1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ ở thành phố hồ chí minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

344 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ ở thành phố hồ chí minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa
Trường học Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 344
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

254 Chương 6: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN

HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật

Thành phố Hồ Chí Minh Chủ nhiệm nhiệm vụ: PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN

HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Chủ nhiệm nhiệm vụ:

PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa

Cơ quan chủ trì nhiệm vụ:

Liên hiệp các Hội Khoa học

và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ tịch

Trang 3

1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7

I PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Sự cần thiết của đề tài 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 11

2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài 11

2.2 Các công trình tiêu biểu về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 13

2.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới 19

3 Mục tiêu của đề tài 27

3.1 Mục tiêu tổng quát 27

3.2 Mục tiêu cụ thể: 27

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 27

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 27

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 28

5 Ý nghĩa khoa học và khả năng ứng dụng thực tiễn nếu đề tài/ dự án thành công 28

5.1 Ý nghĩa khoa học 28

5.2 Khả năng ứng dụng thực tiễn 29

6 Phuơng pháp nghiên cứu của đề tài 29

7 Kết cấu đề tài 33

II PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 35

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 35

Trang 4

2

1.1 Lý luận cơ bản về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ 35 1.2 Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ của một số nước trên thế giới 47 1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 93 Chương 2: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ CHỦ YẾU CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 96

2.1 Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và đặc điểm phát triển của thành phố Hồ Chí Minh 96 2.2 Những đặc điểm cơ bản của đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 101 2.3 Những ưu điểm, thế mạnh và hạn chế, thiếu sót của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thành phố Hồ Chí minh 106 2.4 Vai trò và trách nhiệm của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 113

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 132 Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 136

3.1 Thực trạng phát triển về số lượng và cơ cấu của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 137 3.2 Thực trạng phát triển chất lượng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thành phố Hồ Chí Minh 148 3.3 Thực trạng sử dụng đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ ở thành phố

Hồ Chí Minh 160 3.4 Thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 166

Trang 5

3

3.5 Đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển đội ngũ khoa học – công nghệ

ở thành phố Hồ Chí Minh 170 3.6 Nguyên nhân của thực trạng hạn chế, yếu kém trong xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 174 3.7 Những bất cập và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 182 3.8 Khái quát những điểm mạnh và điểm yếu của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 187

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 190 Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG, ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 194

4.1 Tác động của quá trình toàn cầu hóa, cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đến sự phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh 194 4.2 Tác động của luật pháp, cơ chế chính sách đến sự phát triển đội ngũ trí thức Khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh 200 4.3 Tác động của nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những tệ nạn xã hội đến sự phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh 210 4.4 Tác động của môi trường làm việc tới sự phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thành phố Hồ Chí Minh 217 4.5 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 và “xây dựng Thành phố thông minh” 226

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 230 Chương 5 : XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 234

5.1 Luận chứng về xu hướng phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ

ở TP Hồ Chí Minh 234

Trang 6

4

5.2 Xu hướng phát triển về số lượng và cơ cấu đội ngũ trí thức Khoa học –

Công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh 240

5.3 Xu hướng phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tới 243

5.4 Xu hướng phát triển việc làm, thu nhập và đời sống của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh 250

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 254

Chương 6: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 256

6.1 Phương hướng xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh 256

6.2 Những giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thưc khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 264

6.3 Những giải pháp cụ thể 273

KẾT LUẬN CHƯƠNG 6 302

PHẦN KẾT LUẬN 304

HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 311

PHẦN KIẾN NGHỊ 314

1 Kiến nghị với Đảng 314

2 Kiến nghị với Chính phủ 315

3 Kiến nghị với Quốc hội 317

4 Kiến nghị với Lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh 317

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 320

Trang 7

5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 8

6

Trang 9

7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng: Tỷ lệ mẫu phân theo trình độ chuyên môn đào tạo và lĩnh vực hoạt động 31 Bảng 3.1: Số lượng trí thức thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2002 - 2015 139 Bảng 3.3: Phân bố lao động KH - CN ở 4 lĩnh vực trọng điểm 145 Bảng 3.4: Đánh giá về cơ cấu đội ngũ trí thức KH – CN về độ tuổi, giới tính

và ngành nghề 145 Bảng 3.5: Đánh giá cơ cấu đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ về độ tuổi, giới tính và ngành nghề (phân theo trình độ) 146 Bảng 3.6: Đánh giá về cơ cấu đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thành phố Hồ Chí Minh về độ tuổi, giới tính, ngành nghề (phân theo lĩnh vực hoạt động) 147 Bảng 3.7: Kinh phí đầu tư và số lượng đề tài giai đoạn 2011 - 2014 151 Bảng 3.8: Kiến thức chuyên môn của các nhà khoa học 154 Bảng 3.9: Đánh giá chung về kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học– công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 154 Bảng 3.10: Đánh giá chung về kết quả các công trình nghiên cứu khoa học – công nghệ ở thành phồ Hồ Chí Minh 155 Bảng 3.11: Thực trạng đào tạo đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ 157 Bảng 3.12: Tư cách, đạo đức, lối sống của đội ngũ trí thức KH-CN 159 Bảng 3.13: Tính kỷ luật và trách nhiệm đối với công việc của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ 160 Bảng 3.14: Sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với công việc đang làm 161 Bảng 3.15: Sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với công việc đang làm (theo lĩnh vực hoạt động) 162

Trang 10

8

Bảng 3.16: Đánh giá thực trạng sử dụng đội ngũ trí thức KH-CN ở thành phố

Hồ Chí Minh 163 Bảng 3.17: Đánh giá hiệu quả sử dụng đội ngũ trí thức KH-CN ở thành phố

Hồ Chí Minh (phân theo giới tính) 164 Bảng 3.18: Đánh giá thực trạng sử dụng đội ngũ trí thức KH-CN ở thành phố

Hồ Chí Minh (phân theo lĩnh vực hoạt động) 165 Bảng 3.19: Mức thu nhập hàng tháng của đội ngũ trí thức KH-CN ở Thành phố Hồ Chí Minh 167 Bảng 3.20: Thu nhập và mức độ chi tiêu hàng tháng của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 168 Bảng 3.21: Mức độ hài lòng của trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố

Hồ Chí Minh với mức sống hiện tại 168 Bảng 3.22: Ý định chuyển đổi ngành nghề/ lĩnh vực công tác 169 Bảng 3.23: Lý do chuyển đổi ngành nghề/ lĩnh vực công tác của một bộ phận trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh 170 Bảng 3.24: Mức thu nhập hàng tháng của trí thức khoa học – công nghệ 173 Bảng 3.25: Mức độ hài lòng về mức thu nhập và mức sống hiện nay của trí thức khoa học – công nghệ 174 Bảng 3.26: Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 27 –NQ/TW và Chương trình hành động 44-CTr/TU 177 Bảng 4 1: Chỉ số mức độ tham nhũng ở Việt Nam 211 Bảng 4.2: Các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, tác động ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ trí thức KH-CN ở TP HCM 220 Bảng 5.1: Giáo dục Đại học và Cao đẳng 247 Bảng 5.2: Số lượng sinh viên tốt nghiệp giai đoạn 2005 – 2015 248

Trang 11

9

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong mọi thời đại lịch sử, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội và đội ngũ trí thức luôn là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá trí thức Sinh

ra và trưởng thành trong lòng dân tộc, đội ngũ trí thức Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc, luôn có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp dựng nước, giữ nước

và phát triển đất nước Nhiều thế hệ trí thức, nhiều nhà trí thức đã trở thành những tấm gương sáng yêu nước thương dân, hết lòng vì nước vì dân Vì vậy, nhân dân ta đã ghi công và tôn vinh trí thức trong Văn bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử giám: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và sức mạnh của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng ta luôn quan tâm đào tạo, trọng dụng và tôn vinh trí thức Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng khẳng định: “Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà, bản sắc dân tộc Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững” 151, tr.3-4

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục lớn nhất nước với dân số 8.297.500 người, trong đó có khoảng 1,2 triệu trí thức (chiếm 21% trí thức cả nước) Trong những năm đổi mới, đội ngũ trí thức thành phố có bước phát triển quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế” 151, tr.3-4 Tuy nhiên, “Một bộ phận trí

Trang 12

10

thức còn thiếu ý chí phấn đấu, không thường xuyên nghiên cứu và học tập dẫn đến tụt hậu về chuyên môn, nghiệp vụ; một bộ phận giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực; một số trí thức trẻ chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn; một số có tư tưởng “sùng ngoại”, thiếu tin tưởng ở nội lực” 151, tr.4

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 27/NQ/TW của Trung ương và Chương trình hành động số 44-Ctr/TU của Thành ủy, bản thân đội ngũ trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức đã có chuyển biến tích cực và đạt được kết quả ban đầu đáng khích lệ Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và kết quả đạt được, còn tồn tại những hạn chế và khuyết điểm: “Đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; số lượng chuyên gia đầu ngành rất thiếu, đội ngũ kế cận hụt hẫng, chưa hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh; nguồn nhân lực cho nghiên cứu và phát triển công nghệ cao chưa đủ cả về số lượng và chất lượng…” 156, tr.13

Để phát huy ưu điểm và kết quả đạt được, khắc phục những khuyết điểm nói trên; đồng thời, góp phần thực hiện các mục tiêu do Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X đưa ra 43, tr.119-121, nhất là góp phần thực hiện 7 chương trình đột phá trong giai đoạn 2016 – 2020 43, tr.163-167 và “xây dựng Thành phố thông minh”, rất cần thiết phải nghiên cứu sâu và có hệ thống về đội ngũ trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 13

11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệ, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong tất cả các chiến lược phát triển Vì vậy, vấn đề trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức luôn nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều ngành khoa học và nhiều học giả

cả trong và ngoài nước Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức ở các nước phát triển Trong đó có những công trình tiêu biểu sau:

• “Kinh nghiệm của một số nước phát triển giáo dục và đào tạo, khoa

học công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức” (Viện khoa học giáo dục

Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) Đây là công trình chuyên khảo, trong đó các tác giả tập trung phân tích kỹ chiến lược, các chính sách phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ gắn trực tiếp với xây dựng đội ngũ trí thức ở một loạt các quốc gia có nền giáo dục và khoa học phát triển (như: Đức, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc,…) Trên cơ sở đó, các tác giả rút ra những bài học bổ ích, những kinh nghiệm sáng tạo về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức có thể vận dụng vào Việt Nam trong quá trình đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế Công trình này là tài liệu tham khảo có ích cho toàn bộ đề tài nghiên cứu về xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh, nhất là giúp ích trực tiếp cho việc nghiên cứu nội dung 1, nội dung 4 và nội dung 6 của đề tài

• Nga là quốc gia có đội ngũ trí thức đông đảo và là nước có nhiều phát minh khoa học; đồng thời có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức

Sách “Trí thức Nga” (nhiều tác giả là các nhà khoa học Nga, Nxb Tri thức,

Trang 14

12

Hà Nội, 2009) Trong công trình này, các tác giả đã luận bàn về khái niệm trí thức; đặc điểm, vị trí, vai trò của trí thức trong xã hội; những đóng góp của đội ngũ trí thức Nga trong lịch sử, trong xã hội Liên Xô trước đây và “số phận” của những người trí thức Nga trong bối cảnh xã hội chuyển đổi từ xã hội Xô Viết sang xã hội Nga hiện nay… Những ý kiến của tác giả nêu trên là những tham khảo có ích cho đề tài, nhất là cho việc nghiên cứu ở nội dung 1

và nội dung 2 của đề tài

• Phần Lan có đội ngũ trí thức mạnh, dựa trên nền học vấn và dân trí cao (27% dân số có bằng đại học trở lên, 99,3% học sinh cấp 3 thành thạo 3 ngôn ngữ là tiếng Phần Lan, tiếng Thụy Điển và tiếng Anh,…) Trong công

trình “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam: kinh nghiệm của Phần Lan” ( Tạp

chí Tia sáng, ngày 8 tháng 12 năm 2008), Nguyễn Thành Huy (Helsinki) đã khảo sát và phân tích kỹ quá trình hình thành, phát triển của giới trí thức Phần Lan, những đóng góp to lớn của họ đối với phát triển xã hội và vai trò của các yếu tố xã hội (tự do sáng tạo, phản biện xã hội, công bằng và bình đẳng xã hội, cạnh tranh lành mạnh,…) tác động mạnh đến sự phát triển của giới trí thức Trên cơ sở đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho phát triển giáo dục gắn với phát triển đội ngũ trí thức ở Việt Nam

• “Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài – Một số

kinh nghiệm của thế giới”(chỉ đạo biên soạn GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Nxb

Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012) Công trình này là tập hợp kết quả nghiên cứu về giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, trí thức và nhân tài của nhiều tác giả trên thế giới Từ khảo sát, nghiên cứu nhiều chiến lược, chính sách nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài ở nhiều nước (Nga, Anh, Trung Quốc, Thụy Điển, Phần Lan, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc, Hồng Kông, Ấn Độ…), các tác giả đã rút ra những bài học

Trang 15

13

kinh nghiệm về đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài và sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh trí thức trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế

• Nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và những vấn đề gắn bó với

trí thức, như:“Thế giới phẳng – Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI”; “Dự

báo thế kỷ XXI”; “Thăng trầm quyền lực”; “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước”; và những công trình khác

Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và đào tạo,

bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức ở nước ngoài Các công trình nêu trên đã

đề cập khá nhiều khía cạnh về trí thức và xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức

Đó là những tri thức và kinh nghiệm bổ ích để các tác giả của đề tài “Xây

dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tham khảo, kế

thừa và vận dụng vào nghiên cứu của mình

2.2 Các công trình tiêu biểu về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có thể nói, đây là Nghị quyết chuyên đề, đầy đủ nhất, toàn diện nhất của Đảng ta về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới

Nghị quyết đã chỉ rõ: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình

độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”

Trang 16

Nghị quyết đã thông qua: Mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết nói trên đã thể hiện rằng, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến vấn đề trí thức, đánh giá cao vị trí, vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới; rằng, “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững” 41, tr.5

• “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam” (Nguyễn Thanh Tuấn,

Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) Trong tác phẩm này, tác giả chủ yếu phân tích khái niệm trí thức (các quan niệm khác nhau về trí thức), vai trò và đặc điểm của trí thức Việt Nam, những điều kiện và yếu tố tạo thành nhân cách của người trí thức, v.v

Trang 17

15

• “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam” (Nguyễn Văn Khánh và Nguyễn

Quốc Bảo, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001) Các tác giả phân tích và trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề trí thức và vai trò của lực lượng trí thức trong đời sống xã hội, nhất là trong sự nghiệp cách mạng Từ đó, các tác giả nhấn mạnh rằng: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò của trí thức trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, khẳng định vai trò không thể thiếu được của trí thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, muốn lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công thì các Đảng Cộng sản phải coi trọng đội ngũ trí thức và giải quyết đúng đắn vấn đề trí thức trong quá trình đấu tranh cách mạng” 125, tr.37

• “Trí thức Việt Nam – Thực tiễn và triển vọng” (Phạm Tất Dong chủ

biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995) Cuốn sách này là kết quả của công trình khoa học cấp nhà nước (Đề tài KX 04.06 do GS Phạm Tất Dong làm chủ nhệm, thực hiện trong các năm 1992 - 1995, nghiệm thu đạt loại xuất sắc), bao gồm 4 chương:

Trong Chương 1: “Quan niệm hiện đại về trí thức”, các tác giả phân tích sâu vào khái niệm trí thức, chức năng của trí thức, vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội Trong đó, nhấn mạnh “chất trí thức”, “nhân cách trí thức”, chức năng của trí thức (gồm: sáng tạo giá trị, phê phán, đào tạo cán bộ, tham gia hoạt động xã hội – chức năng xã hội)

Trong chương 2: “Đội ngũ trí thức nước ta”, các tác giả đã khảo sát quá trình phát triển của đội ngũ trí thức nước ta qua các thời kỳ: đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; đồng thời khẳng định nhiệm vụ của đội ngũ trí thức trong thời kỳ

Trang 18

16

đổi mới là: (1) Tham gia tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, góp phần hoạch định và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; (2) Sáng tạo tri thức, công nghệ và ứng dụng vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; (3) Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ

Trong chương 3: “Định hướng xây dựng những chính sách phát triển đội ngũ trí thức”, các tác giả đã đưa ra khuyến nghị về một số chính sách đối với trí thức (chính sách giáo dục – đào tạo, chính sách sử dụng và đãi ngộ trí thức và chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi trí thức )

• “Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử” (Phan Hữu

Dật chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994) đã phân tích sâu sắc những bài học tốt của các triều đại phong kiến Việt Nam trong lĩnh vực tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ trí thức, nhân tài Trong đó, giới thiệu và nhấn mạnh tiêu chuẩn lựa chọn, sử dụng người hiền tài của ông cha

ta trong lịch sử: (1) Trung thành; (2) Trong sạch (không tham nhũng); (3) Chính trực, ngay thẳng (không xu nịnh) Nói tóm lại, là người vừa có đức vừa

có tài, trong đó đức là cơ bản, là yếu tố không thể thiếu được, còn tài là rất quan trọng Đồng thời, nêu bật quy trình sử dụng nhân tài: “tuyển chọn – đào tạo – sử dụng – kiểm tra – thưởng, phạt” Nội dung cuốn sách là tư liệu quý giúp các tác giả của đề tài vận dụng trong việc đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh

• “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Nguyễn Phương Nam, Tạp chí phát triển nhân lực,

số 1(11) - 2009 và số 2 (12) - 2009) Công trình này đã đưa ra định nghĩa về trí thức, luận chứng năm vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn để góp phần hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và hiện thực hóa chúng trong

Trang 19

17

thực tiễn; giáo dục con người và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ đắc lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Sáng tạo tri thức khoa học, công nghệ và ứng dụng vào các lĩnh vực xã hội; xây dựng các phương án, giải pháp để định hướng và điều chỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác lập các dự báo về các chiến lược phát triển của đất nước); đánh giá thực trạng của đội ngũ trí thức (ưu điểm và khuyết điểm, thế mạnh và thế yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển) Đồng thời, tác giả đưa ra các giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức; trong đó nhấn mạnh các giải pháp sau: (1) Xây dựng và thực hiện ngay “chiến lược xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới”; (2) Kiên quyết và kiên trì đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; (3) Quy hoạch, đào tạo (và đào tạo lại), bồi dưỡng đội ngũ trí thức phù hợp với chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước; (4) Trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức (trước hết, phải đảm bảo cho trí thức có mức lương đủ sống để sáng tạo) Những ý kiến trên của công trình sẽ giúp ích nhiều cho đề tài trong việc đề xuất phương hướng và các giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

• “Xây dựng đội ngũ chuyên gia và sử dụng chuyên gia” (Hoàng Chí

Bảo, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 3 (24) - 2011, số 4 (25) - 2011 Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu từ đội ngũ trí thức (vị trí, vai trò, đặc điểm của trí thức) đến việc hình thành đội ngũ chuyên gia (những trí thức đầu ngành, có trình độ chuyên môn giỏi, tâm huyết với đất nước có năng lực

tư vấn, tham mưu, phản biện ) Theo tác giả, có nhiều loại chuyên gia: tư vấn, hoạch định chính sách; chuyển hóa chính sách vào thực tiễn; dự báo sự phát triển và định hướng hoạt động thực tiễn Trong công trình, tác giả đã đề xuất phương hướng và các giải pháp xây dựng đội ngũ chuyên gia (đào tạo và

tự đào tạo tạo môi trường làm việc tối ưu, đãi ngộ xứng đáng )

Trang 20

18

• “Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự

nghiệp đổi mới đất nước” (Đức Vượng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2014) Công trình này là sản phẩm dựa trên kết quả nghiên cứu Đề tài cấp nhà nước “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” (Mã số

KX.04.16/06-10) Công trình được chia làm 3 phần: Phần một “Trí thức Việt

Nam – lịch sử và lý luận” (phân tích khái niệm, đặc trưng cơ bản của trí thức, những phẩm chất của trí thức Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về trí thức; quan hệ giữa tầng lớp trí thức với giai cấp công nhân và

giai cấp nông dân Việt Nam); Phần hai “Thực trạng về đội ngũ trí thức Việt

Nam hiện nay” (phân tích thực trạng chung của đội ngũ trí thức, thực trạng sử dụng trí thức và trọng dụng nhân tài và thực trạng đội ngũ trí thức trong một

số lĩnh vực xã hội trọng yếu: khoa học – công nghệ , giáo dục – đào tạo, lý

luận – chính trị, ); Phần ba “Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ

trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” (Nêu ba phương hướng, bốn giải pháp tổng thể và 18 giải pháp cho từng lĩnh vực cụ thể)

Ngoài ra, còn khá nhiều công trình, sách, bài viết về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tầng lớp trí thức – Những định

hướng chính sách” (Đề tài cấp nhà nước, mã số: KHXH 03.09); “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

(Phạm Tất Dong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Trí thức Việt Nam

tiến cùng thời đại” (Nguyễn Đắc Hưng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2008); “Đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Đặng

Hữu, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7-2008); và những công trình khác

Tóm lại, các công trình sách, bài báo viết về trí thức và xây dựng đội

ngũ trí thức Việt Nam trong thời đổi mới là khá phong phú Đó là nguồn tài

Trang 21

2.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới

• “Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử văn

hóa” (Nguyễn Thế Nghĩa – Lê Hồng Liêm chủ biên, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí

Minh, 2000) Công trình này tập hợp 50 bài nghiên cứu mang tính chất tổng kết quá trình phát triển lịch sử đô thị, kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, giáo dục của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh trong suốt thế kỷ XX Thông qua đó, nói lên sự phát triển ngày càng lớn mạnh của nhân dân Thành phố (trong đó

có lực lượng trí thức)

Trong công trình này có chuyên đề “Trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia

Địnnh với nền giáo dục kháng chiến Nam Bộ” (1945 - 1954) của nhà nghiên

cứu Hồ Sơn Diệp phân tích vai trò quan trọng của giới trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đóng góp vào sự phát triển giáo dục, văn hóa kháng chiến ở Nam Bộ Trong đó, nổi bật những tấm gương trí thức như: GS Nguyễn Văn Chí, GS Lê Văn Chí, GS Ca Văn Thỉnh, GS Lê Văn Cẩm, GS Đặng Minh Trí, GS Nguyễn Văn Nghĩa, GS Nguyễn Thượng Tư, GS Trần Văn Hạnh,

GS Trần Văn Nhung, ThS Hoàng Xuân Nhi, Tiến sĩ Lê Văn Thiêm, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Luật sư Hoàng Quốc Tân, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ và nhiều người khác 139, tr.104-112

Trang 22

20

• “Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh” (Trần Văn Giàu, Trần

Bạch Đằng chủ biên, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1998), gồm 4 tập: tập 1 Lịch sử; tập 2 Văn học – Báo chí – Giáo dục; tập 3 Nghệ thuật; tập 4 Tư tưởng và tín ngưỡng

Đây là công trình khoa học đồ sộ, được nghiên cứu công phu, biên soạn nghiêm túc, có giá trị khoa học và ý nghĩa lý luận – thực tiễn sâu sắc Như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nhận xét: “ĐỊA CHÍ VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH sẽ góp phần làm cho con người Thành phố hiểu mình là

ai và đồng bào cả nước, bè bạn bên ngoài hiểu thế nào là con người thành phố

Hồ Chí Minh” 55, tr.10

Công trình đã phân tích lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển thành phố Hồ Chí Minh và thông qua đó con người Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh đã bộc lộ những phẩm chất đáng quý như: (1) Bản lĩnh kiên cường, khí phách hiên ngang, ý chí dời non lấp biển; (2) Trí tuệ thông minh, tinh thần ham học hỏi cái mới, tính năng động sáng tạo và luôn thích ứng với hoàn cảnh; (3) Phong cách thoáng đạt, tinh thần nghĩa hiệp và tâm hồn quảng giao nhân ái; (4) Đầu óc thực tế cùng với phương pháp tính đến hiệu quả; (5) Ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần dân chủ, phóng khoáng tự do Trong đó, con người trí thức, giới trí thức Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò nổi bật trong lĩnh vực, sáng tạo văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục, tư tưởng, báo chí và nghệ thuật

Công trình này (Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh) là sơ sở khoa học để đề tài phân tích những phẩm chất, đặc điểm và vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ và những giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức này trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 23

21

• “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội

nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (gọi

tắt là Chương trình hành động số 44) đã chỉ rõ ưu điểm và hạn chế của đội ngũ trí thức thành phố Hồ Chí Minh

Những ưu điểm của đội ngũ trí thức: số lượng không ngừng được tăng

lên và chất lượng từng bước được nâng cao, có đóng góp tích cực vào sự phát triển của Thành phố Lực lượng khoa học – công nghệ đẩy mạnh triển khai nghiên cứu và ứng dụng vào những ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu phục

vụ phát triển kinh tế - xã hội Lực lượng khoa học xã hội tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản, bức xúc của thành phố để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và xây dựng hệ thống chính trị

Hạn chế và yếu kém của đội ngũ trí thức: Trình độ của đội ngũ trí thức

chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu và chưa ngang tầm với trình độ phát triển của các thành phố trong khu vực “Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp

lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng; đội ngũ kế cận còn hụt hẫng; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có

uy tín ở khu vực và quốc tế ” 154, tr.4 Đặc biệt là, “Một bộ phận trí thức còn thiết ý chí phấn đấu, không thường xuyên nghiên cứu và học tập dẫn đến tụt hậu về chuyên môn, nghiệp vụ; Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực; Một số trí thức trẻ chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên

về chuyên môn; Một số có tư tưởng “sùng ngoại”, thiếu tin tưởng ở nội lực”154, tr.4

Trang 24

22

• “Xây dựng đội ngũ trí thức tại thành phố Hồ Chí Minh trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Trương Văn Tuấn, Luận án

Tiến sĩ triết học, 2013) Luận án kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 “Lý luận chung về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức

thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Trong chương này, tác giả nêu khái quát về: quan niệm trí thức, đặc điểm, vai trò của trí thức nói chung; quan điểm mácxít, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức Hạn chế của chương này là, tác giả không phân tích đặc điểm, vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức thành phố Hồ Chí Minh

Vì vậy, thiếu cơ sở để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ở các chương sau

Chương 2 “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với xây dựng, phát

triển đổi ngũ trí thức thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Mặc dù, tên chương như trên, nhưng tác giả không điều tra, khảo sát, đánh giá về thực trạng đội ngũ trí thức thành phố, mà đi vào phân tích những thành tựu và những hạn chế trong xây dựng đội ngũ trí thức Đồng thời, nêu một số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng đội ngũ trí thức

Chương 3 “Phương hướng, mục tiêu, giải pháp xây dựng và phát triển

đội ngũ trí thức thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

Như vậy, luận án là tài liệu tham khảo cần thiết, giúp cho các tác giả của đề tài có cái nhìn đa chiều và phong phú hơn về đối tượng nghiên cứu là đội ngũ trí thức

• “Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức thuộc

Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh” (Đề tài

Trang 25

23

nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa làm chủ nhiệm, thực hiện năm

2012 - 2013, nghiệm thu năm 2013) Đề tài thực hiện 1.500 phiếu điều tra định lượng và 100 phiếu điều tra định tính trên 45 tổ chức Hội thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT TP HCM Kết quả nghiên cứu của dự án cho thấy ưu điểm và mặt mạnh, khuyết điểm và mặt yếu của đội ngũ trí thức Liên hiệp hội Cụ thể là:

Ưu điểm và mặt mạnh: Lực lượng trí thức đông (khoảng 65.000 người);

độ tuổi bình quân là 53 tuổi (độ tuổi chín muồi đối với khoa học – công nghệ

và có nhiều kinh nghiệm); cơ cấu chuyên môn khá đều (20,4% khoa học tự nhiên; 25% khoa học kỹ thuật, 20,4% khoa học xã hội; 10,7% khoa học y dược); trình độ đào tạo khá cao (1% Giáo sư, 3% Phó giáo sư, 20% tiến sĩ, 25% Thạc sĩ, còn lại là kỹ sư và cử nhân) Đội ngũ trí thức có lòng yêu nước

đã có nhiều cống hiến cho đất nước (khoảng 50% đã nghỉ hưu) còn sức khỏe

và sẵn sàng cống hiến bằng lao động khoa học sáng tạo

Khuyết điểm và mặt yếu: Trình độ ngoại ngữ không cao (chỉ có 16% sử

dụng tốt; 30% sử dụng được; còn lại là sử dụng kém Sử dụng phần mềm tin học cho chuyên môn thấp (chỉ có 14% sử dụng thường xuyên; 46% thỉnh thoảng mới sử dụng; 15% hiếm khi sử dụng và 25% không bao giờ sử dụng) Tham gia nghiên cứu khoa học ít (trong 5 năm chỉ có 21,9% tham gia đề tài nhà nước và cấp tỉnh, thành phố; 35% tham gia đề tài cấp sơ sở; còn lại là không bao giờ tham gia nghiên cứu đề tài; 80% không có sách xuất bản và 53,3% không có bài đăng tạp chí

Đời sống của trí thức còn thấp: Thu nhập bình quân là 7 triệu đồng

người/tháng; trong đó, thu nhập từ hoạt động khoa học chỉ chiếm 21% còn lại

là thu nhập ngoài khoa học Trong khi có hơn 60% trí thức phải nuôi dưỡng từ

Trang 26

• “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học – công

nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở thành phố Hồ Chí Minh”

(Đề tài nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa chủ nhiệm, thực hiện năm

2014 - 2015, nghiệm thu năm 2015)

Đề tài được thực hiện dựa trên khảo sát, điều tra về nguồn nhân lực khoa học – công nghệ và các tài liệu, số liệu đã có của các công trình liên quan Kết quả đề tài cho thấy:

(1) Phát triển kinh tế tri thức ở thành phồ Hồ Chí Minh là cần thiết và tất yếu, đáp ứng mục tiêu phát triển do Đại hội X Đảng bộ Thành phố đặt ra là: trong giai đoạn 2016 - 2020, tăng trưởng GRDP bình quân hơn 8%/năm và đến năm 2020 bình quân đầu người đạt 9.800 USD/người Hơn nữa, phát triển kinh tế tri thức phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới

(2) Để phát triển kinh tế tri thức, trong giai đoạn 2016 - 2020, thành phố phải tập trung xây dựng, phát triển 4 trụ cột: a) kết cấu hạ tầng kỹ thuật (cứng và mềm), trong đó chú trọng tiềm lực khoa học – công nghệ; b) phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó chú trọng nguồn nhân lực khoa học – công nghệ; c) xây dựng chính quyền đô thị mạnh với chủ trương, chính

Trang 27

Dự án cũng đề ra những giải pháp xây dựng, phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ mạnh Trong đó, đáng chú ý là giải pháp: trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà khoa học – công nghệ (tự chủ về đề tài, nội dung nghiên cứu, tự chủ về kinh phí, tự chịu trách nhiệm trước xã hội…)

• “Báo cáo sơ kết bốn năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban

Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Thành ủy thành phố

Hồ Chí Minh, Báo cáo số 150-BC/TU ngày 31 tháng 7 năm 2013, dưới đây gọi tắt là Báo cáo 150)

Báo cáo 150 đã đánh giá tương đối toàn diện quá trình quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW, những kết quả đạt được và hạn chế của việc thực hiện Nghị quyết này Đồng thời, đề ra nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết 27 và Chương trình hành động 44

• Còn khá nhiều những công trình, luận văn, luận án, bài báo viết về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức ở thành phố Hồ Chí Minh Có thể nêu một

số công trình tiêu biểu sau:

“Trí thức khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh – nghề

nghiệp và xu hướng” (Trương Văn Vỹ, Luận văn Thạc sĩ xã hội học, 1999);

“Trí thức thành phố Hồ Chí Minh – vấn đề đào tạo, sử dụng và dự báo xu thế

phát triển” (Trần Đình Xu, Đề tài cấp Thành phố, 2000); “Khoa học và công

Trang 28

26

nghệ thành phố Hồ Chí Minh 30 năm – một chặng đường phát triển” (Sở

Khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2005); “Quy hoạch phát

triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2020” (UBND thành

phố Hồ Chí Minh); “Thực trạng sử dụng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ

trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh – Nguyên nhân và các giải pháp phát huy hiệu quả” (Hoàng Anh Tuấn, Đề tài cấp Thành phố, 2004); “Đổi mới cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước” (Sở khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2008);

“Phát triển kinh tế tri thức ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Công Thị Phương Nga, Luận án tiến sĩ triết học,

2015),…

Tóm lại, đã có khá nhiều công trình, sách báo, tạp chí nghiên cứu về

vấn đề trí thức ở trong và ngoài nước, nhất là vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và ở thành phố Hồ Chí Minh Những công trình đã công bố (nêu ở phần trên) là những tư liệu, tài liệu khoa học quý giá, giúp cho các tác giả của đề tài này kế thừa, vận dụng và phát huy trong nghiên cứu của mình

Dựa trên những kết quả của các tác giả đi trước và kết quả khảo sát, điều tra (định lượng và định tính) của đề tài cùng ý kiến của các chuyên gia,

đề tài này tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau: (1) Vị trí, vai trò, đặc điểm của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh; (2) Đánh giá thực trạng của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (số lượng, chất lượng, cơ cấu); (3) Phân tích

và luận chứng các giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ

TP Hồ Chí Minh

Trang 29

3.2 Mục tiêu cụ thể:

(1) Làm rõ khái niệm trí thức và trí thức khoa học - công nghệ

(2) Làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam và đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh

(3) Làm rõ thực trạng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh (số lượng, chất lượng, cơ cấu)

(4) Đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh và công tác xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh

- Đối tượng khảo sát: Những trí thức khoa học – công nghệ đang hoạt động ở thành phố Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, sản xuất – kinh doanh và dịch vụ

Trang 30

28

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đặc điểm, vai trò, thực trạng của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố và những chính sách có liên quan đến xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thời gian nghiên cứu: Từ khi có Nghị quyết 27-NQ/TW đến nay

- Không gian nghiên cứu: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

5 Ý nghĩa khoa học và khả năng ứng dụng thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

• Đề tài phân tích, hệ thống hóa những đặc điểm phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh và chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ trong các lĩnh vực: sáng tạo tri thức, công nghệ và ứng dụng chúng vào các lĩnh vực xã hội; đào tạo nguồn nhân lực (nhất là đào tạo thế hệ trí thức kế cận) và truyền bá tri thức, các giá trị văn hóa; Tư vấn và phản biện xã hội (tạo ra những luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần xây dựng chủ trương chính sách; đồng thời, nhận xét đánh giá, góp ý đối với các chủ trương, chính sách và các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của Thành phố và đất nước

• Điều tra, khảo sát và đánh giá sát thực trạng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố hiện nay Trong đó, chỉ ra những ưu điểm, thế mạnh và những hạn chế, khuyết điểm, những thiết hụt của đội ngũ này Trên

cơ sở đó, dự báo sự phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ trong những năm tới

Trang 31

29

• Luận chứng phương hướng và đề xuất các giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu “xây dựng Thành phố thông minh”

5.2 Khả năng ứng dụng thực tiễn

• Nội dung và kết quả của đề tài là những tài liệu khoa học, có thể phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy, đào tạo cán bộ, nhất là phục vụ các chuyên đề: giáo dục con người, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đồng thời, chúng là cơ sở khoa học giúp cho việc

đề ra chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ trí thức và phát triển khoa học – công nghệ

• Nội dung, kết quả của đề tài nhất là các giải pháp của đề tài có thể áp dụng ngay vào việc đào tạo – huấn luyện cán bộ, xây dựng các tập thể khoa học mạnh và các “thủ lĩnh khoa học”

Một số giải pháp có thể được vận dụng để tập hợp, tổ chức và quản lý trí thức; quản lý hệ thống đề tài nghiên cứu khoa học

6 Phuơng pháp nghiên cứu của đề tài

(1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: được sử dụng để thu

thập, khai thác, tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu, tư liệu có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm: Văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước

ở Trung ương và Thành phố; các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

đã công bố; các báo cáo, thống kê, điều tra của các Sở, Ban, Ngành, Thành phố và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được thực hiện ngay từ khi bắt đầu triển khai nghiên cứu đề tài, cùng với

Trang 32

30

hoạt động sưu tầm tài liệu, dịch tài liệu, tổng hợp các nguồn thông tin khác nhau

(2) Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân tích

các khía cạnh của đối tượng nghiên cứu, xác định các hoạt động nghiên cứu cần thực hiện Đồng thời, phân tích và khai thác các nguồn thông tin có sẵn về đối tượng nghiên cứu Sau đó, tổng hợp những thông tin xác thực, được lặp lại nhiều lần về đối tượng nghiên cứu để rút ra những kết luận cần thiết

(3) Phương pháp lịch sử và lôgíc: yêu cầu phân tích quá trình phát triển

và thể hiện vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ trong lịch sử (từ quá khứ đến hiện tại); thông qua đó để tìm ra bản chất, giá trị đích thực của đội ngũ này đóng góp vào quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước, nhất là sự đóng góp xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới hiện nay

(4) Phương pháp điều tra xã hội học

- Điều tra định lượng: khảo sát, điều tra đối với cán bộ quản lý khoa

học; các nhà khoa học ở các viện, trung tâm nghiên cứu và các doanh nghiệp, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật TP HCM; các trường đại học, khu công nghệ cao, tổng cộng: 950 phiếu

Căn cứ lĩnh vực hoạt động của đội ngũ trí thức tại các cơ sở kinh tế, các trường đại học, viện nghiên cứu, khu công nghệ cao, cơ quan hành chính, sự nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra tỷ lệ mẫu khảo sát chia theo lĩnh vực hoạt động và trình độ chuyên môn đào tạo, cụ thể:

Trang 33

31

Bảng: Tỷ lệ mẫu phân theo trình độ chuyên môn đào tạo

và lĩnh vực hoạt động

TT Trình độ chuyên môn đào

tạo/ Lĩnh vực hoạt động Đại học Thạc sỹ Tiến sỹ Tổng

- Điều tra định tính (phỏng vấn sâu): xây dựng các mẫu câu hỏi phỏng

vấn sâu, trực tiếp đối thoại với người được phỏng vấn để thu thập thông tin cần thiết Đối tượng phỏng vấn sâu là: một số nhà hoạch định chính sách về khoa học – công nghệ, một số cán bộ làm công tác quản lý khoa học – công nghệ, một số nhà khoa học – công nghệ có kinh nghiệm trong tổ chức, xây dựng đội ngũ trí thức Thực hiện 50 cuộc phỏng vấn sâu Trong đó:

+ Trình độ chuyên môn đào tạo bậc đại học: 18 mẫu

+ Trình độ chuyên môn đào tạo bậc thạc sỹ: 16 mẫu

+ Trình độ chuyên môn đào tạo bậc tiến sỹ: 16 mẫu

Trang 34

32

Như vậy, đề tài sẽ khảo sát 950 phiếu bằng bảng hỏi định lượng và 50 mẫu phỏng vấn sâu dành cho đội ngũ trí thức đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả điều tra xã hội học được xử lý bằng phần mềm SPSS 13.0

(5) Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để thu thập ý kiến của

các chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực phát triển khoa học – công nghệ và xây dựng, đào tạo, quản lý, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh các nhà khoa học

(6) Phương pháp dự báo: được sử dụng để đánh giá và dự báo sự biến

đổi, phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

(7) Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành

- Phương pháp nghiên cứu triết học và lôgíc học: được dùng để tập

trung phân tích những đặc điểm của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp nghiên cứu sử học: được dùng để phân tích, đánh giá

quá trình hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh gắn với các sự kiện kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa trong quá trình phát triển của đất nước nói chung và phát triển thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng

- Phương pháp đạo đức học và giáo dục học: chủ yếu tập trung phân

tích, đánh giá mức độ và hiệu quả của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp tâm lý học: dùng để phân tích, đánh giá nhu cầu và

trạng thái tâm lý, tình cảm của trí thức: có thể trở thành động lực hay lực cản

Trang 35

33

đối với quá trình phát triển của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thành phố Hồ Chí Minh

(8) Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu, đánh giá toàn

diện, hệ thống về đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ TP.Hồ Chí Minh xuyên suốt quá trình phát triển gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của Thành phố trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Trong quá trình

đó, đội ngũ trí thức luôn ở vị trí trung tâm với vai trò động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phương pháp nghiên cứu liên ngành còn giúp đề tài

có các nhìn đa chiều về đội ngũ trí thức với những ưu điểm, mặt mạnh và cả những hạn chế, khuyết điểm của đội ngũ trí thức này cần được khắc phục

Kỹ thuật và công cụ sử dụng

- Sử dụng phần mềm máy tính chuyên dụng (Stata, TSP, SPSS)

- Sử dụng công cụ tra cứu trực tuyến qua mạng Internet

- Tra cứu văn bản, cơ sở dữ liệu trong thư viện, các trung tâm lưu trữ, bảo tàng…

7 Kết cấu đề tài

I PHẦN MỞ ĐẦU

II PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 2 Những đặc điểm cơ bản và vai trò chủ yếu của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 36

Chương 6 Phương hướng và giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

PHẦN KẾT LUẬN

PHẦN KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 37

35

II PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 Lý luận cơ bản về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ

1.1.1 Khái niệm trí thức và trí thức khoa học – công nghệ

Khái niệm Trí thức

Định nghĩa về trí thức là công việc khó khăn nhưng rất cần thiết, vì nó liên quan trực tiếp đến lực lượng người có đóng góp quan trọng cho sự phát triển xã hội Xác định đúng được nội hàm và ngoại diên của khái niệm trí thức

sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, khai thác, sử dụng có hiệu quả đội ngũ này phục vụ cho xã hội

• Từ trước đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều định nghĩa

về trí thức (khoảng 60 định nghĩa) với những cách lý giải khác nhau Trước hết,

khảo sát các sách Từ điển: Từ điển Bách khoa triết học Liên xô (tiếng Nga,

Matxcơva, 1983) định nghĩa trí thức là “tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát

triển và phổ biến văn hóa” Tương tự như trên, Từ điển Bách khoa toàn thư

Liên xô (Prokhorov Chủ biên, Matxcơva, 1985) chỉ rõ: “Trí thức là tầng lớp

những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền

bá văn hóa” Từ điển tiếng Nga (Matxcơva, 1991) cho rằng: “Trí thức – đó là

những người có học vấn và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học,

kỹ thuật, văn hóa và đang làm nghề lao động trí óc” Bách khoa toàn thư Pháp

Trang 38

36

(tập X) xác định: “Trí thức là một phạm trù lịch sử Trong các nước khác nhau, khái niệm về trí thức có khác nhau Trong các thời đại khách nhau, chức năng của trí thức cũng khác nhau Người ta có thể chia trí thức thành kỹ sư, quan chức, thành nhà phản biện xã hội, nhà luân lý học, nhà hoạt động chính trị, nhà

cách mạng” Từ điển Bách khoa Việt Nam khẳng định: “Trí thức là tầng lớp xã

hội làm nghề lao động trí óc, trong đó, bộ phận chủ yếu là người có trình độ học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ…”; và nhiều từ điển khác

Như vậy, trong các sách từ điển, có nhiều định nghĩa về trí thức và còn

có những ý kiến khác nhau, song có điểm chung là: Trí thức là những người có trình độ học vấn, chuyên môn cao và làm nghề lao động trí óc, sáng tạo

Các nhà chính trị, lãnh đạo cách mạng như: C.Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều có chung nhận xét: trí thức là người có học thức và lao động trí óc, hoạt động gắn với thực tiễn xã hội, phục vụ nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Trí thức là những người lao động trí

óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” 52, tr.81

• Các nhà khoa học cũng đưa ra nhiều định nghĩa về trí thức Ju.Kurmosov cho rằng, trí thức là những người có đạo đức và văn hóa cao, tích cực tham gia hoạt động xã hội Trong khi đồng ý với quan niệm trên, V.Dudintchev nhấn mạnh yếu tố “chất trí thức” Theo Ông, ngoài yếu tố học vấn cao, trí thức còn bao hàm hai yếu tố quan trọng: đạo đức và tinh thần sáng tạo; một con người thiếu đạo đức hoặc không có khả năng sáng tạo thì nhất định không phải trí thức” 108 Trong bài “Từ kẻ sĩ thời xưa đến trí thức

Trang 39

37

ngày nay” Long Biên cho rằng, trí thức phải là người có đủ tài trí (science), lương tri (conscience) và đức độ (caractère); rằng, người thiếu đức độ, thiếu lương tri thì dù có bằng cấp cao tột bậc, có thông thái đến đâu thì cũng chỉ được gọi là “người có học”, “người đỗ đạt”, “người làm việc bằng trí óc” mà thôi Họ không phải là trí thức 86

Từ những phân tích các quan niệm và định nghĩa trên về trí thức, có thể chắt lọc và khái quát những đặc trưng cơ bản của trí thức như sau:

- Một là, trí thức là một “tầng lớp xã hội đặc biệt” (không phải là một

giai cấp) xuất thân từ nhiều giai cấp và các thành phần xã hội khác nhau Trong lịch sử, do nguồn gốc xuất thân và nghề nghiệp của mình nên trí thức không có

cơ sở kinh tế và hệ tư tưởng độc lập Do nghề nghiệp của mình, trí thức chuyên lao động trí óc sáng tạo ra giá trị phục vụ cho dân tộc, xã hội và giai cấp cầm quyền

- Hai là, trí thức là người có học vấn cao và có hiểu biết sâu rộng về

lĩnh vực chuyên môn nhất định Là trí thức trước hết phải có học vấn cao (trình độ đại học trở lên), đây là cơ sở, nền tảng để phát triển chuyên môn Đồng thời, trí thức phải là người có hiểu biết sâu và rộng về lĩnh vực chuyên môn nhất định Chỉ có như vậy, họ mới có thể nghiên cứu và sáng tạo ra giá trị phục vụ xã hội

- Ba là, trí thức là người lao động trí óc, lao động trừu tượng và phức

tạp, mà đặc điểm của lao động này là bằng tổng hợp các lao động cụ thể, giản đơn gộp lại (C.Mác) Đặc trưng này phân biệt trí thức (lao động trí óc) với người lao động chân tay (lao động chân tay không phải là trí thức)

- Bốn là, trí thức là người có tư duy độc lập, tư duy phê phán và phản

biện Hoạt động của trí thức là hoạt động sáng tạo (sáng tạo ra tri thức mới,

Trang 40

38

phương pháp mới; truyền bá và ứng dụng chúng vào thực tiễn để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao phục vụ xã hội) Trong khi sáng tạo ra cái mới, hoạt động của trí thức luôn mang tính phản biện và phê phán (tư duy của trí thức không bằng lòng với cái cũ, không lặp lại cái cũ một cách đơn thuần)

- Năm là, trí thức là người có nhân cách “Nhân cách trí thức” thường

bao gồm ba yếu tố cơ bản mà người xưa gọi là “Nhân – trí – dũng” Người nay gọi là “Đạo đức – tài năng – bản lĩnh” “Nhân cách trí thức” định hướng cho người trí thức luôn sống trung thực, tôn trọng và bảo vệ lẽ phải, chân lý, không thủ đoạn, cơ hội và nịnh bợ, luồn cúi

- Sáu là, trí thức là người có tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc

cao, hết lòng hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ xã hội và nhân dân Vì vậy,

“Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế” 65, tr.84

Với sáu đặc trưng nêu trên, hoàn toàn có cơ sở để kết luận rằng: Trí

thức là một tầng lớp xã hội, bao gồm những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao và chuyên môn hóa sâu về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu trí thức, tạo ra những sản phẩm có giá trị cao phục vụ xã hội

Với những nội dung trên, trí thức bao gồm các nhà khoa học, nhà giáo, thầy thuốc, luật sư, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhà chính trị, nhà quản lý, nhà phản biện xã hội… hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong đội ngũ trí thức có một bộ phận ưu tú được gọi là nhân tài Họ là những người học rộng, hiểu sâu, giàu óc sáng tạo, tư duy phê phán sắc sảo, có khả năng phán đoán và dự báo với tầm nhìn xa trông rộng… thật sự tài năng và có cống hiến xuất sắc cho đất nước Trong bộ phận nhân tài xuất hiện nhóm người ưu tú nổi bật được gọi là hiền tài Đó là những

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Kết luận số 90-KL/TW ngày 4/3/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 7 khóa X về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 90-KL/TW ngày 4/3/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 7 khóa X về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
12. Bộ Giáo dục và đào tạo – Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – Kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – Kinh nghiệm của các quốc gia
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo – Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1995), 50 năm khoa học và công nghệ Việt Nam 1945 – 1995, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm khoa học và công nghệ Việt Nam 1945 – 1995
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995
14. Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Lan
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. C.Mác và Ph.Ăngghen (1992), Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1992
16. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
18. Cao Minh Thì (2005), Thực trạng và định hướng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, đề tài khoa học Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và định hướng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Tác giả: Cao Minh Thì
Năm: 2005
19. Chỉ thị của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (số 42- CT/TW, ngày 16/4/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Năm: 2010
21. Công Thị Phương Nga (2016), Phát triển kinh tế tri thức ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ triết học, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Công Thị Phương Nga
Năm: 2016
22. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2015), Niên giám thống kê năm 2014, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2014
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2015
23. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2016), Niên giám thống kê năm 2015, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2015
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2016
25. Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Hội nghị chất lượng giáo dục Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV, số liệu thống kê (giai đoạn 2011 - 2015), thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị chất lượng giáo dục Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV, số liệu thống kê (giai đoạn 2011 - 2015)
Tác giả: Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật quốc gia
Năm: 1987
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1996
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
210. Website Sở khoa học và công nghệ tp. Hồ Chí Minh WWW.dost.hochiminhcity.gov.vn Link
214. Website Cục thống kê TP. Hồ Chí Minh http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra cuu/sy_phu_tri_thuc_nuoc_nha_xua.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w