1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị

127 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu TP.HCM cho trẻ khiếm thị
Tác giả TS. Nguyễn Thị Kim Anh
Trường học Đại Học Sư Phạm TP.Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo nghiệm thu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng phòng kích thích thị giác của một số nước trên thế giới, vận dụng những kết quả khả thi có thể ứng dụng vào việc thiết kế và bước đầ

Trang 1

TP.HỒ CHÍ MINH CHO TRẺ KHIẾM THỊ

Trang 2

i

Trang

Danh sách cá nhân tham gia đề tài ii

Danh mục chữ viết tắt iii

Danh mục bảng iii

Danh mục hình v

Tóm tắt kết quả nghiên cứu bằng tiếng Việt vi

Tóm tắt kết quả nghiên cứu bằng tiếng Anh viii

MỞ ĐẦU 1

I.-Tầm quan trọng và tính cấp thiết 1

II.-Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

III.-Mục tiêu nghiên cứu 5

IV.-Nhiệm vụ nghiên cứu 6

V.-Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

VI.-Phương pháp nghiên cứu 6

VII.-Phạm vi, giới hạn của đề tài 8

VIII.-Bố cục của đề tài 8

CHƯƠNG MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9

A.Cơ sở lý luận 9

I.1- Hệ thống thị giác và cơ chế nhìn của mắt 9

I.2- Một số thuật ngữ liên quan đến hệ thống thị giác được sử dụng trong nghiên cứu 13

I.3- Các dạng mất thị lực thông thường ở trẻ 16

I.4- Kích thích và rèn luyện thị giác cho trẻ khiếm thị 17

I.5- Vai trò của việc kích thích thị giác đối với sự vận hành các chức năng thị giác và sự hình thành các kỹ năng thị giác 24

B-Cơ sở thực tiễn 26

I.6- Thực trạng, nhu cầu can thiệp sớm trẻ khiếm thị ở Việt Nam 26

I.7- Kinh nghiệm xây dựng một số mô hình phòng kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị ở một số nước trên thế giới 28

CHƯƠNG HAI TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 36

II.1- Mục đích xây dựng phòng kích thích thị giác 36

II.2-Quy trình xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, TP.HCM 36

II.3- Xây dựng mô hình phòng kích thích thị giác tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, TP.HCM 36

II.4- Đánh giá nhãn khoa và đánh giá các kỹ năng thị giác 47

II.5-Biên soạn tài liệu tập huấn cho giáo viên và phụ huynh 85

Trang 3

ii

III.1-Mục đích thực nghiệm 88

III.2-Chọn mẫu thực nghiệm 88

III.3-Quy trình thực nghiệm 88

1 – Giai đoạn 1 88

2 – Giai đoạn 2 88

III.4-Kết quả thực nghiệm 88

III.4.1 - Kết quả thực nghiệm giai đoạn 1 88

III.4.2- Kết quả thực nghiệm giai đoạn 2 96

III.4.3- Ý kiến góp ý của giáo viên và phụ huynh về tài liệu tập huấn 105

KẾTLUẬN 109

KIẾN NGHỊ 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH SÁCH CÁ NHÂN THAM GIA ĐỀ TÀI -

1 TS Nguyễn Thị Kim Anh – Khoa Giáo dục Đặc biệt, Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh

2 ThS Hoàng Thị Nga – Khoa Giáo dục Đặc biệt, Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh

3 BS Nguyễn Thị Xuân Hồng – Bệnh viện mắt Tp.Hồ Chí Minh

4 ThS.Phạm Thị Tiết Hạnh – Nguyên Phó ban chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật, Sở Giáo dục và Đào tạo Tp.Hồ Chí Minh

5 CN Nguyễn Thanh Tâm – Hiệu trưởng trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, Tp.Hồ Chí Minh

Trang 4

1 So sánh chức năng thị giác và thị giác chức năng 15

4 Nguyên nhân gây khiếm thị ở Việt Nam qua điều tra 27

6 Kết quả đánh giá nhãn khoa đầu vào ngày 13/03/2008 51

7 Danh sách học sinh tham gia chương trình kích thích, rèn thị

11 Kế hoạch kích thích, rèn các kỹ năng thị giác giai đoạn 1 89

12 Nhận xét của giáo viên trực tiếp thực nghiệm về sự tiến triển

13 Nhận xét của giáo viên về thái độ của học sinh khi thực hiện

14 Bảng phân loại thị lực và kiến nghị các bài tập 94

16 Sự tiến triển các kỹ năng thị giác của học sinh khiếm thị 103

Trang 5

iv

Trang 6

15 Hình 15 Kích thích thị giác bằng đồ chơi tranh ảnh 35

17 Hình 17 Trò chơi thay đổi các bộ phận của khuôn mặt theo

Trang 7

vi

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP SỞ

Tên đề tài: Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu Tp.Hồ Chí Minh cho trẻ khiếm thị

 Chủ nhiệm : TS.Nguyễn Thị Kim Anh

 Tel: (08) – 8352020 (164), Di động: 0908 852 227;

 E-mail: kimanh1966@yahoo.com

 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM

 Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Xem danh sách đính kèm

 Thời gian thực hiện: Từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 03 năm 2010

I Mục tiêu:

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng phòng kích thích thị giác của một

số nước trên thế giới, vận dụng những kết quả khả thi có thể ứng dụng vào việc thiết

kế và bước đầu đưa vào sử dụng phòng kích thích thị giác tại Trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu với mục đích kích thích thị giác, hướng dẫn trẻ khiếm thị sử dụng phần thị lực còn lại, tăng cường sử dụng các kỹ năng thị giác trong học tập và sinh hoạt

II Nội dung chính

Đề tài bao gồm 2 nội dung nghiên cứu :

Nội dung 1:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về :

A- Cơ sở lý luận:

1 Hệ thống thị giác và cơ chế nhìn của mắt

2 Một số thuật ngữ liên quan đến hệ thống thị giác được sử dụng trong nghiên cứu

3 Các dạng mất thị lực thông thường ở trẻ

4 Kích thích và rèn luyện thị giác cho trẻ khiếm thị

5 Vai trò của việc kích thích thị giác đối với sự vận hành các chức năng thị giác

và sự hình thành các kỹ năng thị giác

B- Cơ sở thực tiễn

6 Thực trạng, nhu cầu can thiệp sớm trẻ khiếm thị ở Việt Nam

7 Kinh nghiệm xây dựng một số mô hình phòng kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị ở một số nước trên thế giới

Trang 8

vii

khiếm thị làm cơ sở khoa học để biên tập tài liệu tập huấn cho giáo viên và phụ huynh

Giai đọan 3 : Biên tập tài liệu tập huấn cho giáo viên và phụ huynh về hệ thống

bài tập kích thích, rèn kỹ năng thị giác của trẻ khiếm thị

Giai đoạn 4 : Thực nghiệm hệ thống bài tập kích thích, rèn kỹ năng thị giác với

nhóm trẻ khiếm thị thực nghiệm của trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, Tp.HCM

Giai đọan 5 : Điều chỉnh, bổ sung tài liệu, trang thiết bị của phòng kích thích thị

giác trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia, phỏng vấn, điều tra

III Sản phẩm nghiên cứu của đề tài:

- Mô hình phòng kích thích thị giác tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu Tp.HCM

- Tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập kích thích thị giác trẻ khiếm thị dành cho giáo viên

- Tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập kích thích thị giác trẻ khiếm thị dành cho phụ huynh

- Một CD-ROM phim minh họa các bài tập kích thích thị giác trẻ khiếm thị của trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu

Trang 9

viii

SUMMARY

Dinh Chieu Ho Chi Minh, Ho Chi Minh City for children with visual impaired

 Coordinator: TS Nguyễn Thị Kim Anh

 Tel: (08) – 8352020 ; 0909 852 227

 E-mail: kimanh1966@yahoo.com

 Implementing Institution: Ho Chi Minh City University of Education

 Cooperating Institution(s) : see the file attached

 Duration : from November 2007 to March 2010

I.Objectives:

Based on study experience in developing visual stimulation room of some countries in the world and operate their results to set up visual stimulation room at the special school Nguyen Dinh Chieu, Ho Chi Minh City for teaching visual skills for children with visual impaired to use in learning and living

II.Main content

1 To study basic theoretical issues related to the assessment of visual function, visual skills, role of visual stimulation room for visually impaired children in early intervention programs

2 To assess visual function, visual skills of children with visual impaired room at the special school Nguyen Dinh Chieu ,Ho Chi Minh City

3 To design a handbook for visual stimulation working with children with visual impairments

4 To set up visual stimulation room at the special school Nguyen Dinh Chieu for teaching children with low vision to use in life

5 To use the equipment of visual stimulation room at the special school Nguyen Dinh Chieu to practice ativities to pomote visual function, visual efficiency

III Results obtained:

- Model of visual stimulation room the special school Nguyen Dinh Chieu ,Ho Chi Minh City for children with visual impaired

- Two handbook for visual stimulation working with children with visual

impairments at the special school Nguyen Dinh Chieu, Ho Chi Minh City

- A CD-ROM about the visual stimulate exercises for children with visual

impaired at the special school Nguyen Dinh Chieu, Ho Chi Minh City

Trang 10

MỞ ĐẦU

I Tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề tài

Thị giác ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển của trẻ Nhiều nghiên cứu khoa học cho rằng 75% những gì học được dựa trên kênh thị giác Cơ quan thị giác ở một số trẻ bị tổn thương, rối loạn hay bị phá hủy hòan toàn làm ảnh hưởng đến việc nhận thức thế giới khách quan Cơ quan thị giác bị phá hủy dẫn đến những thay đổi chức năng trong bán cầu đại não, ảnh hưởng lớn đến quá trình tri giác ánh sáng, màu sắc, hình dạng, kích thước của vật Ở trẻ khiếm thị hoạt động nhận thức hình thành các biểu tượng, khái niệm không gian, thời gian kém phát triển Do thiếu sự kiểm tra, đánh giá của thị giác vì thế sự lĩnh hội các khái niệm của trẻ khiếm thị không đầy đủ, thiếu chính xác, nghèo nàn và hay mắc sai lầm Sự hạn chế tiếp xúc với thế giới đồ vật cũng cản trở rất nhiều đến sự phát triển nhận thức của trẻ khiếm thị

Ngôn ngữ của trẻ khiếm thị không bị phá hủy song rất thiếu hình ảnh Tật khiếm thị còn làm cho các vận động và sự phối hợp vận động kém phát triển hoặc phát triển thiếu cân đối, các vận động đơn điệu, chậm chạp Từ đó có thể dẫn đến sự kém phát triển của cơ thể Như vậy, trẻ khiếm thị sẽ gặp nhiều khó khăn trong đời sống, sinh hoạt và học tập

Trong thời gian qua đã có chương trình can thiệp sớm trẻ khiếm thị, nhiều hình thức, nội dung, biện pháp giáo dục nhằm khắc phục những hậu quả do tật thị giác gây

ra, nâng cao ý thức của giáo viên, phụ huynh về những tác hại to lớn của tật thị giác đến đời sống của trẻ khiếm thị

Tuy nhiên nhận thức của phụ huynh, giáo viên và bản thân trẻ về việc sử dụng thị giác còn lại còn nhiều hạn chế Có nhiều ý kiến cho rằng thị giác còn lại của trẻ nhìn kém cần được giữ gìn lâu dài; nếu được sử dụng để học chữ sáng như người bình thường, thị giác còn lại sẽ bị giảm đi hoặc thị lực của trẻ sẽ giảm dần dần, nên không cần thiết duy trì, kích thích thị giác còn lại của trẻ Người khiếm thị có thể bị mù hay giảm thị lực một phần Những tiêu chuẩn đánh giá dựa vào chất lượng của thị lực, do bác sĩ chuyên khoa mắt khám và kết luận Bị khiếm thị không hẳn là bị mất hoàn toàn khả năng nhìn Chẳng hạn, một số người giảm thị lực một phần vẫn có khả năng đọc sách có kích thước chữ bình thường mà không cần sử dụng bất kỳ dụng cụ phóng to nào Thị giác còn lại, nếu có giảm đi là do bệnh lý về mắt chứ không phải do sử dụng hoặc trẻ khiếm thị còn một phần thị lực không tự biết cách sử dụng Vì vậy, thị lực còn

Trang 11

lại cần được kích thích, sử dụng ngay từ mới sinh; nếu không cho mắt hoạt động, cơ mắt sẽ bị teo cứng làm cho mắt hoạt động kém hiệu quả Trẻ có lợi rất nhiều khi sử dụng thị giác còn lại bởi vì thường xuyên sử dụng thị giác còn lại sẽ giúp trẻ duy trì và tận dụng được khả năng nhìn, nhờ đó mà hiểu biết nhiều hơn về môi trường xung quanh

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của các trường chuyên biệt khiếm thị còn chật hẹp, thiếu đồ dùng dạy học, thiếu các trang thiết bị cần thiết, chưa có phòng chức năng rèn luyện thị giác cho trẻ khiếm thị trong chương trình can thiệp sớm Nghiên cứu này nhằm góp phần xây dựng tiêu chuẩn duyệt đề án xây dựng trường chuyên biệt cho trẻ khuyết tật giai đoạn 2005-2010 theo đề án hỗ trợ người tàn tật hòa nhập của Tp.HCM

Trên thực tế hiện nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về kích thích, rèn thị giác cho trẻ khiếm thị và đặc biệt là nghiên cứu xây dựng phòng kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị nhằm giúp trẻ khiếm thị tăng cường sử dụng các kỹ năng thị giác trong học tập và sinh họat Ngoài ra đề tài còn minh chứng cho việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan và các nhà chuyên môn trong 2 lĩnh vực y tế và giáo dục trong công tác can thiệp sớm trẻ khiếm thị

II.Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.Các nghiên cứu trên thế giới

Vấn đề can thiệp sớm trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thị nói riêng đã được các nước trên thế giới quan tâm từ thế kỷ 20 Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm hiểu nguyên nhân và một số tật thị giác, phát hiện chẩn đoán tật khiếm thị, sử dụng các công cụ hỗ trợ, xây dựng các mô hình phòng đa chức năng nhằm kích thích thị giác của trẻ khiếm thị, trong đó có trẻ nhìn kém

Vào năm 1963 nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về trẻ nhìn kém, về hiệu quả của việc kích thích thị giác và tầm quan trọng của việc phát triển các kỹ năng thị giác của trẻ khiếm thị là của Tiến sĩ giáo dục người Mỹ -Natalie Barraga Nghiên cứu này được mang tên “Tăng cường các hành động thị giác đối với trẻ nhìn kém”

Chính nhờ nghiên cứu này mà thuật ngữ “nhìn kém” và những người nhìn kém

đã sớm trở thành một mối quan tâm trên toàn thế giới và nghị quyết 1972 chính thức công nhận thuật ngữ “nhìn kém” và đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong sự thay đổi nhận thức về những người nhìn kém trong xã hội

Trang 12

Tiếp theo nghiên cứu về nhìn kém trong khoảng thời gian từ 1978 đến 1980, Tiến sĩ giáo dục Natalie Barraga đã cùng với J E Morris nghiên cứu chương trình phát triển thị giác chức năng có hiệu quả Họ chẩn đoán đánh giá thị giác chức năng, từ

đó xây dựng các bài tập kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị

Năm 1976 Beth Langley và Rebecca F DuBose thuộc trường khiếm thị California đã tiến hành nghiên cứu thị giác chức năng của trẻ khiếm thị trên toàn bang California dựa trên nghiên cứu “Tăng cường các hoạt động thị giác đối với trẻ nhìn kém” của Tiến sĩ giáo dục người Mỹ -Natalie Barraga

Ferrell và Muir đã nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động kích thích thị giác và thiết kế các chương trình huấn luyện và xây dựng quy trình can thiệp sớm trẻ khiếm thị Kết quả của việc kích thích thị giác sẽ hình thành ở não những biểu tượng về môi trường xung quanh Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thử nghiệm kích thích thị giác phụ thuộc vào các biến cốliên quan đến cuộc sống hằng ngày

Đặc biệt là công trình “Mối quan hệ kích thích thị giác với thị lực của trẻ trong tương lai” đã đạt giải Nobel năm 1981 của các tác giả người Mỹ : David H.Hubel, Torsten Wiesel và Roger W.Sperry Công trình này đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thị lực – não – chức năng thị giác của trẻ

Hai nhà tâm lý học người Đức là Marina Strothmann và Matthias Zeschitz đã làm việc cho hơn 20 kinh nghiệm can thiệp sớm trẻ khiếm thị tại Blindeninstitutsstiftung Würzburg, Đức Sau những nghiên cứu kéo dài kèm theo những kinh nghiệm can thiệp sớm đã chỉ ra rằng "kích thích thị giác" có nghĩa là sự tiếp xúc của một đứa trẻ với một số loại ánh sáng nhân tạo trong các tình huống kích thích đặc biệt Can thiệp để thúc đẩy phát triển thị giác có nghĩa là thiết kế môi trường trực tiếp tác động lên trẻ em nhằm hỗ trợ các em sử dụng thị giác trong cuộc sống hàng ngày Những thách thức đối mặt với họ trong các nghiên cứu là phát triển các tài liệu thích hợp để giúp phát triển các kinh nghiệm thị giác có liên quan đến đời sống cá nhân của trẻ, bởi vì đây là cách duy nhất có thể nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng thị giác còn lại

Patricia Morgan là giáo viên của Mạng liên kết gia đình nhà trường với trẻ khuyết tật ở Mỹ đã thiết kế được những hoạt động phát triển giác quan, trong đó có kích thích thị giác cho trẻ em Cách tốt nhất để khuyến khích trẻ sử dụng thị giác còn lại là sử dụng các loại sản phẩm đèn chiếu sáng, đồ chơi phát sáng, vải phát sáng trong phòng tối Đây là các phương tiện hữu ích giúp tăng kỹ năng tập trung, chú ý theo dõi

Trang 13

Nghiên cứu còn kiến nghị phụ huynh cho trẻ khiếm thị kích thích thị giác trong phòng tối với các đèn chiếu sáng và màu sắc từ 15 đến 30 phút mỗi ngày

Những năm 70 của thế kỷ 20 đã có nhiều công trình nghiên cứu về phòng đa giác quan, có thể kể đến phòng SNOEZELEN, phòng đa giác quan dành cho người khuyết tật tại Hattie Larlham (HLCCD), phòng SpaceKraft nhằm trị liệu, tạo cơ hội tăng cường sự hiểu biết, chia sẻ, xây dựng niềm tin trong mối quan hệ của họ

Trong những năm gần đây một số nước Châu Á như Thái Lan, Ấn Độ đã nghiên cứu ứng dụng mô hình phòng kích thích thị giác bằng ánh sáng, bằng màu sắc, bằng chất liệu vải, nhựa, kim loại, tranh ảnh…Và đến nay mô hình này đã chứng minh được tính phù hợp và hiệu quả trong việc can thiệp sớm và kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị

2.Các nghiên cứu tại Việt Nam

Trong thời gian gần đây tại Việt Nam các nghiên cứu về trẻ khiếm thị đã được thực hiện bởi các nhà tâm lý, giáo dục, bác sĩ, giáo viên, sinh viên của các Đại học Y dược, Đại học Sư phạm, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Viện nghiên cứu giáo dục trực thuộc Đại học Sư phạm Tp,Hồ Chí Minh, các Trung tâm giáo dục chuyên biệt khiếm thị, trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, Viện chiến lược và chương trình giáo dục

Tại Hội nghị Tuổi trẻ của Đại học Y Dược Hà Nội tổ chức vào tháng 12/2001, bác sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền đã viết bài tham luận “Nghiên cứu ứng dụng một số phương tiện trợ thị ở trẻ khiếm thị” nhằm giới thiệu một số phương tiện hỗ trợ cho trẻ nhìn kém Gần đây nhất Bác sĩ cũng đưa ra một nghiên cứu mới "Khám phát hiện và điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non” Tại một số Hội thảo về can thiệp sớm cho trẻ khiếm thị một số tác giả đã nêu vai trò quan trọng của công tác can thiệp sớm đối với trẻ khiếm thị

Tại bệnh viện mắt Tp.HCM Bác sĩ Nguyễn Thị Xuân Hồng đã nghiên cứu về

trẻ nhìn kém và chẩn đoán và đánh giá thị lực cho trẻ em BV Mắt TP.HCM nghiên

cứu xây dựng phòng trợ giúp thị giác cho người nhìn kém với nhiều dụng cụ trợ giúp người khiếm thị tận dụng phần thị lực còn lại để học chữ in, sinh hoạt như người

thường Phòng này sẽ được đặt tại lầu I, khu Điều trị Nhi khoa - Lé, nhờ sự giúp đỡ

hoạt động của khoa Mắt Trường Đại học Tuebingen, CHLB Đức Tại đây, bệnh nhân

có thể được cung cấp các dụng cụ trợ giúp chức năng thị giác như kính lúp có độ

Trang 14

phóng đại lớn, ống nhòm Họ cùng thân nhân sẽ được hướng dẫn cách sử dụng các dụng cụ này Khi được cung cấp các dụng cụ được thiết kế riêng, người thị lực thấp không còn lệ thuộc vào những người xung quanh trong sinh hoạt, lao động và giải trí hằng ngày; nhờ vậy họ không còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội nữa Riêng với trẻ em nhìn kém, các dụng cụ trợ thị sẽ giúp các em có thể học chữ in như người bình thường (nhờ vậy giảm được rất nhiều chi phí in sách chữ nổi), tiếp cận kho tàng văn hóa và kiến thức của nhân loại như mọi trẻ khác Khi trưởng thành, trẻ khiếm thị có nhiều cơ hội hơn để tìm việc làm và đóng góp cho xã hội

Năm 2006 TS.Nguyễn Đức Minh – Trung tâm giáo dục chuyên biệt, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục đã nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp can thiệp sớm trẻ khiếm thị” Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp can thiệp sớm trẻ khiếm thị phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Năm 2008, được sự tài trợ của tổ chức EFD, (Education for Development) ThS.Hoàng Thị Nga, giảng viên Khoa Giáo dục đặc biệt cùng với ThS Hà Thanh Vân

và ThS Lê Dân Bạch Việt, giáo viên trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu đã thực hiện thành công dự án “Nâng cao hiệu quả sử dụng kính phóng đại cho học sinh nhìn kém trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu” Mặc dù, dự án hướng đến mục đích cuối cùng là giúp học sinh nhìn kém sử dụng kính phóng đại hiệu quả nhưng thực chất quá trình tác động lại đi sâu vào việc đánh giá và rèn luyện thị giác chức năng cho học sinh nhìn kém bởi lẽ, hiệu quả của việc sử dụng kính phóng đại chịu ảnh hưởng lớn từ việc đánh giá thị giác và rèn thị giác chức năng cho học sinh Kết quả dự án đã chỉ ra rằng, học sinh nào được phát hiện sớm, được đánh giá và rèn luyện thị giác thường xuyên, thì học sinh ấy sẽ sử dụng thị giác chức năng hiệu quả hơn Sau khi kết thúc, dự án đã đề nghị đưa một số em nhìn kém ra khỏi chương trình hỗ trợ thị giác đặc biệt vì hiệu quả

sử dụng thị giác của các em gần như trẻ bình thường Có thể nói, đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên về trẻ nhìn kém và kết quả nghiên cứu sẽ mở ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau cho lĩnh vực giáo dục còn khá mới mẽ nhưng đa dạng và phức tạp này

III.Mục tiêu nghiên cứu :

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng phòng kích thích thị giác của một

số nước trên thế giới, vận dụng những kết quả khả thi có thể ứng dụng vào việc thiết

kế và bước đầu đưa vào sử dụng phòng kích thích thị giác tại Trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu với mục đích kích thích thị giác, hướng dẫn trẻ khiếm thị sử dụng phần thị lực còn lại, tăng cường sử dụng các kỹ năng thị giác trong học tập và sinh hoạt

Trang 15

IV.Nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Nghiên cứu cở sở lý luận liên quan đến việc đánh giá chức năng thị giác, vai trò của phòng kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị trong chương trình can thiệp sớm, ảnh hưởng của các bài tập kích thích thị giác đến việc vận hành các chức năng thị giác và hình thành các kỹ năng thị giác của trẻ khiếm thị

2 Đánh giá nhãn khoa và đánh giá các kỹ năng thị giác của trẻ khiếm thị ở trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, TP Hồ Chí Minh

3 Biên tập tài liệu tập huấn cho giáo viên và phụ huynh nhằm kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị ở phòng kích thích thị giác tại trường PTĐN Nguyễn Đình Chiểu

4 Xây dựng phòng kích thích thị giác ở đặc biệt trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu nhằm mục đích thử nghiệm các bài tập kích thích, rèn kỹ năng thị giác của trẻ khiếm thị

V.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình can thiệp sớm trẻ khiếm thị

2 Đối tượng nghiên cứu: Phòng kích thích thị giác tại trường PTĐB Nguyễn

Đình Chiểu, Tp.HCM cho trẻ khiếm thị

VI Phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, các báo cáo tổng kết của các đề tài có liên quan

Nhóm đề tài đã tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước, tham khảo báo cáo tổng kết của các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến các phương pháp giáo dục trẻ khiếm thị, đặc biệt là kích thích thị giác cho trẻ nhìn kém

2 Phương pháp phỏng vấn

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phỏng vấn 3 mẫu : (1) giáo viên (GV), (2) cán bộ quản lý (CBQL), (3) phụ huynh có con khiếm thị đang học ở trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu

3 Phương pháp nghiên cứu điển hình : 28 học sinh khiếm thị

Trang 16

“Phương pháp nghiên cứu điển hình (Case study) là phương pháp mô tả và phân tích toàn diện, sâu sắc một trường hợp riêng lẻ, một hiện tượng hoặc một vấn đề xã hội nhất định (Theo Sharan Merriam, 1988, trang 21)

Phương pháp nghiên cứu điển hình là một phương pháp lý tưởng khi muốn thực hiện một nghiên cứu công phu, hoàn chỉnh (Theo Feagin, Orum và Sjoberg, 1991) Phương pháp này đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu khác nhau đặc biệt là trong các nghiên cứu mang tính xã hội và ngày càng được sử dụng sâu rộng trong các nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật Phương pháp nghiên cứu Case study lại có thể xử

lý được một cách chi tiết các dữ liệu bằng việc sử dụng các nguồn dữ liệu đa dạng

Quy trình thực hiện phương pháp nghiên cứu điển hình 28 học sinh khiếm thị như sau:

1) Xây dựng kế hoạch thực hiện Case study

2) Tổ chức thực hiện case Study

3) Phân tích chứng cứ của Case Study và

4) Kết luận, kiến nghị và gợi ý

Phương pháp này được ứng dụng trong việc nghiên cứu từng trường hợp trẻ khiếm thị khi đánh giá nhãn khoa, đánh giá thị giác chức năng,

4 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình khảo sát thực trạng nhóm đề tài đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, tổ chức hội thảo khoa học để lấy ý kiến của chuyên gia chuyên ngành khiếm thị về mô hình phòng kích thích thị giác ở trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu cho trẻ khiếm thị

5 Phương pháp thực nghiệm

Nhóm nghiên cứu xây dựng bảng đánh giá nhãn khoa và đánh giá thị giác chức năng của trẻ khiếm thị Dựa trên kết quả đánh giá thị giác nhóm đề tài biên soạn tài liệu tập huấn cho giáo viên và phụ huynh về kích thích thị giác và phát triển các kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị

Bốn giáo viên của trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu đã thực nghiệm các bài tập kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị tại phòng kích thích thị giác và trong môi trường

lớp học, ngoài sân và mọi lúc, mọi nơi Mục đích của việc thực nghiệm là kiểm tra

Trang 17

mức độ phù hợp, hiệu quả của các bài tập, trang thiết bị của phòng kích thích thị giác đối với việc phát triển các kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị Việc thử nghiệm này bắt đầu vào tháng 05/2008 đến tháng 3/2010

6 Phương pháp thống kê

Tóm lại, đề tài sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, vì mỗi một phương pháp

có những điểm mạnh và yếu của nó nên việc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau (định tính và định lượng) sẽ giúp cho chúng tôi đưa ra được những số liệu nghiên cứu

có tính giá trị và tin cậy hơn

VII.Phạm vi, giới hạn của đề tài

Xây dựng mô hình phòng kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, Tp.Hồ Chí Minh

VIII Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của đề tài gồm ba chương: chương Một trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; chương Hai trình bày cách đánh giá thị giác chức năng cho trẻ khiếm thị, cách tiến hành xây dựng phòng kích thích thị giác, cách xây dựng tài liệu tập huấn cho giáo viên và phụ huynh của trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu về các bài tập kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị Chương Ba đề cập đến kết quả thực nghiệm các bài tập kích thích nhằm phát triển các kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị trong phòng kích thích thị giác

Báo cáo của đề tài còn bao gồm tài liệu tham khảo và phụ lục Hơn nữa, đây là một đề tài mang tính ứng dụng, nên ngoài bản báo cáo gồm các nội dung như vừa nêu trên, đề tài nghiên cứu còn có các sản phẩm:

- Mô hình phòng kích thích thị giác tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu Tp.HCM

- Tài liệu “Hệ thống bài tập kích thích thị giác cho trẻ nhìn kém” dành cho giáo viên

- Tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập kích thích thị giác trẻ khiếm thị dành cho phụ huynh

- Một CD-ROM phim minh họa các bài tập kích thích thị giác trẻ khiếm thị của trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, Tp.Hồ Chí Minh

Trang 18

CHƯƠNG MỘT

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Chương này trình bày một số cơ sở lí luận về hệ thống thị giác, cơ chế nhìn của mắt, một số các khái niệm công cụ sử dụng trong nghiên cứu, một số dạng mất thị lực thông thường ở trẻ, chức năng thị giác, thị giác chức năng, sự kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị, vai trò của kích thích thị giác đối với sự vận hành của chức năng thị giác

và sự hình thành các kỹ năng thị giác ở trẻ khiếm thị Ngoài ra, đề tài còn trình bày cơ

sở thực tiễn của đề tài được dựa trên thực trạng can thiệp sớm trẻ khiếm thị ở Việt Nam và mô hình phòng kích thích thị giác của một số nước trên thế giới

A CƠ SỞ LÝ LUẬN

I.1.Hệ thống thị giác và cơ chế nhìn của mắt

Hình 1: Sơ đồ cấu tạo của mắt

I.1.1.Hệ thống thị giác

Mắt là một bộ máy quang học quan trọng, có cấu tạo phức tạp Mắt được ví như một bộ phận của não bộ được đưa ra phía ngoài Như vậy võng mạc là một phần của não và có thể nói rằng con người “nhìn bằng não” qua đôi mắt Ở người, mắt hình thành rất sớm vào khoảng 5 tuần sau khi thụ thai Mắt chỉ là bộ phận thu hình giống như một chiếc máy ảnh Còn não mới làm chức năng phân tích, tổng hợp những thông tin của hàng triệu tế bào cảm quang từ võng mạc gửi về để tạo nên cảm giác về hình ảnh [ 21 ]

Tia sáng đi qua giác mạc, bộ phận phía trước và trong suốt của nhãn cầu Sau đó ánh sáng sẽ đi qua khe mở của mống mắt rồi xuyên qua thủy tinh thể được treo lơ lửng phía sau đồng tử Thủy tinh thể sẽ dày lên khi chúng ta nhìn vật ở cự ly gần và dẹt lại khi nhìn vật ở cự ly xa Chức năng của thủy tinh thể là hội tụ các tia sáng trên võng mạc Võng mạc là một bộ phận nằm phía sau khối tinh thể mắt, chứa các tế bào đặc biệt, có thể gọi là tế bào “nhận ảnh” (chúng nhạy với ánh sáng) và các tế bào thần kinh Các tế bào nhận ảnh có hai loại: hình nón và hình que Chúng có chức năng

Trang 19

chuyển quang năng thành điện năng cho hệ dây thần kinh, ở đây phản ứng hoá học xảy

ra [17]

Các tế bào hình que rất nhạy với ánh sáng, chúng cho phép ta nhìn thấy các vật trong điều kiện thiếu ánh sáng, giúp cho tầm nhìn được xa hơn Các tế bào nhận ảnh hình nón thì ngược lại cần nhiều ánh sáng, nhưng lại cho ta nhận biết các chi tiết rất nhỏ của vật ta nhìn vào, đảm bảo tập trung thị lực vào một điểm và giúp phân biệt các màu khác nhau Loại tế bào thứ hai nằm tập trung vào một chỗ, chúng quyết định sự tinh tường của thị giác Võng mạc tiếp giáp với lớp mao dẫn của mắt, nhưng nhiều chỗ

độ tiếp giáp yếu Khi võng mạc bị bệnh thì độ tiếp giáp càng yếu đi Những tế bào này sẽ chuyển những thông điệp từ võng mạc đến dây thần kinh thị giác

và trung khu thị giác ở thùy chẩm trên vỏ não Tại đây thông điệp sẽ được chuyển thành hình ảnh thị giác [17]

Hoàng điểm (tâm điểm của võng mạc) có chức năng giúp con người nhìn rõ các chi tiết của vật, nhận dạng màu sắc và độ sâu của vật Phần võng mạc ngoại biên (phần viền ngoài của võng mạc giúp con người có thể bao quát được sự vật, nhận biết được

vị trí của mình trong không gian, nhìn sự vật ở khoảng cách xa và vào ban đêm Hắc mạc nằm giữa củng mạc và võng mạc, chứa đựng vô số các mạch máu để cung cấp các chất nuôi dưỡng võng mạc [17]

Ngay phía trước võng mạc là một lớp chất lỏng trong suốt, giống như keo được gọi là thủy tinh dịch Lớp chất lỏng này giúp mắt giữ được hình dạng để các tia sáng

có thể hội tụ đúng trên võng mạc Ngoài lớp chất lỏng này, mắt còn có một chất lỏng khác ít hơn, mỏng hơn luân chuyển liên tục giữa tiền phòng và hậu phòng phía trước mắt, gọi là thủy dịch Thủy dịch mang các chất dinh dưỡng để nuôi các mô mắt [17]

Hệ thống thần kinh thị giác: Dây thần kinh của hai mắt chéo nhau tại một giao thoa hình chữ X, phía sau tuyến yên trước khi chạy dọc theo bao trong của não đến trung tâm thị giác trên thùy chẩm Tín hiệu từ bộ phận nhận sáng nửa trong của võng mạc chạy chéo qua và phối hợp với tín hiệu của nửa ngoài võng mạc trong mắt bên kia Do đó, triệu chứng thị giác có thể suy nghiệm ra trong các trường hợp sau: Hoàn toàn mù một mắt: là do bất bình thường của một mắt hay một dây thần kinh mắt

Mù một nửa thị trường cùng bên: là do bất bình thường trong hệ thần kinh sau chỗ giao thoa Mù hai bên ngoài: là do bất bình thường trong hệ thần kinh tại vùng giao thoa [ 25]

Việc tổn thương hoặc phá hủy bất kỳ bộ phận nào của mắt sẽ dẫn đến việc giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống thị giác Mức độ giảm thị lực sau đó phụ thuộc vào

bộ phận bị ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến đâu [ 18]

I.1.2 Cơ chế nhìn của mắt

Mắt chỉ có thể cảm nhận được một vật hoặc hiện tượng nào đó khi có kích thích ánh sáng Mắt người chỉ nhìn thấy ánh sáng trong vùng quang phổ của ánh sáng mặt trời với bước sóng ánh sáng từ 380- 760 Nm (Nalômét) Để nhìn thấy mắt cần phải điều tiết và trong các bộ phận của hệ thống thị giác diễn ra một loạt các phản ứng quang hóa học Có bốn bước chính để mắt có thể cảm nhận được hình ảnh từ bên ngoài

Trang 20

- Bước 1: Ánh sáng đi qua môi trường chiết quang của mắt (nhân mắt, thủy tinh thể, thủy tinh dịch) và mắt điều tiết để hình ảnh của vật nằm đúng võng mạc

- Bước 2: Năng lượng ánh sáng khi tới võng mạc tác động lên các tế bào thần kinh hình que và hình nón Tại đây xảy ra các phản ứng hóa quang học phức tạp với sự tham gia của vitamin A và các chất khác chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành các xung động thần kinh Các biểu hiện trên vật được nhìn như hình dạng, màu sắc, sáng tối và quan hệ với các vật khác trong không gian được biểu hiện thông qua các phản ứng này Nếu ánh sáng quá yếu, không thể kích thích gây ra phản ứng hóa quang nói trên thì ta không nhìn thấy được Ngược lại khi ánh sáng quá mạnh sẽ phá hủy các tế bào thần kinh có khi gây mù mắt

- Bước 3: Các xung động xảy ra trên võng mạc được các dây thần kinh thị giác chuyển tới trung tâm thị giác của vỏ não

- Bước 4: Tại võ não các xung động này được tái hiện lại thành hình ảnh mà ta

quan sát Kết quả là ta có được hình ảnh của vật cần quan sát [20]

Hình 2 : Hệ thống thần kinh thị giác

I.1.3.Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến việc sử dụng thị giác của trẻ

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc trẻ nhìn sự vật như thế nào, thậm chí tạo

ra sự khác biệt trong việc sử dụng thị giác của trẻ này và trẻ khác Khả năng thị giác của trẻ, chẳng hạn như thị lực, thị trường, sự phối hợp vận động của mắt, tri giác màu sắc,…là những yếu tố rõ nét nhất Tuy nhiên, những đặc điểm cá nhân và năng lực của trẻ cũng ảnh hưởng đến cách trẻ sử dụng thị giác như thế nào Khả năng nhận thức, đặc điểm tâm lý, sự tương tác xã hội, động cơ và những khía cạnh khác liên quan đến nhân cách của trẻ cũng quyết định cách trẻ tiếp nhận và vượt qua những thách thức của tật khiếm thị như thế nào [ 7]

Các yếu tố môi trường tồn tại bên ngoài cuộc sống của trẻ nhưng chúng lại có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện thị giác chức năng của trẻ Những yếu tố này bao gồm ánh sáng, độ tương phản, màu sắc, khoảng cách và thời gian Vai trò của môi

Trang 21

trường đối với các hoạt động thị giác của trẻ khiếm thị thường ít được hiểu hoặc chú ý đúng mức trong thực tế hiện nay Nếu kính, các thiết bị quang học hoặc trị liệu y tế không thể cải thiện thị giác, thì giáo viên, phụ huynh và thậm chí bác sĩ đều cho rằng chẳng có gì hy vọng nữa vì thế không cần phải cố gắng gì hơn Trẻ có thể hiểu biết rất

ít về tình trạng mắt của mình cũng như cách sử dụng thị giác còn lại như thế nào hoặc cũng có thể không có khả năng chia sẻ thông tin về mình cho người khác biết Những nhu cầu hỗ trợ về việc chăm sóc, giáo dục trẻ khiếm thị đôi khi quá sức đối với người chăm sóc và nó ngăn cản họ trong việc nỗ lực thay đổi môi trường của trẻ cho dù đó chỉ là những thay đổi đơn giản Thực tế đã chứng minh thị giác ảnh hưởng đến tất cả những lĩnh vực phát triển và khả năng thực hiện hoạt động của trẻ và thông qua những điều chỉnh về môi trường có thể dạy cho trẻ sử dụng thị giác chức năng có hiệu quả hơn [ 7]

I.1.3.1 Ánh sáng: Cường độ, kiểu, hướng, vị trí của ánh sáng, khoảng cách từ nguồn

sáng cũng như tần số phản xạ khi thực hiện nhiệm vụ là những yếu tố cực kỳ quan trọng đối với việc sử dụng thị giác Một số trẻ quá nhạy cảm với ánh sáng có thể cảm thấy đau mắt hoặc khó chịu với ánh sáng trắng, chiếu trực tiếp hoặc chói Ngược lại, một số trẻ cần nhiều ánh sáng để có thể nhìn tốt nhất [ 7]

Do vậy, điều quan trọng là phải quan sát trẻ trong các điều kiện ánh sáng khác nhau và thử nghiệm dưới các nguồn khác nhau Hướng dẫn trẻ biết cách chỉnh vị trí đèn thích hợp với mình Một số trẻ thì cần tránh để mắt trẻ đối diện trực tiếp với nguồn sáng Nhưng đối với một số trẻ nhìn kém khác thì kỹ năng đặt sát mắt vào vật chiếu sáng để nhìn vật cho rõ hơn cũng là điều cần thiết và hoàn toàn không ảnh hưởng đến thị giác của trẻ [ 7]

I.1.3.2 Màu sắc/ Độ tương phản: Tăng độ tương phản giữa đồ vật và phần nền, giảm

bớt những chi tiết xung quanh mục tiêu cần nhìn cũng là một cách giúp trẻ nhìn tốt hơn Trẻ nhìn kém cần sự khác biệt lớn giữa đồ vật và phần nền để nhìn rõ hơn Đen

và trắng thường tạo ra sự tương phản rõ nhất, nhưng sự kết hợp giữa những màu sắc khác cũng có thể rất hiệu quả, phụ thuộc vào từng trẻ

Điều quan trọng là phải thử nghiệm với màu sắc, kích thước đồ vật, ánh sáng khác nhau để đánh giá độ tương phản màu sắc thích hợp với trẻ Những điều chỉnh về

độ tương phản thường rất đơn giản và không tốn kém Chẳng hạn, phụ huynh và giáo viên có thể điều chỉnh độ tương phản của khăn trải bàn, giấy dán tường, thảm lót sàn, khay đựng thức ăn,… Chúng ta cũng có thể thay đổi màu sắc của đồ vật đặt trên màu nền để tạo ra sự tương phản cao hơn Những bề mặt nền quá rối rắm, quá chi tiết thì không nên sử dụng [ 7 ]

I.1.3.3 Kích thước và khoảng cách: Trong trường hợp bị giảm thị lực, thì trẻ sẽ khó

khăn nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng một đồ vật có kích thước quá nhỏ Để giúp trẻ nhìn đồ vật rõ hơn, phụ huynh và giáo viên cần làm cho đồ vật lớn hơn Việc điều chỉnh này có thể tiến hành theo nhiều cách Đưa mắt gần hơn tới đồ vật sẽ làm cho đồ vật trông rõ hơn (di chuyển gần hơn tới cột đèn, đèn cá bơi, nhìn gần hộp đèn…)

Trang 22

Hoặc có thể bằng cách tăng kích thước của đồ vật hoặc mục tiêu nhìn (chữ in lớn, đậm, tranh ảnh và tài liệu phóng lớn) Các thiết bị quang học như kính đọc sách, ống dòm, kính phóng đại có chân, cầm tay, CCTV đều có thể sử dụng để phóng to hình ảnh của đồ vật Tuy nhiên, mỗi loại thiết bị quang học đều có những hạn chế nhất định Hãy đưa trẻ đến bác sĩ nhã khoa để được đánh giá về việc sử dụng các thiết bị quang học [ 7 ]

I.1.3.4 Thời gian: Sự chính xác và tốc độ thực hiện một hoạt động cũng sẽ giảm theo

mức độ giảm thị lực Tuy nhiên, khía cạnh này trong thực tế thường bị bỏ qua Trẻ khiếm thị cần nhiều thời gian hơn để phát hiện, nhận diện và thao tác trên đồ vật và điều này cần đặc biệt chú ý hơn đối với trẻ đa tật Việc phải nhìn quá lâu có thể làm cho mắt bị mệt mỏi, làm giảm tốc độ, sự chính xác và chú ý của trẻ Ngược lại, những hoạt động diễn ra quá nhanh hoặc các sự vật chuyển động cũng gây khó khăn cho trẻ trong việc nhận diện Trẻ khiếm thị cần nhiều thời gian hơn để định vị và phân biệt đồ vật Đồng thời độ dài thời gian cho các hoạt động thị giác chỉ nên tăng lên một cách từ

từ để tránh cho mắt khỏi mệt mỏi [ 7]

I.2 Một số các thuật ngữ liên quan đến hệ thống thị giác đƣợc sử dụng trong nghiên cứu

I.2.1 Thị lực:

Thị lực là khả năng phân biệt được hai điểm đặt sát nhau dưới góc nhìn 1 phút (rất nhanh) [11].Thuật ngữ thị lực được các bác sĩ nhãn khoa và chuyên gia đo thị lực dùng để mô tả mức độ nhìn rõ của một người Công việc này được tiến hành ở bệnh viện mắt hoặc phòng khám mắt của bác sĩ nhãn khoa dưới điều kiện ánh sáng chuẩn và kết quả thị lực được biểu thị bằng những phân số chẳng hạn 10/10, 20/20 cũng là số đo thị lực của mắt thường [ 17 ] Chỉ số này có nghĩa là ở khoảng cách 20 feet tính từ bảng đo thị lực, một người có thể nhìn thấy chữ in hoặc tranh ảnh có chiều cao bằng

3/8 inch [17]

Thị lực được xác định là tỷ số giữa thị lực của đối tượng so với thị lực của bình thường [ 11] Do vậy, chỉ số 20/200 nghĩa là ở khoảng 20 feet người kiểm tra có thể đọc được dòng chữ mà người bình thường có thể đọc ở khoảng cách 200 feet Như vậy, một người có thị lực 20/200 vẫn có thể nhìn thấy nhưng đa phần các mục tiêu đều rất mờ nhạt [17 ]

Để đo thị lực của trẻ có thị lực thấp 20/400 hoặc 20/600, bác sĩ làm bài kiểm tra với “Đếm ngón tay” Thấp hơn những chỉ số được mô tả ở trên là những chú thích theo thứ tự giảm dần sau đây:

Bóng bàn tay (HM) – nhìn thấy sự chuyển động của một vật

Ý thức vật tồn tại (OP)- khả năng nhận ra một vật

Cảm nhận ánh sáng (LP) - Khả năng nhận biết được sự hiện diện hay không của ánh sáng

Trang 23

Cảm nhận hướng ánh sáng (Lproj) - Khả năng nhận biết nguồn ánh sáng đến từ đâu?

Những chú thích trên thường được nhìn thấy trong các báo cáo nhãn khoa của trẻ

còn quá nhỏ do chưa thể đo được thị lực khi trẻ chưa nói được [ 17 ]

I.2.2 Thị lực còn lại là phần thị lực đo được của mắt một người tại một thời điểm

nhất định Người ta thường sử dụng thuật ngữ này trong trường hợp người nhìn kém vì những người này chưa mù hoàn toàn mà vẫn có thể sử dụng chút thị lực còn lại cho

các hoạt động hàng ngày của mình và giúp hiểu biết về thế giới xung quanh [16]

Trong giáo dục, thuật ngữ này được sử dụng với mục đích nhấn mạnh nhiệm vụ của người giáo viên trong việc kích thích và giúp học sinh nhìn kém sử dụng hiệu quả phần thị lực còn lại này [16]

độ.[20]

Thị trường nhìn bình thường Thị trường nhìn bị hạn chế

Hình 3 Thị trường nhìn bình thường và bị hạn chế

I.2.4 Chức năng thị giác

Chức năng thị giác liên quan đến những chức năng sinh học của của mắt Các chức năng thị giác một mắt bao gồm: Chức năng nhận biết cảm giác ánh sáng; Chức năng thích ứng sáng tối; Chức năng tương phản; Chức năng phân biệt chi tiết; Chức năng phân biệt màu sắc; Chức năng điều tiết Chức năng thị giác hai mắt bao gồm chức năng phân biệt khỏang cách [ 11 ]

Đề tài đã kèm theo tài liệu “Các chức năng thị giác và phương pháp thử nghiệm”

do Bác sĩ Nguyễn Thị Xuân Hồng - Bệnh viện mắt Tp.Hồ Chí Minh là thành viên của

đề tài biên soạn Nội dung của tài liệu mô tả giải phẫu nhãn cầu có liên quan đến khúc

xạ mắt, các chức năng thị giác một mắt và chức năng thị giác hai mắt và mô tả các kỹ

thuật khám thị giác một mắt và hai mắt [Phụ lục 1]

I.2.5 Thị giác chức năng hay hiệu quả thị giác:

Là khả năng sử dụng thị giác trong các hoạt động cụ thể và thực hiện các nhiệm

vụ như mong muốn.[ 15 ] Thị giác chức năng mô tả cách vận hành các chức năng thị

Trang 24

giác của người trong các hoạt động của cuộc sống hàng ngày như là đọc và viết, định hướng di chuyển, tự phục vụ, đặc biệt thị giác chức năng liên quan đến kỹ năng thị giác, kỹ năng nhìn của trẻ [15]

Thị giác chức năng liên quan đến việc sử dụng thị lực còn lại như thế nào Khả năng này rất khác nhau giữa trẻ này với trẻ khác ngay cả khi chúng có thị lực như nhau Ngoài ra, số đo thị lực được ghi trong báo cáo nhãn khoa có thể như nhau ở hai trẻ nhưng thị giác chức năng có thể rất khác nhau do mức độ hạn hẹp của thị trường và những vấn đề khác như rung giật nhãn cầu, tình trạng cầu mắt chuyển động liên tục không theo ý muốn Tuy nhiên, khi trẻ học cách nhìn hay nói cách khác là kỹ năng nhìn một vật và xác định rõ các mục tiêu cần quan sát trong môi trường, khả năng sử dụng thị giác chức năng sẽ cải thiện đáng kể [15]

Bảng 1: So sánh chức năng thị giác và thị giác chức năng [24]

Chức năng thị giác (Chức năng sinh học mắt) Thị giác chức năng (Kỹ năng thị giác) Các lĩnh vực

Chức năng điều tiết, Phân biệt chi tiết, độ tương phản, thích ứng sáng- tối, phân biệt màu sắc, v.v…

Định hướng di chuyển, các kỹ năng sống hàng ngày, giao tiếp, thực hiện các họat động gần gũi, quen thuộc, v.v…

Đánh giá Đánh giá nhãn khoa cho

liên quan Chỉ có thông số về thị giác

Có thể bao gồm cả những thông số phi thị giác

VD: đọc sách in là một nhiệm vụ chủ yếu thị giác, nhưng nó cũng đòi hỏi phải đọc, viết và hiểu biết về các chủ

đề và ngôn ngữ, đó là kỹ năng không trực quan

I.2.6 Khiếm thị

Thuật ngữ khiếm thị có thể đề cập đến bất cứ trường hợp nào mà mắt không thể nhìn được như “bình thường”, nó bao gồm cả nhìn kém và mù hoàn toàn “Khiếm thị” được dùng để chỉ việc mất thị giác khiến cho trẻ khó hoặc không thể hoàn thành những nhiệm vụ hàng ngày mà không có sự điều chỉnh đặc biệt Khiếm thị thường là do mất

độ sắc nét của thị lực Điều này có nghĩa là mắt không thể nhìn thấy sự vật được rõ ràng hoặc không nhìn thấy được nhiều chi tiết của vật như mắt bình thường Khiếm thị cũng có thể là do mất thị trường – toàn bộ khoảng rộng được nhìn thấy khi không có

Trang 25

sự chuyển động của mắt và đầu Trẻ khiếm thị do mất thị trườngcó thể nhìn hoặc không thể nhìn thấy vật một cách trọn vẹn trong khoảng thị trường hẹp của mình.[ 3]

Có ba lý do chính gây khiếm thị:

- Thứ nhất: Một hoặc một số phần của mắt giữ chức năng nhìn bị phá hủy Sự phá huỷ này có thể nằm ở trên đường mắt tiếp nhận hoặc ở phần xử lý thông tin thị giác

- Thứ hai: Lệch cầu mắt (cầu mắt không nằm theo hướng bình thường), khiến cho mắt khó có thể tập trung nhìn vào vật

- Thứ ba: Bộ phận xử lý thông tin thị giác trên não hoạt động không tốt Nhìn bề ngoài, mắt trông có vẻ bình thường, nhưng não không thể phân tích và diễn dịch thông tin thị giác mà đứa trẻ có thể nhìn thấy [3 ]

I.2.7 Nhìn kém:

Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới - WHO (1992), “Người nhìn kém là người bị tổn thương chức năng thị giác ngay cả khi đã được chỉnh trị và có thị lực nằm trong vùng từ cảm nhận ánh sáng tới nhỏ hơn 3/10 hoặc có thị trường nhỏ hơn 20 độ từ một điểm nhìn cố định nhưng người này đang sử dụng hoặc có thể sử dụng thị giác để thực hiện một nhiệm vụ hoặc một hoạt động nào đó”.[9]

Bảng 2: Phân loại khiếm thị (Theo WHO)

Có bốn vấn đề cơ bản thường gặp phải ở mắt đó là: giảm thị lực, giảm thị trường ngọai biên, những vấn đề liên quan đến vận động của mắt và những khó khăn về xử lý

thông tin Thường thì trẻ khiếm thị chỉ bị mắc phải một trong những vấn đề trên [ 4 ]

Trẻ bị giảm thị lực không thể nhìn thấy rõ Những trẻ này thường gặp khó khăn khi nhìn những chi tiết nhỏ nhưng có thể không gặp vấn đề khi nhận diện các đồ vật Mức độ giảm thị lực cũng rất khác nhau, không có trường hợp hai trẻ có cùng thị lực.[4]

Trang 26

Giảm thị trường nghĩa là phạm vi trẻ nhìn thấy bị thu hẹp Trẻ có thể bị giảm hoặc không giảm thị lực Rất khó để có thể đo được chính xác mức độ giảm thị trường của mắt Có thể kể đến các loại thị trường trung tâm là phần thị trường ở chính giữa khi nhìn thẳng Nếu bị giảm thị trường trung tâm, trẻ khiếm thị chỉ nhìn thấy phần bên ngoài (ngoại biên) sự vật Ví dụ: Khi nhìn vào một bức tranh, chỉ nhìn thấy phần xung quanh của bức tranh [13]

Hình 4 : Các dạng giảm thị trường

Ngoài ra trẻ có thể gặp khó khăn trong việc giữ thẳng đầu khi nhìn và có thể cần nghiêng sang hai bên để nhìn cho rõ Trẻ này cũng có thể gặp vấn đề về nhìn màu Giảm thị trường ngoại biên có thể liên quan đến thị trường trên, thị trường dưới hoặc hai bên khiến trẻ có thể bị va đụng hoặc vấp vào đồ vật ở hai bên đường đi Trẻ này cũng có thể gặp khó khăn khi nhìn vào ban đêm, những vùng có ánh sáng mờ và việc

thích ứng với sự thay đổi về ánh sáng [4]

Những vấn đề về vận động gây ra khó khăn trong việc phối hợp sự chuyển động mắt Trẻ khiếm thị gặp khó khăn khi phối hợp hai mắt để cùng nhìn tập trung hoặc nhìn theo một đồ vật chuyển động, hoặc trẻ có thể nhìn từng mắt một Khi trẻ nhìn những đồ vật ở gần, một mắt có thể quay vào trong hoặc quay ra ngoài, hoặc cả hai mắt cùng quay vào trong hoặc quay ra ngoài Trẻ có thể với tới đồ vật không chính xác Sự không cân bằng của các cơ mắt tất phức tạp và khó điều trị Rung giật nhãn cầu theo nhịp, bất thình lình hoặc không chủ định thường thấy ở những trẻ khiếm thị bẩm sinh, không bị rối loạn về cân bằng cơ mắt [4]

Những vấn đề về xử lý hình ảnh hay còn gọi là mù não – Cortical Visual Impairment – xảy ra ở những trẻ bị giảm thị lực do tổn thương não hoặc đường dẫn truyền thị giác Đối với những trẻ mù não, hệ thống thị giác gặp khó khăn trong việc hiểu và lý giải những gì mắt nhìn thấy Mặc dù mắt và dây thần kinh thị giác bình thường, nhưng sự khiếm thị vẫn có thể xảy ra Một số đặc điểm của trẻ mù não là thị giác dao động, khó khăn trong việc phân biệt tiền/ hậu cảnh (hình- nền), thị trường bị thu hẹp và/hoặc có thị trường ưu tiên và không có khả năng duy trì sự liên hệ bằng mắt với đồ vật khi vươn tới chúng [4]

I.4 Kích thích và rèn luyện thị giác cho trẻ khiếm thị

I.4.1.Khái niệm kích thích thị giác

Kích thích thị giác là việc sử dụng ánh sáng hoặc/và những hình ảnh thị giác có

độ tương phản cao, sặc sỡ, bắt mắt để gia tăng sự hoạt động của hệ thống thị giác

Trang 27

nhằm giúp trẻ có ý thức về nhìn và biết sử dụng các chức năng thị giác một cách hiệu quả Kích thích thị giác đặc biệt quan trọng đối với trẻ nhìn kém Kích thích mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với độ tuổi phát triển của trẻ

Đối với trẻ nhỏ nhất là trẻ nhỏ mới sinh ra, ánh sáng chính là thứ đầu tiên giúp mắt trẻ phản ứng và cũng là kích thích quan trọng giúp người lớn nhận biết tình trạng bình thường hay không của mắt trẻ Sau đó, để thu hút sự chú ý thị giác, người ta thường sử dụng ánh sáng với cường độ, màu sắc, hướng, hình dạng khác nhau để tiếp tục giúp trẻ khám phá thế giới lung linh, huyền ảo của ánh sáng và cũng là để rèn khả năng nhìn của trẻ

Những hình ảnh tiếp theo mà trẻ có thể nhận biết bằng thị giác đó là thế giới đồ vật, sự vật xung quanh mặc dù ban đầu khi nhìn vào đồ vật trẻ chỉ cảm nhận chúng như một chùm sáng hữu hình Những đồ vật, sự vật có màu sắc sặc sỡ, chiếu sáng hoặc tương phản thường thu hút sự chú ý của thị giác dễ dàng và nhanh chóng Do vậy, các

đồ chơi, đồ vật để trẻ nhìn ở giai đoạn này nên là những đồ vật, sự vật có các đặc điểm nêu trên

I.4.2.Mối quan hệ giữa đánh giá và kích thích thị giác

Đánh giá và kích thích thị giác là hai công việc khác nhau Đánh giá nhằm lượng giá khả năng sử dụng thị giác của một người nhìn kém thông qua các chức năng nhìn cụ thể Kích thích thị giác là việc sử dụng ánh sáng, những đồ vật, đồ chơi, hình ảnh nhằm kích thích các tế bào thần kinh thị giác trên não bộ giúp con người tự khám phá khả năng nhìn của chính mình, hứng thú với việc sử dụng thị giác trong hoạt động học tập cũng như trong mọi hoạt động sống của họ Nếu được tổ chức bài bản thì kích thích thị giác cũng có thể được xem như quá trình rèn luyện thị giác

Mặc dù là hai công việc khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ Kết quả đánh giá thị giác chức năng là cơ sở cho việc thực hiện các bài tập kích thích thị giác bởi lẽ việc đánh giá sẽ cho biết mức độ sử dụng thị giác còn lại của trẻ như thế nào Dựa trên mức độ thị giác còn lại, những người có trách nhiệm sẽ lên

kế hoạch cho các bài tập kích thích và rèn luyện thị giác Nếu thị giác còn lại của một trẻ chỉ là phân biệt sáng tối thì các bài tập kích thích thị giác chắc chắn nên bắt đầu bằng ánh sáng Nếu trẻ vẫn còn có thể nhìn thấy tranh ảnh thì các bài tập kích thích thị giác có thể bắt đầu là những tranh ảnh để trẻ có thể nhìn các chi tiết trong tranh và dần dần nâng cao các bài tập nếu có thể Đánh giá thị giác chức năng còn giúp các chuyên gia và giáo viên biết được môi trường thích hợp cho việc sử dụng thị giác còn lại của trẻ Có những trẻ thích cường độ ánh sáng mạnh, nhiều và tập trung vào cùng cần nhìn; có những trẻ thích sử dụng ánh sáng chan đều ra khắp phòng; có những trẻ lại không thích ánh sáng nhiều, mạnh và chói mà chỉ thích ánh sáng mờ,… Ngoài hai mục đích trên, đánh giá thị giác chức năng còn là cách để giáo viên, chuyên gia dạy trẻ khiếm thị nhìn nhận lại kết quả của việc áp dụng các bài tập kích thích và rèn luyện sau một thời gian từ đó tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc đưa ra những chiến lược kích thích thị giác mới

Trang 28

Tóm lại, đánh giá và kích thích, rèn luyện thị giác là những công việc luôn được thực hiện đan xen nhưng thường thì đánh giá hay được tiến hành trước đúng như mục đích mà công việc này hướng tới Đánh giá sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu sau đó giáo viên và chuyên gia dạy trẻ khiếm thị không tiến hành kích thích và rèn luyện thị giác chức năng Ngược lại, việc kích thích và rèn luyện thị giác chức năng cũng sẽ không đạt hiệu quả nếu không dựa vào kết quả đánh giá thị giác chức năng, đó là chưa kể công việc này còn giúp ta kiểm chứng lại những gì đã làm để kích thích và rèn thị giác cho học sinh

I.4.3.Kích thích và rèn luyện thị giác

I.4.3.1.Sự phát triển của đôi mắt bình thường – cơ sở cho việc lựa chọn đồ chơi và các hoạt động kích thích thị giác

 Khi vừa sinh ra

- Trẻ vừa sinh ra thường có xu hướng nhắm mắt nhiều hơn vì ngủ suốt ngày Thời gian chú ý và kiểm soát các cử động của mắt rất ít Tuy nhiên, trẻ sơ sinh đã có khả năng nhìn ngang, đặc biệt là những đồ vật đặt ở gần Khi trẻ càng lớn tuổi, thị lực sẽ càng tốt hơn

 Từ 1 đến 4 tháng

- Trẻ có thể nhìn theo những vật chuyển động và vươn tới đồ vật Ban đầu, điều này xảy ra rất ngẫu nhiên nhưng khi trẻ có có sự phối hợp tay - mắt và cảm giác chiều sâu, các hành vi này trở nên có mục đích hơn

- Để giúp trẻ phát triển thị giác trong giai đoạn này, người lớn có thể dùng đèn ngủ hoặc đèn mờ trong phòng của trẻ, thay đổi tư thế đặt trẻ trong cũi để trẻ có thể vươn tới, sờ đụng vào đồ chơi trong tầm nhìn, khoảng 20 – 35cm

- Người lớn cũng có thể kích thích thị giác của trẻ bằng cách vừa nói vừa chỉ cho trẻ những đồ vật xung quanh phòng, treo đồ vật phía trên, bên ngoài cũi và thay đổi tư thế của trẻ khi ăn để trẻ có thể vươn ra, đụng vào đồ chơi

 Từ 4 đến 8 tháng

- Khi trẻ đã có thể lật từ bên này sang bên kia và sử dụng được các kỹ năng chuyển động của mắt cũng như cử động chân tay, các kỹ năng phối hợp tay/chân - mắt cần được phát triển thành thạo hơn Hai mắt cần biết tập trung vào một điểm như nhau

- Để giúp trẻ phát triển các kỹ năng thị giác, người lớn cần cho trẻ tiếp xúc với các hình dạng khác nhau, với những chất liệu khác nhau để trẻ có thể khám phá bằng các đầu ngón tay Ngoài ra, phụ huynh cần cho trẻ được tự do bò và khám phá Hãy treo đồ vật ngang cũi và chơi trò ú oà với trẻ

 Từ 8 đến 12 tháng

- Khi trẻ bắt đầu biết bò và nâng mình lên, trẻ biết bắt đầu sử dụng mắt để đoán khoảng cách, từ đó có thể ném hoặc nắm bắt đồ chơi chính xác Người lớn không

Trang 29

nên khuyến khích trẻ đi sớm vì bò là một kỹ năng quan trọng để phát triển sự phối hợp mắt - tay – chân - cơ thể

- Để giúp trẻ phát triển các kỹ năng nhìn, người lớn có thể cho trẻ thực hiện những

đồ chơi xếp tháp bằng vòng hoặc những đồ chơi có thể tách rời Cho trẻ những đồ vật để trẻ có thể sờ, nắm và nhìn cùng một lúc

 Từ 1 – 2 tuổi

- Ở độ tuổi này, sự phối hợp tay - mắt và cảm giác chiều sâu sẽ tiếp tục phát triển Phụ huynh cần khuyến khích trẻ tập đi và tập xếp những khối vuông, ghép những miếng ghép đơn giản và chơi với bóng Cần cho trẻ có cơ hội để trèo và khám

phá môi trường trong nhà lẫn bên ngoài

 Tuổi mẫu giáo

- Trong suốt những năm mẫu giáo trẻ tiếp tục phát triển các kỹ năng phối hợp mắt – tay – cơ thể, các kỹ năng vận động tinh và các kỹ năng vận động thị giác, chuẩn

bị cho việc học đọc và viết

I.4.3.2.Những lưu ý khi kích thích thị giác

Các hoạt động kích thích thị giác có thể giúp trẻ sử dụng thị giác còn lại hiệu quả Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý đến lứa tuổi của trẻ, đến các phương tiện sử dụng, phương pháp khi kích thích thị giác cho trẻ :

0 - 1 tuổi

Những điều cần ghi nhớ

Ở độ tuổi này, trẻ thích những đồ vật có độ tương phản cao Khả năng nhìn màu chưa được phát triển đầy đủ do vậy trẻ có thể không bị thu hút bởi đồ vật có màu pha hoặc màu nhẹ

Những việc cần làm

Kích thích thị giác của trẻ bằng những đồ vật có độ tương phản cao, chẳng hạn như những con thú nhồi bông, búp bê có màu đen - trắng ở khoảng cách một cánh tay của trẻ

Trang trí phòng của trẻ bằng những đồ vật cơ động, đồ chơi, những mảnh vải vụn có độ tương phản cao

Sử dụng những hình mẫu, hoa văn sọc đen - trắng hoặc đỏ - trắng

Ban ngày, bố trí phòng có ánh sáng đầy đủ Ban đêm, nên để một bóng đèn khoảng 25 oát để mỗi khi trẻ thức dậy, ánh sáng sẽ kích thích thị giác của trẻ Đặt cũi ở các vị trí khác nhau trong phòng để trẻ có thể được nhìn thấy căn phòng từ những góc độ khác nhau

Nói với trẻ mỗi khi người lớn bước vào phòng để trẻ biết có người đang có mặt

ở đó

Nói chuyện khi tiếp cận với trẻ vì nếu trẻ không biết bạn đang ở đó, chúng sẽ rất dễ bị giật mình và sợ hãi vì bị bế lên quá bất ngờ Đặt trẻ ở tư thế đối diện với bạn, sao cho mắt trẻ có thể nhìn thấy mắt bạn Một khi trẻ đã tập trung nhìn,

Trang 30

hãy từ từ di chuyển khuôn mặt bạn để trẻ phải dõi mắt theo Hoạt động này, giúp trẻ phát triển kỹ năng dõi mắt theo vật chuyển động

Sử dụng những sợi ru -băng có màu sáng tạo độ tương phản cao bao quanh chai sữa của trẻ Di chuyển bình sữa nhẹ nhàng từ bên nọ sang bên kia để trẻ dõi mắt theo Sau khi trẻ đã thực hiện điều này, hãy cho trẻ uống sữa

Dùng đèn pin màu chiếu vào cơ thể trẻ ở các góc độ khác nhau Di chuyển đèn pin để khuyến khích trẻ dõi mắt theo ánh sáng Hoạt động này cũng có tác dụng rèn kỹ năng dõi theo của mắt

Sử dụng những đồ vật có ánh sáng lung linh chẳng hạn như vải len có đính các sợi lóng lánh hoặc các loại giấy có thể phản chiếu đế kích thích thị giác của trẻ

Trẻ có thể biết đồ vật được tra vào nhau như thế nào

Các kỹ năng nhận biết hình dạng, kích thước, hình thể bắt đầu phát triển

Trẻ đã có khả năng nhìn đồ vật ở khoảng cách trên 3 bước chân Kỹ năng này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển các hoạt động như bò, vươn tới và đi

Lăn bóng để trẻ biết rằng quả bóng có thể lăn ra xa nếu tác động vào chúng và chúng sẽ trông nhỏ hơn khi ở khoảng cách xa hơn

Chơi các trò chơi đòi hỏi việc ghép và đặt các bộ phận theo đúng thứ tự

Khuyến khích trẻ sờ, nghe, nếm những đồ vật bé nhìn thấy Cho phép trẻ khám phá xung quanh Di chuyển tự do là hoạt động cung cấp những kinh nghiệm rất

có giá trị đối với trẻ Lưu ý loại bỏ những đồ vật gây nguy hiểm cho trẻ như vật sắc nhọn, đồ chơi có lông, các ổ điện, dây điện, phích nước nóng, các hóa chất

ở môi trường nơi trẻ đang khám phá

Giới thiệu tên, công dụng của các đồ vật để trẻ có thể nhìn và chơi với chúng Đây cũng là thời điểm phát triển ngôn ngữ rất tốt

3 - 5 tuổi

Trang 31

Phát triển trí nhớ bằng việc chơi cờ và chơi ô chữ

Dạy trẻ dõi mắt từ trái qua phải khi đọc bằng cách đặt ngón tay từ trái qua phải khi bạn đang đọc Sau đó, hãy hướng dẫn trẻ đặt ngón tay lên mỗi chữ khi bạn đang đọc

Sử dụng các trò chơi cần phối hợp tay - mắt Di chuyển các vật dụng, đồ chơi từ trái qua phải theo một mẫu nhất định cũng giúp phát triển kỹ năng dõi theo của mắt cần cho việc đọc

Khuyến khích trẻ xem tranh và gọi tên đồ vật trong tranh

Cho trẻ xem tranh ảnh để giúp trẻ có sự liên hệ giữa tranh vẽ và đồ vật thật Cho phép trẻ chạy, nhảy để phát triển các kỹ năng phối hợp chân - mắt và tay - mắt Cho phép trẻ đá bóng hoặc vỗ tay lên trái bóng bay để di chuyển chúng từ

vị trí này đến vị trí khác

Chơi với các miếng ghép và hình khối để trẻ có thể hiểu rằng các bộ phận có thể tạo thành một vật hoàn chỉnh Các trò chơi có thể sử dụng cho hoạt động này là bảng cắm, lắp ghép hình, đô – mi – nô,…

Những việc cần làm

1 Để trẻ được ngồi ở vị trí thích hợp nhất Một số trẻ cần ngồi phía trước lớp học, một số khác ngồi ở hai bên và một số khác nên ngồi phía dưới lớp học Điều này phụ thuộc vào tình trạng mắt của mỗi trẻ

2 Ánh sáng cũng có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn Cần tìm ra loại ánh sáng và cách chiếu sáng phù hợp cho từng trẻ

3 Nếu trẻ có thể đọc chữ in, hãy xem xét kiểu chữ, cỡ chữ và khoảng cách dòng chữ sao cho phù hợp Kích cỡ chữ 12 là chuẩn nhưng phần lớn trẻ nhìn kém cần

cỡ chữ 16 hoặc 18

Trang 32

4 Cung cấp những thiết bị hỗ trợ thị giác phù hợp Một số trẻ cần giá đọc trong khi các trẻ khác cần các thiết bị hỗ trợ hiện đại như CCTV và các phần mềm vi tính

5 Cung cấp các thiết bị hỗ trợ nhìn kém để đọc chữ trên bảng lớp

6 Đánh giá hiệu quả của từng loại thiết bị hỗ trợ nhìn kém như CCTV, máy scan, các thiết bị có tiếng nói Đảm bảo trẻ đeo kính bảo hộ khi chơi ngoài trời vì điều này có thể làm giảm những tổn thương cho mắt trong khi chơi

I.4.3.3 Kích thích và rèn luyện thị giác trong phòng tối

I.4.3.3.1 Khái niệm

Phòng tối là căn phòng hoàn toàn không có ánh sáng hoặc rất ít ánh sáng có thể lọt qua Để có một căn phòng tối hoàn toàn, người sử dụng có thể dùng sơn đen sơn lên bốn bức tường xung quanh hoặc dùng rèm cửa che bốn phía để ngăn ánh sáng không lọt vào

I.4.3.3.2 Mục đích của việc kích thích thị giác trong phòng tối

Có nhiều trẻ tuy vẫn còn thị lực nhưng nếu ngay từ nhỏ không được kích thích có thể phần thị giác còn lại có thể bị lãng quên theo thời gian do các giác quan khác trội hơn trong việc khám phá thế giới xung quanh Mục đích của việc kích thích và luyện tập thị giác trong phòng tối là giúp các em khám phá khả năng nhìn của chính mình, từ

đó tích cực sử dụng thị giác trong môi trường sống tự nhiên

Phòng kích thích thị giác cùng với việc cho phép có thể kiểm soát ánh sáng sẽ kích thích thị giác của trẻ, dấy lên niềm thích thú và ham muốn sử dụng thị giác mà trước nhất là với ánh sáng Từ những kỹ năng có được khi nhìn ánh sáng, trẻ sẽ nỗ lực

sử dụng phần thị lực còn lại để khám phá những sự vật, hiện tượng có thể nhìn thấy trong môi trường Ngoài ra, trong phòng tối, nếu giáo viên hoặc chuyên gia muốn trẻ tập trung quan sát vào một đồ vật nào đó thì đồ vật được chiếu sáng cũng có thể hiện lên rõ hơn, giúp trẻ dễ nhận đồng thời sự chú ý của trẻ cũng sẽ chỉ tập trung vào hoạt động mà giáo viên tổ chức có chủ đích

I.4.3.3.3 Những đối tƣợng học sinh cần sử dụng phòng tối để kích thích thị giác

Từ mục đích của việc kích thích thị giác trong phòng tối như đã nói ở trên, có thể thấy rằng tất cả các học sinh nhìn kém đều cần được kích thích và rèn luyện thị giác Tuy nhiên, không phải tất cả học sinh nhìn kém đều cần sử dụng phòng tối đế kích thích thị giác Trên thực tế, chỉ những học sinh bị giảm thị lực trầm trọng, từ 1/50 trở xuống và những học sinh chỉ còn cảm nhận ánh sáng mới cần sử dụng phòng tối để kích thích thị giác Những trẻ từ 0 – 3 tuổi cũng cần được kích thích thị giác trong phòng tối vì vào độ tuổi này các tế bào thị giác trên não vẫn còn phát triển và vì những trải nghiệm về nhìn của các em cũng còn rất ít Tuy nhiên, có thể cho phép tất cả các học sinh nhìn kém được trải nghiệm phòng kích thích thị giác vì trong điều kiện ánh sáng được kiểm soát, các em sẽ được kích thích bởi một môi trường ánh sáng huyền

ảo, lung linh, hấp dẫn Từ đó, các em tự nhận ra tầm quan trọng của phần thị giác còn lại và có ý thức sử dụng trong cuộc sống cũng như trong học tập

Trang 33

Giáo viên cũng cần nghiên cứu báo cáo sức khỏe, báo cáo nhãn khoa và kết quả đánh giá thị giác chức năng của học sinh trước khi tiến hành các bài tập kích thích thị giác cho từng em Với những học sinh bị động kinh, việc sử dụng các loại đèn màu nhấp nháy có thể làm cho các em dễ chóng mặt Nhiều học sinh nhìn kém sợ ánh sáng mạnh hoặc ánh sáng chiếu thẳng vào mắt Có những học sinh bị hẹp thị trường phía trên hoặc bên trái,… Tất cả những thông tin trên sẽ giúp giáo viên có kế hoạch kích thích thị giác phù hợp cho từng em

I.5 Vai trò của việc kích thích thị giác đối với sự vận hành các chức năng thị giác

và sự hình thành các kỹ năng thị giác

So với các giác quan khác, mắt giữ vai trò ưu thế nhất đối với sự hình thành và phát triển các mối liên hệ thần kinh tạm thời bên trong giữa các hệ thống phân tích khác nhau Chẳng hạn thị giác chiếm vị trí ưu thế hàng đầu trong họat động định hướng không gian, trong quá trình họat động nhận thức và trong họat động sinh họat hàng ngày

Khi thị giác bị phá hủy, coi như kênh nhận thông tin của máy thu bị cắt đứt Hậu quả ấy dẫn tới những thay đổi sau:

- Lượng thông tin chuyển tới vỏ bán cầu đại não trở nên đơn điệu, thưa thớt, nghèo nàn

- Các xung động thần kinh từ võng mạc đi vào não bộ giảm đi đáng kể Vì những

lẽ ấy, chức năng họat động của não bộ cũng phải thay đổi theo hướng suy giảm

về cường độ Biểu hiện của hiện tượng suy giảm cường độ xung động thần kinh ở chỗ, nhịp anpha não đồ thuộc vùng thùy chẩm rất suy yếu hoặc triệt tiêu Mắt bị phá hủy còn làm thay đổi cả tính năng động toàn bộ hệ thống tế bào thần kinh trung ương Ở trẻ nhìn kém do bị phá hủy tính chất họat động nhịp nhàng của những xung động thần kinh ở võ não cho nên hệ thống thần kinh luôn luôn trong trạng thái căng thẳng Nhờ những bài tập kích thích thị giác với những đồ chơi, ánh sáng hấp dẫn mắt nhìn tạo lại sự nhịp nhàng của những xung động thần kinh, làm cho trẻ vui thích, thỏai mái, đỡ căng thẳng

Do mắt bị phá hủy nên mọi kích thích từ ngoài vào không còn được các cơ quan cảm nhận thị giác chuyển vào trung tâm Vì thế không thể có xung động thần kinh thị giác truyền thông tin hình ảnh thị giác vào não bộ Các quá trình phân tích, tổng hợp trong vùng thùy chẩm cũng không xảy ra nếu như mù hòan tòan Sự vận hành các chức năng thị giác phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phá hủy cơ quan thị giác hay phần thị lực còn lại Phần lớn những trẻ khiếm thị vẫn còn thị lực và vẫn có thể sử dụng và ngay cả khi ược trong hoạt động sống Khoảng 2% học sinh khiếm thị không còn khả năng để nhận được bất kỳ tác dụng nào từ việc kích thích thị giác Một số học sinh khác có xu hướng sử dụng các giác quan khác để phục vụ cho việc học tập trong trường hợp thị lực còn lại không đáng kể và nếu được tập luyện vẫn có thể sử dụng cho các mục đích khác như định vị và định hướng di chuyển Đa số những học sinh khác đều có thể được luyện tập sử dụng các phương tiện hỗ trợ nhằm duy trì và phát

Trang 34

huy tối đa khả năng sử dụng thị lực vào bất cứ lúc nào Tiềm năng sử dụng thị giác vẫn còn khi trẻ có thể phản ứng với ánh sáng chiếu vào mắt trực tiếp hoặc được phản ánh

từ đồ vật [ 9]

Sẽ không đúng nếu đưa ngay một nhận định rằng, một người nào đó có đủ thị lực

để nhìn thì anh ta sẽ sử dụng nó Sự phát triển hệ thống thị giác ở người nhìn kém rất ít khi xảy ra một cách tự động hoặc tự phát Quá trình kích thích thị giác và học sử dụng thị giác trong các môi trường khác nhau có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc sử dụng có ý nghĩa thị lực còn lại của người nhìn kém (Barraga 1980) Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính những kinh nghiệm học tập có kế hoạch sẽ thúc đẩy hiệu quả

của thị giác chức năng (Gibson 1969) [ 9]

Các hoạt động kích thích thị giác có thể giúp trẻ sử dụng thị giác còn lại hiệu quả Trên lý thuyết, khi các hoạt động này diễn ra, các vùng thị giác trên não sẽ được kích thích tối đa để phát triển thị giác Điều này không có nghĩa là chúng sẽ làm cho các cơ vận động của mắt trở nên mạnh hơn hoặc có thể phục hồi được các bệnh và sự bất thường của não Các hoạt động này không phải để cải thiện thị lực của trẻ mà chỉ giúp kích thích sự phát triển thị giác, khuyến khích trẻ sử dụng được tối đa thị giác của

chúng trong các hoạt động sống và học tập [ 17]

Việc sử dụng ánh sáng trong phòng tối sẽ kích thích các tế bào thần kinh thị giác trong não, giúp trẻ nhận biết được thông tin đơn giản nhất do mắt đem lại, đó là ánh sáng Trong phòng tối, trẻ dễ phát hiện ra phòng có ánh sáng hay không và ánh sáng đến từ hướng nào do sự tương phản về tối – sáng rõ ràng Các bài tập rèn luyện kỹ năng nhìn dựa vào ánh sáng sẽ giúp hình thành các kỹ năng nhìn cơ bản như: kỹ năng nhận biết bằng thị giác (có sự hiện diện của ánh sáng hay không), kỹ năng chú ý, định

thị, dõi theo cử động của ánh sáng, phối hợp tay mắt, chân mắt [ 17] Phương pháp

vận hành các chức năng thị giác ở trẻ em dựa trên kích thích ánh sáng của võng mạc Ánh sáng kích thích võng mạc dẫn đến tăng hoạt động của các tế bào của vỏ não thị giác của não bộ và cải thiện thị giác chức năng Ví dụ: Trong phòng tối, ánh sáng loé lên từ cột đèn sáng sẽ kích thích trẻ nhìn Khi bong bóng chuyển động sẽ tăng kích thích thị giác và dẫn truyền xung động đến trung khu thị giác ở não Nếu đứa trẻ theo dõi chuyển động của các bong bóng, thì có thể nói rằng các trung khu thị giác đang làm việc Nhờ đó kỹ năng dõi theo của trẻ ngày càng phát triển

Phát triển khả năng nhận thức thị giác liên quan đến khả năng nhận biết, tổng hợp

và tái hiện lại các kích thích thị giác Đó là một quá trình liên quan đến rất nhiều kỹ năng phụ và liên quan chặt chẽ đến sự phát triển ngôn ngữ và khả năng nhận thức Trên thực tế, các kỹ năng thị giác này không phát triển tách biệt nhưng để dễ dàng cho việc lên kế hoạch luyện tập, chúng được phân chia thành các vùng kỹ năng sau đây: Khả năng phân biệt thị giác, Khả năng phân biệt hình-nền bằng thị giác, Trí nhớ thị giác, Nhận diện thị giác, Nhận thức không gian thị giác, Vận động, Phối hợp vận động

- thị giác [ 9 ]

Trang 35

Tóm lại, các hoạt động, bài tập kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị đóng vai trò như phương pháp giáo dục và phòng kích thích thị giác đóng vai trò như môi trường

có kiểm soát nhằm tăng cường việc sử dụng các chức năng thị giác trong việc cải thiện thị giác chức năng của trẻ khiếm thị trong chương trình can thiệp sớm

B CƠ SỞ THỰC TIỄN

Cơ sở thực tiễn của đề tài dựa trên cơ sở thực trạng can thiệp sớm trẻ khiếm thị ở Việt Nam và kinh nghiệm xây dựng mô hình phòng đa giác quan, phòng kích thích thị giác ở một số nước tiên tiến trên thế giới

I.6 Thực trạng can thiệp sớm trẻ khiếm thị ở Việt Nam

Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết hiện nay ở Việt Nam có trên 5,1 triệu

người khuyết tật và trẻ mồ côi, chiếm 7% dân số [ 32] Thực ra, Việt Nam chưa có

một cuộc điều tra có quy mô toàn quốc đủ lớn và toàn diện về vấn đề người khuyết tật

để có những số liệu đáng tin cậy: tổng số người tàn tật, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, các dạng khuyết tật, những thông tin về đặc tính của người khuyết tật, các dạng dịch

vụ mà những người tàn tật được thụ hưởng cũng như nhu cầu của người khuyết tật… Trong những năm gần đây, với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức, cơ quan Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát về vấn đề người khuyết tật Song các cuộc điều tra này với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương Đó là chưa kể đến sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa, cho tới các tiêu chí phân loại, các chỉ tiêu đánh giá, nội dung và phương thức tiến hành của các cuộc khảo sát về vấn đề người khuyết tật đã dẫn đến kết quả là nhiều số liệu còn thiếu, hoặc trùng lặp, các kết quả điều tra khảo sát chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng vấn đề người khuyết tật Việt Nam, nhiều khi các số liệu khác biệt nhau quá lớn và không thể

so sánh với nhau được… [ 31 ]

Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra (1994 – 1995, 1998) của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng; ý kiến của cộng đồng; các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng

về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh theo các điểm sau đây: [ 31 ]

Các dạng tật chủ yếu và các nguyên nhân:

Bảng 3 :Các dạng tật chủ yếu

Dạng tật Vận động Thị giác Thính giác Ngôn ngữ Trí tuệ Thần kinh

Trang 36

Bảng 3 cho thấy người khuyết tật cơ quan vận động chiếm tỉ lệ cao nhất: 35,46% sau đó là thị giác: 15,70% và thần kinh chiếm 13,93% Nguyên nhân dẫn tới tàn tật là do: bẩm sinh chiếm 34,15%, bệnh tật chiếm 35,75% và tai nạn chiến tranh là 19,07% Riêng nguyên nhân tai nạn chiến tranh tỉ lệ nam tàn tật cao hơn nhiều so với tỉ lệ của

nữ Tỉ lệ người đa tật chiếm khá cao: 20,22% trong tổng số nguời tàn tật [ 31]

Nói về hiện trạng người khuyết tật có liên quan tới mắt; hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 45 triệu người mù và 135 triệu người khiếm thị Trong số những người mù

và khiếm thị, có đến 90% số người mù lòa sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam được xếp trong nhóm các nước này Mặt khác, số lượng người mù trên thế giới có xu hướng gia tăng Dự tính do sự gia tăng dân số, tăng tuổi thọ và một số nguyên nhân khác, số người mù trên thế giới sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2020 nếu như chúng ta không có những biện pháp phòng chống mù lòa hữu hiệu Theo cách tính này, đến năm 2020 ở Việt Nam sẽ có hơn một triệu người mù và hơn ba triệu người khiếm thị Có thể thấy gánh nặng mù lòa ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội [ 31]

Theo thống kê của Viện Mắt Trung Ương, nước ta hiện có khoảng 900.000 người khiếm thị, trong đó có khoảng hơn 600.000 thuộc đối tượng mù chiếm 1,2% dân số cả nước [25]

Kết quả điều tra về tình hình khiếm thị (năm 2002): [ 31]

Bảng 4: Nguyên nhân gây khiếm thị ở Việt Nam qua điều tra:

Nguyên nhân mù Điều tra 2000-2002

Tỷ lệ mù 2 mắt (ở người > 50 tuổi) 4,76%

Tỷ lệ mù 2 mắt (toàn dân) 0,63% (ước tính)

Trang 37

Theo kết quả của điều tra trên, tỷ lệ mù 2 mắt do mọi nguyên nhân ở người từ 50 tuổi trở lên qua điều tra ở miền Bắc là 4,34%, thấp hơn có ý nghĩa so với ở miền Nam

là 5,17%, trong đó tỷ lệ mù 2 mắt do đục thể thuỷ tinh trong suốt thời gian hai thập kỷ qua vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù ở nước ta, chiếm tới 71,3%, sau đó đến các bệnh bán phần sau nhãn cầu ( dịch kính, võng mạc, thị thần kinh, màng bồ đào) chiếm 11,5% Glocom là nguyên nhân gây mù thứ 3, chiếm tới 5,7% [ 31]

Như vậy, ước tính theo tỷ lệ mù ở dân số, thì hiện nay cả nước ta có ít nhất 482.700 người bị mù 2 mắt và 891.000 người mù một mắt Trong số đó có khoảng 344.000 người mù hai mắt (chiếm 71,3%) và 504.500 người bị mù 1 mắt (chiếm 56,6%) do đục thể thuỷ tinh cần được mổ [ 31]

Hiện nay Việt Nam hiện có khoảng 100.000 trẻ khiếm thị (tương đương 70%) chưa được đi học Nếu so sánh với tỉ lệ 97,5% tổng số trẻ Việt Nam đã được phổ cập giáo dục tiểu học thì rõ ràng trẻ khiếm thị phải chịu hai lần thiệt thòi: Mù mắt và Mù chữ Nguyên nhân tiếp theo do chưa có thống kê đầy đủ về số lượng trẻ khiếm thị theo

độ tuổi và nhu cầu SGK các lớp theo năm học nên không thể xây dựng được kế hoạch huy động nguồn lực Ngoài ra, sự phối hợp hành động của các cá nhân, tổ chức còn nhiều bất cập [ 32] Tâm lý đa số phụ huynh có trẻ bị khiếm thị thường cho các em ở nhà để gia đình tự giáo dục, dạy dỗ, dẫn đến trẻ hạn chế việc tiếp xúc xã hội, hạn chế việc phát triển các kỹ năng nên ảnh hưởng đến cuộc sống của các em sau này Phần lớn trẻ khiếm thị hoàn toàn được phát hiện trong độ tuổi từ 0-1, trẻ nhìn kém hoặc mắc các tật khúc xạ từ 3 tuổi trở lên và người phát hiện tật khiếm thị ở trẻ là cán bộ y tế, gia đình và giáo viên Đa số gia đình các em chưa có sự hiểu biết đúng để chăm sóc, giúp

đỡ trẻ khiếm thị, thiếu tin tưởng vào khả năng của trẻ về sự hòa nhập cộng đồng trong tương lai và do điều kiện kinh tế khó khăn nên không đưa trẻ đến trường hay thực hiện các dịch vụ can thiệp sớm cho trẻ tại gia đình nên trẻ khiếm thị bị thiệt thòi nhiều về

việc học tập cũng như vui chơi phát triển thể chất [ 32 ]

I.7 Kinh nghiệm xây dựng một số mô hình phòng kích thích thị giác cho trẻ nhìn kém ở một số nước trên thế giới

Trước khi phân tích về mô hình phòng kích thích thị giác, đề tài muốn giới thiệu

về kinh nghiệm xây dựng phòng đa giác quan vốn có mối liên quan chặt chẽ với phòng kích thích thị giác đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới

I.7.1 Phòng đa giác quan (the multi - sensory room)

I.7.1.1.Khái niệm về phòng đa giác quan

Phòng đa giác quan là môi trường mà ở đó người ta vận dụng những kinh nghiệm kết hợp với việc sử dụng các trang thiết bị chuyên biệt nhằm kích thích các giác quan Những phòng này tạo cơ hội cho trẻ khiếm khuyết có thể phục hồi và phát triển các giác quan (thính giác, thị giác, vị giác, khứu giác và xúc giác), sự phối hợp tay và mắt, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm, quan hệ xã hội, giải trí và thư giãn

I.7.1.2.Các mô hình của phòng đa giác quan:

Trang 38

Mô hình phòng đa giác quan được xuất hiện vào thập niên 90 ở Anh, Hà Lan, Ai –len và ngày càng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới

 Mô hình phòng “Snoezelen”

 Triết lý của Snoezelen:

Phương pháp tiếp cận của Snoezelen dựa trên cơ sở là hoạt động trị liệu truyền thống nhưng hoàn toàn mở Những người có nhu cầu đặc biệt, trong đó có trẻ khiếm thị được tự do lựa chọn hoạt động kích thích mà họ yêu thích trong phòng Snozelen

Họ thoát khỏi các áp lực bị kiểm soát thường xuyên, được chẩn đoán y tế, cảm giác đặc biệt trong thế giới riêng của họ Louise Haggar và Roger Hutchinson mô tả này triết lý vào năm 1991 tại Nhà Trắng Các tác giả xác định “Snoezelen” là môi trường đặc biệt "tạo điều kiện cho các phương pháp tiếp cận chăm sóc không áp đặt, trong bầu không khí an toàn và tự do lựa chọn

Snoezelen có thể được dùng để kích thích, nghỉ ngơi, thư giãn hoặc điều hòa cảm giác Nó có thể được phân đoạn để cung cấp nhiều kinh nghiệm hay cảm tính bằng các phương tiện kích thích như ánh sáng, không khí, âm thanh, các nguyên vật liệu phát triển xúc giác

hoạt động này thì phòng đa giác quan “Snoezelen” được hình thành và phát triển

“Snoezelen” được xuất phát từ 2 tiếng Hà Lan là “ sniff: hít, ngửi” và “doze: giấc

ngủ” Cho đến nay đã có hơn 2 200 phòng đa giác quan ở khắp Châu Âu và Hoa kỳ

Từ khi có sự xuất hiện của loại phòng này, phụ huynh có con khuyết tật đã bắt đầu xây dựng các phòng kích thích giác quan tại nhà theo ý tưởng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh gia đình và loại tật của trẻ Phòng đa giác quan là môi trường dành cho mọi lứa tuổi sử dụng [27]

Trang 39

 Mô hình phòng cảm giác SpaceKraft

Trong khi công nhận rằng phòng đa giác quan có thể giúp trẻ có nhu cầu đặc biệt cảm thấy thư giãn và bình tĩnh thì triết lý của mô hình phòng SpaceKraft dựa trên cơ

sở việc sử dụng các công nghệ và trên trải nghiệm để tạo ra môi trường tương tác, trong đó khuyến khích họ giao tiếp và phát triển tối đa tiềm năng của họ Một trong những cách tốt nhất cho trẻ có nhu cầu đặc biệt khám phá môi trường và liên lạc với

"thế giới bên ngoài" - là thông qua kích thích Kinh nghiệm cho thấy rằng, chỉ bằng cách tương tác với môi trường SpaceKraft sẽ thỏa mãn tối nhu cầu học tập, vui chơi và phát triển cho trẻ có nhu cầu đặc biệt [28]

Ở Anh hiện nay trẻ có nhu cầu đặc biệt, trong đó có trẻ khiếm thị đang phát triển các kỹ năng giao tiếp trong phòng cảm giác trắng và phòng cảm giác đen theo sự cài đặt của SpaceKraft, cũng như tương tác ngoài trời và trong khu vui chơi mạo hiểm Phòng cảm giác SpaceKraft đã đón nhận sự ủng hộ tuyệt vời không chỉ từ các trẻ khiếm thị mà còn từ các trẻ em rối loạn về hành vi Liên quan đến mô hình phòng cảm giác SpaceKraft phải kể đến phòng cảm giác trắng và phòng cảm giác đen [26]

Phòng cảm giác đen

Hình 8: Phòng cảm giác đen

Cũng giống như trong phòng cảm giác trắng, phòng cảm giác đen cũng sử dụng ánh sáng và âm thanh, nhưng với sự khác biệt của khu vực nội thất là các bức tường có màu đen Màu đen giúp kích thích thị giác với những màu sắc tương phản rõ nét [26]

I.6.1.3.Mục đích của phòng đa giác quan

- Phát triển kỹ năng nhìn, quan sát, khám phá môi trường xung quanh trẻ

Trang 40

- Xây dựng bầu không khí thoải mái, nhằm giúp mọi người cảm thấy vui thích và hạnh phúc

- Tạo cơ hội khuyến khích mọi người khám phá môi trường và gần gũi, chia sẽ xúc cảm với nhau

Phòng đa giác quan được thiết kế như một môi trường trị liệu đặc biệt giúp trẻ có nhu cầu đặc biệt được thư giãn, học tập, vui chơi hoặc tương tác và kiểm soát tất cả các yếu tố về không gian và tích cực khám phá sự thay đổi của môi trường xung quanh Các hoạt động trong phòng đa giác quan tập trung vào phát triển cảm giác, cụ thể như sờ, nhìn, nghe âm thanh, ngửi mùi và nếm hương vị thông qua nhiều cách khác nhau, ví dụ như âm thanh (âm nhạc), các hiệu ứng thị giác (đèn sáng), xúc giác kinh nghiệm (ví dụ, rung) và việc sử dụng các mùi hương Phòng đa giác quan còn là môi trường cung cấp cơ hội để cải thiện thông tin liên lạc, tăng cường giao tiếp, hiểu biết lẫn nhau và xây dựng niềm tin trong mối quan hệ của những người có nhu cầu đặc biệt [26]

Trong khoảng cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 thì mô hình này đã được một số nước Châu Á, trong đó có Việt Nam nghiên cứu ứng dụng Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng của các nước trên thế giới và trong khu vực đã chứng minh mô hình này rất phù hợp và có hiệu quả trong việc can thiệp sớm và giáo dục trẻ khuyết tật, đặc biệt là trong việc kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị

Để có cơ sở khoa học xây dựng các phòng đa chức năng tại Việt Nam, nhóm đề tài chúng tôi nghiên cứu xây dựng mô hình phòng kích thích thị giác, nghiên cứu trang thiết bị và các hoạt động kích thích thị giác cho trẻ khiếm thị tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu

I.7.2 Cấu trúc của phòng kích thích thị giác

Hình 9: Mô hình phòng kích thích thị giác

Theo các nghiên cứu của Marina Strothmann và Matthias Zeschitz đều là những nhà tâm lý học và có kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực can thiệp sớm hơn 20 năm tại Viện nghiên cứu trẻ khiếm thị Würzburg của Đức [23], diện tích của phòng kích thích thị giác vào khoảng 16 – 20 m2

Thiết bị trong phòng có thể được chia thành hai khối chức năng: Chức năng Thư giãn và Chức năng kích họat

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Geert W.van Delden. Mô đun “Sinh lý học thị giác”. Tài liệu lưu hành nội bộ được in tại Khoa Giáo dục Đặc biệt- Đại học Sư phạm Tp.HCM, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô đun “Sinh lý học thị giác”
Tác giả: Geert W.van Delden
Nhà XB: Khoa Giáo dục Đặc biệt- Đại học Sư phạm Tp.HCM
Năm: 2005
14. Phan Dẫn và cộng sự. Nhãn khoa Giản yếu. Nhà xuất bản y học, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhãn khoa Giản yếu
Tác giả: Phan Dẫn và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2004
15. Sandy Niemann và Namita Jacob, Giúp đỡ trẻ mù, NXB Giáo dục, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp đỡ trẻ mù
Tác giả: Sandy Niemann, Namita Jacob
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
17. Susan. S. Simmons. Đôi mắt. Tài liệu tập huấn “ Can thiệp sớm trẻ khiếm thị 1-3 tuổi” tại trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi mắt
Tác giả: Susan. S. Simmons
Nhà XB: Trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu
Năm: 2010
18. Therese. H, Rafalowski. Can thiệp sớm. Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp sớm
Tác giả: Therese. H, Rafalowski
Nhà XB: Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật
Năm: 2008
20. Trung tâm giáo dục trẻ có tật. Sổ tay chăm sóc giáo dục trẻ khiếm thị. Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chăm sóc giáo dục trẻ khiếm thị
Tác giả: Trung tâm giáo dục trẻ có tật
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
21. Trung tâm giáo dục trẻ có tật. Tật thị giác, ảnh hưởng của nó đến quá trình nhận thức củ a trẻ mù và các biện pháp khắc phục. Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tật thị giác, ảnh hưởng của nó đến quá trình nhận thức của trẻ mù và các biện pháp khắc phục
Tác giả: Trung tâm giáo dục trẻ có tật
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1994
22. Viện khoa học giáo dục Việt Nam – Trung tâm tật học. Nội dung phục hồi chức năng cho trẻ có tật thị giác. Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung phục hồi chức năng cho trẻ có tật thị giác
Tác giả: Viện khoa học giáo dục Việt Nam – Trung tâm tật học
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1991
23. Visual Stimulation: Promoting Functional Vision in the Daily life, Blindeninstitutssti ftung, Würzburg, Germany, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Visual Stimulation: Promoting Functional Vision in the Daily life
Nhà XB: Blindeninstitutsstiftung
Năm: 2008
24. Wrighe. Lightbox Level 2, American Printing House for the Blind, Louisville, Kentutky, 2004.25. http://matvietnga.com/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lightbox Level 2
Tác giả: Wrighe
Nhà XB: American Printing House for the Blind
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
ng Tên bảng Trang (Trang 4)
Hình 10. Kích thích thị giác bằng ánh sáng của các cột đèn nước - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 10. Kích thích thị giác bằng ánh sáng của các cột đèn nước (Trang 41)
Hình 11. Kích thích thị giác bằng ánh sáng từ projector - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 11. Kích thích thị giác bằng ánh sáng từ projector (Trang 42)
Hình 16.Trò chơi với rối tay có màu sắc tương phản - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 16. Trò chơi với rối tay có màu sắc tương phản (Trang 44)
Hình 17. Trò chơi thay đổi các bộ phận của khuôn mặt theo ý thích - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 17. Trò chơi thay đổi các bộ phận của khuôn mặt theo ý thích (Trang 44)
Hình 19: Học cụ, đồ chơi phục vụ cho các bài tập kích thích, rèn thị giác - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 19 Học cụ, đồ chơi phục vụ cho các bài tập kích thích, rèn thị giác (Trang 49)
Hình 21: Các bài tập rèn thị giác nhờ sự hỗ trợ của hộp đèn - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 21 Các bài tập rèn thị giác nhờ sự hỗ trợ của hộp đèn (Trang 54)
Hình 23 : Hệ thống trắc nghiệm thị giác  Playing Cards    Single Symbol Book  - - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Hình 23 Hệ thống trắc nghiệm thị giác Playing Cards Single Symbol Book - (Trang 59)
Bảng 7: Danh sách học sinh tham gia chương trình kích thích, rèn thị giác - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Bảng 7 Danh sách học sinh tham gia chương trình kích thích, rèn thị giác (Trang 68)
Bảng 11. Kế hoạch kích thích, rèn các kỹ năng thị giác giai đoạn 1 - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Bảng 11. Kế hoạch kích thích, rèn các kỹ năng thị giác giai đoạn 1 (Trang 98)
Bảng 14: Bảng phân loại thị lực và kiến nghị các bài tập phù hợp - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Bảng 14 Bảng phân loại thị lực và kiến nghị các bài tập phù hợp (Trang 103)
Bảng 15:  Bảng kết quả đánh giá các kỹ năng thị giác - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Bảng 15 Bảng kết quả đánh giá các kỹ năng thị giác (Trang 105)
Bảng 16:  Sự tiến triển các kỹ năng thị giác của học sinh khiếm thị - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Bảng 16 Sự tiến triển các kỹ năng thị giác của học sinh khiếm thị (Trang 112)
Bảng  19 : Ý kiến góp ý tài liệu tập huấn dành cho phụ huynh - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
ng 19 : Ý kiến góp ý tài liệu tập huấn dành cho phụ huynh (Trang 115)
Bảng 20: Ý kiến của giáo viên về tài liệu tập huấn - Xây dựng phòng kích thích thị giác tại trường phổ thông đặc biệt nguyễn đình chiểu tp hcm cho trẻ khiếm thị
Bảng 20 Ý kiến của giáo viên về tài liệu tập huấn (Trang 116)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w