1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

383 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Tác giả GS.TS. Ngô Thế Chi, PGS.TS. Hoàng Trần Hậu, PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ, PGS.TS. Đặng Văn Thanh, TS. Vũ Sỹ Cường, TS. Hoàng Văn Bằng, PGS.TS. Nguyễn Bá Minh, PGS.TS. Đoàn Vân Anh, PGS.TS. Trần Xuân Hải, PGS.TS. Bùi Đường Nghiêu, TS Ngô Thị Thu Hồng, TS. Nguyễn Thị Lan
Người hướng dẫn GS.TS. Ngô Thế Chi
Trường học Học Viện Tài Chính
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 383
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CỦA DOANH NGHIỆP (10)
    • 1.1.1. Khái quát chung về khoa học và công nghệ (10)
    • 1.1.2. Các phương thức phát triển KH&CN (13)
    • 1.1.3. Vai trò của phát triển khoa học và công nghệ với nền kinh tế và (13)
    • 1.1.4 Sự cần thiết phải đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ (21)
  • 1.2. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP (23)
    • 1.2.1 Khái niệm chung về nguồn tài chính (23)
    • 1.2.2. Huy động và sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp (25)
    • 1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nguồn lực tài chính, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ (33)
    • 1.2.4. Quỹ KH&CN và quản lý, sử dụng quỹ KH&CN trong các doanh nghiệp (42)
  • 1.3. KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ (0)
    • 1.3.1. Kinh nghiệm Nhật bản (48)
    • 1.3.2. Kinh nghiệm Hàn Quốc (50)
    • 1.3.3. Kinh nghiệm Singapore (52)
    • 1.3.4. Kinh nghiệm Canada (55)
    • 1.3.5. Kinh nghiệm Trung Quốc (57)
    • 1.3.8. Bài học kinh nghiệm (69)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP (10)
    • 2.1. KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM (71)
      • 2.1.1. Những thành tựu (71)
      • 2.1.2. Những hạn chế, yếu kém trong khoa học và công nghệ (73)
      • 2.1.3. Nguyên nhân của tình trạng khoa học và công nghệ yếu kém77 2.2. HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA (77)
      • 2.2.1. Những chính sách chung về huy động và sử dụng nguồn tài chính đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp …79 2.2.2. Cơ chế chính sách về quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong (79)
    • 2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG (102)
      • 2.3.1. Tổng quan về doanh nghiệp Việt nam hiện nay (102)
      • 2.3.2. Thực trạng khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp (112)
      • 2.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới Khoa học và công nghệ trong (116)
    • 2.4. THỰC TRẠNG TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI DOANH NGHIỆP119 1. Thực trạng các nhân tố tác động đến hình thành quỹ Phát triển (119)
      • 2.4.2. Thực trạng tạo lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong (123)
      • 2.4.3. Nguồn vốn hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ130 2.4.4. Thực trạng quản lý và sử dụng quỹ phát triển KH & CN trong (130)
    • 3.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHO VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP (137)
      • 3.1.1. Quan điểm chung về hoàn thiện cơ chế tạo lập, quản lý sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp (137)
      • 3.1.2. Định hướng chiến lược về việc tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp (138)
    • 3.2. GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM KHUYẾN KHÍCH SỰ TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG HIỆU QUẢ CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP (140)
      • 3.2.1 Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (140)
      • 3.2.2. Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính từ Nhà nước cho khoa học và công nghệ, mở rộng nguồn cho hoạt động KH & CN (141)
      • 3.2.3 Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ (147)
    • 3.3. Giải pháp huy động nguồn tài chính cho tạo lập, quản lý và sử dụng hiệu quả quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp (148)
      • 3.3.1. Giải pháp về thuế (148)
      • 3.3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về sử dụng quỹ phát triển KH & (151)
      • 3.3.3 Thực hiện các chính sách khuyến khích sự hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm vào doanh nghiệp (155)
      • 3.3.5. Giải pháp khuyến khích đầu tư quốc tế cho hoạt động KH & CN (158)
    • 3.4. Giải pháp cụ thể nhằm tạo lập, quản lý sử dụng hiệu quả quỹ phát triển (160)
      • 3.4.1. Giải pháp khuyến khích tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển (160)
      • 3.4.3. Giải pháp cho doanh nghiệp chuyên về nghiên cứu và phát triển công nghệ mới (166)
      • 3.4.4. Đẩy mạnh liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu và các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp (168)
    • 3.5. Các giải pháp hỗ trợ nhằm thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ tại (170)
      • 3.5.1. Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin khoa học và công nghệ (170)
      • 3.5.2. Tăng cường hợp tác để phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là nhân lực công nghệ cao (172)
      • 3.5.3. Giải pháp phát triển thị trường công nghệ (173)
      • 3.5.4. Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (175)
    • 3.6. Hoàn thiện cơ chế quản lý Quỹ phát triển khoa học và công nghệ . 177 1. Hoàn thiện cơ chế quản lý thu chi, tài sản (177)

Nội dung

VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CỦA DOANH NGHIỆP

Khái quát chung về khoa học và công nghệ

Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu đa dạng với nhiều định nghĩa khác nhau từ các nhà nghiên cứu, học giả, chuyên gia và nhà quản lý Những định nghĩa này phản ánh sự phong phú và tính đa chiều của khoa học trong việc khám phá và hiểu biết về thế giới xung quanh.

Khoa học là một hệ thống tri thức được xác thực qua thực nghiệm, liên quan đến các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo những quy luật nhất định.

Khoa học là tập hợp kiến thức về thế giới tự nhiên và hành vi của nó, đồng thời cũng được định nghĩa là những tri thức thu được từ quá trình nghiên cứu.

Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm tạo ra tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy, bao gồm tất cả các điều kiện và yếu tố liên quan đến quá trình sản xuất tri thức này.

Khoa học là “any systematic field of study”, nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống và “nhằm sản xuất ra (to produce) các tri thức” 4

Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu của con người, có nhiệm vụ tổ chức và hệ thống hóa các tri thức khách quan một cách lý thuyết Là một hình thái ý thức xã hội, khoa học không chỉ bao gồm các hoạt động thu nhận kiến thức mới mà còn phản ánh kết quả của những hoạt động này.

2 Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001)

3 Từ điển Triết học của Liên Xô (1975)

4 Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994)

5 Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986)

Khoa học là hoạt động nghiên cứu và hiểu biết về thế giới vật lý, dựa trên thực nghiệm và các sự kiện đã được kiểm chứng Theo từ điển MacMillan, khoa học được phân loại thành hai khía cạnh: (1) một lĩnh vực nghiên cứu sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) một chủ đề nghiên cứu cụ thể như vật lý học hay hóa học.

Khoa học có thể được hiểu qua bốn khía cạnh chính: một hệ thống tri thức, một hoạt động sản xuất tri thức, một hình thái ý thức xã hội, và một thiết chế xã hội Mỗi tư duy sẽ mang đến cách hiểu khác nhau về khoa học, nhưng nhìn chung, khoa học chính là sản phẩm của con người trong quá trình sản xuất tri thức.

Khoa học, hay còn gọi là kiến thức, là những nỗ lực nhằm phát minh và mở rộng hiểu biết của con người về thế giới vật chất xung quanh Các nhà khoa học sử dụng phương pháp quan sát để thu thập dữ liệu từ những hiện tượng tự nhiên, từ đó phân tích và giải thích cách thức hoạt động của chúng Một trong những phương pháp quan trọng là thử nghiệm, cho phép mô phỏng các hiện tượng tự nhiên trong điều kiện kiểm soát Tri thức trong khoa học bao gồm toàn bộ thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được, và định nghĩa phổ biến về khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa.

Khoa học là quá trình nghiên cứu để khám phá kiến thức và học thuyết mới trong các lĩnh vực tự nhiên và xã hội.

6 Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006)

Thuyết mới trong lĩnh vực tri thức có khả năng vượt trội hơn các lý thuyết cũ, giúp thay thế những quan điểm không còn phù hợp Khoa học được hiểu là một hệ thống tri thức về quy luật vận động của vật chất, tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống này đã hình thành qua lịch sử và tiếp tục phát triển dựa trên thực tiễn xã hội.

Công nghệ bao gồm các phương tiện, phương pháp, kiến thức và kỹ năng cần thiết để chuyển đổi nguồn lực thành sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người.

Khi nói đến công nghệ người ta thường nêu lên 4 thành phần của công nghệ như sau:

+ Phần phương tiện (hay phần kỹ thuật) bao gồm: máy móc, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng vật chất

+ Phần con người thể hiện ở trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thói quen

+ Phần thông tin bao gồm các bí quyết, qui trình, phương pháp được mô tả trong các tài liệu và bản thiết kế

Phần tổ chức bao gồm việc phối hợp, quản lý và điều hành các yếu tố như phương tiện, con người và thông tin, nhằm áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh tế thực tiễn.

Trong bốn thành phần của công nghệ, phần cứng được gọi là "phương tiện", trong khi các thành phần còn lại được gọi là "phần mềm" Sự tương tác và tương thích giữa các thành phần này là yếu tố quyết định hiệu quả của công nghệ Dù có máy móc hiện đại, nhưng nếu thiếu đội ngũ lao động lành nghề và khả năng tổ chức, hoặc không nắm bắt thông tin và bí quyết công nghệ, thì việc phát huy hiệu quả công nghệ sẽ gặp nhiều khó khăn.

Khoa học và công nghệ gắn bó chặt chẽ, trong đó khoa học cung cấp lý thuyết cho sự sáng tạo và thực hiện công nghệ Ngược lại, công nghệ cung cấp các công cụ thiết yếu hỗ trợ nghiên cứu và khám phá kiến thức khoa học mới.

Các phương thức phát triển KH&CN

Phát triển khoa học và công nghệ có thể được thực hiện thông qua nghiên cứu và triển khai ứng dụng, hoặc thông qua chuyển giao và nhập khẩu công nghệ để áp dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Phương thức phát triển khoa học và công nghệ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng thường tốn kém và đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng cơ sở vật chất phù hợp Điều này khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc đầu tư, trong khi chỉ những tập đoàn lớn mới có đủ khả năng theo đuổi phương thức này Đầu tư vào khoa học và công nghệ cần nguồn lực lớn và có mức độ rủi ro cao, với kết quả thường không thể ứng dụng ngay lập tức Tuy nhiên, nếu công nghệ thành công, nó sẽ mang lại lợi ích lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, điều này rất quan trọng cho sự phát triển bền vững của họ.

Vai trò của phát triển khoa học và công nghệ với nền kinh tế và

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, năng lực cạnh tranh đóng vai trò quyết định cho sự phát triển của doanh nghiệp và quốc gia Các doanh nghiệp mới thường kế thừa công nghệ có sẵn và qua thời gian sẽ phát triển công nghệ riêng, tăng cường năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, chỉ một số ít doanh nghiệp có khả năng tự phát triển công nghệ do hạn chế về nhân lực và tài chính Mỗi lĩnh vực sản xuất có công nghệ đặc thù, do đó, trình độ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự phát triển của ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.

Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Sự khác biệt giữa các thời đại kinh tế không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở phương thức sản xuất và tư liệu lao động Khoa học đóng vai trò quan trọng như một lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành điểm khởi đầu cho những thay đổi lớn trong kỹ thuật sản xuất và hình thành các ngành sản xuất mới, ưu việt hơn.

Cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật hiện đại đã tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học và kĩ thuật, dẫn đến những phương pháp sản xuất mới Khoa học không chỉ phát hiện ra các nguồn năng lượng mới mà còn phát triển hàng loạt vật liệu nhân tạo với nhiều ứng dụng đa dạng Ngoài ra, khoa học còn cung cấp các phương tiện kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng trong sản xuất.

Tri thức khoa học được vật chất hoá và kết tinh trong mọi yếu tố của lực lượng sản xuất, từ đối tượng lao động, công cụ lao động, kỹ thuật đến quá trình công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất Nó đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của người lao động, dần thay thế thói quen và kinh nghiệm thông thường, trở thành yếu tố chủ đạo trong sản xuất.

Trong sản xuất hiện đại, việc áp dụng tri thức khoa học để tự động hóa và kiểm soát quy trình sản xuất trở nên vô cùng quan trọng Con người không còn chỉ đóng vai trò thao tác trực tiếp mà chủ yếu tập trung vào việc sáng tạo và điều khiển quá trình sản xuất Khoa học đã trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống sản xuất, liên kết chặt chẽ với các yếu tố khác để tối ưu hóa việc sử dụng thiết bị, nguyên liệu và năng lượng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

Đổi mới công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc phát triển doanh nghiệp, giúp tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm Sự kết hợp giữa khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định để cải thiện sức cạnh tranh trong thị trường hiện nay.

Công nghệ sản xuất bao gồm bốn yếu tố chính: Thiết bị (T), Lao động (H), Thông tin (I), và Tổ chức (O) Tỷ trọng của từng thành phần này ảnh hưởng đến trình độ sản xuất và chất lượng sản phẩm Ở mức công nghệ thấp, các yếu tố này có thể không được tối ưu hóa, dẫn đến hiệu suất sản xuất hạn chế.

Tỷ trọng của T và H cao hơn so với I và O, nhưng khi công nghệ phát triển, tỷ trọng của O và I sẽ tăng lên Mục tiêu cuối cùng mà các quốc gia hướng đến là nâng cao mức sống và cải thiện chất lượng cuộc sống, điều này đòi hỏi phải tăng tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP) thông qua việc gia tăng giá trị gia tăng trong các ngành kinh tế - kỹ thuật và doanh nghiệp Theo cách tiếp cận hiện đại, sự tăng trưởng GDP cần đi đôi với việc tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động.

Biểu đồ số 1: Quy trình phát triển của một quốc gia

Nguồn: Kinh tế Phát triển (Vũ T.N.Phùng chủ biên)

Tăng năng suất lao động phụ thuộc vào việc cải thiện độ vốn IC (Capital Intencity) và nâng cao năng suất tổng hợp TFP (Total Factor Productivity) Yếu tố TFP chủ yếu được hình thành từ các yếu tố vô hình, trong đó phần mềm công nghệ đóng vai trò quan trọng Theo Tổ chức Năng suất châu Á (APO), TFP được tạo ra từ các yếu tố chính như: áp lực từ thị trường (nhu cầu), chất lượng thiết bị (tính đồng bộ, tính năng gia công - chế biến, tính an toàn), chất lượng lao động (kỹ năng và tính thạo việc), vai trò của công nghệ tiên tiến (ứng dụng kết quả R&D, sản phẩm và phương pháp mới), và hiệu quả quản lý (khả năng kiểm soát cao trong quản lý theo quá trình).

Quá trình đổi mới công nghệ đánh dấu sự chuyển đổi từ vai trò chủ đạo của yếu tố vốn CI sang các yếu tố tổng hợp TFP Theo Tổ chức APO, hiện nay, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, CI vẫn đóng vai trò quan trọng, chiếm tới 60-70% trong tổng mức tăng năng suất và GDP Mặc dù yếu tố TFP đang gia tăng với tốc độ nhanh, nhưng hiện tại vẫn chỉ chiếm 30-40% trong tổng mức.

Nâng cao mức sống và cải thiện chất lượng cuộc sống

Tăng trưởng kinh tế (GDP)

Tăng trưởng việc làm và năng suất là yếu tố quan trọng để cải thiện GDP của Việt Nam Hiện nay, năng suất tổng hợp (TFP) chỉ đạt từ 20-22% mức tăng năng suất chung, cho thấy phần lớn sự phát triển vẫn phụ thuộc vào yếu tố CI.

Đổi mới công nghệ là yếu tố then chốt cho đầu tư phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Tại Việt Nam, trình độ công nghệ còn hạn chế dẫn đến năng suất lao động và vốn thấp hơn so với các nước trong khu vực Chất lượng sản phẩm cũng chưa đạt tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và chưa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, IEC Việc hội nhập vào thị trường quốc tế đòi hỏi sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để có vị thế cạnh tranh và giá cả hợp lý, đồng thời vượt qua các rào cản kỹ thuật.

Phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế:

Công nghệ sản xuất mới và hiện đại không chỉ tạo ra sản phẩm với giá trị gia tăng cao mà còn tăng cường tính cạnh tranh và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Sự thành công trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa phụ thuộc vào việc chủ động hội nhập kinh tế kết hợp với việc nâng cao các yếu tố năng lực nội sinh như văn hóa, giáo dục và khoa học Thiếu tri thức và năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, đất nước sẽ gặp khó khăn trong quá trình hội nhập, dễ bị thua thiệt và trở thành bãi thải công nghệ của các quốc gia khác.

Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là quá trình áp dụng tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Mục tiêu của quá trình này là chuyển đổi nền kinh tế từ tình trạng kém hiệu quả sang một nền kinh tế đạt tiêu chuẩn quốc tế, như ISO, đảm bảo sản phẩm tạo ra có chất lượng cao.

Theo Viện Khoa học Thống kê, trong giai đoạn 2000-2005, có 9 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc gia nhập thị trường quốc tế, từ đó góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế.

Sự cần thiết phải đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ

Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập đang tạo ra những lĩnh vực mới về năng lực cạnh tranh, trong đó tri thức giữ vai trò then chốt trong việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh Các nền kinh tế mới nổi tại châu Á và Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, và Ấn Độ đã chứng minh rằng công nghệ và đổi mới là yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững.

Hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu các quốc gia coi đổi mới khoa học và công nghệ là mục tiêu chiến lược để đạt lợi ích lâu dài Hiện nay, quyền lực công nghệ quyết định vị trí và thứ bậc của các quốc gia trên trường quốc tế, thay vì chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và đất đai như trước đây Những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới hiện nay đều có tiềm lực mạnh mẽ về khoa học và công nghệ.

Từ thế kỷ VII đến XVII, Trung Hoa là trung tâm của thế giới nhờ bốn phát minh công nghệ quan trọng: thuốc súng, kỹ thuật in, giấy và la bàn nam châm Tuy nhiên, từ thế kỷ XVIII, châu Âu đã vượt qua Trung Hoa với cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất, đặc biệt là nhờ phát minh máy hơi nước, giúp nước Anh trở thành bá chủ thế giới bằng cách thay thế lao động con người bằng máy móc Một thế kỷ sau, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai diễn ra trong các lĩnh vực điện, hóa chất, dược phẩm và ô tô, khiến Đức và Mỹ chiếm ưu thế, trong khi Anh bị bỏ lại do không theo kịp sự phát triển của các ngành công nghiệp mới.

Vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, tri thức và ứng dụng của nó trong sản xuất đã trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia Khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự phồn vinh cho dân tộc Do đó, đổi mới khoa học và công nghệ là cần thiết cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên vô cùng quan trọng Việc phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp sẽ quyết định sự thành công của mỗi tổ chức.

Việt Nam hiện là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, nhưng đồng thời cũng đang đối mặt với thâm hụt thương mại nghiêm trọng, điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Năm 2007, thâm hụt thương mại của Việt Nam đạt 12,4 tỷ đô la Mỹ, tương đương khoảng 17,3% GDP, cho thấy mức độ cao so với quy mô kinh tế Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể, nhưng chủ yếu là do tăng về số lượng, trong khi giá trị gia tăng trong xuất khẩu vẫn còn rất khiêm tốn.

Trình độ khoa học và công nghệ cùng chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện chỉ đạt mức trung bình, dẫn đến giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra không cao So với các quốc gia có phát triển khoa học và công nghệ mạnh như Singapore (59%), Hàn Quốc (32%), Thái Lan (30%), và Trung Quốc (27%), Việt Nam chỉ đạt 2% trong xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao Để cải thiện cán cân thương mại, Việt Nam cần chú trọng vào việc phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ.

TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP

Khái niệm chung về nguồn tài chính

Nguồn tài chính đại diện cho giá trị dưới dạng tiền tệ trong việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế xã hội trong phân phối Nó nhằm đáp ứng nhu cầu tích lũy hoặc tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội.

Bản chất của tài chính chính là phân phối giá trị, không phải phân phối hiện vật Tài chính tập trung vào việc phân bổ tài sản thông qua giá trị, thể hiện sự chuyển giao và quản lý nguồn lực hiệu quả.

14 Chỉ số phát triển thế giới, Ngân hàng Thế giới, 2005.

Nguồn tài chính thể hiện sự đa dạng tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành, cho phép các chủ thể có được quỹ tiền tệ tập trung Qua các nguồn tài chính, các tổ chức trong xã hội có thể vận động quỹ tiền tệ một cách độc lập, phục vụ cho chức năng cất trữ và thanh toán Đối với doanh nghiệp, nguồn tài chính chính là luồng tiền mà họ có thể sử dụng để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh.

Do sự khác biệt trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có nguồn tài chính đa dạng Điều này phản ánh sự phong phú trong hoạt động kinh doanh của họ Mỗi doanh nghiệp có thể có các luồng tiền và nguồn tài chính khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động và thời điểm Mỗi nguồn tài chính phục vụ cho những mục đích sử dụng khác nhau Mặc dù việc phân biệt các nguồn tài chính không phải lúc nào cũng cần thiết, nhưng cấu trúc và phân bố nguồn tài chính luôn thể hiện rõ các hình thái của từng loại nguồn mà doanh nghiệp sở hữu.

Về mặt lý thuyết, khái niệm nguồn tài chính có nội hàm phân biệt với khái niệm luồng tiền

Luồng tiền của doanh nghiệp bao gồm hai dòng chủ yếu: luồng tiền vào và luồng tiền ra Nguồn tài chính liên quan đến sự vận động của giá trị để hình thành quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp, gắn liền với hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh Luồng tiền chính là chỉ số phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh tại từng thời điểm cụ thể.

Huy động và sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Tổng quan về huy động nguồn tài chính

Huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp là quá trình tập trung nguồn lực tài chính nhằm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu sản xuất và phát triển Doanh nghiệp có thể khai thác nguồn tài chính cho nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo sự phát triển bền vững.

* Nguồn vốn khi hình thành doanh nghiệp

Khi thành lập doanh nghiệp, cần có một lượng vốn tối thiểu để đảm bảo hoạt động kinh doanh Nguồn vốn ban đầu thường được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.

Doanh nghiệp nhà nước nhận vốn đầu tư sản xuất ban đầu từ Nhà nước Trong khi đó, doanh nghiệp được hình thành từ việc sáp nhập các công ty sẽ sử dụng nguồn vốn từ các công ty đó Đối với công ty cổ phần hoặc liên doanh, nguồn vốn ban đầu được đóng góp bởi các cổ đông hoặc các bên tham gia liên doanh.

Vay ngân hàng cho doanh nghiệp mới thường gặp nhiều khó khăn, vì các ngân hàng thường dè dặt và đặt ra nhiều điều kiện khắt khe như yêu cầu bảo lãnh, ký quỹ và thế chấp tài sản.

* Nguồn vốn trong quá trình hoạt động

Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp cần liên tục bổ sung vốn để gia tăng tài sản, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, cũng như đổi mới công nghệ Điều này giúp doanh nghiệp thực hiện chiến lược phát triển dài hạn đã được xác định, nhằm đầu tư hiệu quả cho sự phát triển bền vững.

Việc bổ sung vốn đầu tư phát triển thường xuất phát từ hai nguồn: Nguồn từ bên trong và nguồn từ bên ngoài doanh nghiệp

Nguồn vốn đầu tư từ bên trong doanh nghiệp, hay còn gọi là nguồn vốn tự bổ sung, chủ yếu bao gồm lợi nhuận hàng năm để lại cho việc phát triển đầu tư Mỗi năm, một phần lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước được giữ lại nhằm bổ sung vốn cho hoạt động đầu tư phát triển Ngoài ra, khấu hao tài sản cố định cũng được xem là nguồn vốn tăng thêm, miễn là chưa sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định đó.

+ Nguồn tài chính từ bên ngoài doanh nghiệp

Khi nguồn vốn nội bộ không đủ đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp cần tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài Trong nền kinh tế thị trường, quy mô hoạt động của doanh nghiệp ngày càng mở rộng, và sự phát triển của thị trường tài chính đã mang lại nhiều hình thức huy động vốn như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, góp vốn liên doanh và kêu gọi đầu tư.

1.2.2.2 Các hình thức huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

(i) Huy độ ng ngu ồ n tài chính cho nghiên c ứ u khoa h ọ c và công ngh ệ c ủ a doanh nghi ệ p t ừ chính sách ư u đ ãi c ủ a Nhà n ướ c đố i v ớ i doanh nghi ệ p

Các công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước có thể nhận nguồn hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước cho các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ nếu được Nhà nước cấp đầu tư Hỗ trợ này nhằm phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh và phát triển doanh nghiệp, chủ yếu áp dụng cho những doanh nghiệp có cổ phần Nhà nước chi phối.

Nhà nước thông qua kênh cấp phát vốn ngân sách cung cấp toàn bộ hoặc một phần vốn cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp Nhà nước Việc cấp vốn này đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp Mức vốn mà ngân sách nhà nước cấp cho các công ty, tổng công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

- Tầm quan trọng, mức độ ưu tiên của tổng công ty, tập đoàn kinh tế

Quy mô của doanh nghiệp trong ngành kinh tế kỹ thuật được xác định bởi các yêu cầu khách quan của lĩnh vực kinh doanh, cùng với quy định pháp luật về vốn pháp định Điều này đảm bảo rằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và tuân thủ các tiêu chuẩn cần thiết trong ngành.

- Nhiệm vụ được giao và phạm vi hoạt động (địa phương, vùng, toàn quốc hoặc quốc tế)

- Tình hình và khả năng của ngân sách nhà nước trong thời kỳ đó

+ Hỗ trợ gián tiếp qua thuế và các cơ chế, chính sách tài chính khác

- Nguồn tài chính mang tính chất khuyến khích thông qua công cụ thuế của Nhà nước

Nhà nước hàng năm căn cứ vào kết quả đầu tư cho nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp để thực hiện chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ lợi nhuận do hoạt động này mang lại Đây là hình thức huy động vốn từ ngân sách nhà nước với tính chất tài trợ, nhằm khuyến khích lợi nhuận từ nghiên cứu và triển khai Do đó, nguồn tài chính từ chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp được xem là nguồn khuyến khích của nhà nước đối với doanh nghiệp Mức độ miễn giảm thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm quy mô lợi nhuận từ nghiên cứu và triển khai, chi phí đầu tư của từng doanh nghiệp, cũng như vai trò và tầm quan trọng của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

Tỷ lệ miễn, giảm thuế thu nhập từ lợi nhuận nghiên cứu không mang tính cào bằng mà có sự phân biệt rõ ràng Sự phân biệt này không dựa vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp, mà dựa vào kết quả hoạt động nghiên cứu và vai trò của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Nhà nước không chỉ đầu tư vốn trực tiếp vào các tổng công ty và tập đoàn kinh tế cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức khác nhau.

Nhà nước cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ cho các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh Cơ chế hỗ trợ đầu tư từ ngân sách nhà nước được áp dụng để mở rộng quy mô hoạt động hoặc thực hiện các đầu tư chiều sâu, đặc biệt trong các trường hợp cần thiết để cải thiện trình độ công nghệ.

Nhà nước cung cấp hỗ trợ lãi suất vay cho các tổng công ty nhà nước nhằm giúp họ trang trải chi phí lãi vay cho các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ quan trọng Hình thức hỗ trợ tài chính này không chỉ giảm bớt gánh nặng tài chính mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế-xã hội.

Những nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nguồn lực tài chính, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ

Đầu tư vào phát triển khoa học và công nghệ (KH & CN) là cần thiết cho doanh nghiệp, đặc biệt là việc hình thành quỹ phát triển KH & CN Để phân tích thực trạng quản lý và sử dụng nguồn quỹ này, cần nghiên cứu các nhân tố chủ yếu liên quan đến việc tạo lập quỹ PTKH&CN và đề xuất các giải pháp phù hợp.

1.2.3.1 Cạnh tranh trên thị trường (cả thị trường trong và ngoài nước)

Việt Nam gia nhập WTO đã thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, tác động sâu rộng đến nền kinh tế và thị trường khoa học công nghệ trong nông nghiệp Quá trình này mở rộng thị trường và đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, giá cả sản phẩm, dịch vụ, buộc các sản phẩm và dịch vụ sản xuất trong nước phải cạnh tranh với quốc tế Điều này tạo ra thách thức lớn cho doanh nghiệp, yêu cầu họ đầu tư vào ứng dụng khoa học và công nghệ để tồn tại và phát triển.

15 Xem thêm tài liệu Hoàng Trần Hậu et al (2010) Đầu tư tài chính – NXB Tài chính

Nhu cầu ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng gia tăng, tác động mạnh mẽ đến các cơ sở nghiên cứu và sản xuất sản phẩm KH&CN, cũng như việc nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài Sự cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải đầu tư vào cải tiến công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm Tuy nhiên, việc đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN còn phụ thuộc vào quy mô thị trường và mức giá mà thị trường có thể chấp nhận.

Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang gia tăng, tạo ra cả cơ hội hợp tác và thách thức trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, các yêu cầu về tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ và phương thức quản lý ngày càng trở nên cấp thiết Trong bối cảnh này, những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin - truyền thông, cùng với sự phát triển của Internet, thương mại điện tử, ngân hàng điện tử và Chính phủ điện tử, đang mở ra những lợi thế cạnh tranh mới cho các quốc gia và doanh nghiệp.

1.2.3.2 Những nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp

Bao gồm các nhân tố sau:

- Tính ch ấ t s ả n ph ẩ m d ị ch v ụ và nhu c ầ u nghiên c ứ u khoa h ọ c và công ngh ệ c ủ a doanh nghi ệ p

Tính chất này quyết định đến lựa chọn các kênh huy động nguồn tài chính của doanh nghiệp Chẳng hạn:

Đối với hàng hóa và dịch vụ yêu cầu công nghệ cao và cần thường xuyên thích ứng với nhu cầu thị trường, việc lựa chọn các kênh huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ thông qua liên doanh với các doanh nghiệp có tiềm năng mạnh là một giải pháp hiệu quả để cùng phát triển.

Để tăng giá trị sản phẩm hàng hóa phục vụ xuất khẩu, doanh nghiệp có thể huy động nguồn tài chính từ vốn góp của các yếu tố nước ngoài, qua đó tiếp cận công nghệ hiện đại.

Khi sản phẩm hoặc dịch vụ phổ biến đang được sản xuất và tiêu thụ, doanh nghiệp có thể lựa chọn huy động nguồn tài chính từ nội bộ, từ các nhà đầu tư trong nước, hoặc thông qua việc vay ngân hàng.

Mức độ rủi ro của từng dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động tài chính cho doanh nghiệp Đối với các dự án có triển vọng cao và rủi ro thấp, nguồn tài chính chủ yếu được huy động từ các nhà đầu tư có kỳ vọng, những người "đặt cược" vào khả năng sinh lời của dự án Những nhà đầu tư này sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong quá trình đầu tư, đồng thời kỳ vọng vào lợi nhuận cao từ các dự án khoa học và công nghệ cần thiết cho việc nghiên cứu và triển khai.

- Chính sách khoa h ọ c và công ngh ệ trong quá trình s ả n xu ấ t kinh doanh và chính sách qu ả n lý tài chính cho nghiên c ứ u KH&CN c ủ a doanh nghi ệ p

Chính sách quản lý khoa học và công nghệ của doanh nghiệp thể hiện quyết tâm của lãnh đạo trong việc phát triển bền vững thông qua nghiên cứu Quản lý tài chính cho hoạt động này bao gồm ba yếu tố chính: huy động nguồn tài chính, xác định cơ cấu tài chính tối ưu và quy mô nguồn tài chính phù hợp Sự thay đổi trong chính sách tài chính sẽ ảnh hưởng đến chi phí nghiên cứu, dẫn đến sự biến động trong cơ cấu huy động tài chính của doanh nghiệp.

- N ă ng l ự c qu ả n lý ho ạ t độ ng huy độ ng nghiên c ứ u khoa h ọ c và công ngh ệ c ủ a doanh nghi ệ p

Năng lực quản lý của các bộ phận trong doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn giải pháp huy động tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ Các nhà quản trị tài chính cần hiểu rõ các yếu tố như lãi suất thị trường, chi phí phát hành và mức độ rủi ro của ngành để đưa ra quyết định đúng đắn Họ cũng phải có khả năng dự báo sự biến động của các yếu tố này nhằm đánh giá chi phí đầu tư và chi phí vốn cho các dự án nghiên cứu, từ đó ảnh hưởng đến lựa chọn kênh huy động tài chính phù hợp cho doanh nghiệp.

Khả năng đầu tư cho nghiên cứu KH & CN và hình thành quỹ phát triển KH

Sản xuất và phát triển doanh nghiệp tại Trung Quốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng như trình độ lao động, khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ, năng lực quản trị và quy mô vốn.

Doanh nghiệp có quy mô lớn với vốn cao, doanh thu lớn và nhân lực có trình độ ứng dụng khoa học và công nghệ sẽ có nhu cầu cao về sản phẩm khoa học và công nghệ Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ, phân tán, với năng lực kinh doanh kém và thiếu vốn sẽ gặp khó khăn trong việc tạo lập và sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ.

Trong những năm qua, sự phát triển của doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy rằng hầu hết các hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ (KH&CN) chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp lớn Ngược lại, nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu sản phẩm KH&CN mới ở doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) lại rất thấp, thậm chí không tồn tại.

Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ, các chính sách và giải pháp của Nhà nước cần phải linh hoạt và phù hợp với quy mô của từng doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

1.2.3.3 Trình độ phát triển của nền KH&CN Đây là nhân tố có ý nghĩa rất quyết định đến cung sản phẩm KH&CN cho doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ về nghiên cứu, triển khai công nghệ vào các doanh nghiệp, từ đó tác động đến quyết định cho việc huy động nguồn lực đầu tư cho KH & CN

Quỹ KH&CN và quản lý, sử dụng quỹ KH&CN trong các doanh nghiệp

1.2.4.1 Qu ỹ khoa h ọ c và công ngh ệ trong các doanh nghi ệ p

Sự hình thành quỹ nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ là cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Điều này cũng phản ánh yêu cầu về quyền tự chủ và trách nhiệm trong việc quản lý nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, doanh nghiệp cần có năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh là việc không ngừng đổi mới quy trình sản xuất và phương thức quản lý, nhằm tạo ra sản phẩm đa dạng, chất lượng cao và giá cả hợp lý để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Để đạt được điều này, doanh nghiệp cần dựa vào nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, mặc dù điều này đòi hỏi nguồn tài chính lớn Nguồn tài chính này được hình thành từ việc tích tụ vốn nhỏ từ nhiều kênh khác nhau, tạo thành quỹ KH&CN phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.

Nhu cầu nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ là yếu tố thiết yếu đối với mỗi doanh nghiệp, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh Doanh nghiệp cần chủ động bố trí nguồn lực tài chính cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, đồng thời tự chịu trách nhiệm với quyết định sử dụng nguồn lực Vì vậy, việc hình thành quỹ khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp là một yêu cầu khách quan.

Quỹ Kh&CN là quỹ tài chính trong doanh nghiệp, hoạt động thông qua việc huy động và tập trung nguồn tiền từ nhiều kênh khác nhau Quá trình này bao gồm việc phân phối và chi tiêu cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ Hoạt động của quỹ KH&CN thực chất là một phần của quản trị tài chính doanh nghiệp, vì vậy, nó cần được quản lý theo các nguyên tắc tài chính doanh nghiệp.

1.2.4.2 Qu ả n lý và s ử d ụ ng qu ỹ KH&CN trong doanh nghi ệ p

Quản trị quỹ KH&CN trong doanh nghiệp là một phần quan trọng trong quản trị tài chính, tập trung vào việc huy động, tập trung và chi dùng quỹ để phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ Quá trình này bao gồm việc nghiên cứu và phân tích các mối quan hệ phát sinh trong việc sử dụng quỹ, đồng thời phát triển các công cụ quản lý hiệu quả và đưa ra quyết định chính xác nhằm tối ưu hóa hoạt động của quỹ.

Giống như quản trị tài chính doanh nghiệp quản trị quỹ cũng có những quyết định chủ yếu như:

- Quyết định về nguồn tài trợ

Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, nguồn tài trợ để hình thành quỹ khoa học và công nghệ (KH&CN) trong doanh nghiệp có sự khác biệt về nguồn gốc và mức độ huy động Tuy nhiên, nhìn chung, các nguồn tài trợ phổ biến thường gặp bao gồm ngân sách nhà nước, các quỹ đầu tư, và sự đóng góp từ doanh nghiệp.

- Nguồn tự có trích từ lợi nhuận sau thuế

- Nguồn phát hành tín phiếu

- Nguồn huy động từ nội bộ cán bộ công nhân viên

- Nguồn liên doanh liên kết

Chính phủ Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp thông qua quy định cho phép trích từ thu nhập chịu thuế TNDN, với mức tối đa không vượt quá 10% thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.

Các nguồn tài trợ để hình thành quỹ KH&CN trong doanh nghiệp có sự khác nhau về tính pháp lý, cơ chế sử dụng và lợi ích cho sự phát triển khoa học và công nghệ Nhà quản trị quỹ cần phân tích và lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp, dựa trên nhu cầu tài chính cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ, khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ, cũng như mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của từng nguồn.

- Quyết định đầu tư của quỹ KH&CN

Quyết định đầu tư của quỹ KH&CN trong doanh nghiệp là việc chi tiền cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, bao gồm phạm vi, mức chi và thời điểm xuất quỹ Đây là một quyết định quan trọng, phản ánh sự nhạy bén của nhà quản trị quỹ đối với nhu cầu phát triển trong lĩnh vực này Một sai lầm trong đầu tư có thể gây lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó, việc ra quyết định này là rất khó khăn Cơ sở cho quyết định đầu tư là lợi ích mà hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ mang lại, nhưng do chi phí cao và rủi ro lớn, lợi ích không dễ dàng đo lường và thường không đến ngay lập tức Vì vậy, nhà quản trị quỹ cần có cái nhìn toàn diện về lợi ích từ hoạt động này và phân tích yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý.

- Quyết định phân chia kết quả đầu tư từ quỹ KH&CN trong doanh nghiệp

Việc xác định kết quả đầu tư từ quỹ thông qua chỉ tiêu lợi nhuận là một thách thức phức tạp, vì khó phân biệt lợi nhuận từ hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ với lợi nhuận từ hoạt động chung của doanh nghiệp Hơn nữa, kết quả từ hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ thường không thể đánh giá ngay lập tức Do đó, việc phân chia kết quả đầu tư từ quỹ trở thành một nhiệm vụ khó khăn cho nhà quản trị quỹ, yêu cầu họ phải lượng hóa kết quả bằng chỉ tiêu lợi nhuận, vốn là chỉ tiêu tổng hợp trong doanh nghiệp.

- Sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

Việc sử dụng nguồn tài chính của doanh nghiệp cho nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt là nguồn quỹ phát triển KH&CN, là quá trình phân bổ tài chính vào các mục tiêu nghiên cứu khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững Quá trình này phụ thuộc vào chiến lược và kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các hình thức sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, phản ánh các mục tiêu nghiên cứu cụ thể.

• Hoạt động đầu tư nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học cơ bản cho các đơn vị liên kết hoặc các viện nghiên cứu của doanh nghiệp

Hoạt động sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm rất đa dạng, bao gồm việc hoàn thiện các sản phẩm hiện có và đầu tư vào nghiên cứu để phát triển sản phẩm mới Việc này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn thúc đẩy sự đổi mới và cạnh tranh trên thị trường.

• Sử dụng nguồn tài chính để phục vụ hoạt động nghiên cứu về tổ chức bộ máy của doanh nghiệp

• Sử dụng nguồn tài chính để đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ của danh nghiệp

1.2.4.3 Nhi ệ m v ụ c ủ a Qu ỹ Phát tri ể n KH&CN

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN có các nhiệm vụ sau:

Tiếp nhận và quản lý vốn từ thu nhập tính thuế hàng năm để thành lập Quỹ doanh nghiệp; đồng thời quản lý nguồn vốn từ các công ty thành viên và công ty con đóng góp, điều chuyển trong trường hợp là Quỹ của Tổng công ty hoặc Công ty mẹ.

Xây dựng kế hoạch hỗ trợ tài chính hàng năm cho hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp là rất quan trọng, bao gồm cả các hoạt động của công ty thành viên và công ty con trong trường hợp Quỹ của Tổng công ty hoặc Công ty mẹ.

Doanh nghiệp sẽ nhận được kinh phí để triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ, bao gồm cả các hoạt động của công ty thành viên và công ty con, nếu kế hoạch đã được người có thẩm quyền cao nhất phê duyệt hàng năm.

- Kiểm tra, tổ chức đánh giá việc thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ của Doanh nghiệp có sử dụng kinh phí của Quỹ

KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTgngày 31 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010
Năm: 2003
2. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006-2010 (Ban hành kèm theo QĐ số: 67/2006/QĐ-TTg ngày 21/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006-2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
4. “Hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp công nghiệp”,Tạp chí Hoạt động khoa học số 8.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp công nghiệp
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2006
5. “Chính sách thuế khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp: kinh nghiệm các nước công nghiệp và bài học cho Việt Nam”, PGS, TS. Hoàng Trần Hậu, TS. Vũ Sỹ Cường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thuế khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp: kinh nghiệm các nước công nghiệp và bài học cho Việt Nam
Tác giả: PGS, TS. Hoàng Trần Hậu, TS. Vũ Sỹ Cường
7. “Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ ở các SMEs của Canada”, TS Nguyễn Văn Thu, Hoạt động Khoa học, số tháng 9.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ ở các SMEs của Canada
Tác giả: Nguyễn Văn Thu
Nhà XB: Hoạt động Khoa học
Năm: 2007
8. “Chính sách phát triển Khoa học và công nghệ và đổi mới của Trung Quốc”, Minh Hường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển Khoa học và công nghệ và đổi mới của Trung Quốc
Tác giả: Minh Hường
13. “Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Singapore”, TS Nguyễn Văn Thu, TC Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ, số 13 (12/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Singapore
Tác giả: TS Nguyễn Văn Thu
Nhà XB: TC Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ
Năm: 2006
15. Về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ”, TS. Nguyễn Văn Thu, TC Hoạt động khoa học, số 2, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Thu
Năm: 2007
17. “Hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp”, Lê Thành Ý, Tạp chí Hoạt động khoa học và công nghệ , số tháng 8.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp
Tác giả: Lê Thành Ý
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học và công nghệ
Năm: 2006
19. “Đổi mới công nghệ - điều kiện quan trọng nhất để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, Văn Tình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công nghệ - điều kiện quan trọng nhất để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
Tác giả: Văn Tình
20. “Khoa học và công nghệ với thị trường, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Viện Chiến lược phát triển, BKHĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ với thị trường
Tác giả: Vũ Xuân Nguyệt Hồng
Nhà XB: Viện Chiến lược phát triển, BKHĐT
21. “Phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Bùi Sĩ Tiếu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bùi Sĩ Tiếu
22. “Những xu thế khoa học và công nghệ thế giới”, Khoa học và công nghệ Môi Trường, số 10, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu thế khoa học và công nghệ thế giới
Nhà XB: Khoa học và công nghệ Môi Trường
Năm: 2005
23. Phạm Ngọc Ánh và cộng sự (2006) “Giải pháp tài chính thúc đẩy các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ chuyển sang cơ chế doanh nghiệp”- Đề tài khoa học cấp Bộ - Học viện Tài chớnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tài chính thúc đẩy các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ chuyển sang cơ chế doanh nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Ánh, cộng sự
Nhà XB: Học viện Tài chính
Năm: 2006
25. Lê Xuân Bá- Nguyễn thị tuệ Anh (2006)-“ Tăng trưởng kinh tế Việt nam 15 năm (1991-2005) từ gúc độ phân tích đúng gúp của cỏc nhõn tố sản xuất”- NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế Việt nam 15 năm (1991-2005) từ gúc độ phân tích đúng gúp của cỏc nhõn tố sản xuất
Tác giả: Lê Xuân Bá, Nguyễn thị tuệ Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2006
26. Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN),Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa X ban hành ngày 09 tháng 6 năm 2000Luật Chuyển giao công nghệ của Quốc hội (Luật số 80/2006/QH11 ngày 29/11/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN)
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2000
27. Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18.9.1999 của Chính phủ Một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18.9.1999 của Chính phủ Một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN
Năm: 1999
28. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (Luật số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008
Năm: 2008
33. Thông tư số 93/2004/TT-BTC Bộ Tài chính ngày 29 tháng 9 năm 2004 về quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 93/2004/TT-BTC Bộ Tài chính ngày 29 tháng 9 năm 2004 về quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
3. www.nistpass.gov.vn - Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và công nghệ, Bộ KH&CN Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Tóm tắt chính sách thuế ở các nước  hỗ trợ cho hoạt động R&D trong DN những năm 2006-2009 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Bảng 1 Tóm tắt chính sách thuế ở các nước hỗ trợ cho hoạt động R&D trong DN những năm 2006-2009 (Trang 67)
Hình 6 : Tỷ trọng lao động thuộc các khu vực doanh nghiệp - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 6 Tỷ trọng lao động thuộc các khu vực doanh nghiệp (Trang 105)
Hình 7: Đại diện của các khu vực doanh nghiệp theo quy mô lao động - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 7 Đại diện của các khu vực doanh nghiệp theo quy mô lao động (Trang 106)
Hình 9: Quy mô tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp (tỷđồng) - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 9 Quy mô tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp (tỷđồng) (Trang 108)
Hình 11: Hình thức pháp lý và tổ chức của các DNNN - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 11 Hình thức pháp lý và tổ chức của các DNNN (Trang 110)
Hình 12: Cơ cấu hình thức tổ chức của các doanh nghiệp khu vực tư nhân - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 12 Cơ cấu hình thức tổ chức của các doanh nghiệp khu vực tư nhân (Trang 111)
Hình 12: Số lượng các doanh nghiệp FDI phân theo loại hình - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 12 Số lượng các doanh nghiệp FDI phân theo loại hình (Trang 112)
Hình 13   Trình độ khoa học và công nghệ  trong các doanh nghiệp có Quỹ  PTKH&CN - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 13 Trình độ khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp có Quỹ PTKH&CN (Trang 114)
Hình 14 Trình độ Khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp chưa có  Quỹ phát triển KH & CN - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 14 Trình độ Khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp chưa có Quỹ phát triển KH & CN (Trang 115)
Hình 16 Tác động của quy mô doanh nghiệp và quy mô thị trường - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 16 Tác động của quy mô doanh nghiệp và quy mô thị trường (Trang 117)
Hình 18 : Ảnh hưởng của thuế, tín dụng và tỷ giá tới  đổi mới công nghệ ( %  doanh nghiệp trả lời) - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 18 Ảnh hưởng của thuế, tín dụng và tỷ giá tới đổi mới công nghệ ( % doanh nghiệp trả lời) (Trang 119)
Hình 20 : Tác động của một số yếu tố tới việc hình thành quỹ phát triển KH & - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 20 Tác động của một số yếu tố tới việc hình thành quỹ phát triển KH & (Trang 122)
Hình 22 : Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ phát triển khoa học và công nghệ - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 22 Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ phát triển khoa học và công nghệ (Trang 124)
Hình 24: Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ theo Quy mô vốn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 24 Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ theo Quy mô vốn (Trang 126)
Hình 29 : Tương quan giữa ROE và số lượng doanh nghiệp có quỹ phát triển  doanh nghiệp - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 29 Tương quan giữa ROE và số lượng doanh nghiệp có quỹ phát triển doanh nghiệp (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w