GIỚI THIỆU
Thông tin chung của dự án
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Duy
Năm sinh: 1989 Giới tính: Nam
Học vị: Cử nhân Chuyên ngành: Công nghệ sinh học
Chức danh khoa học: Năm được phong chức danh: Chức vụ: Chuyên viên phòng Hỗ trợ công nghệ vi sinh
Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao tọa lạc tại ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP HCM Để liên hệ, bạn có thể gọi điện thoại đến số 08.62646103 hoặc gửi fax tới 08.62646104 Ngoài ra, địa chỉ nhà riêng của tôi là 95, đường 490, ấp 2, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP HCM, và số điện thoại di động là 01683290994.
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Năm sinh: 1990 Giới tính: Nữ
Học vị: Kỹ sư Chuyên ngành: Nông học
Chức danh khoa học: Năm được phong chức danh: Chức vụ: Chuyên viên phòng Hỗ trợ công nghệ cây trồng
Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao tọa lạc tại ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP HCM Để liên hệ, vui lòng gọi số điện thoại 08.62646103 hoặc fax qua số 08.62646104 Địa chỉ nhà riêng của tôi là 95, đường 490, ấp 2, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP HCM, và số điện thoại di động của tôi là 01263 260 447.
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao Cán bộ phối hợp chính
Tính cấp thiết
Hiện nay, nền nông nghiệp Việt Nam đang phát triển theo hướng thâm canh cao, với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật Nhu cầu phân bón hàng năm đạt từ 7,5 – 8 triệu tấn, trong đó 50% phải nhập khẩu Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón hóa học đã dẫn đến thoái hóa đất, mất cân bằng dinh dưỡng và hệ sinh thái, cũng như làm tổn hại đến vi sinh vật trong đất Hệ quả là sự gia tăng các chất độc hại trong đất và tích lũy nguồn bệnh, gây ra nhiều dịch hại khó lường.
Việt Nam sở hữu đường biển dài 3.260 km, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề đánh bắt thủy sản ở cả tầng đáy và tầng nổi Theo Trung tâm Thông tin Thủy sản (2015), tổng giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2014 đạt 7,84 tỷ USD, tăng 16,5% so với năm 2013 Tổng sản lượng thủy sản năm 2014 ước đạt 6,3 triệu tấn, tăng 4,4% so với năm trước, trong đó sản lượng khai thác đạt 2,68 triệu tấn, tăng 3,9%, và nuôi trồng thủy sản đạt 3,62 triệu tấn, tăng 4,8%.
Để tận dụng nguồn nguyên liệu cá dồi dào và đáp ứng xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, việc tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học là rất cần thiết.
Họ và tên (Học vị và chức danh KH)
Chữ ký xác nhận tham gia đề tài
1 KS Nguyễn Công Hoàng Sinh vật cảnh
Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp
2 KS Lê Thị Thủy Nông học Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp
3 KS Nguyễn Thị Sáu Khoa học cây trồng
Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp
4 KS Lê Thị Hồng Ngọc Nông học Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp
Sử dụng phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang trở thành xu hướng tại Việt Nam và trên toàn cầu Một trong những phương pháp sản xuất phân bón hữu cơ là thủy phân protein từ cá để tạo dịch đạm Hiện nay, có hai phương pháp thủy phân chính: hóa học và sinh học Phương pháp hóa học, mặc dù hiệu quả, lại sử dụng các acid và bazơ mạnh, gây ra sản phẩm phụ có hại cho môi trường Do đó, thủy phân protein bằng phương pháp sinh học với sự tham gia của vi khuẩn và enzyme được xem là lựa chọn an toàn hơn Việc áp dụng các loại phân bón hữu cơ như hữu cơ truyền, hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng, và hữu cơ vi sinh không chỉ giúp cải thiện tình trạng thoái hóa đất và giảm ô nhiễm môi trường mà còn nâng cao năng suất kinh tế cho nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển bền vững.
Dự án "Xây dựng quy trình công nghệ thủy phân cá" nhằm sản xuất phân sinh học cho nông nghiệp công nghệ cao là cần thiết để tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế, phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp.
Mục tiêu dự án
Quy trình sản xuất phân sinh học từ cá dùng trong sản xuất nông nghiệp.
Phạm vi thực hiện dự án
Dự án được thực hiện với hạn chế về thời gian và kinh phí, do đó chỉ tiến hành thử nghiệm trên hai loại rau ăn lá: cải xanh và dưa leo, trồng trong điều kiện nhà màng.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao - Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian: Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1: Hoàn thiện quy trình sản xuất phân sinh học có nguồn gốc từ cá
Cá tươi nước mặn như cá ngừ và nục cùng với các phụ phẩm chế biến từ cá như đầu, vây, và nội tạng được thu gom tại chợ, rửa sạch, xay nhuyễn và bảo quản trong túi nilông trong tủ đông Khi cần sử dụng cho thí nghiệm, cần rã đông và sử dụng ngay để đảm bảo chất lượng.
Enzyme papain được chiết xuất từ nhựa của những quả đu đủ xanh, có trọng lượng lý tưởng từ 0,3 – 1kg Những quả non hoặc quá già thường cho ít nhựa, trong khi quả có vỏ sần sùi hoặc chia thùy cũng không đạt hiệu quả cao Để thu được enzyme có hoạt tính tốt nhất, nên chọn quả đu đủ ở độ tuổi khoảng 10 tuần Sử dụng dao sắc để cắt đu đủ thành từng miếng nhỏ, tận dụng nhựa chảy ra để thủy phân cá.
- Vi khuẩn Bacillus subtilis: do phòng Hỗ trợ công nghệ vi sinh-Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp công nghệ cao cung cấp
Để tiến hành quá trình thủy phân, bạn cần cân 5kg cá nục cho vào thùng nhựa, sau đó bổ sung nước với tỷ lệ 3:1 so với nguyên liệu Tiếp theo, thêm 2,5kg enzyme papain từ đu đủ, điều chỉnh nhiệt độ thủy phân ở 55°C và pH đạt 7 Thời gian thủy phân cần thiết là 5 giờ.
Sau đó tiếp tục bổ sung 100ml vi khuẩn Bacillus subtilis với mật số
10 6 CFU/ml sau 30 ngày tiến hành rút mẫu phân tích (theo Lê Thanh Hùng,
- Xác định N tổng số bằng phương pháp Kjeldhal
- Xác định đạm formol bằng phương pháp Sorensen
- Đạm ammoniac bằng phương pháp sử dụng MgO
Nôi dung 2: Phối chế dung dịch thuỷ phân thành chế phẩm phân sinh học cho rau ăn lá và rau ăn quả
Việc bổ sung đa vi lượng vào chế phẩm thủy phân protein cá là cần thiết, vì quá trình này chỉ cung cấp đạm dễ hấp thu nhưng thiếu nhiều nguyên tố cần thiết cho sự phát triển của cây trồng Các loại rau ăn lá cần đạm nhiều nhất, trong khi rau ăn quả lại có nhu cầu kali cao nhất, tiếp theo là đạm và lân Do đó, sau khi phân tích thành phần dung dịch thủy phân và tham khảo các loại phân bón lá, chúng tôi đã tiến hành phối trộn thêm những nguyên tố còn thiếu để nâng cao chất lượng sản phẩm cuối cùng.
- Chế phẩm 1: dùng cho rau ăn lá: 5% N; 1% P2O5; 1% K2O; 250 ppm Fe;
200 ppm Zn; 200 ppm Mn; 100 ppm Cu; 100 ppm Bo
- Chế phẩm 2: dùng cho rau ăn quả: 3% N; 2% P2O5; 4% K2O; 300 ppm Fe; 100 ppm Cu; 200 ppm Zn; 300 ppm Mn; 500 ppm Bo
- Xác định N tổng số bằng phương pháp TCVN 5815 - 2001
- Xác định P2O5 tổng số bằng phương pháp TCVN 8559 - 2010
- Xác định K2O tổng số bằng phương pháp TCVN 5815 - 2001
- Xác định hàm lượng axit amin bằng phương pháp CASE.SK.0013
- Xác định Zn bằng phương pháp TCVN 9289 – 2012
- Xác định Mn bằng phương pháp TCVN 9288 – 2012
- Xác định Cu bằng phương pháp TCVN 9286 – 2012
- Xác định Fe bằng phương pháp TCVN 9283 – 2012
- Xác định B bằng phương pháp AOAC 2007 (982.01)
- Xác định hàm lượng Pb bằng phương pháp AOAC 2007 (965.09)
- Xác định hàm lượng As bằng phương pháp Ref AOAC 957.02
- Xác định hàm lượng Cd bằng phương pháp AOAC 2007 (965.09)
- Xác định hàm lượng Hg theo bằng phương pháp Ref AOAC 971.21
- Xác định mật độ Salmonnella bằng phương pháp TCVN 4829 – 2005
Nội dung 3: Thí nghiệm chế phẩm phân bón lá từ cá cho một số loại rau trong nhà màng
Chế phẩm phân bón sản xuất từ c á được tạo ra ở nội dung 2 sẽ được sử dụng để làm công thức khảo nghiệm trong nội dung 3
Thí nghiệm 1: Thí nghiệm chế phẩm phân bón lá cho cải xanh Brassica juncea (L.) trồng trong điều kiện nhà màng
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phân bón lá được sản xuất từ cá trên đối tượng cải xanh trồng trong nhà màng
Thí nghiệm được thực hiện theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại trên cây cải xanh mỡ Trang Nông trồng trong nhà màng Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 5 m², và số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1.
Hình 1: Bố trí thí nghiệm
NT1 (đối chứng) Phun nước lã
NT2 Chế phẩm 1 pha loãng 0,5%
NT3 Chế phẩm 1 pha loãng 1%
Để tiến hành phun thuốc, cần thực hiện 3 lần phun vào các thời điểm 6 ngày, 12 ngày và 18 ngày sau khi trồng Sử dụng liều lượng NT2 là 5 ml/ lít nước và NT3 là 10 ml/ lít nước, với lượng nước 0,25 lít cho mỗi lần phun trên diện tích 5m².
(Kỹ thuật trồng và chăm sóc cải xanh được trình bày trong phụ lục 3)
- Thời gian gian thu hoạch: tính từ ngày trồng đến ngày thu hoạch
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây được theo dõi định kỳ 7 ngày một lần, với chiều cao cây được đo từ mặt đất tự nhiên đến mút lá cao nhất bằng thước chia cm.
- Tốc độ gia tăng số lá: được tiến hành đếm định kỳ 7 ngày/lần, số lá được xác định từ lúc cây có hai lá thật
- Chiều cao cây cuối cùng: được xác định chiều cao ở lúc thu hoạch
- Khối lượng trung bình cây: (g/cây)
- Năng suất thực thu (tấn/ha) = năng suất thực tế thu được trên ô thí nghiệm
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = năng suất cá thể × mật độ trồng/ha
- Hàm lượng nitrat bằng phương pháp AOAC 968.07
Thí nghiệm 2: Khảo nghiệm chế phẩm phân bón lá cho dưa leo (Cucumis sativus L.) trồng trong điều kiện nhà màng
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phân bón lá được sản xuất từ cá trên đối tượng dưa leo trồng trong nhà màng
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại, sử dụng giống dưa leo Sen Vàng SV 305 trồng trong nhà màng Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 15m², và số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1.
NT1 (đối chứng) Phun nước lã
NT2 Chế phẩm 2 pha loãng 0,5%
NT3 Chế phẩm 2 pha loãng 1%
Để tiến hành phun thuốc, lần đầu thực hiện sau 5 ngày trồng, sau đó phun cách nhau 10 ngày Sử dụng liều lượng NT2 là 5ml/ lít nước và NT3 là 10ml/ lít nước Mỗi lần phun cần sử dụng 1,5 lít nước cho diện tích 15m².
(Kỹ thuật trồng và chăm sóc cải xanh được trình bày trong phụ lục 3)
- Thời gian sinh trưởng: ngày ra hoa, ngày thu trái (ngày)
- Các yếu tố cấu thành năng suất (số quả/cây, khối lượng quả)
- Năng suất thực thu (tấn/ha) = năng suất thực tế thu được trên ô thí nghiệm
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = năng suất cá thể × mật độ trồng/ha
- Hàm lượng nitrat bằng phương pháp AOAC 968.07