi tanh khó chịu.

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], cho biết: mò bao lông

Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc tiếp xúc Gây nhiễm nhân tạo ít kết quả

Chó con có lông ngắn, gầy yếu thường dễ mẫn cảm, đặc biệt khi bị sốt ho do virus Mò bao lông xuất hiện trên da chó khỏe, nhất là ở chó già Mò Demodex canis là ký sinh trùng phổ biến, có thể gặp ở tất cả các loại chó nhưng chỉ gây lở loét cho một số con Khi sức khỏe giảm, chó dễ bị nhiễm virus ho hoặc khi da bị xây sát, mò này cũng có thể tìm thấy trên da người.

Nguyễn Phước Trung (2002) và Bùi Thị Tho (2003) đã chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc Amitraz 0,025% để bôi lên da ghẻ hoặc tiêm Ivermectin với liều 0,2 mg/kg, thực hiện từ 2 đến 4 lần cách nhau 14 ngày là hiệu quả Ngoài ra, việc bôi DEP (Diethyl-phathalate) lên vùng da bị ghẻ của chó cũng mang lại hiệu quả điều trị cao.

Theo Nguyễn Vũ Thị Hồng Loan (2003) [9], tỷ lệ nhiễm Demodex

Tỷ lệ Sarcoptes ở chó là 35,25%, với 11,49% dấu hiệu nhiễm bệnh Những triệu chứng thường thấy bao gồm các đám loang lổ nhỏ không có lông quanh mắt hoặc trên toàn bộ cơ thể Tổn thương có thể xuất hiện ở các vùng cụ thể như mặt, chân trước hoặc cả hai mí mắt Ở dạng toàn thân, da chó bị đỏ, kèm theo nhiều dịch viêm rỉ máu và huyết thanh.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], Đỗ Dương Thái và cs (1975)

[13], nấm thường xuất hiện ở cổ, u vai, bề mặt của lưng và chân gồm những mãng tròn, đường kính 2 - 3 cm

Chó mắc bệnh ghẻ ngầm do ghẻ đào hang, tiết ra độc tố và nước bọt, gây ngứa ngáy cho vật nuôi, đặc biệt khi trời nóng và chúng vận động nhiều Khi bị ghẻ, chó thường gãi, cắn vào chỗ ngứa hoặc cọ xát vào nền chuồng và nền nhà.

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012) [15], căn bệnh do cái ghẻ có tên lu an va n

41 là Demodex canis gây ra, ghẻ ký sinh ở bao lông (màng bọc xung quanh chân lông) hoặc trong tuyến mỡ dưới da của chó

Theo nghiên cứu của Bùi Khánh Linh và cộng sự (2014), bệnh do Demodex canis thường ký sinh ở nang lông, gây viêm da và xảy ra quanh năm ở mọi giống chó, với tỷ lệ mắc bệnh tăng theo lứa tuổi Đáng chú ý, tỷ lệ nhiễm bệnh ở chó ngoại lên tới 82,3%, trong khi chó nội chỉ chiếm 17,6% Trong tổng số 136 ca bệnh được ghi nhận, có một tỷ lệ lớn mắc phải bệnh này.

Trong nghiên cứu về bệnh Demodex canis, tỷ lệ mắc bệnh ở chó có sự phân bố khác nhau theo độ tuổi Cụ thể, 36,76% ca bệnh thuộc nhóm chó trên 36 tháng tuổi, trong khi nhóm từ 12 đến 36 tháng tuổi chiếm 26,47% với 36 ca Đối với chó từ 6 đến 12 tháng tuổi, tỷ lệ mắc là 19,85%, tiếp theo là chó từ 2 đến 6 tháng tuổi với tỷ lệ 11,03% Cuối cùng, chó dưới 2 tháng tuổi có tỷ lệ mắc thấp nhất, chỉ đạt 5,88% Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ mắc bệnh Demodex canis theo từng độ tuổi của chó.

2.4.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Quinn P.J và cộng sự (1994) cho thấy bệnh nấm da thường xuất hiện ở chó từ 7 tuần đến 6 tháng tuổi, trong khi chó trưởng thành rất hiếm khi mắc bệnh này Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận tình trạng nấm trên các giống chó ngoại.

Halit Umar M (2005) cho biết rằng tại các vị trí có sự ký sinh của Demodex, người bệnh có thể thấy xuất hiện các ban đỏ và vẩy Ngoài ra, có thể có dịch viêm và huyết tương Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến sự xuất hiện của mủ, máu và mùi hôi khó chịu.

Sakulploy R and Sangvaranond A (2010) [32] cho biết: có 3 loài

Demodex là loại ký sinh trùng có thể gây ra bệnh Demodicosis ở chó, với D canis gây viêm nang lông và mụn nhọt, D injai gây ra tình trạng da nhờn, và D cornei có thể gây ngứa trên da chó.

Chó nhiễm Demodex dạng cục bộ thường gặp ở chó nhỏ, đặc biệt là từ 3 đến 6 tháng tuổi Trong khi đó, dạng toàn thân có thể xuất hiện ở cả chó nhỏ và chó lớn.

Theo nghiên cứu của Chen Y-Z và cộng sự (2012), tổng cộng 3977 con chó tại một số bệnh viện động vật ở thành phố Quảng Châu đã được khảo sát về sự lây nhiễm Demodex trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009.

Kết quả cho thấy 977 (24,57%) chó dương tính với bệnh da liễu và 130 (13,31%) của những con chó Dermopathic dương tính với nhiễm Demodex

Tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó tại khu vực lân cận thành phố Quảng Châu, Trung Quốc, đạt 13,31% trong tổng số các trường hợp bệnh da liễu Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm theo mùa cao nhất vào tháng ba (4,15%) và thấp nhất vào tháng mười hai (1,39%) Đặc biệt, chó đực có tỷ lệ nhiễm cao hơn (3,67%) so với chó cái (2,74%), và nhóm chó từ 1 đến 5 tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất so với các độ tuổi khác.

Ron Hines (2013) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm, cách ly và điều trị triệt để các bệnh cho chó Để đảm bảo sức khỏe cho chó, cần thực hiện vệ sinh chăm sóc định kỳ, bao gồm tắm rửa và chải lông hàng tuần Ngoài ra, việc giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh cũng rất cần thiết Đối với chó bị ghẻ, cần tắm rửa sạch sẽ và cắt lông ở vùng bị ghẻ trước khi tiến hành điều trị bằng thuốc.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Ngày đăng: 05/10/2023, 22:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Chó Vàng - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.2 Chó Vàng (Trang 17)
Hình 2.1: Chó Phú Quốc - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.1 Chó Phú Quốc (Trang 17)
Hình 2.3: Chó Bắc Hà - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.3 Chó Bắc Hà (Trang 18)
Hình 2.5: Chó Phốc hươu - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.5 Chó Phốc hươu (Trang 19)
Hình 2.4: Chó Poodle - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.4 Chó Poodle (Trang 19)
Hình 2.6: Chó Phốc sóc (Pomeranian) - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.6 Chó Phốc sóc (Pomeranian) (Trang 20)
Hình 2.7: Chó Becgie - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.7 Chó Becgie (Trang 21)
Hình 2.9: Chó Golden Retriever - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.9 Chó Golden Retriever (Trang 22)
Hình 2.10: Chó Alaska - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.10 Chó Alaska (Trang 23)
Hình 2.11: Chó Husky - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Hình 2.11 Chó Husky (Trang 24)
Bảng 4.1. Thống kê số chó được đưa đến khám chữa bệnh tại phòng - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Bảng 4.1. Thống kê số chó được đưa đến khám chữa bệnh tại phòng (Trang 55)
Bảng 4.2. Kết quả theo dõi số chó được đưa đến tiêm phòng vắc-xin tại - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Bảng 4.2. Kết quả theo dõi số chó được đưa đến tiêm phòng vắc-xin tại (Trang 56)
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da trên chó tại phòng mạch thú y - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da trên chó tại phòng mạch thú y (Trang 60)
Bảng 4.6. Kết quả điều trị một số bệnh ngoài da cho chó - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Bảng 4.6. Kết quả điều trị một số bệnh ngoài da cho chó (Trang 62)
Bảng 4.7. Kết quả thực hiện một số công việc khác tại phòng mạch thú y - (Luận văn) áp dụng phương pháp chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an
Bảng 4.7. Kết quả thực hiện một số công việc khác tại phòng mạch thú y (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w