1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng dân tộc thiểu số chăm hoa khmer trên địa bàn thành phố hồ chí minh từ nay đến năm 2025 tầm nhìn 2030

188 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng dân tộc thiểu số chăm hoa khmer trên địa bàn thành phố hồ chí minh từ nay đến năm 2025, tầm nhìn 2030
Tác giả Nguyễn Thị Bích Thu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích Thu
Trường học Học viện Dân tộc
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 5,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu 2.1 Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu thực trạng và đề xuất được giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm, Hoa, Khmer gắn với phát triển kin

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH

KẾT QUẢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KH&CN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CHO CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ (CHĂM, HOA, KHMER)

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2030

Cơ quan chủ trì: Học viện Dân tộc Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Bích Thu

TP HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH

KẾT QUẢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KH&CN ĐỀ TÀI

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CHO CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ (CHĂM, HOA, KHMER)

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN

THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

36

1.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và TP Hồ Chí

Minh về bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội

64

2.3 Hiện trạng đời sống KT-XH của cộng đồng DTTS (Chăm,

Hoa, Khmer) ở TP Hồ Chí Minh hiện nay

70

2.4 Khái quát về văn hóa truyền thống của các dân tộc Chăm,

Hoa, Khmer ở TP.Hồ Chí Minh hiện nay

78

2.5 Thực trạng bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển

kinh tế - xã hội của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer ở TP.Hồ Chí Minh hiện nay

88

2.6 Tác động động của các chính sách phát triển KT-XH đến 107

Trang 4

bảo tồn văn hóa truyền thống của các DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh từ 1986 đến nay CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO TỒN VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ -

XÃ HỘI CỦA CÁC DÂN TỘC CHĂM, HOA, KHMER Ở

TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

115

3.2 Xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với

phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer ở TP Hồ Chí Minh hiện nay

118

3.3 Đánh giá hiệu quả xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa

truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer ở TP Hồ Chí Minh hiện nay

138

CHƯƠNG 4 DỰ BÁO, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ -

XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TP HỒ CHÍ MINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2030

142

4.1 Dự báo những nhân tố tác động đến bảo tồn văn hóa gắn với

phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2025, tầm nhìn 2030

142

4.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn văn hóa các DTTS gắn với phát

triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2025, tầm nhìn 2030

144

PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH THU THẬP TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

176

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU

Trang 5

Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Trang 6

1 Giới thiệu vắn tắt về sự hình thành nhiệm vụ

Nhiệm vụ này được hình thành trên cơ sở đặt hàng của Ban Dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh đối với Sở khoa học và công nghệ Thành phố và được

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho phép được thực hiện

2 Mục tiêu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất được giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số (Chăm, Hoa, Khmer) gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ nay đến năm

2016 – 2020)

- Đánh giá hiệu quả tác động của chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS (duy trì, thực hành văn hóa truyền thống) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Dự báo, đề xuất giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng các DTTS trên địa bàn thành phố từ nay đến năm 2025, tầm nhìn 2030

- Xây dựng 02 mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố cho 03 dân tộc Chăm, Hoa, Khmer

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Riêng đối với dân tộc Chăm, hiện nay chưa có con số thống kê cụ thể về người Chăm Bà Ni ở TP Hồ Chí Minh, do đó trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tìm hiểu về văn hóa truyền thống của cộng đồng Chăm Islam đang cư trú tập trung tại TP Hồ Chí Minh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi thời gian

Trang 7

Năm 1986 là thời điểm có tính bước ngoặt trong sự phát triển của đất nước nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng, với nhiều định hướng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội mới Do vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các chính sách, định hướng của thành phố có tác động đến văn hóa truyền thống của các DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) từ 1986 đến nay

3.2.2 Phạm vi không gian

- Cộng đồng Chăm, Hoa, Khmer cư trú trên tất cả 24 quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh Do đó, nghiên cứu này được thực hiện trên quy mô toàn thành phố

- Tuy nhiên, do địa bàn cư trú của cộng đồng DTTS không đồng đều, có quận đông người DTTS, cũng có quận chỉ vài người đến vài chục người; hoặc dân cư sống rải rác, không tập trung thành cộng đồng nên không phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi Mặt khác, với sự hạn chế về thời gian, kinh phí nên khó có thể triển khai trên địa bàn của tất cả các quận/huyện của thành phố Do đó, để thực hiện nghiên cứu về bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi chỉ chọn điểm một số quận, huyện có đông dân cư DTTS thuộc nhóm nghiên cứu, sống tập trung thành cộng đồng; còn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống cơ bản của dân tộc Cụ thể gồm:

+ Quận 5, 11: Đối với cộng đồng dân tộc Hoa

+ Quận 3, Tân Bình: Đối với cộng đồng dân tộc Khmer

+ Quận 8, Phú Nhuận: Đối với cộng đồng dân tộc Chăm Islam

4 Tính cấp thiết của nghiên cứu

TP Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất khu vực phía Nam về dân số, diện tích và tốc độ tăng trưởng kinh tế; đồng thời cùng là một trong nhưng trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng nhất của nước ta Theo số liệu sơ

bộ điều tra dân số, nhà ở năm 2019, thành phố Hồ Chí Minh có tổng dân số là 8.993.082 người; trong đó, dân tộc Kinh có 8.523.173 người, chiếm xấp xỉ 94,8%; 53 DTTS có 469.909 người, chiếm gần 5,2%1 Trong báo cáo sơ bộ này không có tỷ lệ riêng các DTTS trên địa bàn thành phố Còn theo số liệu của Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh năm 2015: 89,91% là người Việt (7.394.558 người); 9,8% là người Hoa; 0,09% là người Chăm; 0,07% là người Khmer; 0,13% là các tộc người khác (gồm người Tày: 0,02%, người Mường: 0,01% …) Con số công

bố của Cục Thống kê thành phố về số lượng các DTTS cho đến nay chắc chắn đã thay đổi Tuy nhiên, do không có số liệu công bố đồng bộ về các DTTS ở thành phố mới hơn nên chúng tôi cung cấp các số liệu cũ năm 2915 để những

1 Tổng cục Thống kê (2019), Báo cáo sơ bộ số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Nxb Thống kê

Trang 8

người quan tâm dễ hình dung về tỷ lệ dân số của mỗi dân tộc trên địa bàn thành phố Trên địa bàn thành phố, có bốn dân tộc vẫn duy trì được khu vực cư trú truyền thống, mang tính cộng đồng đó là Việt, Hoa, Chăm, Khmer; số còn lại thường là những nhóm gia đình, gia đình hoặc những thành viên có tính cá nhân Người Hoa phân bố cư trú trên địa bàn các quận: 11, 6, 5, 10, 1, Bình Tân, Tân Phú; 8 Người Chăm phân bố cư trú thành 16 khu vực thuộc địa bàn các quận: 8,

11, 4, 3, 5, 6, 10, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Thủ Đức Người Khmer phân bố cư trú rải rác trên địa bàn các quận 3, 5, 6, Bình Tân và huyện Bình Chánh, trong đó tập trung tương đối đông đúc tại hai khu vực: chùa Chantarangsay (thuộc quận 3) và chùa Bothi Vong (thuộc quận Tân Bình) Số còn lại cư trú tản mạn trên khắp các quận, huyện Mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa đặc sắc riêng, độc đáo của dân tộc mình Chẳng hạn, dân tộc Khmer có lễ hội Ooc om bok, Cholchnamthomay, múa Lăm Thôn, dệt thổ cẩm; dân tộc Chăm có dệt thổ cẩm, múa Chăm, các lễ hội Ramadan, .; dân tộc Hoa, so với dân tộc Chăm,

Khmer vẫn giữ khá tốt văn hóa truyền thống của dân tộc mình

Trong quá trình đô thị hóa hiện nay, cũng như nhiều DTTS khác, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đang

bị mai một về bản sắc Theo số liệu thống kê của cuộc điều tra thu thập thông tin kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, thực hiện trong phạm vi toàn quốc, đối với 03 dân tộc Chăm, Hoa, Khmer về thực trạng bảo tồn văn hóa truyền thống, cho thấy như sau: (i) Biết điệu múa truyền thống của dân tộc mình,

ở nhóm dân tộc Hoa là 1.081 hộ (chiếm 0,6%); dân tộc Chăm là 12.876 hộ (chiếm 34%); dân tộc Khmer là 104.602 hộ (chiếm 33%); (ii) Số hộ biết hát điệu hát truyền thống của dân tộc mình, ở dân tộc Hoa là 10.783 hộ (chiếm 6,0%), dân tộc Chăm là 11.070 hộ (chiems 29,2%), dân tộc Khmer là 93.311 hộ (chiếm 29,7%); (iii) số hộ biết sử dụng nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình: ở dân tộc Hoa là 933 người (chiếm 0,5%), dân tộc Chăm là 1.472 người (4,6%), dân tộc Khmer là 8.326 người (2,7%); (iv) Số hộ có làm nghề thủ công truyền thống,

ở dân tộc Hoa là 0,4%, dân tộc Chăm là 3,2% và dân tộc Khmer là 0,8% Các con số trên đây, dù không chỉ thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã cho thấy bức tranh chung về thực trạng bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống của ba dân tộc Chăm, Hoa, Khmer ở Việt Nam

Thực trạng mai một bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số đã được Thành ủy, UBND thành phố Hồ Chí Minh nhận thức được từ rất sớm và cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm khôi phục các làng nghề truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố gắn với phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, như: Quyết định số

Trang 9

3531/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động về Chiến lược công tác dân

tộc trên địa bàn thành phố đến năm 2020 xác định rõ “bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” là một trong 07 nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân tộc đến năm 2020; đồng thời, xác định một trong các biện pháp nhằm “đẩy mạnh công tác giảm nghèo, tăng hộ khá, đảm bảo an sinh xã hội trong đồng bào DTTS” chính là “xây dựng chính sách hỗ trợ vốn tín dụng xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho các dân tộc có hoàn cảnh khó khăn và duy trì bảo tồn, phát triển các làng nghề mang đậm nét văn hóa truyền thống, có khả năng phát triển độc lập, bền vững (Vận dụng Quyết định số 3891/QĐ- UBND ngày 17 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt đề

án Bảo tồn và phát triển làng nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh định hướng đến năm 2020)” nhằm xây dựng thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có chất lượng

sống tốt.Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X

nhiệm kỳ 2015 – 2020 khẳng định lại: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc, các giá trị văn hóa mang nét đặc trưng của nhân dân thành phố là một trong các nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu phát triển

văn hóa, xây dựng con người của thành phố đến năm 2020

Như vậy, có thể nói, bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS trên địa bàn thành phố luôn được Thành ủy, UBND thành phố Hồ Chí Minh coi trọng Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ đến mọi ngõ ngách của đời sống đô thị, sự du nhập của văn hóa phương Tây, Nhật Bản, Hàn Quốc và của cả người Kinh đang hàng ngày tác động đến việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của các DTTS trên địa bàn thành phố Bởi vậy, giữ gìn bằng cách nào? Phát triển ra sao để văn hóa thực sự là động lực của sự phát triển đối với mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số Chăm, Hoa, Khmer trên địa bàn thành phố thì không phải là một vấn đề đơn giản

Ba dân tộc Chăm, Hoa, Khmer trên địa bàn TP Hồ Chí Minh nói riêng và

cả nước nói chung đều là các dân tộc có nền văn hóa phong phú, đặc sắc và độc đáo Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc này Song, nghiên cứu bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế, coi đây là một giải pháp, con đường để giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS thuộc 03 nhóm dân tộc này thì chưa có bất cứ công trình nào nghiên cứu Bởi vậy, chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề cần được nghiên cứu đầy đủ, có tính hệ thống, đặt trong bối cảnh phát triển của thành phố đến năm 2025 Do đó, thực hiện nghiên cứu đề tài:

Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế – xã hội cho cộng đồng dân tộc thiểu số (Chăm, Hoa, Khmer) trên địa bàn thành

Trang 10

phố Hồ Chí Minh từ nay đến 2025, tầm nhìn 2030; chúng tôi mong muốn kết

quả nghiên cứu của đề tài sẽ đề xuất được giải pháp, xây dựng được mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống của ba dân tộc Hoa, Chăm, Khmer trên địa bàn thành phố gắn với phát triển kinh tế – xã hội, từ nay đến năm 2025; góp phần hoàn thành các mục tiêu của thành phố đề ra trong Quyết định số 3531/QĐ-UBND và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ X của thành phố giai đoạn 2015 -2020; đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng sẽ mở ra một hướng mới trong nâng cao chất lượng đời sống, giảm nghèo bền vững cho cộng đồng các DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng 2030

5 Giả thuyết nghiên cứu

Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi đặt ra giả thuyết như sau:

Thứ nhất: Văn hóa truyền thống của các DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) vẫn

được bảo tồn tương đối tốt và có khả năng khôi phục lại những giá trị văn hóa truyền thống đã bị mai một hoặc biến dạng

Thứ hai: Hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh

tế - xã hội cho cộng đồng DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) là có thể thực hiện được, sau khi triển khai một số hoạt động hỗ trợ của các cấp chính quyền, các sở, ngành trên địa bàn thành phố về các vấn đề liên quan như: đào tạo nguồn nhân lực tại cộng đồng có kiến thức sâu sắc về văn hóa truyền thống; có kỹ năng giới thiệu, quảng bá văn hóa dân tộc đến với du khách; có kiến thức, kỹ năng khác làm du lịch tại cộng đồng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế – xã hội cho các DTTS ở đô thị nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng

- Mở ra một hướng nghiên cứu mới về bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ tiêu biểu

6.2 Ý nghĩa về thực tiễn

TP Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt, cùng với thủ đô Hà Nội Hàng năm lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh đều năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, sản phẩm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch quốc tế nói chung, khách du lịch quốc tế cao cấp nói riêng Bởi sản phẩm du lịch còn thiếu chiều sâu, chưa có tính riêng của thành phố Do đó, TP Hồ Chí

Trang 11

Minh đa số trở thành điểm dừng chân trước khi khách du lịch đi các tour về miền Tây Nam bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đà Nẵng, Huế,

Bởi vậy, với việc bảo tồn, khai thác sản phẩm văn hóa truyền thống của cộng đồng DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) gắn với hình thành các điểm du lịch văn hóa, trải nghiệm, tại các không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng (Thánh đường, Chùa, Hội quán) hoặc tại địa bàn cư trú tập trung của cộng đồng Hoa, Chăm, Khmer sẽ là một sản phẩm du lịch văn hóa mới, du khách được khám phá giá trị văn hóa truyền thống của mỗi cộng đồng DTTS ở đây như: ca kịch, lân sư rồng, ẩm thực, kiến trúc mang màu sắc đặc trưng của người Hoa (Hội quán, Khu phố cổ), người Khmer (Chùa Chatarangsay, Pothivong), người Chăm Hồi giáo (các Thánh đường, tiểu Thánh đường); Đồng thời, du khách có thể trực tiếp được trải nghiệm các hoạt động sinh hoạt văn hóa của người dân tại mỗi cộng đồng; chẳng hạn, viết thư pháp, chế biến món ăn, sản xuất hàng thủ công truyền thống, dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân, nghệ

sỹ tại các không gian sinh hoạt văn hóa mang màu sắc riêng biệt của mỗi dân tộc, cộng đồng

Với hướng triển khai này, chúng tôi cho rằng, bảo tồn, khai thác văn hóa truyền thống của cộng đồng DTTS (Chăm, Hoa, Khmer) ở TP Hồ Chí Minh là một hướng bảo tồn văn hóa phù hợp với bối cảnh hội nhập; đồng thời tạo cho thành phố những sản phẩm du lịch hấp dẫn, mới lạ hơn tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân; nâng cao nhận thức cho người dân về bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc

7 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo tồn văn hóa truyền thống không phải là một chủ đề mới, đã được giới học thuật trong và ngoài nước nghiên cứu từ rất lâu Do đó, những tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan có rất nhiều Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ

đề cập tới những nghiên cứu có liên quan gần đến lĩnh vực nghiên cứu, theo các nhóm sau đây: Nghiên cứu về lý thuyết bảo tồn văn hóa; kinh nghiệm quốc tế về bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội, về các dân tộc thiểu số ở thành phố Hồ Chí Minh; về bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS, chính sách

phát triển kinh tế - xã hội cho các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh…

7.1 Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về bảo tồn văn hóa

Nhật Bản là một trong các quốc gia trên thế giới có nhiều thành tựu trong

bảo tồn văn hóa truyền thống Nguyễn Thị Thu Trang trong bài viết Lễ hội Kanda, Tokyo, Nhật Bản – cuộc diễu hành tâm linh hay bức tranh tái hiện lịch

sử (Tạp chí Di sản văn hóa số 3/2013) đã mô tả chi tiết, tỉ mỉ từng hoạt động,

nghi lễ của lễ hội Kanda ở thủ đô Tokyo của Nhật Bản Điều đáng lưu ý nhất

Trang 12

trong lễ hội này của người dân Nhật Bản chính là sự kết hợp hài hòa các bản sắc truyền thống (trang phục, nghi lễ, chiến binh Samurai…) với các sản phẩm của

xã hội hiện đại (âm nhạc điện tử, trò chơi video…) Đây là một hướng bảo tồn thú vị mà Việt Nam cần nghiên cứu để làm mới các sản phẩm văn hóa truyền thống cho phù hợp nhịp sống hiện đại mà vẫn không làm mất đi bản sắc truyền thống Chúng tôi nhận thấy, kinh nghiệm này hữu ích với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS gắn với phát triển kinh

tế - xã hội ở TP Hồ Chí Minh – một đô thị đặc biệt, hiện đại và năng động

Bàn về kinh nghiệm bảo tồn nghề dệt ở tỉnh Ibaraki, Nguyễn Thị Thu

Hường trong bài viết Kinh nghiệm bảo tồn di sản của làng dệt Yuki, tỉnh Ibaraki, Nhật Bản (Tạp chí Di sản văn hóa, số 1/2015) đã giới thiệu chi tiết về

cách thức bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: kỹ thuật dệt vải truyền thống của làng Yuki, tỉnh Ibaraki, Nhật Bản – đã ra đời từ thế kỷ XVII Gồm các bước: bảo tồn và truyền nghề, bảo vệ và phát huy các kỹ thuật truyền thống (se sợi, nhuộm chàm, thi và bán các sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật cho việc đào tạo người thừa kế…), chính quyền hỗ trợ để dệt truyền thống được phát triển, đưa kỹ thuật dệt vào trong chương trình giáo dục trong nhà trường, quan tâm đến bảo vệ thương hiệu, là chất liệu để may kimono truyền thống, người dân trong cộng đồng được đào tạo để quảng bá thương hiệu của mình Có thể nói, bài viết đã giúp chúng tôi một số tư liệu có giá trị cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu chọn lựa các sản phẩm văn hóa truyền thống của các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh để bảo tồn

Bùi Thị Ánh Vân có bài viết Thiệp Tết Nengajo – Nét đẹp trong văn hóa Nhật (Tạp chí Di sản Văn hóa số 1/2015) Nội dung bài viết đề cập đến một

phong tục truyền thống của người dân Nhật Bản: gửi thiệp chúc mừng ngày đầu năm mới Phong tục này đã có lịch sử ở Nhật Bản từ thời Minh Trị (Meiji) Trải qua hàng trăm năm, ngày nay phong tục này vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ ở đất nước Nhật Bản Con số 3,7 tỷ chiếc thiếp Nengajoo được tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản năm 2014 là minh chứng thuyết phục cho sự phát triển này Bài học rút ra cho Việt Nam trong bảo tồn văn hóa dân tộc nói chung và phong tục, tập quán nói riêng chính là phải làm cho mỗi người dân tự ý thức được giá trị nhân văn, cao đẹp và có ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống của cha ông để lại Chỉ khi đó, văn hóa truyền thống mới được bảo tồn bền vững

Về bảo tồn nghệ thuật múa dân gian Hàn Quốc, Phạm Khánh Trang có bài

Hahoe Byolshin Gut – Nghệ thuật múa mặt nạ dân gian của Hàn Quốc (Tạp chí

Di sản văn hóa, số 1/2014) Đây là loại hình nghệ thuật đã có từ thế kỷ XIV, với mục đích ban đầu là mọi người có thể đeo mặt nạ vào, nhảy múa và giải tỏa

Trang 13

những bức xúc, âu lo, uất hận hàng ngày sau chiếc mặt nạ Hiện nay, nghệ thuật múa mặt nạ của Hàn Quốc là tài sản phi vật thể quan trọng thứ 69 của Hàn Quốc Bài viết tập trung phân tích giá trị đặc sắc, độc đáo của nghệ thuật múa mặt nạ Hàn Quốc Bên cạnh đó, tác giả cũng đã cho thấy sự nỗ lực của chính phủ Hàn Quốc, người dân, các nghệ sỹ trong bảo tồn, bảo vệ, truyền dạy và phát huy giá trị Bài viết không đi vào phân tích kỹ cách thức cụ thể chính phủ Hàn Quốc đã bảo tồn nghệ thuật múa mặt nạ như thế nào, tuy nhiên cũng ít nhiều cho những ai quan tâm có thể thấy được sự trân trọng của Chính phủ và người dân đối với di sản văn hóa của mình – một trong các yếu tố quan trọng để văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát triển Việt Nam có thể học tập được kinh nghiệm này của Hàn Quốc

Phạm Khánh Trang trong một bài viết khác viết về Quần thể tu viện Phật giáo Bulguksa và hang phật Seokguram – Miền đất Phật linh thiêng của Hàn Quốc (Tạp chí Di sản văn hóa số 1/2015) tiếp tục cung cấp những kinh nghiệm

quý báu của Chính phủ Hàn Quốc trong bảo tồn di sản văn hóa vật thể Đây là di sản được xây dựng từ năm 528 và hoàn thành vào năm 774 Trải qua hàng chục thế kỷ, quần thể tu viện Phật giáo Bulguksa và hang phật Seokguram vẫn được bảo tồn nguyên vẹn Đó là nhờ chính sách bảo vệ nghiêm ngặt quần thể di sản của Hàn Quốc, chẳng hạn xung quanh quần thể có quy hoạch vùng đệm mở rộng đến 500m được xác định là vùng bảo vệ môi trường lịch sử văn hóa theo Luật

Do đó, mọi sự sửa chửa, tu bổ dù nhỏ nhất cũng phải được sự cho phép của Tổng cục tài sản văn hóa Hàn Quốc và mọi công việc liên quan đến di sản đều phải được giám sát chặt chẽ bởi các chuyên gia cao cấp về bảo tồn di sản văn hóa và là những người được cấp chứng chỉ quốc gia về lĩnh vực này Chúng tôi đã có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quản lý và bảo tồn di sản ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Bảo tồn di sản, kinh nghiệm của các nước – Hàn Quốc bảo tồn làng cổ là

nhan đề bài viết của tác giả Thành Vinh trên trang http://baotintuc.vn.Thông qua câu chuyện về làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) và phố cổ Đồng Văn (Hà Giang) yêu cầu trả lại danh hiệu di sản văn hóa quốc gia để có thể được sống theo ý mình, tác giả đã trình bày vắn tắt kinh nghiệm của Hàn Quốc trong bảo tồn và phát triển 02 ngôi làng cổ nổi tiếng là làng cổ Yangdong (ra đời từ triểu đại Josean cách đây 550 năm) – nơi in đậm dấu ấn của giới quý tộc Hàn Quốc hàng nghìn năm trước; Và làng cổ Hahoe thuộc thành phố Andong, tỉnh Gyeongsang – làng một họ (do họ Ryu gốc Pungsan xây dựng và sinh sống ở đây từ hơn 600 năm trước) Năm 2010 hai ngôi làng này được UNESCO công nhận là di sản thế giới bởi vẫn giữ được lối kiến trúc độc đáo và lối sống truyền

Trang 14

thống nguyên vẹn Điều khác biệt lớn nhất trong các ngôi làng cổ này của Hàn Quốc là tại đây vẫn có người dân sinh sống và họ muốn duy trì cuộc sống truyền thống và môi trường quen thuộc của họ Dù làn sóng khách du lịch muốn đến trải nghiệm cuộc sống ở hai ngôi làng này đang tăng lên mỗi ngày và có nguy cơ

đe dọa đến sự bình yên của hai ngôi làng Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ Hàn Quốc đang xúc tiến xây dựng và bảo tồn khoảng 170 ngôi làng cổ như vậy và đào tạo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn nhà cổ nhằm giãn làn sóng người dân muốn được trải nghiệm ở các làng cổ, hạn chế mức độ quá tải cho hai ngôi làng cổ Hahoe và Yangdong Kinh nghiệm của Hàn Quốc không phải chỉ để Việt Nam giải quyết bài toán của Đường Lâm hay phố cổ Đồng Văn

mà còn nhiều làng cổ, khu phố cổ khác khi bảo tồn cần được chú ý mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển

Thái Lan cũng là một đất nước ở khu vực Đông Nam Á còn bảo tồn được

nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp Tác giả Duy Anh trong bài viết Tết năm mới Songkran – một di sản văn hóa lớn của đất nước Thái Lan (Tạp chí Di

sản văn hóa số 1/2013) đã giới thiệu về Tết Songkran – một lễ hội đã có từ thời người Môn (thời kỳ trước khi người Thái lập quốc ở Thái Lan) của đất nước Thái Lan Lễ hội này được kéo dài trong 06 ngày với ý nghĩa của từng ngày: Ngày thứ nhất: gọi là ngày Wan Sangkhan Luang có nghĩa là “ghé qua”; Ngày thứ hai là ngày Wan Nao – ngày tống tiễn mọi thứ o uế của năm cũ; Ngày thứ ba: Wan Phya – ngày hoàng tử, ngày mọi người bày tỏ sự tôn kính đối với cha

mẹ, ông bà; Ngày thứ tư là Wan Pak Pi – ngày cửa miệng của năm; Ngày thứ năm: Wan Pak Duan – ngày cửa miệng của tháng; Ngày thứ sáu: Wan Pak Wan – ngày cửa miệng của ngày Lễ hội này mang theo ý nghĩa: cầu cho mưa thuận gió hòa trong một đất nước nông nghiệp như Thái Lan; kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng dân gian và tự nhiên; thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa cá nhân và xã hội, giữa gia đình và xã hội Do đó, Tết Songkran là dịp để mọi người cố gắng phải sống và hành động sao cho đúng với vị thế của mình Sau dịp Tết, mỗi người lại tự đánh giá về truyền thống của người Thái để tự chọn ra cách tốt nhất duy trì Tết như một di sản độc đáo của dân tộc Trong bối cảnh Lễ hội ở Việt Nam đang ngày càng biến dạng, méo mó thì bài viết trên đây đã mang đến cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm để nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc

Nghiên cứu kinh nghiệm trong định hướng phát triển sản phẩm du lịch của một số nước ASEAN của Nguyễn Hoàng Mai đăng trên

http://www.itdr.org.vn/ đã khái quát những kinh nghiệm thực tiễn trong gắn các sản phẩm văn hóa truyền thống với phát triển du lịch ở một số nước như Thái

Trang 15

Lan, Singapor, Malaixia, Indonexia Đối với Thái Lan – đất nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở Châu Á, Chính phủ Thái Lan năm 2015 đã lựa chọn các sản phẩm du lịch mang “đặc trưng Thái” (Thainess) Các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong kế hoạch này đưa ra những định hướng phát triển cụ thể về

Điểm đến phải thăm, Hoạt động phải làm, Sản phẩm phải mua và Món ăn phải nếm (Chẳng hạn: Ẩm thực Thái Lan: du lịch ẩm thực; Nghệ thuật Thái Lan: du

lịch văn hóa nghệ thuật; Cuộc sống của người Thái Lan: du lịch trải nghiệm cuộc sống bản địa; Lễ hội truyền thống Thái Lan: du lịch lễ hội; Sự thông thái của Thái Lan: du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống các dân tộc; Niềm vui Thái Lan: du lịch vui chơi giải trí…) Với Malaixia, quốc gia này đã khai thác 03 nét đặc sắc nổi bật để làm nên sự độc đáo và hấp dẫn phát triển du lịch Đó là, một quốc gia đa dân tộc, có sự pha trộn của nhiều nền văn hóa khác nhau tạo nên bản sắc riêng; văn hóa ẩm thực là sự kết hợp của nhiều nền văn hóa và các địa điểm

du lịch ở vùng núi cao, hoang sơ, bãi biển đẹp Còn Indonexia đề cao du lịch sinh thái và cộng đồng Chính phủ Indonexia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng bằng cách phát triển việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng đồng làm du lịch theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm” Đặc biệt ở tại đảo Bali, sự thành công nằm ở chính việc tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người dân bản địa, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn và giữ gìn văn hóa truyền thống…Nhìn chung bài viết dù mới ở mức độ khái quát cũng đã mang đến cho chúng tôi nhiều gợi mở cho việc gắn kết bảo tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh với du lịch nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở cộng đồng

Cùng với cách tiếp cận bảo tồn văn hóa dưới góc nhìn kinh tế - xã hội, tác

giả Trang Đoan trong bài viết Du lịch văn hóa – nhìn từ một số quốc gia Đông Nam Á (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, ngày 28/12/2015) cũng đã rút ra một số

những bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia Đông Nam Á trong phát triển du

lịch văn hóa, tác giả đưa ra nhận định: quan trọng hàng đầu khi phát triển du lịch văn hóa là phải tôn trọng, bảo tồn các giá trị văn hóa; tạo được bản sắc riêng của đất nước, địa phương mình Trong đó Campuchia, Indonexia, Thái

Lan là ví dụ điển hình; yếu tố thứ hai làm nên thành công là quảng bá du lịch chuyên nghiệp, sáng tạo Cách tiếp cận văn hóa gắn với du lịch không mới với Việt Nam Cũng đã có nhiều địa phương như Lào Cai, Hòa Bình, Thanh Hóa…tổ chức thành các điểm du lịch văn hóa Tuy nhiên, sau một thời gian các điểm du lịch văn hóa này đang dần bị thương mại hóa, méo mó bản sắc văn hóa, quá coi trọng yếu tố kinh tế mà coi nhẹ yếu tố văn hóa Do đó, những kinh

Trang 16

nghiệm gắn bảo tồn văn hóa với du lịch ở các quốc gia Đông Nam Á đã là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với nghiên cứu của chúng tôi

Kinh nghiệm trong phát triển du lịch từ các làng cổ ở Trung Quốc là bài

viết của Thái Bình trên trang http://vtv.vn Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tác giả đã giới thiệu về một số ngôi làng cổ của Trung Quốc đang rất thành công trong thu hút khách du lịch nhờ bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa truyền thống của làng về kiến trúc, lối sống, nghề nghiệp…Tại làng cổ Tùng Phan, tỉnh

Tứ Xuyên, Trung Quốc, các giá trị văn hóa truyền thống của người dân tộc Tạng được giữ gần như nguyên vẹn, nhất là các nghề truyền thống như nghề làm trang sức bạc, nghề bốc thuốc đông y Hoặc cổ trấn Châu Trang, tỉnh Giang Tô được xây dựng từ năm 700 trước công nguyên; những ngôi làng có những ngôi nhà cổ tồn tại gần 1.700 năm đã hấp dẫn hàng triệu du khách nước ngoài đến tham quan Chính người dân sống trong những ngôi nhà cổ đó đã giữ gìn và truyền từ đời này sang đời khác như một niềm tự hào của gia đình, cũng là phương kế để kiếm sống Những ngôi làng cổ tuy không phổ biến nhưng được người dân Trung Quốc gìn giữ cải tạo rất cẩn thận Đây như là một cách để người dân địa phương bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc Ngoài ra, người dân tại đây còn kiếm một nguồn thu nhập rất lớn từ du lịch Nội dung bài viết này có cách tiếp cận tương tự chúng tôi trong nghiên cứu về bảo tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Tuy nhiên, vì đây là bài viết ngắn nên mọi nội dung tác giả đưa ra còn rất sơ lược, gợi mở

Những công trình nghiên cứu quốc tế về bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan ở trên sẽ cung cấp cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm quý báu trong triển khai nghiên cứu bảo tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, văn hóa là sản phẩm của môi trường sống nên không thể rập khuôn, máy móc vào thực tiễn Việt Nam cần có những sáng tạo để phù hợp thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh

7.2 Nghiên cứu về kinh tế - xã hội của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer

ở TP Hồ Chí Minh

Dân tộc Chăm, Hoa, Khmer là 03 dân tộc có nền văn hóa đặc sắc Có nhiều công trình nghiên về văn hóa truyền thống của các dân tộc này Dưới đây chúng tôi sẽ tổng thuật một số tài liệu nghiên cứu liên quan trực tiếp đến các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Quá trình hình thành cộng đồng người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh

của Gru Hajan (https://gruhajan.wordpress.com/2016/05/11) là một trong số rất

ít các bài viết tập trung nghiên cứu về cộng đồng người Chăm trên địa bàn TP

Trang 17

Hồ Chí Minh Bài viết đã trình bày khái quát quá trình hình thành cộng đồng người Chăm ở TP Hồ Chí Minh qua các thời kỳ (chế độ phong kiến – lúc Champa đương thời và Triều Nguyễn; thời kỳ thực dân; thời kỳ thống nhất đất nước từ 1975 đến nay); quá trình hình thành các điểm dân cư của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh Từ đây, tác giả đưa đến kết luận: Người Chăm thường sống quây quần xung quanh các Thánh đường Hồi giáo; Thế hệ người Chăm ở thành phố đa số là Chăm Islam có nguồn gốc từ An Giang (người Chăm Bà ni đến từ Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay chưa có con số thống kê chính xác, nhưng không nhiều); cộng đồng người Chăm Islam định cư ở TP Hồ Chí Minh đã đến thế hệ thứ 4 Nhìn chung, người Chăm sống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau

Có thể nói, bài viết đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin hữu ích về địa bàn cư trú hiện nay của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả Phạm Quỳnh Phương trong bài viết Chăm Asulam: Tự khép kín trong một đô thị phát triển (http://www.vusta.vn/vi/news, ngày 7/11/2013) đã

tóm lược lại những nhận định của một số công trình nghiên cứu về cộng đồng Chăm Islam ở thành phố Hồ Chí Minh Theo tác giả, nhận định chung từ những công trình này là: người Chăm có trình độ học vấn thấp, đa số thất nghiệp, làm các công việc có thu nhập không ổn định, song trong những công việc buôn bán, người Chăm thể hiện sự năng động nổi trội so với người Khmer, thậm chí cả người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh Do đó, người Chăm tự khép kín trong đời sống đô thị do tự ty với người Kinh Cũng trong bài viết này, tác giả cũng đưa ra những ý kiến của người trong cuộc – những người Chăm – để lý giải về việc người Chăm không bằng người Kinh ở một số phương diện, hay tại sao người Chăm ít làm trong các cơ quan nhà nước…Từ đây, tác giả đưa ra những kiến giải của mình về việc người Chăm Islam ở thành phố Hồ Chí Minh có thực sự thấp kém như cách nhìn nhận của số đông hiện nay, trong khi họ lại là những người có khả năng quốc tế hóa nhất so với nhiều dân tộc ở thành phố Hồ Chí Minh (nói được nhiều ngôn ngữ: Anh, Ả rập, Chăm…; học tại các trường quốc tế…) Do đó, một lưu ý được tác giả đề xuất trong bài viết đó là cần có một cái nhìn trên cơ sở đa dạng văn hóa, tôn trọng tính đa dạng của văn hóa tộc người để

có cái nhìn khoa học và thuyết phục hơn về cộng đồng người Chăm Islam ở thành phố Hồ Chí Minh Có thể nói, đây là một bài viết mang quan điểm tương đồng với chúng tôi khi tiếp cận các vấn đề thuộc về cộng đồng dân tộc thiểu số Đặc biệt đối với cộng đồng Chăm Hồi giáo – có nhiều điểm khác biệt về tôn giáo, tín ngưỡng với hai dân tộc còn lại ởTP Hồ Chí Minh là Khmer và Hoa

Nhà nghiên cứu Phú Văn Hẳn trong một bài viết có tên Giá trị văn hóa Chăm khu vực Nam bộ (Tham luận Hội thảo Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ

Trang 18

công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế) đã nhận định: Đa số cư dân

Chăm theo đạo Islam ở TP Hồ Chí Minh có nguồn gốc là từ An Giang và Tây Ninh Do đó, người Chăm ở TP Hồ Chí Minh mang nét đặc trưng văn hóa khá riêng như cách thức tổ chức cộng đồng (sống tập trung, quanh thánh đường, ven kênh, rạch…), tôn giáo tín ngưỡng… cần được bảo tồn, phát huy Tuy nhiên, cũng do nếp sống, phong tục tập quán, trình độ dân trí thấp mà người Chăm sống ở TP Hồ Chí Minh có cuộc sống khép kín, ít giao lưu với bên ngoài cộng đồng Với những đặc thù văn hóa như trên, tác giả bài viết cho rằng cần có những chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp để tạo cơ hội tốt nhất cho người Chăm ở TP Hồ Chí Minh có thể nâng cao chất lượng cuộc sống, mạnh dạn trong hòa nhập và phát triển Bài viết đã bước đầu khái quát được một

số nét riêng về văn hóa của cộng đồng người Chăm ở TP Hồ Chí Minh; đồng thời cũng chỉ rõ những bất cập, khó khăn trong bảo tồn văn hóa của họ, cần có

cơ chế, chính sách bảo tồn phát huy phù hợp Bài viết cũng đã đề xuất một hướng nghiên cứu mở cho những người quan tâm đến bảo tồn văn hóa dân tộc Chăm đó là phải có một cơ chế chính sách phù hợp mới có thể bảo tồn văn hóa Chăm Vấn đề này, chúng tôi đã bước đầu nghiên cứu và có những nhận định nhất định trong cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa các DTTS ở TP Hồ Chí Minh

Lịch sử hình thành và nét đặc trưng trong văn hóa vật chất của người Chăm Hồi giáo (Islam) ở An Giang là tiêu đề bài viết của tác giả Phạm Văn Thành trong Hội thảoVăn hóa đồng bào Chăm với việc đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước (Do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch phối hợp với

UBND tỉnh An Giang tổ chức ngày 16/7/2016 tại huyện An Phú, An Giang) Bài viết đã trình bày tương đối đầy đủ lịch sử hình thành của dân tộc Chăm Trên cơ

sở đó, tác giả cũng đã giới thiệu khái quát những đặc trưng văn hóa vật chất của người Chăm Islam, gồm: nhà ở, trang phục, ẩm thực, kiến trúc – điêu khắc Bài viết đã giúp chúng tôi có một cái nhìn tổng quan về những giá trị văn hóa vật chất đặc sắc của dân tộc Chăm ở An Giang – có mối gắn kết chặt chẽ với cộng đồng Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, do đề cập đến nhiều nội dung trong phạm vi một bài tham luận nên các nội dung chỉ dừng lại ở vài nét phác thảo, sơ khai, chưa chỉ ra được những khó khăn của cộng đồng trong bảo tồn văn hóa truyền thống đặc sắc của mình hiện nay; cũng chưa cho thấy được cần phát huy văn hóa truyền thống vào phát triển kinh tế – xã hội của cộng đồng ra sao

Do đó, bài viết mới dừng lại ở mức độ cung cấp tư liệu, thông tin là chính, chưa có nhiều những ý kiến mang tính gợi mở về tương lai của văn hóa Chăm An Giang như thế nào

Trang 19

Nhằm tìm ra những giải pháp khả thi trong bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm và phát triển đất nước, ngày 16/7/2016 tại An Giang, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã phối hợp với UBND tỉnh An Giang tổ chức Hội

thảo Văn hóa đồng bào Chăm với việc đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước Hội thảo là sự kiện nằm trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa, Thể thao và

Du lịch đồng bào Chăm cấp quốc gia năm 2016 Tại Hội thảo, các đại biểu chủ yếu tập trung thảo luận xoay quanh 03 nội dung chính: (i) Nêu bật những giá trị văn hóa truyền thống của người Chăm; (2) Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong tình hình mới; (3) Phát huy vai trò của làng nghề truyền thống trong chiến lược phát triển kinh tế và văn hóa Tuy nhiên, Hội thảo cũng chưa đưa ra được những biện pháp, cách thức nào để bảo tồn văn hóa Chăm hiệu quả trong bối cảnh văn hóa truyền thống các DTTS đang đứng trước sự mai một Có thể nói, cuộc Hội thảo về văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm được tổ chức đã cho thấy sự đặc sắc của văn hóa Chăm, đồng thời cũng cho thấy rõ đã đến lúc cần phải có những biện pháp hay hơn để bảo tồn văn hóa Chăm

Đời sống văn hóa – xã hội của người Chăm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là tiêu đề bài viết của hai nhà nghiên cứu Phú Văn Hẳn và HJ Ysa U Mơ

Bài viết đã đề cập đến khá toàn diện lịch sử hình thành cộng đồng Chăm và 15 địa bàn cư trú tập trung của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay; đã

số người Chăm sống quần tụ xung quanh các Thánh đường, thuộc các khu phố nghèo Sinh kế của người Chăm không ổn định, lao động phổ thống là chủ yếu, trình độ học vấn thấp là những trở lực cho cải thiện, nâng cao đời sống cho người Chăm hiện nay Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy sự ảnh hưởng, chi phối sâu rộng của đạo Hồi Islam trong đời sống văn hóa của người Chăm như nhiều cộng đồng Hồi giáo khác trên thế giới Tuy nhiên, văn hóa người Chăm thành phố Hồ Chí Minh cũng không hoàn toàn rập khuôn mà có nhiều nét riêng biệt, độc đáo mang màu sắc Chăm thành phố Hồ Chí Minh, Chăm ở Việt Nam Kết thúc bài viết, phương án bảo tồn các tác giả đề xuất vẫn là bảo tồn ngôn ngữ, nâng cao dân trí cho đồng bào, thúc đẩy hoạt động giao lưu văn hóa để giới thiệu và phát huy văn hóa dân tộc Chăm đến với các cộng đồng dân cư khác Có thể nói bài viết đã phác họa một bức tranh toàn cảnh, tương đối rõ nét về đời sống – xã hội của cộng đồng Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh và mong muốn văn hóa Chăm được bảo tồn, phát triển Tuy vậy, những giải pháp tác giả đề xuất cũng vẫn theo cách bảo tồn văn hóa truyền thống trên quan điểm nguyên vẹn, mà chưa thấy được sức mạnh nội sinh của văn hóa đối với cộng đồng

Nguyễn Thị Thu Thủy trong bài viết Cộng đồng người Chăm Islam thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh xã hội đô thị (nghiên cứu trường hợp quận Phú

Trang 20

Nhuận) (Tạp chí Khoa học xã hội số 5/2011) và Bước đầu tìm hiểu những tác động của văn hóa và tôn giáo trong phát triển giáo dục ở cộng đồng Chăm Islam tại Thành phồ Hồ Chí Minh (qua trường hợp quận Phú Nhuận) (Hội thảo

quốc tế Việt Nam học lần thứ 2) đã nghiên cứu trên những nét lớn về cộng đồng người Chăm Islam ở Quận Phú Nhuận như: Quá trình hình thành cộng đồng người Chăm Islam Phú Nhuận (chủ yếu cư trú ở Phường 15, 17 với 124 hộ, 621 nhân khẩu); tình hình hộ khẩu (qua điều tra 33 hộ có đến 82,5% có hộ khẩu thường trú và 12,3 % có hộ khẩu tạm trú dài hạn); cơ cấu nghề nghiệp (chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức bằng các công việc phổ thông, tự do…); khu vực cư trú – nhà ở (phải có thánh đường – masjid, hoặc tiểu thánh đường – surao – để tiện cho việc thực hành nghi lễ); các tiện nghi trong gia đình… Qua đó, tác giả đưa ra nhận định: đa số người Chăm Islam ở Phú Nhuận là người nghèo đô thị, hoạt động chủ yếu trong các khu vực kinh tế phi chính thức, trình

độ học vấn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, không được hưởng những chế độ

an sinh xã hội hay dịch vụ đô thị đúng nghĩa Thực tế này đã cho thấy khoảng cách xã hội khá xa của người Chăm Islam Phú Nhuận trong bối cảnh xã hội đô thị và ngày càng có xu hướng trở nên tách biệt hơn Tác giả cũng đề xuất cần có chính sách phát triển phù hợp với những đặc thù kinh tế, văn hóa, xã hội của từng cộng đồng để họ có thể hòa nhập được với đời sống đô thị Tuy nhiên, do chỉ là một bài viết ngắn, hơn nữa không từ góc nhìn văn hóa, nên bài viết chưa cho thấy được sự gắn kết giữa đời sống và văn hóa, chưa thấy được văn hóa truyền thống có thể trở thành sức mạnh nội sinh cải thiện đời sống cho cộng đồng Chăm ở quận Phú Nhuận

Cuốn Biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Chăm và Khmer tại thành phố Hồ Chí Minh (Bộ môn Nhân học, Đại học KHXH&NV

thành phố Hồ Chí Minh), tập hợp các bài viết, nghiên cứu của sinh viên, giảng viên Khoa Nhân học sau chuyến đi thực tế Cuốn sách đã khái quát tương đối toàn diện những biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Chăm

và Khmer tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ của thành phố hiện nay Cuốn sách sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng đối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, những nhận định, kết luận của các tác giả trong bài vẫn dừng lại ở mức độ phản ánh, ghi chép hiện trạng chứ chưa có cơ sở, căn cứ để đưa ra, đề xuất những giải pháp phát triển kinh tế - xã hội cho hai cộng động dân tộc Chăm, Khmer trên địa bàn thành phố

Một loạt các bài viết trên về văn hóa, đời sống dân tộc Chăm và khai thác văn hóa dân tộc Chăm vào phát triển du lịch, chúng tôi nhận thấy, người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh còn rất khó khăn trong tạo dựng sinh kế bền vững, dù

Trang 21

có nền văn hóa độc đáo Đây đó, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những biện pháp bảo tồn văn hóa gắn với du lịch Tuy nhiên, đấy mới chỉ là các đề xuất mà chưa có một công trình nào thực sự nghiên cứu về bảo tồn văn hóa Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh gắn với phát triển kinh tế - xã hội hiện nay

Về người Khmer, Nguyễn Hoài Hương có bài viết Chất lượng sống của người Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh (Hội thảo Chất lượng sống của người dân thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh kinh tế hiện nay) Nội dung bài viết

đã khái quát sơ bộ lịch sử hình thành cộng đồng dân tộc Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh, chất lượng sống của người Khmer ở thành phố hiện nay (giáo dục, điều kiện sống và chất lượng sống) Kết luận bài viết, tác giả đã nhận định đời sống của đồng bào dân tộc Khmer có nhiều nét khác biệt so với đồng bào dân tộc Khmer ở các địa phương thuộc đồng bằng sông Cửu Long, sống xen kẽ với người Kinh và Hoa Văn hóa truyền thống cũng thay đổi lớn như trang phục, lễ hội, sinh hoạt hàng ngày Đời sống của người Khmer gặp nhiều khó khăn do trình độ dân trí thấp, sinh kế không ổn định, tỷ lệ hộ nghèo cao Nhìn chung, bài viết mới dừng lại ở mức độ khái quát, trình bày về chất lượng cuộc sống của đồng bào Khmer ở TP Hồ Chí Minh, chưa đề cập sâu đến văn hóa truyền thống Chúng tôi đã tham khảo bài viết trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu trên về kinh tế - xã hội của các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh nêu trên đã bước đầu nhận dạng các vấn đề nổi cộm trong đời sống của các DTTS Tuy nhiên, hoặc là còn sơ lược, hoặc là không tập trung phản ánh riêng về các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh nên nhìn chung đời sống của đồng bào DTTS vẫn còn mờ nhạt, cần được tiếp tục nghiên cứu sâu và đầy đủ hơn

7.3 Nghiên cứu về văn hóa truyền thống các DTTS ở TP Hồ Chí Minh

Dân tộc Hoa hiện chiếm số lượng hơn 400.000 người ở TP Hồ Chí Minh (con số không chính thức) So với dân tộc Chăm và Khmer, đời sống của người Hoa ở TP Hồ Chí Minh khá giả hơn, các hoạt động văn hóa truyền thống của người Hoa được duy trì và bảo tồn thường xuyên hơn, tuy cũng đã nhiều mai một Nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở TP Hồ Chí Minh có nhiều công trình, bài viết liên quan Dưới đây chúng tôi tóm lược một số công trình nghiên cứu có nhiều liên quan:

Văn hóa người Hoa ở TP Hồ Chí Minh của Vũ Lê (Tạp chí Văn học và

ngôn ngữ, ngày 10/4/2009) tập trung nghiên cứu về văn hóa người Hoa trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam, trong sự giao lưu với văn hóa người Kinh, người Khmer, người Chăm Khác với hai cộng đồng DTTS Khmer và Chăm, người Hoa hòa nhập rất nhanh vào kinh tế đô thị và đóng góp không nhỏ vào

Trang 22

phát triển thương mai ở Khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn Hiện nay, người Hoa tập trung đông tại Quận Quận 1, 3, 5, 8, 11 và vẫn duy trì, giữ gìn được văn hóa truyền thống của mình Nhìn chung, người Hoa là một DTTS nhưng có trình độ phát triển kinh tế xã hội cao Tỷ lệ đói nghèo trong cộng đồng người Hoa rất nhỏ, vì người Hoa có tính cộng đồng chặt chẽ Đây là nét đặc sắc trong văn hóa người Hoa ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và khu vực khác nói chung

Về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam bộ của tác giả Nguyễn

Đức Hiệp (nguồn: nghiencuuquocte.org, ngày 19/06/2016) là một cuốn lịch sử thu gọn về lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ Trong đó, tác giả đã rất công phu khi trình bày lại những tên đất, tên người, văn hóa, phong tục đặc sắc của người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ Trong khi trình bày, tác giả đã cho thấy rõ nét hoàn cảnh hình thành nên những nghi lễ, lễ hội, văn hóa của người Minh Hương khi di trú ở Việt Nam, trên vùng đất Nam bộ hoang

vu, sình lầy khi đó Bài viết không dài về dung lượng những đã cung cấp những

tư liệu rất xác thực về văn hóa, lịch sử của người Minh Hương và người Hoa ở Nam bộ Đây thực sự là nguồn tư liệu hữu ích cho chúng tôi trong quá trình khôi phục lại văn hóa cổ truyền của dân tộc Hoa để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Những nét đẹp văn hóa của người Hoa thành phố Hồ Chí Minh của Lê

Quốc Lâm (Tạp chí Văn hóa các dân tộc, số 9/2001) chỉ là một bài viết có dung lượng rất ngắn Nhưng trong đó, tác giả bài viết cũng đã liệt kê được những nét đẹp văn hóa của người Hoa ở TP Hồ Chí Minh như các nghề thủ công truyền thống, kiến trúc, ẩm thực, các lễ hội (Nguyên tiêu, Đoan ngọ, Thanh minh, Lễ Vía Bà Thiên Hậu ) Song cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác sống ở đô thị, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp, nhiều sản phẩm văn hóa truyền thống đang dần bị lãng quên và mai một Bài viết chỉ là phác họa những nét văn hóa đặc sắc của người Hoa chứ chưa không đề cập tới vấn đề bảo tồn hay mai một của văn hóa người Hoa trong bối cảnh hội nhập ở TP Hồ Chí Minh hiện nay

Nội dung cuốn Góp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Hồng Liên (Chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2007) góp

phần tìm hiểu đặc trưng của văn hóa Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh qua các dạng thức văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, biểu hiện trên nhiều lĩnh vực như văn hóa - nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, thể dục thể thao, hội họa, Qua cuốn sách tác giả cho thấy người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện và ý thức giữ gìn nền văn hóa truyền thống của dân tộc mình trong bối cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu mạnh mẽ của thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách đáp ứng yêu cầu tương đối đầy đủ cho những ai quan tâm, muồn tìm hiểu

Trang 23

về văn hóa người Hoa Tuy nhiên, dưới góc nhìn văn hóa, tác giả cũng vẫn chưa làm thật rõ sức mạnh của văn hóa đối với phát triển đời sống, xã hội của cộng đồng Hoa thành phố Hồ Chí Minh, cũng chưa thấy hết được sự cần thiết phải quảng bá nền văn hóa đặc sắc của người Hoa một cách rộng rãi, chuyên nghiệp, góp phần làm nên một thành phố Hồ Chí Minh năng động nhưng cũng đa dạng

về văn hóa dân tộc, tạo thành nguồn lực nội sinh cho phát triển

Những bài viết, nghiên cứu về dân tộc Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh trên đây đã cho thấy được giá trị văn hóa phong phú, giàu có của người Hoa, cần được khai thác, bảo tồn, phát huy Tuy nhiên, chưa có bài viết nào đề cập đến các biện pháp, cách thức để bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Hoa trong bối cảnh hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn Văn hóa phum sóc của người Khơ me Nam Bộ ở xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh của tác giả Trần Văn Ánh (Chuyên ngành Văn

hóa học, Đại học Văn hóa Hà Nội, 1997), thông qua việc khảo sát văn hóa phum sóc của người Khmer ở một địa phương cụ thể đã khái quát một số đặc trưng trong tổ chức đời sống cộng đồng của người Khmer Nam Bộ Qua đó, tác giả cũng đề xuất các mô hình bảo tồn văn hóa gắn với phum sóc của đồng bào Khmer Nam bộ như: Mô hình kết hợp xây dựng và phát triển văn hóa mới trong nhà chùa; mô hình tổ chức, khai thác, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer; Mô hình gắn chặt công tác văn hóa thông tin với các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y tế, thể dục thể thao…Đồng thời, tác giả cũng lưu ý một số vấn đề khi triển khai các mô hình hiện thực cho các thiết chế văn hóa cơ sở đó là: phải căn cứ vào tình hình nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, văn hóa

xã hội của từng địa phương, từng cơ sở trong những giai đoạn nhất định; căn cứ vào tính chất, nội dung, nhiệm vụ sản xuất kinh tế và trình độ phát triển đời sống kinh tế ở địa phương và cơ sở; căn cứ vào vị thế địa lý tự nhiên, các điều kiện giao lưu, giao thông…Có thể nói, dù đã được thực hiện cách đây 20 năm, tuy nhiên, luận văn cũng đã có những đề xuất bảo tồn văn hóa có nhiều điểm gần với nghiên cứu bảo tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

ThS Trang Thiếu Hùng trong bài viết Ảnh hưởng của Phật Giáo Nam Tông đối với ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật của người Khơme Nam Bộ (Tạp

chí Khoa học xã hội Việt Nam, Số 6/2014, tr 95-102) cho rằng Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam nói chung, đối với văn hóa Khơme Nam Bộ nói riêng Bài viết phân tích ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đối với văn hóa của người Khơme Nam Bộ trên bình diện ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật (kiến trúc, điêu khắc, hội họa) Qua đó, tác giả đã chỉ ra sự cần thiết của việc phát huy giá trị ngôn ngữ, chữ viết và văn học nghệ thuật Khơme

Trang 24

Lễ hội tôn giáo của người Khơme Tây Nam bộ - Nhìn từ góc độ giá trị của Võ Văn Thắng, Nguyễn Hùng Cường, Nguyễn Thị Ngọc Thơ (Tạp chí Văn

hóa nghệ thuật số 5/2015, tr16 -20) đề cập đến mối quan hệ giữa lễ hội và lễ hội tôn giáo của người Khơme tại đây Tác giả cũng đã tìm hiểu về những nét đặc trưng của các lễ hội tôn giáo trong chùa của người Khơme Tây Nam Bộ thông qua một số lễ hội như: lễ Phật Đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ dâng y, lễ kiết giới Sima Qua đó, người viết đã cho thấy được những giá trị cơ bản của các lễ hội tôn giáo trong chùa Khơme Tây Nam Bộ: (1) góp phần làm phong phú lễ hội truyền thống nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung; (2) khắc ghi sâu đậm trong đời sống dân tộc Khơme về sự gắn kết cộng động; (3) cân bằng đời sống tâm linh; (4) chứa đựng tính nhân văn sâu sắc; (5) bảo tồn di sản và trao quyền những giá trị văn hóa dân tộc Chúng tôi đã tham khảo bài viết này cho nghiên cứu của mình

TS Lê Văn Lợi có bài viết Bảo tồn, phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ (Tạp chí Khoa học Chính trị

số 4/2015, tr 56-61) với nội dung viết về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Phật Giáo Nam Tông Khmer Qua đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Khmer như: (1) đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; (2) tập trung giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào tại đây; (3) tổ chức tiến hành sưu tập, khảo sát đánh giá lại giá trị văn hóa; (4) bổ sung hoàn thiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị này; (5) nâng cao vai trò của tổ chức Giáo hội Phật giáo Có thể thấy bước đầu tác giả đã đề xuất được một số giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống của văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer Nam bộ

Tác giả Nguyễn Hùng Cường trong bài viết Quan niệm về cái ăn của người Khmer Nam Bộ (Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang, số 2/2013) giới

thiệu đôi nét về văn hóa ẩm thực của người Khmer vùng Tây Nam Bộ như: (1) các món ăn thường ngày (món ăn dân dã, món ăn lễ tết); (2) các món ăn trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo – lễ hội (ở lễ Dolta, lễ Okombok, lễ Chol Chnam Thmây, lễ cúng Arak Phteah, lễ cúng Arak Veal, lễ cúng sân lúa, lễ hỏi, lễ cưới); (3) các loại bánh, mứt và thức uống (người Khmer ít dùng vị ngọt hơn so với các dân tộc cùng cộng cư, họ cũng ít ăn chay hơn người Việt hoặc người Hoa và thói quen sử dụng một số loại thức uống); (4) ăn uống dưới khía cạnh y học Qua đó, tác giả trình bày những nét đặc trưng riêng biệt về văn hóa ẩm thực của người Khmer ở từng vùng như: người Khmer ở Trà Vinh với đồng tộc ở Campuchia;

Trang 25

người Khmer Trà Vinh với các tộc người cư dân bản địa trên địa bàn tỉnh (Việt, Hoa); người Trà Vinh với các tộc người cư dân bản địa vùng Tây Nam Bộ (Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ) Bên cạnh đó, văn hóa ẩm thực của đồng bào Khmer có sự giao lưu, tiếp biến với các dân tộc cùng cộng cư ở Trà Vinh và với các nước Tây Âu, đồng thời ẩm thực của dân tộc này còn gắn liền với các truyền thuyết trong dân gian Bài viết đã cho thấy sự phong phú, độc đáo trong nghệ thuật ẩm thực của dân tộc Khmer Nam bộ; đồng thời, cũng cho thấy được tiềm năng phát triển ẩm thực dân tộc Khmer trở thành một sản phẩm du lịch mới, tạo nguồn sinh kế cho người dân Tuy nhiên, bài viết mới dùng lại ở sự liệt kê các sản phẩm ẩm thực của người Khmer Nam bộ chứ chưa đưa ra được

đề xuất cần làm gì để phát huy, bảo tồn nghệ thuật ẩm thực đặc sắc của người Khmer – với tư cách là một nguồn thu nhập

Loạt bài viết trên về văn hóa tộc người Khmer Nam bộ đã phần nào cho thấy được những nét đặc sắc của văn hóa Khmer Tuy nhiên, các bài viết mới dừng lại ở mức độ phản ánh thuần văn hóa mà chưa đề cập đến sự biến đổi, mai một của văn hóa Khmer trong đời sống hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa như ở thành phố Hồ Chí Minh

PGS.TS Lê Ngọc Thắng trong giáo trình Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Nam bộ Việt Nam (Nxb Đại học Quốc gia, 2009) đã trình bày đầy đủ, chi

tiết về văn hóa các DTTS vùng Nam bộ là Hoa, Chăm, Khmer trên các phương diện văn hóa vật thể (kiến trúc dân gian, trang phục, văn hóa ẩm thực, phương tiện đi lại, công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt), văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, nghệ thuật, văn học, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, tri thức dân gian) và đề xuất cách thức bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS Nam bộ Nhìn chung, cuốn giáo trình đã cung cấp rất hệ thống, đầy đủ về văn hóa các DTTS ở khu vực Nam bộ (Hoa, Chăm, Khmer) và những giải pháp để bảo tồn văn hóa các DTTS Nam bộ trong bối cảnh hội nhập Tuy nhiên, trong cuốn sách, tác giả mới gợi ý giải pháp bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội chứ chưa phân tích, trình bày rõ cần được gắn với kinh tế như thế nào Mặt khác, vì nói chung về các DTTS ở khu vực Nam bộ nên cuốn giáo trình cũng chưa đề cập nhiều đến bảo tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh với những đặc thù khác biệt hoàn toàn so với các địa phương khác ở Nam bộ

Phú Văn Hẳn trong bài viết Tập tục người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh (https://sites.google.com) đã giới thiệu vắn tắt nhưng rất cơ bản về những

phong tục tập quán của người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như giáo lý, ẩm thực, trang phục của phụ nữ, nghi lễ giao tiếp…Bài viết có thể coi là một nét phác thảo về đời sống của cộng đồng người Chăm ở thành phố Hồ Chí

Trang 26

Minh, gợi mở những vấn đề thuộc về đời sống của người Chăm để những ai quan tâm có thể đi tìm hiểu, nghiên cứu Dù chỉ là vài nét phác thảo, nhưng tác giả đã làm nổi bật được sự khác biệt của văn hóa cộng đồng người Chăm với các dân tộc khác ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và các vùng miền khác nói chung

Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu Lịch sử vùng đất Tây Nam bộ (đề

tài khoa học cấp Nhà nước) do GS Phan Huy Lê chủ nhiệm (2009 - 2011) đã nghiên cứu tổng thể những vấn đề về lịch sử vùng đất Tây Nam bộ, những vấn

đề về văn hóa tộc người, mối quan hệ dân tộc, sự đồng tộc, đồng tôn xuyên biên giới… của các chủ nhân vùng đất Nam bộ, trong đó có những nghiên cứu về

người Khmer rất sâu sắc Võ Công Nguyện (2016), Quan hệ đồng tộc xuyên biên giới của một số tộc người thiểu số Đông Nam bộ (Đề tài khoa học cấp bộ)

đã đề cập đến quan hệ đồng tộc xuyên biên giới của một số DTTS ở các tỉnh Tây Ninh và Bình Phước Trong đó cũng phân tích sâu sắc mối quan hệ của đồng bào Khmer với đồng tộc bên kia biên giới Hai nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ phức tạp, nhạy cảm trong mối quan hệ giữa các dân tộc ở Nam bộ với các quốc gia có liên quan như Trung Quốc, Campuchia, cộng đồng các nước Hồi giáo khác Chúng tôi đã kế thừa trong quá trình nghiên cứu về các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh

Văn hóa đa dạng, phong phú của các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh đã được các nghiên cứu trên trình bày khá đầy đủ Chúng tôi có thể kế thừa cho nghiên cứu của mình

7.4 Nghiên cứu về chính sách bảo tồn văn hóa các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer

Hai tác giả Đoàn Trung Dũng, Võ Văn Chỉ trong bài viết Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Khmer Tây Nam bộ trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (Tạp chí Dân tộc, số 167/2014) đã có những phân tích, đánh giá rất sâu sắc

về tác động của toàn cầu hóa đến hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Khmer khu vực Tây Nam bộ Thông qua đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp bảo tồn văn hóa Khmer trong bối cảnh hiện nay, trong đó có đề cập đến việc gắn bảo tồn, phát triển văn hóa Khmer với phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa phát triển văn hóa và kinh tế; hài hòa giữa bảo tồn và phát triển Có thể nói quan điểm của tác giả đề xuất rất trùng hợp với quan điểm tiếp cận của chúng tôi trong nghiên cứu bảo tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài tạp chí, những giải pháp trên mới chỉ dừng lại ở mức độ gợi ý chứ chưa đề xuất được các hoạt động

cụ thể gắn bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế, xã hội Hơn thế, đây là một

Trang 27

nghiên cứu về đồng bào Khmer ở Tây Nam bộ cho nên không hoàn toàn phù hợp với đời sống của người Khmer thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Trong bài viết Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Khmer Nam bộ của

Nguyễn Văn Sỹ (Tạp chí Lý luận chính trị số 2/2016) đã trình bày khái quát giá trị văn hóa của người Khmer Nam bộ, gồm: ngôn ngữ, chữ viết, văn học dân gian, nghệ thuật, kiến trúc, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống…và đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer Nam bộ như: Tổ chức ngày hội văn hóa – thể thao du lịch của đồng bào Khmer Nam bộ, dạy và học tiếng Khmer…Bên cạnh những thành tựu, tác giả cũng đã cho thấy một số hạn chế, bất cập trong bảo tồn văn hóa Khmer hiện nay

Từ đây, bài viết đề xuất một số giải pháp bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer Nam

bộ như: tuyên truyền, bồi dưỡng truyền nghề, tăng cường vai trò của các vị sư sãi, cần có sự phối hợp của các cấp, các ngành, cộng đồng Trong khuôn khổ bài viết, tác giả chưa đề cập được hết những giá trị văn hóa đặc sắc của người Khmer (ẩm thực, tri thức bản địa…); các nội dung đã đề cập cũng mới dừng ở mức độ liệt kê, kể việc chứ; các giải pháp cũng chỉ là những gợi ý tuy nhiên chưa rõ nét Dù vậy, đây cũng là một tài liệu chúng tôi có thể tham khảo trong nghiên cứu

Dưới góc nhìn chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer, Hà Thị Thùy

Dương có bài viết Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Khmer ở Tây Nam bộ (Tạp chí Dân tộc điện tử, ngày 08/11/2013); Phạm Ngọc Hòa có Thực hiện chính sách văn hóa đối với cộng đồng người Khmer vùng Tây Nam bộ (Tạp chí Lý luận chính trị điện tử, ngày 08/10/2015), bên cạnh những

thành tựu tương tự như của tác giả Nguyễn Văn Sỹ ở trên, các tác giả đã nhận định công tác bảo tồn văn hóa còn hạn chế Tác giả kiến nghị cần hoàn thiện lại

hệ thống chính sách bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer Có thể nói đây là số ít các bài viết hiện nay đề cập đến chính sách bảo tồn văn hóa của dân tộc Khmer Tuy nhiên, bài viết đề cập đến người Khmer ở Tây Nam bộ chứ không đề cập đến người Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh Hơn nữa, các kiến nghị, giải pháp cũng mới dùng lại ở những gợi ý chứ chưa đưa phân tích đầy đủ

Dù vậy, các bài viết cũng cho thấy khái quát về các chính sách hiện hành trong bảo tồn văn hóa của dân tộc Khmer ở Tây Nam bộ hiện nay

Nguyễn Thuận Quý (2015), Quan hệ tộc người của người Khmer ở hai bên biên giới Việt Nam - Campuchia (khu vực Tây Nam Bộ), Luận án tiến sĩ

Nhân học, Học viện Khoa học xã hội đã nghiên cứu làm rõ quan hệ tộc người của người Khmer khu vực biên giới Tây Nam Bộ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa thông qua những trục quan hệ: Với Quốc gia dân tộc Việt Nam;

Trang 28

Với các tộc người cận cư; Với người đồng tộc (trong khu vực và xuyên biên giới) Trên cơ sở đó, luận án tập trung phân tích cơ sở pháp lý được thể hiện trong các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer và khu vực Tây Nam Bộ; chỉ ra quá trình phát triển tộc người và xu thế phát triển mối quan hệ tộc người Khmer ở khu vực này; đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng đồng bào Khmer Đồng thời, xác định xu hướng mối quan hệ tộc người Khmer biên giới Tây Nam Bộ trong những năm tiếp theo

Các công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi tổng thuật ở trên đã làm rõ được các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc này Tuy nhiên, các giá trị văn hóa này đang đứng trước nguy cơ mai một và có nguy cơ biến mất Nhưng chưa có nghiên cứu nào công phu, dày dặn để đề cập đến các giải pháp bảo tồn trong đời sống đô thị, gắn với phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng, chưa có bài viết nào nhìn nhận văn hóa các dân tộc như là một nguồn lực mang lại sinh kế bền vững cho cộng đồng Do đó, vấn đề này chúng tôi đã bước đầu tìm hiểu trong nghiên cứu của mình

7.5 Các nghiên cứu về chính sách kinh tế - xã hội đối với các DTTS Chăm, Hoa, Khmer

Đề tài khoa học cấp nhà nước Luận cứ khoa học cho việc xác định chính sách đối với cộng đồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam do PGS.PTS

Phan Xuân Biên làm chủ nhiệm đề tài cùng các cộng sự thực hiện năm (1995) là một công trình nghiên cứu quy mô và đầy đủ về các chính sách đối với người Hoa và người Khmer ở Việt Nam Công trình gồm 5 phần, đáng chú ý trong phần 5, trên cơ sở thực trạng đã được đề cập tới ở các phần trước, nhóm tác giả đã có những kiến nghị về chính sách đối với người Hoa, Khmer cần được đổi mới.Dù đã được đề xuất từ 1995, nhưng nay vẫn là những vấn đề cần được đặc biệt quan tâm, chú ý trong ban hành các chính sách đối với người Hoa và người Khmer ở Việt Nam hiện nay Đây là những nội dung rất quan trọng mà chúng tôi đã kế thừa trong quá trình nghiên cứu việc bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Công trình của Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp (đồng chủ biên): Thực trạng kinh tế- xã hội và những giải pháp xóa đỏi, giảm nghèo ở người Khmer tính Sóc Trăng (Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003) đã khái quát một

bức tranh chung về thực trạng kinh t ế - x ã hội của đồng bào dân tộc Khmer ở tinh Sóc Trăng; chỉ ra nguyên nhân của nghèo đói Trên cơ sở đó, đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao đời sống của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng Tuy nhiên, nghiên cứu thực hiện với người Khmer của Sóc Trăng nên chỉ

Trang 29

có thể áp dụng ở những địa bàn phù hợp ở đồng bằng sông Cửu Long Giữa người Khmer ở Tây Nam bộ nói chung và Sóc Trăng nói riêng có nhiều mối quan hệ mật thiết, do đó, chúng tôi đãcó những tham chiếu trong đánh giá đời sống của đồng bào dân tộc Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Ánh với Thực trạng, giải pháp xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Khmer, Chăm ở khu vực Tây Nam bộ (Đề tài trọng điểm năm 2012, Học

viện Chính trị khu vực IV) đã khảo sát khá toàn diện về cuộc sống của đồng bào Khmer và dân tộc Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó làm cơ sở để đề xuất những giải pháp xóa đói giảm nghèo cho đồng bào hai dân tộc ở vùng này Tuy nhiên, tài liệu này nghiên cứu chung cho cả hai dân tộc nên chưa có sự đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện nguyên nhân nghèo của riêng đồng bào Khmer Do đó những giải pháp mà đề tài đưa ra cũng là những giải pháp được thực hiện chung cho cả hai dân tộc Mặt khác, đối tượng nghiên cứu của đề tài là đồng bào Chăm, Khmer ở Tây Nam bộ nên có nhiều khác biệt so với người Hoa, Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh Dù vậy, đây cũng là một tài liệu có giá trị với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu về bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh

Một loạt các đề tài được Ủy ban Dân tộc thực hiện từ năm 2003 đến 2016

như: TS Hoàng Hữu Bình cùng các cộng sự thực hiện Nghiên cứu xu thế biến đổi, đề xuất giải pháp cải thiện đời sống cho đồng bào các DTTS trong bối cảnh hội nhập và đẩy mạnh CNH, HĐH (Trường Cán bộ Dân tộc, Ủy ban Dân tộc

2013, 2014); Nghiên cứu cơ sở khoa học đổi mới chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng DTTS giai đoạn 2016 – 2020 (TS Bế Trường Thành, Viện Dân tộc, 2015); Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả các chương trình, chính sách dạy nghề cho đồng bào DTTS (TS Bùi Tôn Hiến, Viện Nghiên cứu Nguồn nhân lực và an sinh xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, 2015); Nghiên cứu kết quả thực hiện chủ trương, chính sách đối với người Hoa và những vấn đề đặt ra (TS Phạm Sỹ Thành, Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, ĐH Kinh tế quốc dân, 2016);Sơn Minh Thắng cùng cộng sự thực hiện đề tài: Kết quả thực hiện các chủ trương chính sách đối với người Khmer và những vấn đề đặt ra

(Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc 2016)…Với mục tiêu ban hành cơ chế - chính sách cho các DTTS trong phạm vi cả nước, nên các công trình nghiên cứu trên chỉ khảo sát điểm, có tính đại diện cho mỗi khu vực (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) do đó, việc phân tích, đánh giá, đề xuất cơ chế, chính sách cho 03 dân tộc Hoa, Chăm, Khmer chủ yếu áp dụng cho khu vực nông thôn Còn ở đô thị hầu như không được nói tới Do đó, để biết các chính sách đã tác động đến bảo

Trang 30

tồn văn hóa các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh còn cần phải được nghiên cứu toàn diện và có tính đặc thù hơn

7.6 Đánh giá chung

Trên cơ sở tổng thuật tài liệu nghiên cứu có liên quan, chúng tôi có một vài nhận định về tình hình nghiên cứu lĩnh vực bảo tồn văn hóa truyền thống cho cộng đồng như sau:

- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội (du lịch, nâng cao nhận thức…) cũng đã tương đối đầy đủ để Việt Nam có thể vận dụng vào thực tiễn Chúng tôi cũng đã có học hỏi được nhiều kinh nghiệm về bảo tồn văn hóa của các quốc gia trên thế giới và trong khu vực cho nghiên cứu này

- Công trình nghiên cứu về KT-XH của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer nói chung có rất nhiều, nhưng các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer cư trú ở thành phố Hồ Chí Minh rất ít Các tài liệu này phần lớn đếu ở quy mô nhỏ, dưới dạng bài tham luận hội thảo, bài tạp chí Nội dung được đề cập hoặc ở mức độ khái quát, hoặc ở mức độ chọn “điểm” để trình bày Do đó, chưa có công trình nào thực sự dài hơi, có quy mô lớn nghiên cứu toàn diện về các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

- Chưa có công trình, tài liệu nghiên cứu nào nghiên cứu công tác bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS trên địa bàn TP Hồ Chí Minh gắn với phát triển KT-XH, coi văn hóa là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã tổng thuật vẫn đang nhìn văn hóa, bảo tồn văn hóa theo quan điểm bảo tồn nguyên trạng nên không phù hợp với thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay khi môi trường sống đã có nhiều thay đổi

- Chưa có bất cứ công trình, tài liệu nào nghiên cứu, đánh giá về việc tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước hay của riêng thành phố Hồ Chí Minh đến văn hóa truyền thống của các DTTS (mặt tích cực, tiêu cực) Mà trên thực tế, muốn bảo tồn văn hóa truyền thống nói chung và các DTTS nói riêng cần phải bắt đầu từ cơ chế, chính sách với chiến lược, kế hoạch bảo tồn, phát triển, hỗ trợ

Từ những nhận định trên, chúng tôi thấy không có công trình nào trùng với đề tài chúng tôi nghiên cứu, dù có trùng hợp về đối tượng, địa bàn nghiên cứu ở chỗ này hay chỗ khác là bởi cách tiếp cận khác nhau Do đó, với cách tiếp cận bảo tồn và phát triển, chúng tôi đã tìm ra được những phương pháp, cách thức phù hợp để bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện chất lượng sống, nâng

Trang 31

cao mức sống về vật chất và tinh thần cho cộng đồng DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2025, tầm nhìn 2030

8 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

8.1 Phương pháp nghiên cứu

8.1.1 Phương pháp điều tra xã hội học

Điều tra xã hội học là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một

sự kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu …Thực chất, điều tra xã hội học là trưng cầu ý kiến quần chúng, được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp, thảo luận hay bằng hệ thống câu hỏi (bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp…) Kết quả số liệu của điều tra xã hội học bằng bảng hỏi sẽ được chúng tôi sử dụng để đánh giá: Thực trạng bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS, tác động của các chính sách phát triển KT-XH đến bảo tồn văn hóa truyền thống; thực trạng đời sống của các DTTS; đồng thời, làm căn cứ để triển khai các nội dung của

mô hình, đề xuất giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS ở TP Hồ Chí Minh Ở nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện điều tra bằng hình thức bảng hỏi

* Số lượng mẫu phiếu: 02 mẫu phiếu (trên 30 chỉ tiêu)

Mẫu 1: Dành cho hộ gia đình là người DTTS (Chăm, Hoa, Khmer)

Mẫu 2: Dành cho các chuyên gia, nhà quản lý, cán bộ, công chức, nhân viên… đang làm việc tại các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp liên quan trên địa bàn thành phố (tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn, các cấp chính quyền; các

sở, ngành (dân tộc, văn hóa…) có liên quan; các doanh nghiệp kinh doanh du lịch – lữ hành;…) Để cho ngắn gọn cho tên mẫu phiếu, trong nghiên cứu này

chúng tôi gọi là “Mẫu phiếu dành cho cán bộ”

* Số lượng phiếu điều tra: 900 phiếu

- Mẫu 1: 100 phiếu/địa bàn khảo sát x 06 điểm = 600 phiếu

- Có đông đồng bào DTTS Hoa (quận 5, 6, 11), Chăm (quận 8, Phú Nhuận) sinh sống

Trang 32

- Dân cư sống tập trung thành cộng đồng: dân tộc Chăm (Quận 8, Phú Nhuận), dân tộc Khmer (Quận Tân Bình, Quận 3), dân tộc Hoa (Quận 5, 11)

- Tập trung nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS có tiềm năng phát triển thành các điểm/trung tâm du lịch…mang lại lợi ích cho cộng đồng (chùa, miếu, thánh đường, chợ, khu phố ẩm thực, thủ công mỹ nghệ…) như: (1) Người Hoa: Miếu Bà, Hội quán Tuệ Thành của dân tộc Hoa (Quận 5), Hội quán Nhị Phủ (Quận 5); Diễu hành Nguyên tiêu đường phố trên tuyến phố Châu Văn Liêm, Lão Tử, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo…(Quận 5); (2) Dân tộc Khmer: Chùa Chantarangsay (Quận 3), Chùa Pothivong (Quận Tân Bình); Thánh đường của cộng đồng người Chăm Islam (Quận Phú Nhuận, Quận

5, Quận 1, Quận 8)…

* Chọn mẫu:

- Mẫu 1: Dành cho hộ gia đình

Căn cứ trên các số liệu thống kê của Tổng cục thống kê về thu thập thông tin kinh tế - xã hội của 53 DTTS, số liệu công bố về các DTTS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, số liệu của Ban Dân tộc thành phố nhóm nghiên cứu đã chọn địa bàn nghiên cứu có chủ đích là các quận 5, 6, 8, 11, Bình Tân, Phú Nhuận, huyện Bình Chánh để khảo sát, điều tra Tại mỗi quận/huyện, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục chọn mỗi quận/huyện 01 địa bàn (một khu dân cư/khu phố) để khảo sát (các địa bàn này đáp ứng ít nhất 2/3 tiêu chí đã đề cập ở trên): + Dân tộc Hoa: chọn 03 địa bàn tại Quận 5 và Quận 11, Quận 6

+ Dân tộc Chăm: Chọn 02 địa bàn khảo sát ở Quận 8 và Quận Phú Nhuận + Dân tộc Khmer: Chọn 03 địa bàn khảo sát ở Quận Tân Bình, Bình Tân và Quận 3

Ở mỗi địa bàn nghiên cứu, trên cơ sở bảng tổng hợp dân cư (có đủ thông tin về nghề nghiệp, giới tính, dân tộc, năm sinh) được cung cấp bởi chính quyền địa phương, nhóm nghiên cứu đã chọn 100 người có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, là người thuộc DTTS đang điều tra trên địa bàn (Hoa, Chăm, Khmer), không phân biệt nam nữ theo trật tự từ đầu danh sách cho đến khi đủ 100 người Cách chọn mẫu điều tra hộ gia đình theo phương pháp này đảm bảo người cung cấp thông tin được lựa chọn ngẫu nhiên trong danh sách, không chịu ảnh hưởng bởi chủ kiến của người điều tra (người quen, không thích người đó, chọn người theo cảm tính ), do đó, thông tin thu thập được khách quan, mang tính đại diện cho nhiều thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính trong cộng đồng

- Mẫu 2: Dành cho cán bộ

Đối tượng thu thập thông tin của mẫu phiếu này tương đối rộng so với Mẫu điều tra hộ gia đình (Mẫu 1) Bởi vậy, trong quá trình chọn mẫu, tương đối khó

Trang 33

để khoanh vùng đối tượng và xác định số lượng Bởi vậy, chúng tôi đã khảo sát

300 phiếu điều tra (trên 30 chỉ tiêu) Đối tượng và phiếu điều tra được chọn lựa, phân bổ như sau:

+ Cán bộ, công chức đang làm việc ở khu phố, xã/phường, quận/huyện có liên quan đến các DTTS (Hoa, Chăm, Khmer): 180 phiếu (tương đương với mỗi quận/huyện triển khai mô hình: 30 phiếu/quận/huyện) Vì đây là đối tượng trực tiếp quản lý cộng đồng dân cư, hiểu rõ về thực trạng văn hóa của các dân tộc đó trong bối cảnh hiện nay

+ Công chức đang làm việc tại các sở, ngành có liên quan của thành phố (Ban Dân tộc, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Sở Lao động – Thương binh

và xã hội, Ban Dân vận, Hội Liên hiệp phụ nữ ): 50 phiếu

+ Người đang làm việc tại doanh nghiệp về du lịch, lữ hành; trung tâm xúc tiến du lịch: 70 phiếu

Đối tượng cung cấp thông tin đa dạng đã cho chúng tôi những thông tin nhiều chiều (từ góc nhìn của nhà nước và doanh nghiệp), cung cấp cơ sở cho việc đánh giá thực trạng bảo tồn văn hóa, thực trạng tác động của chính sách phát triển kinh tế - xã hội đến văn hóa từ cái nhìn của người ngoài cộng đồng

và giải pháp để biến văn hóa từ di sản trở thành tài sản, nội lực phát triển cộng đồng DTTS khả thi, hiệu quả

8.1.2 Phương pháp điền dã dân tộc học (quan sát, ghi chép)

Các DTTS có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý, trình độ nhận thức mà những câu trả lời trong các bảng hỏi dành cho hộ gia đình chưa hoàn toàn xác thực Để nhằm có thêm những thông tin đưa ra nhận định, kết luận về thực trạng bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS, sự tác động của chính sách đến văn hóa truyền thống các DTTS, giải pháp bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội Do được thu nhận trực tiếp bởi chính người nghiên cứu, nên thông tin thu được rất đáng tin cậy, được lưu lại bằng các hình ảnh, mà điều tra bằng phiếu hỏi không thể thu nhận được

8.1.3 Phương pháp cùng tham gia với cộng đồng (thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu,…)

Hiện nay, điểm yếu trong rất nhiều nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách ở Việt Nam là bỏ qua vai trò của cộng đồng trong tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến chính bản thân họ Nên dẫn đến cơ chế, chính sách ban hành không phù hợp, không thực hiện được Kéo theo lãng phí nguồn lực Bởi vậy, ở nghiên cứu này, chúng tôi coi phương pháp cùng tham gia của người dân là một phương pháp quan trọng để phát huy tối đa vai trò của cộng đồng trong các vấn đề bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến dân tộc đó Phương pháp này

Trang 34

sẽ được sử dụng trong các nhiều tình huống, trường hợp khác nhau với người dân

về các nội dung, phương pháp, cách thức triển khai mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống ở tại cộng đồng

Mục đích phương pháp này hướng đến:

Thứ nhất, tăng cường cơ hội, điều kiện để cộng đồng DTTS có thể tham

gia nhiều nhất vào hoạt động tìm hiểu và giải quyết các vấn đề của bản thân họ;

Thứ hai, Lắng nghe ý kiến của cộng đồng DTTS ở khu vực đô thị, đặc

biệt chú ý đến nhóm dân tộc có điều kiện sống khó khăn và khép kín hơn (Khmer, Chăm); Tôn trọng ý kiến, quan điểm, cách nhìn nhận, lý giải vấn đề, kinh nghiệm và kiến thức của cộng đồng;

Thứ ba, tăng cường tối đa cơ hội cho cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên

cứu tham gia vào các hoạt động của bảo tồn văn hóa truyền thống của chính họ

Thứ tư, mọi người cùng hiểu nhau và giúp nhau cùng phát triển;

Thứ năm, hạn chế tối đa hiện tượng áp đặt văn hóa, nếp nghĩ của dân tộc

đa số, của những người ngoài cuộc đến các DTTS trên địa bàn

Địa bàn thực hiện: Tại 07 địa bàn (khu phố/khu dân cư) 07 quận, huyện

(Quận 5, 11; Quận 8, Quận Phú Nhuận; Q Tân Bình, Q Bình Tân và Quận 3)

Quy mô: Toàn bộ người dân trong cộng đồng

Nội dung: Trao đổi với người dân trong cộng đồng về cuộc sống hàng ngày

của họ: sinh kế, thu nhập, khó khăn, thuận lợi trong bảo tồn văn hóa truyền thống; những nhu cầu, mong muốn của người dân về giải pháp, cách thức để bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội…

Ngoài các phương pháp trên, một số phương pháp khác cũng được sử

dụng trong báo cáo này là: Phương pháp chuyên gia, phương pháp dự báo, phương pháp phân tích thống kê phục vụ cho các Chương II, III , Kết luận, kiến

nghị của nghiên cứu

8.2 Kỹ thuật xử lý thông tin

- Xử lý kết quả điều tra, nghiên cứu sử dụng các chương trình phổ biến như: Excel, SPSS để chiết xuất các loại thông tin phục vụ nội dung nghiên cứu

- Các loại sơ đồ, biểu đồ được sử dụng để mô tả, giải thích, làm rõ các thuộc tính bản chất, xu thế của đối tượng nghiên cứu

9 Cách tiếp cận nghiên cứu

- Tiếp cận Văn hóa và phát triển: Cách tiếp cận này cho phép chúng tôi

xem xét, đánh giá việc bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS trong mối quan

hệ “động”, không bó hẹp, đóng khung hoàn toàn theo truyền thống mà cần có những thay đổi để thích ứng với cuộc sống hiện đại trên cái nền cơ bản của truyền thống, trong bối cảnh môi trường sản sinh văn hóa hiện nay đã có nhiều

Trang 35

biến đổi so với môi trường cư trú truyền thống của đồng bào DTTS trước kia Mặt khác, cách tiếp cận này cũng giúp chúng tôi nhìn nhận bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS ở TP Hồ Chí Minh như là một hoạt động, một bộ phận quan trọng đóng góp vào sự phát triển KT-XH của cộng đồng DTTS nói riêng

và TP Hồ Chí Minh nói chung Cách tiếp cận này được sử dụng chủ yếu trong việc lựa chọn các sản phẩm văn hóa truyền thống có khả năng phát huy giá trị mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho người dân thông qua phục vụ nhu cầu của khách tham quan, du lịch trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Tiếp cận Nhân học văn hóa: Mỗi dân tộc có cách thức tổ chức cộng đồng,

phong tục, tập quán, môi trường cư trú… khác nhau Đặc biệt, đối với 03 DTTS

có dân số đông ở TP Hồ Chí Minh là Hoa, Chăm, Khmer không cùng ngữ hệ, chịu ảnh hưởng bởi tôn giáo, tín ngưỡng khác biệt nên việc bảo tồn văn hóa truyền thống của các dân tộc này không thể áp dụng chung một phương pháp, cách thức Cách tiếp cận Nhân học dân tộc sẽ định hướng cách nghiên cứu, đánh giá, phân tích, giải pháp…bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển KT-

XH các DTTS (Hoa, Chăm, Khmer) phải tính đến các yếu tố khác biệt về môi trường, tâm lý dân tộc, văn hóa cộng đồng để có những kiến giải cho phù hợp với từng dân tộc Do đó, cách tiếp cận này sẽ tránh được cách nhìn đơn giản, phiến diện, thiếu biện chứng trong cách bảo tồn văn hóa của các DTTS ở TP Hồ Chí Minh, trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt của chủ thể văn hóa Cách tiếp cận này được sử dụng trong cách thức triển khai hoạt động bảo tồn văn hóa (truyền nghề, dạy nghề, phương pháp ) sao cho phù hợp với văn hóa, tâm lý, nhận thức của mỗi dân tộc Hoa, Chăm (Islam), Khmer trên địa bàn thành phố, tránh sự

“cào bằng” đối với các dân tộc

- Tiếp cận kinh tế: Hiện nay, trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu, văn

hóa không chỉ là mục tiêu, động lực để phát triển kinh tế - xã hội mà nó là nguồn lực nội sinh quan trọng, tác động trực tiếp và gián tiếp vào quá trình ổn định, tăng trưởng bền vững của quốc gia, làm nên sức mạnh của dân tộc Do đó, cách tiếp cận này cho phép chúng tôi nhìn nhận việc bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS (Hoa, Chăm, Khmer) ở TP Hồ Chí Minh hiện nay như là một trong các nguồn sinh kế góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và cộng đồng; đồng thời đóng góp vào sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Mặt khác, dưới góc nhìn kinh tế, cũng cho phép chúng tôi trong quá trình chọn lựa các sản phẩn văn hóa để bảo tồn gắn với phát triển kinh tế - xã hội cần coi là một loại hàng hóa, cũng cần phải đáp ứng nhu cầu, thị hiếu đa dạng, phong phú của thị trường Điều này có nghĩa sản phẩm văn hóa đưa ra thị trường cần phải đặc sắc, có chất lượng, mang bản sắc

Trang 36

riêng của mỗi dân tộc, đảm bảo để gây ấn tượng tốt đẹp với người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, phong cách phục vụ (khách du lịch, người dân ) Tuy nhiên, đây là tài sản văn hóa cần hết sức thận trọng trong quá trình khai thác, bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội, tránh thương mại hóa văn hóa làm biến dạng văn hóa

- Tiếp cận phát triển xã hội bền vững: Trong nhiều năm qua, với quan

điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”, văn hóa truyền thống của Việt Nam nói chung và các DTTS nói riêng được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư nguồn lực để bảo tồn và phát triển Tuy nhiên, thực tế đã có nhiều địa phương thất bại trong bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống khi thiếu sự đầu tư có chiều sâu các nguồn lực, không huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, các cấp chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội cùng vào cuộc nên ở nhiều nơi, nhiều địa phương văn hóa truyền thống các dân tộc được bảo tồn một cách méo mó, biến dạng, không được cộng đồng chấp nhận; cộng đồng dân cư – chủ thể văn hóa – hầu như không được tham dự vào các quá trình xây dựng, ra quyết định đối với các vấn đề của cộng đồng mình Từ thực tế trên, bảo tồn văn hóa dưới góc nhìn phát triển xã hội bền vững sẽ định hướng cho việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS ở TP Hồ Chí Minh theo hướng bền vững, có chiều sâu và đồng bộ, được cộng đồng ủng hộ, đồng thuận Quan điểm tiếp cận này sẽ xuyên suốt trong mỗi hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng DTTS ở thành phố không đi lệch hướng Đảm bảo phát triển kinh tế, gắn với phát triển xã hội, bảo tồn văn hóa bền vững

- Tiếp cận liên ngành: Văn hóa có trong mọi lĩnh vực của đời sống từ vật

chất đến tinh thần; môi trường cư trú với các điều kiện tự nhiên – xã hội khác nhau sẽ hình thành nên các giá trị, sản phẩm, nền văn hóa đa dạng, mang dấu ấn của dân tộc, giai cấp, thời đại, môi trường sống Bởi vậy, nghiên cứu về bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS ở TP Hồ Chí Minh cần phải có cách tiếp cận liên ngành về văn học, nghệ thuật, địa lý, môi trường, kinh tế, tôn giáo, kiến trúc, lịch sử mới có thể lý giải được sự xuất hiện, mai một, biến mất của một sản phẩm, một nền văn hóa và mới có thể có cơ sở để khôi phục, bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống các DTTS được đồng bộ, bền vững, biện chứng Cách tiếp cận này được sử dụng trong tất cả các nội dung của quá trình nghiên cứu Các cách tiếp cận cơ bản trên đây sẽ giúp chúng tôi nghiên cứu vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS ở TP Hồ Chí Minh được toàn diện, khách quan và phù hợp thực tiễn

Trang 37

10 Tổ chức phối hợp

Các đơn vị, tổ chức phối hợp thực hiện nội dung này:

10.1 Ban Dân tộc TP Hồ Chí Minh

- Tham gia xây dựng mẫu phiếu khảo sát, lựa chọn địa bàn

- Trực tiếp khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu tại địa bàn

- Tham gia xử lý phiếu điều tra

10.2 UBND các Quận 3, 5, 6, 8, 11, Tân Bình, Bình Tân, Phú Nhuận

- Tham gia chọn địa bàn, đối tượng khảo sát

- Chỉ đạo các Phường trực thuộc tham gia khảo sát, điều tra

Trang 38

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Văn hóa

Văn hóa là một khái niệm rộng, đa nghĩa, đa tầng Đến nay, có khá nhiều định nghĩa về văn hóa, nhưng hầu hết các định nghĩa đều xoay quanh 2 xu

hướng: một là, định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố về văn hóa; hai là, định

nghĩa nêu đặc trưng của văn hóa Các xu hướng có thể khác nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm rất quan trọng là khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên, nơi nào có con người là nơi đó có văn hóa, văn hóa là sản phẩm thích ứng giữa con người với tự nhiên

Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ý nghĩa của văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hoá”1

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động 2 Cách hiểunày đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên

chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise”

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) khi đề cập đến phạm vi của văn hóa

đã cụ thể thành 8 lĩnh vực lớn, đó là: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; di sản văn hóa; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hóa với thế giới; thể chế và thiết chế văn hóa

Mặc dù, có nhiều định nghĩa khác nhau, song về cơ bản, các quan điểm thống nhất cho rằng:

- Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

ra, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội Những giá trị vật chất

và tinh thần đó làm nên hệ giá trị xã hội, là một thành tố cốt lõi tạo ra bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và mọi hoạt động của con người sống trong cộng đồng ấy

- Văn hóa được ra đời do nhu cầu của con người Tuy nhiên, không phải

1Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 433

2 Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise

Trang 39

sản phẩm nào do con người làm ra cũng được gọi là văn hóa Một sản phẩm chỉ được coi là văn hóa khi nó có tính giáo dục, nhân sinh và nằm trong một chỉnh thể chung được cộng đồng, xã hội chấp nhận

- Sản phẩm văn hóa có sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, cộng đồng này với cộng đồng khác là bởi chủ thể văn hóa – con người – sinh sống ở các môi trường tự nhiên, xã hội khác nhau nên sẽ sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa mang đậm dấu ấn của môi trường đó Theo đó, cư dân miền sông nước sẽ khác với cư dân trên núi cao; cư dân du mục sẽ khác với cư dân trồng lúa nước

Từ đây, có thể nói, các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc chính là môi trường tự nhiên, xã hội – môi trường sống Do vậy, khi môi

trường sống thay đổi, văn hóa biến đổi là điều tất yếu

1.1.2 Văn hóa truyền thống

Mỗi dân tộc dù văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị ấy chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua thời gian để tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển cộng đồng, đất nước Vậy những giá trị văn hóa nào được coi là văn hóa truyền thống? Giáo sư Trần Văn Giàu trong cuốn

Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, 2011) định nghĩa: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí, không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa khái niệm “giá trị truyền thống” Còn GS Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối

ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện đưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận” (Tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998)

Từ những khái niệm về văn hóa truyền thống, có thể nhận thấy một số đặc trưng của văn hóa truyền thống như sau:

Thứ nhất, văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi nó là chuẩn mực,

thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, dân tộc, quốc gia Mỗi thành viên trong cộng đồng, dân tộc, quốc gia có trách nhiệm giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đó để tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia

Trang 40

Thứ hai, tính nhân sinh, cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng

xã hội do con người sáng tạo ra (nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo)

Thứ ba, tính ổn định, những giá trị của văn hóa truyền thống được kết

tinh qua thời gian, chọn lọc qua nhiều thế hệ, trở thành chân, thiện, mỹ được cộng đồng, xã hội công nhận Văn hóa truyền thống trở thành những khuôn mẫu được cố định hóa dưới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận xã hội, pháp luật

Thế nên, bảo tồn, giữ gìn văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia chính là bảo tồn, lưu giữ những giá trị tốt đẹp có tác động gắn kết, định hướng hành vi của mỗi thành viên trong cộng đồng; đồng thời còn là giữ gìn bản sắc của mỗi dân tộc, cộng đồng, quốc gia Vì những ý nghĩa tốt đẹp của văn hóa truyền thống mà Nghị quyết TW 5, khóa 8 cũng đã xác định “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, với sự đa dạng của 54 nền văn hóa thành phần, độc đáo của người Kinh và 53 DTTS

1.1.3 Bảo tồn văn hóa

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”1 Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Bảo tồn và phát huy là hai việc khác nhau, hai công đoạn khác nhau nhưng luôn gắn kết, song hành cũng như tương tác, bổ trợ cho nhau đối với việc gìn giữ, bảo lưu, quảng bá tốt hơn những giá trị cốt lõi của các yếu tố văn hóa đặt trong mục tiêu chung của phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Qua đó, xác định những yếu tố văn hóa còn phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn,

cũng như hạn chế hoặc loại bỏ những yếu tố lạc hậu

Theo Luật Di sản Văn hóa Việt Nam, bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu

tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia2 Song song với việc giữ gìn và phát triển di sản văn hoá dân tộc, cần tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, sáng tạo nên những giá trị mới”

Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu, bảo tồn văn hóa là giữ gìn, lưu lại những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội Theo đó, dù ở phạm vi, mức độ nào, thì

bảo tồn văn hóa không chỉ là bảo tồn di tích văn hóa (tức là gìn giữ, lưu lại các

1 Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr.39

2Luật Di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dân thi hành (2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê dân tộc Khmer tại TP. Hồ Chí Minh 2 - Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng dân tộc thiểu số chăm hoa khmer trên địa bàn thành phố hồ chí minh từ nay đến năm 2025 tầm nhìn 2030
Bảng 1 Thống kê dân tộc Khmer tại TP. Hồ Chí Minh 2 (Trang 58)
Bảng số liệu khảo sát cho thấy đa số người dân thuộc các DTTS ở thành  phố  Hồ  Chí  Minh  chưa  được  tham  gia  đào  tạo  nghề - Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng dân tộc thiểu số chăm hoa khmer trên địa bàn thành phố hồ chí minh từ nay đến năm 2025 tầm nhìn 2030
Bảng s ố liệu khảo sát cho thấy đa số người dân thuộc các DTTS ở thành phố Hồ Chí Minh chưa được tham gia đào tạo nghề (Trang 77)
Bảng 3: Tình trạng di cư của người DTTS ở TP. Hồ Chí Minh 1 - Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng dân tộc thiểu số chăm hoa khmer trên địa bàn thành phố hồ chí minh từ nay đến năm 2025 tầm nhìn 2030
Bảng 3 Tình trạng di cư của người DTTS ở TP. Hồ Chí Minh 1 (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w