Tính cấp thiết của đề tài Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, có hệ thống vấn
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC
Xung đột x∙ hội và đồng thuận x∙ hội trong quá trình phát triển x∙ hội và quản lý phát triển x∙ hội: cơ sở lý luận và thực tiễn
Mã số: KX.02.09/06-10
BáO CáO TổNG HợP kết quả nghiên cứu
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Vừ Khỏnh Vinh
8070
HÀ NỘI, 2009
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, có hệ thống vấn đề về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội có ý nghĩa quan trọng, rất cần thiết đối với sự phát triển xã hội và quản lý quá trình phát triển đó Bởi
lẽ, việc giải quyết các xung đột xã hội không ngừng nảy sinh trong đời sống xã hội, tạo ra sự đồng thuận xã hội chính là động lực thúc đẩy phát triển xã hội Việc chậm giải quyết, giải quyết không đúng các xung đột xã hội sẽ cản trở thậm chí triệt tiêu sự phát triển của xã hội trong những giai đoạn nhất định Thực tiễn trên thế giới ngày nay cho thấy, việc giải quyết không tốt các mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia, các dân tộc, các tôn giáo đang là những trở ngại lớn cho hòa bình, ổn định và phát triển chung toàn cầu cũng như của từng khu vực Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra những khủng hoảng về kinh tế, đói nghèo, bệnh tật trên thế giới hiện nay là những xung đột trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội trên thế giới
Ở nước ta hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đem lại cho chúng ta nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục Tuy nhiên, trên con đường đổi mới, chúng ta còn phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách lớn, chẳng hạn: nước ta chưa thoát hẳn ra khỏi ngưỡng cửa của
sự nghèo nàn, tăng trưởng kinh tế chưa ổn định và bền vững, tỷ lệ thất nghiệp còn cao; chính sách đổi mới và mở cửa bên cạnh những tích cực cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn
xã hội và tham nhũng gia tăng; lối sống ích kỷ cùng với những thói hư, tật xấu đang có nguy cơ lây lan mạnh Trong khi đó, nhiều chính sách phát triển kinh
tế xã hội còn có những bất cập, việc triển khai thực hiện còn nhiều vướng mắc,
hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ, cơ chế quản lý còn nhiều
Trang 3hạn chế cần khắc phục, sửa đổi, Những khó khăn, thách thức này hàng ngày, hàng giờ làm nảy sinh những xung đột, mâu thuẫn lớn, nhỏ mà nếu không được phát hiện, xử lý kịp thời và đúng đắn sẽ có khả năng gây ra những hậu quả nghiêm trọng
Thực tế cho thấy, từ những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích trong tất cả lĩnh vực, nếu không được giải quyết kịp thời, đúng đắn sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường Có thể lấy những sự kiện tiêu cực ở Thái Bình, Hà Tây, Tây Nguyên, và gần đây nhất là vụ Thích Quảng Độ, Thích Khổng Tăng làm ví
dụ Từ những xung đột, mâu thuẫn về đất đai ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình,
do chậm và không được giải quyết thỏa đáng đã dẫn đến sự kiện làm mất trật
tự xã hội ở mức độ rộng Cũng vì không nắm bắt kịp thời và chậm giải quyết những mâu thuẫn nhỏ trong việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội và vấn
đề dân tộc ở Tây Nguyên, để những thế lực xấu lợi dụng kích động một số đồng bào dân tộc gây rối, tạo không khí căng thẳng ở địa phương Đến nay, dù rằng chúng ta đã có nhiều thành tựu to lớn trong chính sách phát triển xã hội, nhưng những vụ khiếu kiện đông người kéo dài xảy ra ở nhiều nơi và ngay cả tại Thủ đô Hà Nội, trong đó có những trường hợp đã bị những kẻ cơ hội chính trị như Thích Quảng Độ và Thích Khổng Tăng lợi dụng, chứng tỏ vẫn còn những mâu thuẫn, xung đột xã hội chưa được giải quyết kịp thời hoặc giải quyết chưa thỏa đáng
Bên cạnh những khó khăn và thách thức, Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi và cơ hội, trong đó, phải đặc biệt nhấn mạnh truyền thống vốn có của nhân dân Việt Nam là đoàn kết rộng rãi, tương trợ và đùm bọc lẫn nhau Truyền thống này đã được phát huy trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để phát huy truyền thống đó, cần hiểu
rõ hơn về bản chất, hình thức và các điều kiện đảm bảo đồng thuận xã hội và từ
đó, phát huy được truyền thống đoàn kết dân tộc Thực tiễn đổi mới đất nước thời gian qua cho thấy, trước những khó khăn lớn, nhân dân ta luôn đoàn kết
Trang 4một lòng, gạt bỏ những lợi ích riêng tư để xây dựng và bảo vệ đất nước Nhưng
có những lúc tưởng chừng mọi việc đều thuận lợi, sự đồng thuận lại đạt được rất khó khăn Vậy bản chất vấn đề là ở đâu ? Cần có những điều kiện gì để tạo
sự đồng thuận xã hội trong những tình huống này hay tình huống khác ? Đây cũng là những vấn đề cấp thiết mà thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xây dựng xã hội dân sự đang đặt ra
Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phòng ngừa, khắc phục, hạn chế, phát hiện và giải quyết các xung đột xã hội cũng như việc tạo điều kiện và phát huy đồng thuận xã hội có thể có nhiều, nhưng trong đó cần nhấn mạnh hai yếu tố: một là, chưa có một hệ thống lý luận sâu sắc toàn diện về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội làm cơ sở để xây dựng các giải pháp phòng ngừa và giải quyết các xung đột xã hội, phát huy đồng thuận xã hội; hai là, chưa xây dựng được một hệ thống thông tin đáng tin cậy và nhanh chóng về các biểu hiện của xung đột xã hội để có các giải pháp kịp thời, nhanh chóng
Từ những trình bày trên, có thể kết luận rằng thực tiễn phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta cũng như thế giới đang đặt ra yêu cầu cấp bách về nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện, có hệ thống vấn đề xung đột
xã hội và đồng thuận xã hội trên cơ sở tổng kết một cách toàn diện, đầy đủ thực tiễn về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội và các giải pháp giải quyết xung đột xã hội, tạo ra và phát huy đồng thuận xã hội nhằm thúc đẩy sự phát
triển xã hội Vì vậy, đề tài: “Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong
quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội - cơ sở lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa cấp bách về lý luận cũng như thực tiễn, nhất là trong giai
đoạn hiện nay, khi chúng ta đang thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xã hội dân sự vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ở Việt Nam
Trang 52 Tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trong nước về đề tài
Ở nước ta, có thể nói các công trình nghiên cứu về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội còn rất ít ỏi, thậm chí có thể đếm trên đầu ngón tay những công trình chuyên sâu về vấn đề này Nhưng nói như vậy không có nghĩa là vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội không được đề cập, nghiên cứu Trong thực tế, xung đột xã hội và đồng thuận xã hội được đề cập nhiều dưới các hình thức khác nhau, như mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong xã hội, trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội ở những khía cạnh, bình diện nhất định Hơn nữa, phần lớn các công trình này nghiên cứu về xung đột xã hội và đồng thuận
xã hội trong chừng mực và ở phạm vi có liên quan đến những vấn đề nghiên cứu khác Như vậy, có thể nói về lý luận thì vấn đề xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển và quản lý phát triển xã hội mới chỉ được nghiên cứu riêng rẽ từng mặt, từng góc độ, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề này Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp Nhà nước và cấp Bộ nghiên cứu về vấn đề này
Tình hình nghiên cứu ngoài nước về đề tài
Nhìn chung, không có nhiều chuyên khảo tầm cỡ nghiên cứu riêng về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội Vấn đề này thường được các tác giả nước ngoài nghiên cứu lồng ghép với những vấn đề khác hoặc trong mối quan
hệ với các lĩnh vực khác Chẳng hạn, xung đột xã hội và đồng thuận xã hội thường được xem xét trong mối quan hệ giữa cá nhân, Nhà nước, xã hội, hoặc trong mối quan hệ của các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội Trong thời gian gần đây, vào khoảng những năm 2000, lý luận về xung đột xã hội mới bắt đầu được đưa vào chương trình đào tạo đại học nhưng không phải là môn học chính ngoại trừ trong ngành xã hội học tại một số nước
Trang 6Những vấn đề được các tác giả đề cập nhiều nhất trong khi nghiên cứu về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là: khái niệm, bản chất, nội dung, phân loại xung đột xã hội và đồng thuận xã hội, các hình thức biểu hiện của xung đột xã hội, mối quan hệ giữa xung đột xã hội và đồng thuận xã hội; vai trò của đồng thuận xã hội và xung đột xã hội trong quá trình phát triển của xã hội, các giải pháp giải quyết xung đột xã hội, vai trò của pháp luật trong việc giải quyết xung đột xã hội Tuy nhiên, có thể thấy là cho đến nay các kết quả nghiên cứu vẫn còn ở mức khiêm tốn Nhiều vấn đề, trong đó kể cả những vấn đề có tính chất cơ bản của đồng thuận xã hội và xung đột xã hội cũng còn rất nhiều quan điểm khác nhau, chưa được làm sáng tỏ, chẳng hạn nguyên nhân và điều kiện của xung đột xã hội, điều kiện tiên quyết của đồng thuận xã hội, quy luật vận động của xung đột xã hội và đồng thuận xã hội
Điểm nổi bật nhất trong lý luận về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội ở ngoài nước theo chúng tôi là sự thừa nhận chung về vai trò và sự tồn tại khách quan của xung đột xã hội và đồng thuận xã hội, những thành công trong nghiên cứu về hình thức biểu hiện và một số giải pháp khắc phục xung đột xã hội, tăng cường và củng cố đồng thuận xã hội Trong xã hội học cũng như trong khoa học pháp luật của một số nước, xung đột xã hội và đồng thuận xã hội được xem như là một nội dung quan trọng Hầu hết các giáo trình giảng dạy đại học luật và xã hội học đề đưa vấn đề về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội thành một nội dung giảng dạy Đây là những thành tựu và kinh nghiệm cần được nghiên cứu để tham khảo, học tập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài
- Phân tích những vấn đề lý luận về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
- Phân tích thực trạng, xu hướng và những vấn đề đặt ra về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam
Trang 7- Đề xuất quan điểm và giải pháp giải quyết xung đột xã hội và phát huy đồng thuận xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam
Các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luận về xung đột xã hội và đồng thuận xã hội phục vụ phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Đánh giá thực trạng xung đột xã hội và thực trạng giải quyết các xung đột xã hội, dự báo về sự vận động của các xung đột xã hội trong tương lai gần
- Đánh giá thực trạng đồng thuận xã hội, thực trạng các giải pháp xây dựng, củng cố và phát triển đồng thuận xã hội và hiệu quả của các giải pháp
đó, dự báo về tình hình đồng thuận xã hội ở nước ta trong thời gian tới
- Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp phòng ngừa, khắc phục, giải quyết xung đột xã hội; xây dựng, củng cố, tăng cường và phát huy đồng thuận
4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp luận chung để nghiên cứu tất cả các nội dung của đề tài là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xã hội và bản chất xã hội, về cơ cấu, kết cấu xã hội, về mâu thuẫn xã hội, xung đột xã hội, về đồng thuận xã hội, về lợi ích của cá nhân, của tầng lớp xã hội, của Nhà nước và của xã hội
Để nghiên cứu các nội dung về xã hội xã hội và đồng thuận xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội chúng tôi vận dụng quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc hợp với phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp quy nạp - diễn dịch và phương pháp lịch sử cụ thể
Trang 8Trên cơ sở quan điểm tiếp cận được nêu ở trên, phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài này là:
- Phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh lịch sử;
- Phương pháp quy nạp - diễn dịch;
- Các phương pháp xã hội học cụ thể: điều tra, khảo sát, phỏng vấn chuyên gia, tọa đàm
Trang 9Phần I NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI
Chương I LỊCH SỬ VÀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI TRONG
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1 Lịch sử về xung đột xã hội
1.1 Các quan niệm thời Cổ đại về xung đột xã hội
Trong thời kỳ Cổ đại, con người đã quan tâm nghiên cứu xung đột xã hội
và vai trò của nó đối với đời sống xã hội
Các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại là những người đầu tiên làm sáng tỏ một cách tương đối bản chất của các cuộc xung đột xã hội Heraclít đã lập luận về các cuộc chiến tranh và xung đột xã hội dựa trên hệ thống các quan điểm chung về thế giới quan Ông cho rằng chiến tranh và xung đột xã hội là quy luật chung duy nhất thống trị trên hành tinh và lập luận về vai trò tích cực của các cuộc xung đột đối với quá trình phát triển xã hội Xung đột xã hội, theo Heraclít, hiện diện với tính cách là thuộc tính quan trọng và tất yếu của đời sống xã hội Một mặt chia sẻ với các quan điểm của Heraclít, Epicơ cho rằng những hậu quả tiêu cực của các cuộc xung đột xã hội buộc mọi người phải sống trong trạng thái hòa bình và ổn định Những ước mơ về một trạng thái xã hội không có xung đột xã hội bước đầu được lập luận dựa vào những biện luận như vậy
Trong thời kỳ đầu phát triển của mình, triết học cơ đốc giáo cố gắng chứng minh tính ưu việt của hòa bình, của đồng thuận và tình anh em giữa mọi người với nhau Một số nhà triết học cơ đốc giáo thế kỷ II và thế kỷ III đã lập luận chống lại các cuộc xung đột vũ trang, nhưng vào lúc đó, lập luận của các nhà triết học đó tác động không lớn đến quá trình phát triển tất yếu của lịch sử Đến đầu thế kỷ IX với học thuyết “Khristos”, nguyên tắc về tính xung đột đã bắt đầu bị nghi ngời
Trang 10Trong thời kỳ Phục sinh, người ta đã nêu ra những đánh giá khác nhau và phức tạp về các cuộc xung đột xã hội Trong thời kỳ này, những người theo chủ nghĩa nhân đạo thường xuyên lên án các cuộc xung đột xã hội và các cuộc xung đột vũ trang Erazm Potterđamskij cho rằng xung đột xã hội có lôgic riêng là khi tất cả các tầng lớp dân cư của đất nước bị cuốn hút vào quỹ đạo của xung đột xã hội thì xung đột xã hội sẽ phản ứng theo phản ứng dây chuyền tương tư và phân tích tính phức tạp của việc rung hòa các quan điểm của các bên đối lập trong cuộc xung đột xã hội, thậm chí kể cả trường hợp khi cả hai bên cùng dựa trên quan điểm tư tưởng thống nhất Nhà triết học người Anh Ph.Becơn lập luận về bản chất của các cuộc xung đột xã hội, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội trong nội bộ đất nước, xem xét một cách cụ thể các điều kiện vật chất, chính trị và tâm lý của các cuộc xung đột xã hội và những phương thức khắc phục các cuộc xung đột đó Ông đặc biệt chú ý đến vai trò quyết định của các nguyên nhân vật chất đối với sự hình thành các vụ mất trật tự xã hội, các cuộc xung đột xã hội, một trong những nguyên nhân đó là tình trạng nghèo đói về vật chất của nhân dân Ph.Becơn nhấn mạnh rằng, “trong quốc gia có bao nhiêu người bị bần cùng hóa thì có bấy nhiêu người sẵn sàng trở thành kẻ nổi loạn”1 Khi đưa ra các giải pháp ngăn ngừa các cuộc xung đột xã hội, ông cho rằng “mỗi một căn bệnh” đều có thứ thuốc của mình Các giải pháp đó, theo Becơn là: xóa bỏ các nguyên nhân mang tính vật chất của các cuộc xung đột xã hội, nghệ thuật sử dụng các mánh khóe chính trị, có thủ lĩnh thích hợp có khả năng hợp nhất mọi người lại với nhau và khả năng đàn áp các vụ lộn xộn và nổi loạn của dân chúng
1.2 Các quan niệm thời Cận đại về xung đột xã hội
Trong thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà khai sáng nước Pháp công khai phê phán các cuộc xung đột vũ trang, sự xâm lược và dùng bạo lực Họ coi các cuộc xung đột vũ trang là những tàn tích của thời kỳ man rợ và cho rằng chỉ có việc xóa bỏ những nền tảng phong kiến mới tiến đến được nền
1 Becơn Ph Tuyển tập: 02 tập, M.1979, T.2, tr.382 (tiếng Nga).
Trang 11hòa bình vĩnh cửu Chính vì vậy trong các công trình nghiên cứu của thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà khai sáng nước Pháp đã chú ý nhiều đến việc tìm kiếm các hình thức tổ chức hợp lý đời sống xã hội, loại trừ các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội vốn bám sâu vào các Nhà nước lỗi thời lúc đó
Đến thế kỷ thứ XVIII các nhà tư tưởng đã cố gắn nhận thức lôgic thống nhất của sự phát triển thế giới, xem xét đời sống xã hội trong phạm vi lịch sử toàn thế giới Tất cả các khía cạnh của những vấn đề đó được thể hiện rõ nét nhất trong triết lý của Zh.Zh.Russo (1712-1778) về xã hội Quá trình lịch sử thế giới theo cách hiểu của Russo thì dường như được chia thành ba thời điểm cấu thành: trước hết, đó là sự tồn tại của “trạng thái tự nhiên” khi con người có được sự tự do và bình đẳng, tiếp đến là sự phát triển của nền văn minh làm cho con người bị mất đi trạng thái bình đẳng, tự do và hạnh phúc và cuối cùng, bằng việc ký kết “Khế ước xã hội”, con người lại một lần nữa tìm thấy sự hòa hợp vốn đã mất đi trong các quan hệ xã hội, tìm thấy “thế giới vĩnh hằng”, tìm thấy sự đồng thuận và sự thống nhất Thật ra, những vấn đề trên đây làm bùng
nổ các cuộc tranh luận sôi nổi của thời kỳ Cận đại
I.Kant cho rằng tình hình hòa bình giữa những người hàng xóm láng giềng không phải là trạng thái tự nhiên , ngược lại, tình hình chiến tranh là trạng thái tự nhiên, do vậy theo Kant hòa bình và đồng thuận cần phải được thiết lập Trong thời kỳ lịch sử Cận đại, người ta cũng đã nêu ra những ý kiến rất khác nhau về các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và triển vọng khắc phục chúng Tuy nhiên, trong tất cả những ý kiến vốn vất đa dạng và khác nhau đó, người ta cũng tìm thấy khá nhiều điểm giống nhau chẳng hạn như đều thừa nhận vai trò quyết định của sự đồng thuận giữa mọi người với nhau đối với sự phát triển của xã hội; đều đánh giá tính chất tiêu cực của các cuộc nổi loạn, mất trật tự xã hội và chiến tranh đã xảy ra ở thời kỳ Trung đại, cũng như đều hy vọng tới một viễn cảnh “hòa bình vĩnh cửu” trong tương lai Vào đầu thế kỷ XIX Heghen đã đánh giá các cuộc chiến tranh và các cuộc xung đột xã
Trang 12hội theo một cách tiếp cận khác Trước hết, ông bàn luận nhiều hơn về vai trò tích cực của các cuộc chiến tranh đối với sự phát triển xã hội
Bản thân sự chuyển biến của quá trình lịch sử đặt ra nhu cầu phải nhận thức sâu sắc hơn các quá trình phát triển xã hội vốn rất phức tạp, do đó phải nhận thức sâu sắc hơn vai trò của các cuộc xung đột xã hội đối với đời sống xã hội Trong thế kỷ XIX, các lý luận, học thuyết về xã hội bắt đầu nhìn nhận rằng, đấu tranh, các cuộc xung đột xã hội và các cuộc đụng độ không đơn giản
là những hiện tượng có thể mà là những hiện tượng tất yếu của thực tiễn xã hội Hơn thế nữa, xuất hiện những lý luận, học thuyết muốn lập luận cho sự hiện diện dường như vĩnh cửu của các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và bằng cách đó lập luận cho tính không thể tránh khỏi mang tính nguyên tắc của các cuộc xung đột trong đời sống xã hội
Trong công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm về quy luật dân số”, nhà kinh
tế học người An, linh mục Tomax Mal’tutx (1766-1834) cho rằng sự đấu tranh của mọi người vì các phương tiện tồn tại là hiện tượng tất yếu, còn các cuộc xung đột xã hội có thể xảy ra là nhân tố vĩnh cửu của sự phát triển xã hội Chủ nghĩa Đarwin về xã hội cố gắng lý giải sự tiến triển của đời sống xã hội bằng những quy luật sinh học của sự lựa chọn tự nhiên và đấu tranh sinh tồn Gerbert Spenser (1820-1903) cho rằng quy luật xung đột là quy luật chung
và là quy luật cơ bản, giới hạn sự phát triển xã hội mang tính ổn định trước, trong quá trình phát triển xã hội, quy luật này chỉ xuất hiện trên thực tế khi có
sự mất cân bằng đáng kể giữa các dân tộc và chủng tộc
Lútvích Gumplovích (1838-1909) có cách tiếp cận mới trong phân tích lý luận về xung đột xã hội Ông không coi các đặc điểm sinh học mà coi các đặc điểm của nền văn hóa là bản chất của sự khác biệt về chủng tộc và khẳng định rằng lịch sử toàn thế giới là lịch sử đấu tranh liên tục giữa các chủng tộc vì sự tồn tại của mình Cho nên, ông cho rằng không chỉ đi tìm nguồn gốc của các cuộc xung đột xã hội trong bản chất của con người mà còn phải đi tìm cả trong
Trang 13những hiện tượng đặc biệt của các nền văn hóa mà xét về kiểu chúng rất phong phú và đa dạng Cũng theo Lútvích các cuộc xung đột xã hội không phải là nhân tố duy nhất có vai trò quan trọng trong quá trình xã hội Quá trình liên kết thống nhất hóa xã hội mà trên cơ sở đó Nhà nước và các cộng đồng xã hội rộng lớn hơn được thiết lập cũng giữ vai trò chẳng kém phần quan trọng Tuy nhiên, ngay cả trong quá trình hình thành Nhà nước và các cộng đồng xã hội đó xung đột xã hội vẫn gữ vai trò quyết định vì rằng sự liên kết của các nhóm xã hội vốn là kết quả của cuộc xung đột xã hội Với tính cách là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội với nhau sự thống nhất về một lề lối mới là điều có thể xảy ra Như vậy, các quan điểm của Lútvích về xung đột xã hội chủ yếu tập trung vào ba luận điểm chính sau đây: 1, các cuộc xung đột xã hội có tính chất khác nhau nhưng tất cả chúng đều là nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ của lịch sử; 2,
sự phân hóa xã hội thành những người thống trị và những người bị trị là hiện tượng vĩnh cửu; xung đột xã hội cũng xuất phát từ sự phân hóa đó; 3, các cuộc xung đột xã hội thúc đẩy sự thống nhất xã hội, thúc đẩy sự hình thành những mối liên kết rộng rãi hơn
Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, xã hội học bắt đầu có ảnh hưởng đáng kể đến việc nghiên cứu toàn bộ các vấn đề xung đột xã hội Các trường phái khác nhau trong xã hội học đều nghiên cứu các vấn đề của xung đột xã hội và đều nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của các cuộc xung đột trong đời sống
xã hội và nhu cầu cần thiết phải phân tích một cách sâu sắc khía cạnh lý luận của chúng
Nhà xã hội học người Đức Heorg-Zimmel (1858-1918) đề nghị không nhận thức bản chất của quá trình lịch sử mà nên phân tích “các hình thức thuần túy” của giao tiếp xã hội và của sự tác động qua lại lẫn nhau Trong số những hình thức tác động qua lại lẫn nhau tương đối bền vững chẳng hạn như uy tín, hợp đồng, phụ thuộc, hợp tác v.v thì xung đột xã hội giữ một vị trí đặc biệt Theo H.Zimmel xung đột xã hội là hình thức bình thường và đặc biệt quan trọng của đời sống xã hội Xung đột xã hội thúc đẩy sự liên kết xã hội, xác
Trang 14định tính chất của các cấu thành xã hội mới, củng cố các nguyên tắc và các quy tắc tổ chức chung
Các nhà xã hội học nhìn nhận quá trình xã hội trên bình diện biến dạng mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau: tranh đua, xung đột, thích nghi, đồng hóa Các cuộc xung đột giữ vị trí trung tâm trong số các dạng trên đây của sự tác động qua lại lẫn nhau trong xã hội, giữ vai trò chuyển tiếp từ dạng tranh đua đến dạng thích nghi và tiếp đó là dạng đồng hóa và như vậy, là khởi nguồn quan trọng của những thay đổi xã hội Mục đích thực tiễn của xã hội học là góp phần biến các cuộc xung đột xã hội thành sự hợp tác, làm hài hòa các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội khác nhau
Trong nửa đầu thế kỷ XX xuất hiện một khuynh hướng khoa học không chỉ quan tâm nghiên cứu các cuộc xung đột xã hội và những thay đổi trong đời sống
xã hội mà còn quan tâm nghiên cứu cả đồng thuận xã hội và ổn định xã hội Theo V Papetô các cuộc xung đột xã hội vốn rất đa dạng và không ít cuộc kéo theo các quá trình tiến bộ xã hội, nhưng vai trò và ý nghĩa của chúng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển cụ thể của giới thượng lưu nắm quyền lực Các cuộc xung đột xã hội có thể làm ổn định hệ thống chính trị, duy trì trạng thái cân bằng trong sự vận động của xã hội, nhưng cũng có thể dẫn đến những biến đổi cơ bản trong tính chất cách mạng và bằng cách đó đảm bảo cho quá trình thay thế thế giới thượng lưu được “xoay vần” một cách liên tục
Luật gia người Italia Gaetano Moska (1858-1941) coi sự phân chia xã hội thành giai cấp thống trị nắm quyền lực chính trị, nắm giữ tất cả các chức năng của Nhà nước và sử dụng những đặc quyền đặc lợi có được từ quyền lực chính trị và những chức năng đó và giai cấp thống trị vốn đông đảo và không được tổ chức tốt là hiện tượng vĩnh cửu Theo Moska, cưỡng chế và các cuộc xung đột
xã hội vẫn giữ một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển biến và ổn định
xã hội Sự tương hợp giữa bản chất của giai cấp này hay của giai cấp khác với những nhu cầu cụ thể của thời đại là lối thoát cho cuộc đấu tranh đó
Trang 15Như vậy, các quan niệm về sự phát triển xã hội trong buổi giao thời giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX nhìn từ góc độ pháp luật và chính trị - xã hội cho thấy rõ nhu cầu nghiên cứu lý luận của toàn bộ hệ thống các vấn đề về xung đột xã hội Nhu cầu đó chủ yếu được phân tích dựa trên nền tảng phương hướng có tính phương pháp luận của chủ nghĩa Đarwin về xã hội, của xã hội học phương Tây, của chính trị học và của luật học Những ưu điểm cũng như những nhược điểm tạo thành thực chất của hiện tượng rất đỗi phức tạp như xung đột xã hội ở mức độ đáng kể được xác định bởi những đặc điểm của phương pháp luận của những phương hướng nghiên cứu đó Và chúng ta không nghi ngờ về sự ảnh hưởng nhất định của các sự kiện chính trị và xã hội lúc bấy giờ đối với các kết luận mang tính lý luận về những vấn đề chung của
sự phát triển xã hội cũng như về xung đột xã hội Khi bàn về những tư tưởng
cơ bản vốn đã được thể hiện trong những học thuyết về sự phát triển xã hội
của thời kỳ này, hãy lựa chọn trong số đó những tư tưởng có tính phổ quát và tính thời sự đối với các quan điểm hiện đại về xung đột xã hội
Thứ nhất, đó là tư tưởng cho rằng, xung đột xã hội là hiện tượng xã hội bình thường Các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội và những yếu tố khác nữa là
những yếu tố vốn có trong bản chất con người, nhất định làm nảy sinh rất nhiều tình huống xung đột vốn rất đa dạng và phong phú
Thứ hai, tư tưởng cho rằng các cuộc xung đột xã hội giữ những vai trò tích cực đối với quá trình phát triển xã hội Chúng đảm bảo đời sống xã hội
vận động và phát triển theo xu hướng tiến bộ chung, góp phần duy trì sự thống nhất giữa các bộ phận cấu thành xã hội, xác lập các quy phạn và các giá trị xã hội có ý nghĩa chung
Thứ ba, tư tưởng khẳng định có mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
trạng thái xung đột của sự phát triển xã hội với kiểu cấu trúc xã hội sinh ra trạng thái xung đột đó, tức tư tưởng xác định trạng thái xung đột về mặt cấu trúc
Trang 16Thứ tư, đó là luận điểm cho rằng, sự mâu thuẫn giữa số ít những người
thống trị với số đông những người bị thống trị là hiện tượng tất nhiên và vĩnh cửu làm phát sinh các vụ va chạm, xích mích và xung đột xã hội
Thứ năm, tư tưởng thừa nhận mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
những thay đổi của đời sống xã hội trên các mặt kinh tế, chính trị, tinh thần với những tình huống xung đột vốn là kết quả của những thay đổi đó, tức tư tưởng thừa nhận có sự xung đột về chức năng (hoạt động)
Thứ sáu, tư tưởng khẳng định trong trạng thái cân bằng trong sự vận động
của quá trình phát triển xã hội, khi các lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau vốn không trùng hợp nhau, có được sự cân bằng là nhờ các cuộc xung đột nảy sinh và đã được giải quyết tạo ra sự cân bằng nhất định về mặt xã hội
1.3 Các quan niệm hiện đại về xung đột xã hội
Từ những năm ba mươi của thế kỷ XX trở đi, việc nghiên cứu lý luận những vấn đề về xung đột xã hội càng ít được quan tâm hơn Xu hướng này trước tiên xuất hiện ở Mỹ và sau đó là ở Châu Âu Việc quan tâm nghiên cứu những vấn đề lý luận về xung đột xã hội do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nhu cầu của người đặt hàng không chú trọng vào nghiên cứu lĩnh vực đó, tính chính trị của vấn đề Về cơ bản, xu hướng giảm nghiên cứu lý luận
về xung đột xã hội được duy trì cho đến cuối những năm ba mươi của thế kỷ
XX Tất nhiên là trong suốt thời gian đó các nhà nghiên cứu tuy ở mức độ hạn chế nhưng vẫn nghiên cứu các cuộc xung đột xã hội Hệ vấn đề xung đột xã hội chủ yếu được phân tích trên bình diện phương pháp giải quyết các tình huống xung đột xã hội
Trong thời kỳ này có sự thay đổi thái độ chung đối với xung đột xã hội tương thích với mô hình hoạt động phổ biến của xã hội lúc bấy giờ Jolkott Parsons (1902-1979), nhà lý luận xã hội học người Mỹ, đã phân tích rất sâu sắc các hiện tượng xung đột xã hội nhưng từ vị trí của quá trình liên kết với mục đích hướng đến sự đồng thuận xã hội Từ những vị trí đó, xung đột xã hội được
Trang 17Parsons lý giải như là một sự dị thường của xã hội, một căn bệnh cần phải chữa trị Parsons nêu ra một loạt “các điều kiện hoạt động” đảm bảo tính ổn định của
xã hội, bảo vệ hệ thống xã hội trong khuôn khổ các quy phạm và định hướng giá trị đã được hình thành, tránh được xung đột xã hội và chấn động xã hội
Trường phái “đối xử nhân từ” cho rằng trạng thái xã hội hợp lý và nhân đạo mà các nước công nghiệp phát triển cần phải hướng đến là trạng thái tự nhiên Những người theo trường phái này khẳng định rằng xung đột xã hội là
“căn bệnh xã hội” nguy hiểm phải được loại bỏ bằng mọi cách để có được “sự cân bằng xã hội” và “trạng thái hợp tác” vốn là dấu hiệu của “một xã hội khỏe mạnh” Họ đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục xung đột xã hội và tăng đồng thuận xã hội là “đồng quản lý”, “nhân đạo hóa lao động”, “quyết định tập thể”, “đạo đức công chức” v.v
Trong những năm năm mươi của thế kỷ XX, do một loạt các nguyên nhân
mà người ta quay trở lại với mô hình lý luận về xung đột xã hội Trong thời gian này “cuộc chiến tranh lạnh” đã bắt đầu trở nên suy yếu và dần dần được xem như là “dấu tích” của lịch sử Cùng với sự ấm dần lên của hoàn cảnh quốc
tế, các cuộc tiếp xúc về mặt khoa học ngày càng được tổ chức nhiều hơn, thái
độ đối với chủ nghĩa Mác cũng ngày càng ít tính định kiến hơn Toàn bộ các vấn đề của xung đột xã hội cũng được chuyển hướng nhận thức về mặt lý luận Cũng trong thời kỳ này, nhất là trong các nước công nghiệp phát triển cũng đã
có những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực sản xuất Cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật thúc đẩy một cách nhanh chóng quá trình tự động hóa sản xuất và cùng với quá trình đó là tăng cường vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế Vai trò và ý nghĩa của các tổ chức công đoàn với tư cách là những tổ chức đại diện chính thức cho lợi ích của các nhóm lớn người lao động cũng được tăng cường Tất cả những điều đó đã góp phần làm thay đổi những quan điểm trước đây về xung đột xã hội
Sự thay đổi định hướng lý luận được thực hiện theo hai xu hướng Ở xu hướng thứ nhất, người ta nhận thức lại có phê phán chủ nghĩa chức năng Về
Trang 18mặt tư tưởng, sự phê phán chủ nghĩa chức năng hướng tới việc chống lại xu hướng ổn định, cân bằng và trạng thái liên kết toàn bộ xã hội, chống lại tính thiếu khả năng của việc mô tả và phân tích các cuộc xung đột xã hội Các công trình nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Robert Merton, đặc biệt là cuốn sách của ông xuất bản vào năm 1949 với tên gọi “Lý thuyết về xã hội và cấu trúc xã hội” cũng góp phần đáng kể vào việc phê phán chủ nghĩa chức năng Trong cuốn sách này, Robert Merton phân tích một cách chi tiết các chức năng
xã hội hiện và ẩn cũng như tính phi chức năng của những hiện tượng trái quy luật xã hội Cũng trong chính thời gian này xuất hiện các quan niệm hiện đại
về xung đột xã hội Trong số những quan niệm đó, các quan niệm của L.Kozer, R.Đarenđorph là nổi tiếng hơn cả
Vào năm 1956, nhà nghiên cứu hiện đại L’vjuis Kozer cho xuất bản cuốn
sách “Các chức năng của xung đột xã hội” Trong cuốn sách này, L’vjuis Kozer khẳng định một cách trực tiếp rằng, không tồn tại các quan hệ xung đột
thì không tồn tại các nhóm xã hội và rằng, các cuộc xung đột xã hội có ý nghĩa tích cực đối với việc hình thành và tổ chức hoạt động của các nhóm xã hội và đối với việc thay đổi chúng “Quan niệm về xung đột chức năng tích cực” được
L Kozer xây dựng theo hướng đối trọng hoặc là không lâu sau đó, bổ sung các
lý luận kinh điển về chức năng cấu trúc, nơi mà các cuộc xung đột xã hội dường như đã được đưa ra ngoài giới hạn phân tích xã hội học Nếu như các quan điểm về chức năng cấu trúc nhìn thấy trong các cuộc xung đột dấu hiệu
“phá vỡ” xã hội, thì Kozer lại lập luận vai trò tích cực của xung đột xã hội đối với việc bảo đảm trật tự xã hội và ổn định hệ thống xã hội nhất định
Tính ổn định của xã hội, theo Kozer, tùy thuộc vào số lượng các mối quan
hệ xung đột tồn tại trong xã hội và tùy thuộc vào kiểu liên hệ giữa chúng với nhau Trong xã hội, càng có nhiều cuộc xung đột xã hội khác nhau đan xen nhau, thì việc phân chia xã hội thành các nhóm càng phức tạp; việc thành lập mặt trận thống nhất các thành viên trong xã hội vốn được chia thành hai phe không có những quy phạm và những giá trị chung càng khó Điều đó có nghĩa
Trang 19là, các cuộc xung đột xã hội càng độc lập với nhau thì càng tốt cho việc thống nhất xã hội
Sự quan tâm đến xung đột xã hội cũng được phục hồi ở Châu Âu Vào năm 1965, nhà nghiên cứu người Đức Ral’pm Đarenđorph, người cộng sự và
là người tuyên truyền mạnh mẽ học thuyết “Xã hội hậu tư bản chủ nghĩa”, “Xã hội hậu công nghiệp” đã công bố tại nước Đức, công trình nghiên cứu với tên gọi “Cơ cấu giai cấp và xung đột giai cấp” Hai năm sau, một công trình nghiên cứu của Đarenđorph có tựa đề “Ngoài sự viễn tưởng” cũng đã được công bố tại nước Mỹ Trong công trình nghiên cứu ngày, Đarenđorph chỉ ra xu hướng phân tích lý luận theo hướng xây dựng mô hình mới về xã hội Quan niệm “Mô hình xung đột xã hội” của ông được xây bằng hình ảnh thế giới
“chống viễn tưởng” - thế giới của quyền lực, của xung đột và của quá trình phát triển Nếu như L Kozer đã xây dựng xong lý thuyết cân bằng xã hội trước khi thừa nhận vai trò tích cực của các cuộc xung đột xã hội đối với việc củng
cố sự thống nhất của xã hội thì R Đarenđorph coi xung đột xã hội là trạng thái vốn có của cơ chế xã hội Theo R Đarenđorph thì “không phải là có sự xung đột mà là không có sự xung đột mới là điều đáng ngạc nhiên và không bình thường” Có lý do để nghi ngờ khi không phát hiện được xung đột trong xã hội hoặc là trong tổ chức R Đarenđorph cho rằng, trong mọi xã hội đều có sự chia
rẽ và xung đột Theo ông ta, “toàn bộ đời sống xã hội chính là sự xung đột vì đời sống xã hội luôn thay đổi Trong xã hội loài người không tồn tại cái gì là không biến đổi vì rằng trong xã hội loài người không có cái gì là cố định Cho nên, người ta nhìn thấy trong sự xung đột hạt nhân sáng tạo của các cộng đồng
xã hội và khả năng tự do cũng như sự cần thiết phải làm chủ và kiểm tra các vấn đề xã hội”
Nhà xã hội học và nhà kinh tế hiện đại người Mỹ Kennet Boulding, tác giả của “Lý luận chung về xung đột” vì mong muốn xây dựng học thuyết mang tính khoa học đầy đủ về xung đột xã hội đã mô tả trong phạm vi của học thuyết này tất cả những hiện tượng của thế giới hữu cơ và vô cơ của đời sống cá nhân
Trang 20và đời sống xã hội Trong học thuyết này, thuật ngữ “sự xung đột” được Kennet Boulding sử dụng một cách rộng rãi khi ông phân tích các hiện tượng vật lý, sinh học và xã hội Viện vào “cuộc chiến tranh bất tận của thần mưa chống lại thần hạn hán và của một số loài này chống lại một số loài khác trong tự nhiên,
K Boulding, cho rằng, thậm chí là ngay trong giới vô sinh cũng có nhiều cuộc xung đột gay gắt Trong tác phẩm “Lý luận chung về sự xung đột và sự bảo vệ” xuất bản vào năm 1963, Boulding, nhất mạnh rằng, “tất cả các cuộc xung đột đều có những yếu tố và kiểu phát triển chung và nhờ việc nghiên cứu những yếu tố chung đó, có thể rút ra những hiện tượng xung đột trong mọi biểu hiện đặc thù của chúng” Luận điểm này của K Boulding chủ yếu mang tính phương pháp luận đối với “lý luận chung về xung đột”
Trong những năm bảy mươi của thế kỷ XX, khi mà những sự kiện khủng hoảng xảy ra trong chín năm trước đó đã làm dấy lên sự nghi ngờ về tính đúng đắn của tư tưởng về trạng thái cân bằng của xã hội Đặc biệt, trong thời gian này, nhà xã hội học người Mỹ, đại diện hàng đầu cho trường phái xã hội học:
“lựa chọn giải pháp” Alvin Goudnher (1920-1980) đã phê phán một cách mạnh
mẽ tư tưởng khẳng định tính không khủng hoảng của sự phát triển xã hội Theo quan điểm của Alvin Goudnher, nhiệm vụ cơ bản của xã hội học là làm sáng tỏ các nguyên nhân của trạng thái xung đột xã hội và tìm ra những phương hướng khắc phục các tình huống khủng hoảng trong quá trình phát triển xã hội A Goudnher nhìn thấy cơ sở sâu xa của cuộc khủng hoảng của xã hội Tây Âu, trong “tính phi chuyên nghiệp” của con người, trong sự thiếu một cái nhìn tổng thể về thế giới, trong mối quan hệ đối lập giữa tri thức và quyền lực
Khi phê phán tất cả các cách tiếp cận xã hội học hiện đại, Goudnher cố thoát ly “tư tưởng học” bằng quan niệm phản xạ có điều kiện Goudnher chia cơ cấu xã hội của xã hội Tây Âu hiện đại thành ba giai cấp: giai cấp tư sản già nua hoặc là giai cấp các nhà tư bản chủ nghĩa có tiền; giai cấp vô sản và cuối cùng là giai cấp mới xuất hiện - giai cấp trí thức Goudnher đặc biệt lưu ý đến giai cấp này Việc có “vốn” văn hóa và văn hóa thảo luận phê phán, theo Goudnher làm
Trang 21cho giai cấp mới - giai cấp trí thức trở thành niềm hy vọng duy nhất của tiến bộ
xã hội Goudnher chia giai cấp mới này thành hai nhóm: nhóm trí thức khoa học
- kỹ thuật và nhóm những người trí thức (trí thức nhân đạo) Goudnher đặt hy vọng vào nhóm những người trí thức bởi ông coi nhóm này mới là nhóm có vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội trong tương lai
Sự phê phán gay gắt đối với quan niệm phát triển xã hội không có xung đột được nêu ra trong các công trình nghiên cứu của Ch Milis và các đồng nghiệp của ông Tuy nhiên, vào đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX, trạng thái yên bình xã hội tồn tại ở các nước Tây Âu một lần nữa kích thích sự tăng cường xu hướng ổn định xã hội Những thay đổi mang tính khách quan diễn ra trong thế giới hiện đại, nhu cầu thống nhất cộng đồng thế giới nhằm giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu, đã thúc đẩy nhanh đáng kể quá trình này Các thành viên của câu lạc bộ Rim, một tổ chức quốc tế phi Chính phủ (1968) nhằm thống nhất sự nỗ lực của các nhà khoa học, các nhà chính trị và các nhà hoạt động xã hội từ các nước khác nhau trên thế giới, là những người đầu tiên chú ý đến sự cần thiết của việc nghiên cứu “hệ những vấn đề toàn cầu
và sử dụng một cách có kết quả mô hình hệ thống toàn cầu vào mục đích đó Tại phiên họp đầu tiên được tổ chức tại thành phố Rim (do vậy mà câu lạc bộ
có tên gọi là Câu lạc bộ Rim), các đại biểu đã nhấn mạnh rằng các mối quan hệ qua lại mật thiết giữa các nước với nhau ngày càng phát triển đòi hỏi phải có tư duy mới mang tính toàn cầu, rằng, bởi thời hạn hoạt động bị ràng buộc bởi nhiệm kỳ bầu cử nên các Chính phủ của các nước không thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề có tính nền tảng và lâu dài, cũng như không thể giải quyết một cách có thứ tự những vấn đề phát sinh Đồng thời, những vấn đề phát sinh cũng không thể giải quyết một cách riêng biệt vì giữa chúng có những mối liên hệ bất ngờ và không thể nói trước Các luận điểm và kết luận của Bản báo cáo đầu tiên “giới hạn của sự tăng trưởng” (1972) do một nhóm các nhà nghiên cứu khoa học (dưới sự chỉ đạo của Denh và Đonhelư) soạn thảo trình Câu lạc bộ Rim, đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của cộng đồng quốc
Trang 22tế Từ những ý kiến vốn rất đa dạng và thậm chí là trái ngược nhau về những ưu điểm của Bản báo cáo, có thể nhận xét rằng, được xuất bản dưới dạng một cuốn sách, Bản báo cáo buộc toàn bộ thế giới phải suy nghĩ và thảo luận về những mối nguy hiểm và những cuộc xung đột có tính toàn cầu trong tương lai như sự suy thoái của môi trường xung quanh, sự bùng nổ về dân số, sự bất bình đẳng về kinh tế; hiểu rằng tất cả những điều đó đòi hỏi phải đi trước một bước cả về tư duy lẫn cả về hành động so với thực tiễn hiện nay; sự phản ứng đối với các hiện tượng tiền khủng hoảng hoặc khủng hoảng thường là đã quá muộn
Tại các phiên họp của Câu lạc bộ Rim, những vấn đề về đối lập chính trị, xung đột, chiến tranh và hòa bình được thảo luận nhiều lần và rất sôi nổi Chủ
đề chính của các cuộc thảo luận về những vấn đề đó là hòa bình - không đơn giản là không có chiến tranh Không có chiến tranh chỉ là một trong những dấu hiệu của hòa bình Chỉ trong những điều kiện phát triển một cách hài hòa và thông qua sự hợp tác, thế giới mới có được sự an ninh, thực sự vững chắc Sự bớt căng thẳng trong quan hệ quốc tế cho phép đạt được kết quả của những nỗ lực tìm kiếm những lợi ích chung của các nước vốn là những địch thủ tiềm tàng Về lâu dài thì đối với các thành viên Câu lạc bộ Rim sự hợp tác sẽ có lợi hơn so với sự cạnh tranh hoặc ganh đua
Với mục đích đạt tới một trật tự xã hội mới trong điều kiện hòa bình, hợp tác hiểu hết đầy đủ về nhau, các chuyên gia của Câu lạc bộ Rim nêu ra một quan niệm mới về sự tăng trưởng và phát triển có giới hạn Chẳng hạn, nhà hoạt động chính trị và hoạt động xã hội nổi tiếng của Cộng hòa Liên bang Đức,
E Pestel’ đã xác định nội hàm của sự phát triển có giới hạn bằng cách liệt kê
các dấu hiệu đặc trưng của nó như sau:
- Phát triển có sự tác động qua lại lẫn nhau và phát triển có tính hệ thống, theo đó, không có một bộ phận nào của hệ thống (tiểu hệ thống) phát
triển mà gây thiệt hại cho các bộ phận (các tiểu hệ thống) khác Những chuyển biến mang tính tiến bộ của một bộ phận nào đó chỉ có ý nghĩa thực tế một khi chúng phù hợp với những quá trình tiến bộ diễn ra trong các bộ phận khác
Trang 23- Phát triển đa dạng và nhiều mặt, đáp ứng được các nhu cầu của các bộ phận khác nhau của hệ thống - vì vậy các khu vực khác nhau của thế giới sẽ phát triển theo các cách khác nhau Tính chất của các quá trình phát triển xã hội cùng với thời gian sẽ thay đổi theo hướng đó
- Phát triển có sự phối hợp một cách hài hòa các mục đích nhằm đảm bảo một thế giới ổn định
- Phát triển một cách năng động và mềm dẻo linh hoạt đảm bảo năng lực của các bộ phận cấu thành thệ thống tiếp tục phát triển trước sự tác động từ bên ngoài, tức là mặc dù có những ảnh hưởng của những chuyển biến từ bên ngoài ngoài sự trông đợi, song những ảnh hưởng đó không tác động đến được những hoạt động chính trong tổng thể chức năng của các bộ phận cấu thành hệ thống Nói cách khác, các bộ phận cấu thành hệ thống vẫn thực hiện chương trình hoạt động của mình
- Phát triển trên cơ sở coi chất lượng phát triển là quan trọng nhất đồng thời thừa nhận tính bất di bất dịch của phương hướng phát triển là bảo đảm phúc lợi vật chất cho mọi người, để họ “không chỉ sống bằng bánh mì”
- Phát triển có xác định mục đích phát triển trên cơ sở cân nhắc đến tính phức tạp của những vấn đề mới mẻ
- Phát triển có “đổi mới” mục đích, khi những mục đích “mới” xuất hiện sau khi đạt được hoặc “nhận thức lại” mục đích đã đặt ra
Từ những điều phân tích trên đây và các công trình nghiên cứu ở các nước
phương Tây hiện nay về xung đột xã hội, có thể thấy rõ hai xu hướng cơ bản
Xu hướng thứ nhất được phổ biến rộng rãi ở Tây Âu (tại các nước như Pháp,
Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha) và gắn với hoạt động của các Viện nghiên cứu
mà chủ yếu là nghiên cứu về xung đột; còn xu hướng thứ hai gắn với hoạt động
của các Viện nghiên cứu hòa bình, được phổ biến tương đối rộng rãi tại nước
Mỹ Về nguyên tắc, mục đích của các viện đó là giống nhau, nhưng cơ sở tiếp
Trang 24cận mục đích của chúng lại có sự khác nhau Trong một số công trình nghiên cứu, những ý kiến đầu tiên được dành cho các phương pháp để đạt được kết quả: “Nếu như anh muốn hòa bình, hãy nghiên cứu chiến tranh” Chính các nhà chuyên môn thuộc các Viện nghiên cứu hòa bình là những người đánh giá rất cao ý nghĩa hàng đầu của các vấn đề về hòa bình và đồng thuận Về điều này, có thể lấy cuốn sách của R.Phishera và Ju Juri: “Con đường dẫn đến sự đồng thuận hoặc những hiệp ước không có sự thất bại” xuất bản vào năm 1990, bằng tiếng Nga, làm thí dụ minh họa Về đại thể, những cuộc xung đột xã hội
và những giải pháp giải quyết chúng nhận được sự quan tâm lớn đến nỗi chúng trở thành chủ đề chính của Hội nghị toàn thể thường kỳ của Hiệp hội quốc tế
về khoa học chính trị, tổ chức năm 1997 tại Xơ Un
1.4 Chủ nghĩa Mác về xung đột xã hội
Ngay vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các nhà xung đột học đã quan tâm đến lý luận xã hội học của C.Mác Điều đó không hoàn toàn ngẫu nhiên Xã hội học Mácxít đã hiệu chỉnh đáng kể các quan điểm ngự trị lúc bấy giờ về các quá trình phát triển xã hội
Theo Mác, sống trong xã hội, không tùy thuộc vào các mối quan hệ ý chí hay lý trí, con người buộc phải liên kết lại với nhau Chính sự hiện diện của các mối quan hệ đó tạo ra tính xã hội của chúng với tính cách là vấn đề xã hội đặc thù mà bằng khoa học có thể nhận thức được một cách khách quan
Có thể coi tháng giêng năm 1859, được đề trong Lời nói đầu của cuốn sách “Phê phán kinh tế chính trị học” của Các Mác là thời điểm lịch sử của sự nhận thức mang tính vật chất về lịch sử Theo quan điểm của Mác, cơ cấu xã hội có bốn yếu tố cơ bản: các lực lượng lao động - các quan hệ lao động - thượng tầng chính trị - các hình thái ý thức xã hội Như vậy, hệ thống các yếu
tố cơ bản của cơ cấu xã hội đã được sắp xếp lại và hệ thống các mối liên hệ mật thiết qua lại giữa các yếu tố đó tạo thành nền tảng lý luận chung của xã hội học Mácxít
Trang 25Đồng thời, lý luận xã hội học Mácxít không chỉ là bộ phận chính của xã hội học nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học lý luận chung về xã hội học
mà còn là hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về xung đột xã hội
Trên mọi mức độ nhận thức về các quá trình xã hội: chuyên sâu về bản chất, phổ quát, lịch sử cụ thể, xã hội học và chính trị học, chủ nghĩa Mác đều thừa nhận các cuộc xung đột xã hội, những vụ va chạm diễn ra trong xã hội, những mâu thuẫn đối kháng là những hiện tượng có thể xảy ra, còn trong những điều kiện của cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt trong khuôn khổ của cái gọi là “các hình thức đối kháng”, chúng là những hiện tượng tất yếu của đời sống xã hội
Cả C Mác lẫn Ph.Ăngghen đều tin tưởng rằng, mâu thuẫn đối kháng về lợi ích lúc bấy giờ giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản chỉ giải quyết được trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa - cuộc cách mạng thủ tiêu chế độ
sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, xây dựng các điều kiện để xóa bỏ các quan hệ đối kháng, xóa bỏ các giai cấp bóc lột vốn không muốn từ bỏ sở hữu
và địa vị thống trị của mình Sự hiểu biết về những vấn đề này động đến khá nhiều vấn đề có quan hệ trực tiếp với hệ vấn đề về xung đột xã hội Cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề như động lực cách mạng và mối quan hệ biện chứng của động lực cách mạng, nghệ thuật lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang
và logic của việc lôi kéo đồng minh đứng về phía giai cấp công nhân, ngăn chặn cuộc phản cách mạng và tổ chức công tác trong điều kiện hòa bình cũng như những vấn đề tương tự khác từ lập trường Mácxít, tạo ra kinh nghiệm phân tích lịch sử cụ thể các tình huống xung đột xã hội phong phú và đa dạng Chủ nghĩa Mác trong thế kỷ XIX luôn coi trọng hành động cách mạng Chủ nghĩa Mác thể hiện rõ nét nhất trong chương kết thúc “Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước Pháp” Trong chương này, Mác trực tiếp kêu gọi những người công nhân và những người dân chủ không ngả theo những ảo tưởng sửa đổi Hiếp pháp, không tuyệt đối hóa nền dân chủ tư sản và các phương pháp cải lương, không thỏa hiệp vì nhân danh một thế giới dân sự tưởng tượng ra Mác cũng
Trang 26tin tưởng rằng, chỉ thông qua con đường đấu tranh, các hành động ngoài nghị trường với sự “áp lực từ bên ngoài” mới có thể sờ được kết quả mong muốn, mới có thể tạo ra được những thay đổi lớn lao trong xã hội Sự hưng phấn mang tính cách mạng đó của C Mác đã được thời đại lúc bấy giờ chứng minh
2 Lý luận về xung đột xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
2.1 Khái niệm xung đột xã hội
Định nghĩa xung đột xã hội
Trong các công trình nghiên cứu được xuất bản, khái niệm xung đột xã hội được hiểu theo nhiều cách khác nhau Đến nay, có một số lượng lớn những thuật ngữ được dùng để định nghĩa xung đột xã hội Quan điểm tiếp cận khái quát nhất về khái niệm xung đột xã hội là định nghĩa nó thông qua mâu thuẫn với tư cách một khái niệm chung và trước hết là thông qua mâu thuẫn xã hội Sự phát triển của bất kỳ một xã hội nào cũng là một quá trình phức tạp vốn dựa trên nền tảng của những mâu thuẫn vốn phát sinh, phát triển và đã được giải quyết
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về xung đột xã hội Có quan điểm cho rằng: xung đột xã hội là sự mâu thuẫn xã hội căng thẳng nhất thể hiện sự xung khắc giữa các cộng đồng xã hội khác nhau - các giai cấp, các chủng tộc, các quốc gia, các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội v.v do sự đối lập hoặc sự khác biệt đáng kể về lợi ích, mục đích, khuynh hướng phát triển của chúng quyết định Xung đột xã hội nảy sinh và được giải quyết trong tình huống xã hội cụ thể do xuất hiện vấn đề xã hội đòi hỏi phải được giải quyết Xung đột xã hội có các nguyên nhân, những người đại diện của mình (các giai cấp, các chủng tộc, các nhóm xã hội ), có các chức năng, độ dài và mức độ căng thẳng nhất định
Quan điểm khác cho rằng xung đột xã hội là tình trạng mâu thuẫn hoặc ngấm ngầm của các cấu thành xã hội có sự đối lập khách quan về các lợi ích, các mục đích và các khuynh hướng phát triển vốn không phù hợp nhau, là sự
Trang 27đụng độ trực tiếp hay gián tiếp giữa các lực lượng xã hội trên cơ sở phản kháng hay ủng hộ trật tự xã hội hiện tồn, là hình thức đặc biệt về mặt lịch sử của sự thống nhất mới về mặt xã hội
Xung đột xã hội, theo quan điểm khác - đó là tình huống khi các bên tác động lẫn nhau, theo đuổi những mục đích nào đó của mình mà những mục đích
đó đối lập hoặc loại trừ nhau
Những khái niệm được nêu ở trên, nhìn chung là đáng tin cậy, nhưng quá rộng
và trừu tượng Trong những khái niệm đó không có chỗ cho những cuộc xung đột
xã hội “có quy mô hẹp hơn”, chẳng hạn như các cuộc xung đột xã hội trong đời sống thường ngày, các cuộc xung đột trong lao động sản xuất kinh doanh v.v Trong khi đó những cuộc xung đột xã hội này không thể không nói đến
Vấn đề mâu thuẫn, ở một mức độ đáng kể cũng đã được các nhà khoa học nước ta nghiên cứu Tuy nhiên, không thể nói đó là lý luận về xung đột xã hội Xét về thực chất, thì lý luận về xung đột xã hội chưa được quan tâm nghiên cứu trong sách báo nước ta Cần phải nhận thức rằng, mâu thuẫn và xung đột (mâu thuẫn xã hội và xung đột xã hội), một mặt không được coi là những khái niệm đồng nghĩa, mặt khác cũng không được coi là những khái niệm trái ngược nhau Sự mâu thuẫn, sự đối lập, sự khác biệt là những điều kiện cần nhưng chưa phải là những điều kiện đủ của xung đột (xung đột xã hội) Sự
khác biệt, sự mâu thuẫn, sự đối lập chuyển hóa thành xung đột xã hội khi những lực lượng đại diện cho chúng bắt đầu tác động lẫn nhau Như vậy, xung
đột xã hội - đó là sự biểu hiện của những mâu thuẫn xã hội khách quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập giữa những người đại diện (các bên) của chúng
Trong xã hội, những lực lượng đó là những chủ thể của xã hội: những con người cụ thể như các cá thể (cá nhân), các nhóm, các tầng lớp xã hội, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội hoặc các quốc gia Chính vì vậy, khi nói đến xung đột xã hội, trước hết, chúng ta phải nói đến quá trình mà trong đó hai (hoặc nhiều hơn) cá nhân hoặc nhóm xã hội tích cực tìm kiếm khả năng cản trở
Trang 28nhau trong việc đạt được mục đích nào đó, ngăn chặn đối phương thỏa mãn nhu cầu hoặc buộc đối phương phải thay đổi quan điểm và khuynh hướng xã hội nhất định Nói khái quát lại, các bên trong xung đột xã hội phải là con người Như vậy, trong xung đột xã hội luôn luôn phải có ít nhất là hai bên (phía tác động) đối lập nhau Hành vi của những người thuộc mỗi bên thường hướng tới việc đạt được những lợi ích của họ và rõ ràng, về nguyên tắc là xung khắc với nhau Các cuộc xung đột xã hội, vì vậy có đặc điểm là rất căng thẳng, bởi những người thuộc các bên xung đột xã hội hoặc là thay đổi cách xử sự, thích nghi hoặc là “tự bảo vệ” trước tình huống đó
Xung đột xã hội thường được hiểu là dạng mâu thuẫn xã hội mà trong đó các bên mong muốn xâm chiếm lãnh thổ hoặc tài nguyên; đe dọa các cá nhân hoặc các nhóm người đối lập; đe dọa xâm phạm quyền sở hữu hoặc truyền
thống văn hóa của họ, vì vậy hình thức xung đột giữa họ là tấn công hoặc
phòng thủ bảo vệ Xung đột xã hội còn bao hàm trong nó tính chủ động của cá
nhân, hoặc của nhóm cá nhân trong việc phong tỏa hoạt động hoặc gây thiệt hại cho những người hoặc nhóm người khác Những thuật ngữ như: các cuộc tranh chấp, các cuộc tranh luận, các cuộc đấu giá, sự cạnh tranh, cưỡng bức trực tiếp và cưỡng bức gián tiếp thường được sử dụng để làm sáng tỏ hệ vấn đề
về xung đột xã hội Nhiều nhà nghiên cứu về xung đột xã hội còn gắn xung đột
xã hội với quy mô, với những sự đổi thay của lịch sử
Để làm cơ sở cho việc nhận thức về xung đột xã hội cần nhắc đến những hiện tượng gần gũi với xung đột xã hội, chẳng hạn như thi đua, tranh đua, cạnh tranh Về nguyên tắc, trong những trường hợp kể trên cũng có sự đấu tranh của các bên đối lập Tuy nhiên, sự đấu tranh của các bên đối lập đó không đến nỗi căng thẳng để dẫn đến sự thù địch hoặc là thậm chí dẫn đến sự thù địch đi chăng nữa thì sự thù địch đó cũng không chuyển thành những hành vi cản trở nhau thực hiện hành vi hợp pháp Mỗi bên hoạt động “trên địa phận của mình” với mong muốn đạt tới kết quả và như vậy gây “tổn thương” cho đối phương Bởi các bên muốn đạt được một cách tối đa thành quả của mình, nên thường hành
Trang 29động một cách chủ động Đối với các bên, việc đè bẹp đối phương là không có mục đích tự thân Tuy nhiên, điều đó không loại trừ sự hình thành xung đột ngay trong quá trình thực hiện những hành vi “hòa bình” đã liệt kê trên đây Như vậy, xung đột xã hội và sự thi đua là không đồng nhất với nhau, nhưng sự thi đua có thể chuyển hóa thành xung đột xã hội Điều đó cũng liên quan đến cạnh tranh
mà trong đó đối phương có thể đi đến đè bẹp trực tiếp lẫn nhau
Các cuộc đấu, trong đó có các cuộc đấu thể thao lại là trường hợp đặc biệt Trong số các cuộc đấu thể thao, có một số cuộc đấu chẳng hạn như đấm bốc được người ta xem như xung đột Tuy nhiên, mọi người đều rõ rằng, xét về thực chất, đó chỉ là sự xung đột được mô phỏng Khi cuộc đấm bốc chấm dứt, thì mối quan hệ “xung đột” qua lại cũng kết thúc Sự ghét bỏ giữa những người chơi thuộc những đội chơi khác nhau cho dù còn đọng lại sau cuộc chơi, về nguyên tắc, được loại bỏ một cách nhanh chóng Trong thể thao, sự hằn học, ghét bỏ đó không được khuyến khích
Các ranh giới của xung đột xã hội
Để lý giải một cách chính xác hơn bản chất của xung đột xã hội và sự khác biệt của nó với các hiện tượng giáp ranh, cần phải xác định được các ranh
giới của xung đột xã hội, tức là xác định được các giới hạn bên ngoài theo
không gian và theo thời gian
Các ranh giới của xung đột xã hội có thể được phân thành ba phương diện, đó là:
Ranh giới theo không gian của xung đột xã hội được xác định bởi lãnh thổ nơi diễn ra xung đột xã hội Không gian lãnh thổ của xung đột xã hội có thể rất
khác nhau, từ không gian nhỏ nhất, chẳng hạn diện tích căn nhà cho đến không gian lớn nhất là toàn bộ trái đất Việc xác định chính xác ranh giới của xung đột xã hội theo không gian gắn với vấn đề chủ thể tham gia xung đột có tầm quan trọng đặc biệt đối với các quan hệ quốc tế Việc xác định rõ ràng đường
Trang 30ranh giới về lãnh thổ của vùng xung đột xã hội là để thực hiện các biện pháp phòng ngừa xung đột xã hội
Ranh giới theo thời gian của xung đột xã hội là độ dài của xung đột xã hội được đánh dấu bằng thời điểm bắt đầu và kết thúc của nó Việc đánh giá về
mặt pháp luật đối với các hành vi của những người tham gia vào cuộc xung đột
xã hội ở thời điểm này hay thời điểm khác tùy thuộc vào việc coi xung đột xã hội đã được bắt đầu diễn ra, đang tiếp diễn hoặc đã được kết thúc khi nào Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc đánh giá vai trò của những người vừa mới tham gia vào cuộc xung đột xã hội
Thời điểm bắt đầu của cuộc xung đột xã hội được xác định bởi những
hành vi khách quan chống lại bên xung đột với điều kiện bên xung đột (đối phương) nhận thức được những hành vi mà phía bên kia thực hiện là nhằm chống lại mình, vì vậy có hành động đáp trả lại Từ đó cho thấy để coi thời điểm nào đó là thời điểm bắt đầu của cuộc xung đột xã hội phải có đồng thời
ba điều kiện sau đây:
1 Một bên (hay còn gọi là người đầu tiên trong xung đột xã hội) đang thực hiện hành vi một cách có chủ ý và chủ động gây thiệt hại cho bên khác (hay còn gọi là người thứ hai trong xung đột xã hội) Hành vi đang được đề cập
ở đây được hiểu có thể là những động tác cơ học bằng sức mạnh của cơ thể, có thể là sự truyền đạt thông tin (bằng lời nói, bằng ấn phẩm xuất bản, bằng phát thanh truyền hình v.v );
2 Bên khác (hay còn gọi là người thứ hai trong xung đột xã hội) nhận thức được rằng hành vi mà phía bên kia thực hiện là chống lại lợi ích của mình;
3 Vì vậy, bên này (tức người thứ hai trong xung đột xã hội) thực hiện những hành vi đáp trả (chống lại) đối phương Thời điểm này có thể được coi
là thời điểm xảy ra xung đột xã hội
Từ những điều trình bày trên đây, có thể thấy sẽ chưa có xung đột xã hội nếu mới chỉ có một bên hành động hoặc khi các bên đang tư duy về hành động
Trang 31của mình (hay còn gọi là những hành động trong tư tưởng) như suy nghĩ về kế hoạch hành động, suy ngẫm về cách thức hành động của đối phương, dự báo
về diễn biến của xung đột xã hội trong tương lai v.v
Thời điểm kết thúc của cuộc xung đột xã hội là không giống nhau Cuộc
xung đột xã hội có thể kết thúc (ví dụ, do các bên dàn hòa được với nhau), nhưng có thể kết thúc do một bên rút ra khỏi cuộc xung đột xã hội hoặc bị tiêu diệt (trong thời gian chiến tranh hoặc trong khi tội phạm xảy ra) Cuối cùng, cuộc xung đột xã hội bị ngăn chặn và kết thúc do có bên thứ ba (người thứ ba) can thiệp ngăn chặn và chấm dứt Một loạt các trường hợp vốn được gọi là
“những xung đột mang tính hình sự” được kết thúc như vậy Thực tiễn quan hệ quốc tế ngày càng sử dụng nhiều hơn lực lượng thứ ba nhằm ngăn chặn các cuộc xung đột quốc tế (sử dụng lực lượng quân sự của Liên hợp Quốc; trung gian hòa giải bằng con đường ngoại giao v.v ) Tất cả những phương pháp này, như chúng ta đã biết cũng đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới Như vậy, cần phải coi thời điểm chấm dứt tất cả những hành động của tất cả các bên xung đột xã hội không tùy thuộc vào bất kỳ một nguyên nhân nào đó là thời điểm kết thúc của cuộc xung đột xã hội
Ranh giới bên trong của xung đột xã hội và xác định ranh giới của nó Bất
kỳ một cuộc xung đột xã hội nào cũng diễn ra trong một hệ thống nhất định, hệ
thống đó có thể là gia đình, nhóm những người bạn (hay đồng nghiệp), quốc gia, cộng đồng quốc tế v.v Các mối liên hệ bên trong là những mối liên hệ nhiều mặt và phức tạp Cuộc xung đột xã hội giữa các bên cùng trong một hệ thống có thể nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng hơn, rộng hoặc hẹp hơn, phổ biến hoặc ít phổ biến hơn v.v
Việc xác định ranh giới bên trong của xung đột xã hội gắn liền với việc phân chia các bên xung đột xã hội từ tổng số những người tham gia xung đột
xã hội Ngoài các bên trực tiếp đối lập nhau, tham gia xung đột xã hội có thể
có những người khác như những người xúi dục, những người giúp sức, những người tổ chức xung đột xã hội (mà bản thân họ không trực tiếp nhúng tay vào
Trang 32xung đột xã hội), cũng như các thẩm phán trọng tài, các cố vấn, những người đồng tình và những người phản đối những người này hay những người khác (bên này hay bên khác) đang xung đột với nhau Tất cả những người này (người hay tổ chức) là những thành phần của hệ thống Các ranh giới của cuộc xung đột xã hội trong hệ thống chủ yếu phụ thuộc vào phạm vi rộng hay hẹp diện những người (tổ chức) bị lôi kéo tham gia vào cuộc xung đột xã hội Việc nhận thức ranh giới bên trong của xung đột xã hội là vô cùng quan trọng để tác động đến các quá trình đang diễn ra, trong đó để phòng ngừa sự tan vỡ của hệ thống (dĩ nhiên, nếu điều đó là cần thiết)
Đối tượng của xung đột xã hội
Đối tượng của xung đột xã hội được hiểu là vấn đề tồn tại một cách khách quan hoặc do tưởng tượng được coi là nguyên cớ dẫn đến xung đột giữa các bên Mỗi một bên đều quan tâm giải quyết vấn đề đó theo hướng có lợi cho
mình Hơn thế nữa, đối tượng của xung đột xã hội là sự mâu thuẫn cơ bản mà
vì để giải quyết nó các bên hành động chống đối nhau Đó có thể là vấn đề quyền lực, việc có được các giá trị này hay giá trị khác Việc tìm kiếm các hướng giải quyết xung đột xã hội được bắt đầu từ việc xác định đối tượng của xung đột xã hội và để làm được điều đó quả thật là không đơn giản Cuộc xung đột xã hội có đối tượng cơ bản được tách ra thành những đối tượng riêng rẽ, thành vô số “những điểm nóng” Đối tượng của xung đột xã hội có thể không chỉ là mục đích chưa được tiết lộ của nhà hoạt động trung gian hoặc của trọng tài viên mà còn có thể là điều khoản mà các bên - những người tham gia đang thương lượng
Khách thể của xung đột xã hội
Khách thể của xung đột xã hội được hiểu là giá trị vật chất hay tinh thần
cụ thể mà các bên xung đột xã hội hướng tới chiếm giữ hoặc sử dụng riêng Về
thực chất, bất kỳ một yếu tố nào của thế giới vật chất và của thực tiễn xã hội đều là khách thể của xung đột xã hội, đều có thể được cá nhân, nhóm xã hội, xã
Trang 33hội, Nhà nước coi là đối tượng thuộc lợi ích của mình Để có thể trở thành khách thể của xung đột xã hội, yếu tố đó phải “nằm ở chỗ giao nhau” của các lợi ích của các chủ thể mong muốn “kiểm soát” theo cách của mình Trong hệ thống quan hệ cụ thể, khách thể của xung đột xã hội bao giờ cũng là nguồn nào đó bị thiếu hụt hay khan hiếm Khách thể của xung đột xã hội với tư cách là nguồn nào đó bị thiếu hụt hay khan hiếm mang tính tương đối và thường xuyên thay đổi Bên cạnh những cuộc xung đột xã hội có khách thể rõ ràng, còn có những cuộc xung đột xã hội có khách thể không rõ ràng, tức là những tham vọng hay mong muốn của các bên trong việc chiếm hữu hay sử dụng “vật” nào đó
2.2 Các chức năng của xung đột xã hội
Xung đột xã hội ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, “lan tỏa” đến tất cả các phương diện hoạt động sống của con người và xã hội Sự ảnh hưởng đó có thể được cụ thể hóa nhờ việc áp dụng khái niệm chức năng vốn được dùng để chỉ, thứ nhất, ý nghĩa chung của xung đột xã hội đối với đời sống xã hội, và thứ hai, sự phụ thuộc vốn xuất hiện giữa xung đột xã hội với các thành phần khác của đời sống xã hội Ở trường hợp thứ nhất, chức năng được hiểu là tổng thể các hậu quả xã hội đối với các mối quan hệ xã hội mà xung đột xã hội mang lại Đó có thể là những hậu quả rõ ràng, tức trùng khớp với những ý định
và mục đích mà các chủ thể của cuộc xung đột xã hội đã tuyên bố một cách công khai, hoặc là những hậu quả còn bị “che dấu”, “chưa hiện hữu”, “còn tiềm ẩn”, mà phải mất một thời gian nhất định mới phát hiện và xác định được, hoặc những kết quả phụ không lường trước mà chúng mang lại Ở trường hợp thứ hai, chức năng được hiểu là hướng hoạt động của xung đột xã hội Trên bình diện phân tích lý luận, điều quan trọng là phải tính đến và phân tích chức năng của xung đột xã hội trên cả hai bình diện này cũng như cần phải lưu ý đến tính mâu thuẫn nội tại của các chức năng bởi tính chất mâu thuẫn vốn có của các chức năng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của xã hội mà còn phụ thuộc vào chính bản thân cuộc xung đột xã hội
Trang 34Xung đột xã hội có hai nhóm chức năng tương ứng với hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội: lĩnh vực vật chất và lĩnh vực tinh thần Các chức năng vật chất của xung đột xã hội thể hiện ở chỗ, mọi cuộc xung đột xã hội phần lớn
có liên quan đến phương diện kinh tế của đời sống xã hội Mối liên hệ này có thể được thể hiện ở những nhu cầu, những thành quả, những vật chất bị mất mát hoặc bị huỷ hoại trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua những tổn thất gián tiếp về kinh tế Mức độ thiệt hại vật chất tuỳ thuộc vào bản thân quy mô của cuộc xung đột xã hội Trong điều kiện hiện nay, khi xung đột quốc tế có sử dụng đến vũ khí nguyên tử, nó được coi không khác gì như một thảm hoạ đối với nền văn minh nhân loại
Các chức năng vật chất không chỉ biểu hiện ở những hậu quả vật chất bị phá huỷ bởi cuộc xung đột xã hội Ở một nghĩa nào đó, các chức năng vật chất của xung đột xã hội biểu hiện cả ở khía cạnh tạo ra vật chất Thứ nhất, trong quá trình xung đột xã hội, bên này hay bên kia có thể chiếm hữu được những giá trị vật chất mà họ chưa có trước khi bắt đầu xảy ra xung đột xã hội Thứ hai, cuộc xung đột xã hội có thể thúc đẩy việc bố trí lại các lực lượng xã hội, qua đó thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất vật chất cho xã hội Các cuộc xung đột pháp luật có tính chất tài sản dẫn đến việc phân phối lại các giá trị, quyền lợi cho bên này và đem lại tổn thất cho bên khác
Các cuộc xung đột xã hội ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội Ở đây, các cuộc xung đột cũng giữ vai trò là nhân tố kích thích những thay đổi nhanh chóng và có cơ sở trong lĩnh vực tinh thần Do vậy, các cuộc xung đột
xã hội có chức năng cấp tiến hoá ý thức xã hội Chúng tạo ra những điều kiện
để khắc phục thói quen đánh giá các sự kiện từ một phía và tạo khả năng nhìn nhận, đánh giá đời sống xã hội từ một phía khác
Dựa vào những đặc điểm của cơ cấu xã hội các chức năng của xung đột xã hội được phân thành: chức năng báo hiệu; chức năng thông tin; chức năng phân hoá và chức năng vận động (hoạt động)
Trang 35Chức năng báo hiệu Chức năng này xác định xung đột xã hội là tiêu chí
thể hiện trạng thái xã hội nhất định Ở đâu có xung đột, ở đó có sự đảo lộn của một thứ gì đó trong các mối liên hệ và quan hệ xã hội quen thuộc, cũng như có nhu cầu biến đổi sâu sắc của một thứ gì đó trong xã hội Về nguyên tắc, bản thân cuộc xung đột xã hội nói chung không phản ánh độ sâu của những nguyên nhân làm phát sinh ra nó Tuy nhiên, trên phương diện nhận thức, chức năng báo hiệu của xung đột xã hội hoàn toàn đủ để nêu ra khía cạnh thực tiễn của một loạt những vấn đề xung đột cần được giải quyết Xung đột xã hội - xét về loại thì đó là yêu cầu về sự cần thiết phải áp dụng ngay tức khắc, tức không trì hoãn những biện pháp nhằm phát hiện và xoá bỏ các nguyên nhân gây ra tình hình căng thẳng xã hội, về nghiên cứu một cách thấu đáo mọi tình tiết gây ra tình huống xung đột và phương hướng thoát ra khỏi tình huống xung đột đó
Chức năng thông tin Khía cạnh thông tin của xung đột xã hội rộng hơn
nhiều so với sự chứng minh thuần tuý về sự bất an của xã hội Các cuộc xung đột xã hội luôn luôn do những nguyên nhân cụ thể gây ra và chính các cuộc xung đột xã hội làm bộc lộ ra những nguyên nhân đó Sự xuất hiện, diễn biến cũng như những bước ngoặt của tình huống xung đột xã hội bao giờ cũng tải một lượng thông tin nhất định về những nguyên nhân mà việc nghiên cứu chúng là cơ sở quan trọng để nhận thức các quá trình xã hội
Các cuộc xung đột xã hội thể hiện một cách đáng tin cậy nhu cầu, lợi ích, khát vọng của các chủ thể xung đột và những người tham gia xung đột Các cuộc xung đột xã hội cũng thể hiện một cách đáng tin cậy các nguyên nhân của
sự không hài lòng hoặc chống đối xã hội mà trong hoàn cảnh bình thường được “ẩn” trong những quy tắc hành vi và hoạt động quen thuộc Ở trong trạng thái xung đột, các bên nhận thức rõ ràng hơn lợi ích của mình cũng như lợi ích của bên đối lập, phát hiện một cách đầy đủ hơn sự tồn tại của những vấn đề khách quan cũng như những mâu thuẫn của sự phát triển xã hội
Chức năng phân hoá Chức năng phân hoá các đặc điểm của quá trình
phân hoá xã hội vốn được hình thành dưới sự ảnh hưởng của sự xung đột xã
Trang 36hội thông qua sự thay đổi và phá huỷ cơ cấu xã hội trước đây Chức năng này phản ánh đặc điểm chung của hành vi xung đột xã hội có trong sự định hướng
và việc sắp xếp lại các lực lượng xã hội tham gia xung đột Dưới sự tác động của cuộc xung đột xã hội, quá trình phân hoá xã hội phát triển theo hai hướng đối lập nhau: sự phân hóa của các bên xung đột và quá trình liên kết, hợp nhất các bên xung đột Chẳng hạn, đang có sự xung đột với nhau, các quốc gia xung đột tìm kiếm, huy động các đồng minh của mình, hay đang cãi cọ với nhau, những người cãi cọ cố gắng tập hợp những người ủng hộ quan điểm của mình
Sự tác động của xung đột tới sự phân hoá mạnh đến nỗi cuốn hút vào phạm vi ảnh hưởng của nó cả những người hay nhóm người vốn muốn đứng ngoài quá trình phân hoá và liên kết các lực lượng xã hội, đứng ngoài sự tác động phân hoá của cuộc xung đột xã hội
Chức năng vận động Bất kỳ một cuộc xung đột xã hội nào cũng thúc đẩy
xã hội phát triển với tốc độ nhanh hơn, cũng làm cho sự thay đổi của xã hội diễn ra mạnh mẽ hơn Ở nơi nào đời sống xã hội có sự trôi đi một cách đều đặn thì ở nơi đó không có những công cuộc cải tạo (biến đổi) một cách cơ bản, có chăng chỉ là những thay đổi nho nhỏ, không đáng kể Dường như ở đó, thời gian “được sinh ra để không chứng giám các sự kiện” Thế nhưng khi cuộc xung đột “buộc phải bùng nổ”, tất cả mọi thứ bị cuốn hút vào vòng xoáy của sự vận động Các quy tắc của hành vi và hoạt động quen thuộc mà con người bằng lòng tuân thủ trong hàng trăm năm, nay đã bị vứt bỏ một cách dứt khoát
mà không hề luyến tiếc Dưới những dư chấn của các cuộc xung đột xã hội, xã hội có thể bị cải biến cũng giống như thiên nhiên sau một cơn giông, nhưng cũng có thể trở thành cảnh hoang tàn đổ nát, giống như thiên nhiên sau một cơn bão táp huỷ diệt Chỉ có một thứ duy nhất không thể giữ được trong trường hợp này đó là trạng thái yên tĩnh trước đây Cuộc xung đột xã hội và diện mạo của đời sống chính trị trước đây không thể song hành với nhau Cuộc xung đột
xã hội càng mạnh mẽ và khốc liệt bao nhiêu thì sự ảnh hưởng về mặt chính trị của cuộc xung đột đó đến sự vận động của các quá trình xã hội càng dễ nhận
Trang 37thấy bấy nhiêu, nhu cầu mà nó đặt ra đối với những thay đổi và đối với tốc độ thực hiện những thay đổi đó càng lớn bấy nhiêu
2.3 Phân loại xung đột xã hội
Phân loại xung đột xã hội có thể được tiến hành dựa vào những cơ sở khác nhau Dưới đây trình bày việc phân loại xung đột xã hội dựa vào những cơ sở phổ biến và khái quát nhất
Phân loại xung đột xã hội dựa vào cách tiếp cận hệ thống Mỗi một hệ
thống xã hội nào đó không phải là không thay đổi, không phải một lần và mãi mãi là hệ thống xã hội đó Mọi hệ thống không có tính cố định, bởi những mâu thuẫn nội tại vốn có, đều trải qua quá trình theo thời gian: sinh ra và hình thành; phát triển và phồn vinh; suy tàn và mất đi Thời gian là đặc tính vĩnh cửu hệ thống Hệ thống thường phải chịu những “nhiễu loạn” bên trong vốn là kết quả của tính mâu thuẫn nội tại của nó Bộ phận và hệ thống; phần và cái tổng thể; tính có tổ chức và tính phi tổ chức; cái bên trong và cái bên ngoài; cấu trúc và chức năng; tính đa dạng và tính đơn điệu - toàn bộ những điều đó chưa phải là những yếu tố đầy đủ về những mặt đối lập trong các quan hệ vốn
có ở những hệ thống và vốn làm phát sinh các cuộc xung đột Mỗi một đặc điểm trong số đó đều được coi là cơ sở để phân các cuộc xung đột thành các loại xung đột cụ thể Do vậy, các cuộc xung đột xã hội được phân thành: xung đột xã hội về cấu trúc, xung đột xã hội về chức năng, xung đột xã hội bên trong
hệ thống, xung đột xã hội bên ngoài hệ thống
Phân loại xung đột xã hội dựa vào lĩnh vực thể hiện xung đột
Dựa vào lĩnh vực thể hiện, xung đột xã hội được phân thành: xung đột kinh
tế, xung đột chính trị (trong đó có xung đột giữa các dân tộc), xung đột trong đời sống hàng ngày, xung đột văn hóa, xung đột xã hội (ở nghĩa hẹp), xung đột môi trường, xung đột hỗn hợp
Xung đột kinh tế hay nói cách khác xung đột trong lĩnh vực kinh tế là loại xung đột xã hội mang tính chất phổ biến và dễ nhận thấy, đặc biệt trong nền
Trang 38kinh tế thị trường Xét về thực chất thì bản thân nền kinh tế thị trường là “sân chơi” của các cuộc xung đột thường xuyên xảy ra không chỉ dưới dạng đấu tranh cạnh tranh mà còn dưới hình thức ký kết và thực hiện các hợp đồng thương mại vốn luôn luôn đi đôi với sự đối thoại và với những hành vi khác nhau (kể cả đe dọa, lừa dối, cưỡng bức ) với mục đích buộc đối phương phải thỏa thuận theo hướng có lợi cho mình Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường còn xuất hiện những tình huống xung đột nghiêm trọng khác như: các cuộc đình công, bãi công; đóng cửa, thải thợ, nhân viên hàng loạt; các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ v.v Mặc dù, các cuộc xung đột lao động tồn tại trong mọi chế độ xã hội, song chúng vốn là đặc trưng nhất của nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng mua - bán mọi thứ hàng hóa, kể cả sức lao động Các cuộc xung đột kinh tế với quy mô lớn đều ảnh hưởng đến lợi ích của rộng rãi các tầng lớp dân cư trong xã hội
Các cuộc xung đột trong lĩnh vực chính trị là hiện tượng bình thường trong xã hội dân chủ Các cuộc xung đột này có đặc điểm thể hiện ở chỗ chúng
có thể chuyển hóa thành những sự kiện xã hội có quy mô đặc biệt lớn như: cuộc nổi dậy; những vụ quần chúng gây rối loạn; các cuộc bạo loạn v.v mà nghiêm trọng nhất là những cuộc nội chiến Hiện nay, nhiều cuộc xung đột chính trị có khía cạnh liên quan đến dân tộc, tôn giáo; hầu như trong tất cả các trường hợp, cuộc xung đột chính trị đồng thời là cuộc xung đột dân tộc hoặc trong bất kỳ trường hợp nào cũng có một bên nhân danh “phong trào yêu nước”, “phong trào đòi ly khai”, “phong trào tôn giáo” v.v để xung đột với bên còn lại
Các cuộc xung đột xã hội ở nghĩa hẹp nảy sinh từ những mâu thuẫn về lợi ích trong lĩnh vực lao động, bảo vệ sức khỏe, bảo đảm xã hội, giáo dục, đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong lĩnh vực môi trường v.v Các cuộc xung đột này có liên quan chặt chẽ với hai loại xung đột đã nêu trên Các cuộc xung đột này không phụ thuộc nhiều và trực tiếp vào bản chất của chế độ xã hội như xung đột kinh tế và xung đột chính trị và quy mô của chúng cũng không lớn
Trang 39lắm Cũng có thể nói như vậy về các cuộc xung đột diễn ra trong đời sống giữa con người với con người tại nơi họ làm việc hay cư trú
Phân loại xung đột xã hội theo các tiêu chí khác
Các cuộc xung đột xã hội có thể được phân loại dựa vào các tiêu chí khác như: theo số lượng các thành viên tham gia; theo mức độ xung đột xã hội được giải quyết; theo các động cơ xung đột xã hội, theo độ dài của thời gian diễn ra xung đột xã hội (những cuộc xung đột xã hội ngắn, những cuộc xung đột xã hội dài); theo nguồn xung đột (các cuộc xung đột vật chất, các cuộc xung đột
xã hội tinh thần, các cuộc xung đột xã hội); theo giới hạn về không gian và thời gian; theo chủ thể; theo mức độ đối kháng v.v
Tóm lại, việc phân loại các cuộc xung đột xã hội về mặt thực tế có thể dựa vào bất kỳ một yếu tố nào đó của các cuộc xung đột xã hội như đã phân tích ở trên Ý nghĩa của bất kỳ sự phân loại mà là ở chỗ từ những đặc điểm của trường hợp cụ thể tìm ra phương thức phòng ngừa và giải quyết xung đột xã hội tối ưu nhất
2.4 Diễn biến của xung đột xã hội
Tình huống xung đột xã hội
Diễn biến của cuộc xung đột xã hội là sự vận động, sự phát triển của nó
Bất kỳ một cuộc xung đột xã hội nào cũng diễn ra theo một số giai đoạn Thường thì, trước khi xảy ra xung đột xã hội, đã xuất hiện tình huống vốn được gọi là tình huống xung đột, tức tình huống mà trên nền tảng của nó cuộc xung đột xã hội được phát triển Nếu như không được ngăn chặn (giải quyết, chấm dứt) một cách kịp thời, thì cuộc xung đột xã hội sẽ leo thang và sau đó, sớm muộn gì cũng buộc phải kết thúc
Khái niệm về tình huống xung đột xã hội Những hiện tượng xuất hiện
trước khi xảy ra cuộc xung đột xã hội có thể được chia thành hai nhóm: tình huống cuộc sống khách quan nơi mà các bên chống đối nhau đều có mặt và bản thân các bên chống đối nhau - những người có những lợi ích nhất định Đó
Trang 40cũng chính là cấu trúc của sự mâu thuẫn, mặc dù chưa chuyển thành cuộc xung đột xã hội
Tình huống xung đột xã hội là tổng hợp những đặc điểm của những lợi ích của con người tạo ra cơ sở của sự chống đối lẫn nhau của những chủ thể trong xã hội Sự hình thành đối tượng xung đột xã hội là điểm mấu chốt của
tình huống xung đột xã hội Bởi là tình huống trước xung đột, do vậy nó có thể chưa được các bên sử dụng, thậm chí chưa được họ hiểu biết một cách đầy đủ Các tình huống xung đột là rất đa dạng và phức tạp
Tình huống xung đột có thể được hình thành một cách khách quan, tức được hình thành ngoài ý chí và mong muốn của các bên sẽ đối lập và có thể được hình thành bởi sự mong muốn của một hoặc của cả hai bên Do vậy, điều đặc biệt quan trọng cần nhấn mạnh rằng, bất kỳ một tình huống xung đột xã hội nào cũng có nội dung khách quan (nội dung này được xác định bởi những
sự kiện diễn ra trong thực tiễn) và cũng có ý nghĩa chủ quan (ý nghĩa này tùy thuộc vào sự lý giải của mỗi bên về các sự kiện) mà căn cứ vào nó, chủ thể bắt đầu tiến hành sự xung đột xã hội
Nhận thức về tình huống xung đột xã hội Sự phản ánh mang tính chủ
quan về tình huống xung đột xã hội không bắt buộc phải phù hợp với tình hình thực tế của các vụ việc Sự nhận thức về cuộc xung đột xã hội luôn ẩn dấu trong nó những yếu tố chủ quan và vì vậy luôn bị sai lệch ở mức độ nhất định Những sai lệch trong nhận thức về tình huống có thể đạt tới những quy
mô đáng kể Việc không nhận thức được chủ thể khác có thể được coi là nguyên nhân của xung đột Ở đây có: xung đột do “nhận thức không tương thích” và xung đột “do sai lầm” Xung đột do “nhận thức không tương thích”
là trường hợp mà trên thực tế đang tồn tại tình huống xung đột và các bên mặc
dù đều nhận thức được là có tình huống xung đột, song sự nhận thức đó của họ
“có độ lệch chuẩn” so với thực tế của tình huống xung đột đang diễn ra Những biểu hiện của sự lệch chuẩn trong nhận thức đó là khá đa dạng Trong những