1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh thpt 15 18 tuổi tại tp hồ chí minh và thử nghiệm biện pháp tác động nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh

200 10 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh thpt 15-18 tuổi tại tp.hồ chí minh và thử nghiệm biện pháp tác động nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ánh Hồng
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh có nhiều yếu tố từ nhà trường, gia đình, xã hội, tuy nhiên trong những hiện tượng suy sụp của lứa tuổi học đường, chúng ta thấy nổi cộm

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHOA GIÁO DỤC

GIÁO DỤC GIA ĐÌNH CHO CHA MẸ HỌC SINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 05/2012

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình Việt Nam đã và đang có những chuyển mình rất lớn, thay đổi để thích ứng với những đổi thay mạnh mẽ về kinh tế, xã hội trước và trong giai đoạn đầu của hội nhập Những chuyển biến của xã hội – phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa, – đang dội mạnh đến từng tế bào căn bản của xã hội - gia đình

Nhìn về mặt kinh tế và cấu trúc gia đình, gia đình Việt Nam được xem là có khả năng và đang thích ứng khá kịp thời với những chuyển biến xã hội nhưng trên bình diện giáo dục – nếp nghĩ, cách nuôi dạy con cái trong gia đình lại đang đối mặt với nguy cơ khủng hoảng Những vụ tự tử tập thể và hàng chục vụ tự tử riêng lẻ của các em ở lứa tuổi học sinh trong những năm qua đã thực sự gây sốc rất mạnh trong

xã hội và đặt giáo dục trong tình trạng “báo động đỏ”

Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh có nhiều yếu tố từ nhà trường, gia đình, xã hội, tuy nhiên trong những hiện tượng suy sụp của lứa tuổi học đường, chúng ta thấy nổi cộm lên vấn đề giáo dục trong gia đình: con cái không tìm được nguồn động viên, sự cảm thông, nâng đỡ từ cha mẹ Điều này đã được chỉ ra trong nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Mùi và các cộng sự thuộc khoa Tâm lý Đại học Sư phạm Hà Nội [55] Các tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên 546 em học sinh THCS và THPT, kết quả cho thấy: 96% học sinh có băn khoăn, lo lắng ở những mức độ khác nhau và đáng lo ngại hơn là có tới 44% số học sinh khi gặp những khó khăn thường “âm thầm chịu đựng”, 27,75% giới teen đang gặp những khó khăn trong quan hệ với người khác (cha mẹ, gia đình, quan hệ với bạn bè và thầy cô giáo ) và 20% bối rối trong việc ý thức về các vấn đề của bản thân (sự đánh giá của người khác về mình, sự tự phát triển của bản thân, học tập, tu dưỡng đạo đức, ước mơ, lý tưởng và nghề nghiệp tương lai…) Theo nghiên cứu này, điều rất đáng quan tâm là “nguyên nhân gây khó khăn tâm lý cho học sinh xuất phát từ chính quan hệ với cha mẹ! Có tới 85% học sinh chịu sức ép từ phía gia đình và khó khăn từ phía bản thân, trong khi những nguyên nhân xuất phát từ phía nhà trường chiếm tỷ lệ thấp, 14,9%.”

Trang 3

2

Rõ ràng giáo dục gia đình đang trở thành vấn đề hết sức cấp bách, nhất là khi gia đình đang đối mặt với những thách đố đến từ sự chuyển biến trong xã hội Mặt khác, các nghiên cứu khoa học về giáo dục gia đình tại Việt Nam còn quá ít, chưa đáp ứng được nhu cầu giải quyết các vấn đề hết sức cấp bách của gia đình và xã hội Việt Nam hiện đại Vì vậy, việc nghiên cứu lĩnh vực này là thực sự cấp thiết

Học sinh THPT trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách với đặc trưng cơ bản đó là sự tự ý thức và tự đánh giá phát triển mạnh mẽ Cùng với sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, mối quan hệ của các em với cha mẹ có nhiều đặc điểm khác với lứa tuổi thiếu niên: cha mẹ không còn trực tiếp đưa đón các em đến trường, chăm lo mọi sinh hoạt của các em, thường xuyên tâm sự cùng các em,…Các em với mong muốn tự lập, tự khẳng định mình; nếu không được nâng đỡ, chia sẻ và hướng dẫn các em rất dễ “trượt dốc”, rơi vào khủng hoảng và dẫn đến các vấn đề xã hội đang nhức nhối ở nước ta, đặc biệt ở các thành phố lớn như TP.HCM

Do vậy, cùng với giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình có ý nghĩa rất quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh THPT Vậy thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT ở TP.HCM hiện nay như thế nào?, ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến sự phát triển nhân cách của học sinh ra sao? Để trả lời câu hỏi

đó và có cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp giáo dục gia đình tích cực,

chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT

(15-18 tuổi) tại TP Hồ Chí Minh và thử nghiệm biện pháp tác động nâng cao kiến thức và kĩ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh”

2 Mục đích nghiên cứu:

Tìm hiểu thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT (15-18 tuổi) tại TP.HCM, lý giải nguyên nhân cơ bản của thực trạng và thử nghiệm chương trình bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh THPT nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gia đình ở lứa tuổi này

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Thực trạng giáo dục của cha mẹ đối với học sinh THPT

- Chương trình, phương pháp bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh

Trang 4

3

4 Giả thuyết khoa học:

- Phần lớn cha mẹ học sinh THPT tại tp HCM có nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của giáo dục gia đình và đã thực sự quan tâm đến nhiều mặt trong việc giáo dục con cái

- Bên cạnh những mặt tích cực trong nội dung và phương pháp, giáo dục của cha mẹ đối với học sinh THPT cũng còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ

- Nếu có nội dung, phương pháp bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao kiến thức, kĩ năng giáo dục con cái ở họ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu lí luận nhằm xác định cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng giáo dục gia đình

5.2 Tìm hiểu sự đánh giá của cha mẹ và học sinh về các vấn đề liên quan đến giáo dục gia đình

5.3 Thử nghiệm chương trình bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh

6 Khách thể và phạm vi nghiên cứu:

6.1 Khách thể nghiên cứu :

- Cha mẹ học sinh và các con của họ đang học tại các trường THPT tại TP.HCM

- Giáo viên chủ nhiệm và đại diện lãnh đạo nhà trường

Một số đặc điểm về khách thể nghiên cứu:

Đặc điểm về cha mẹ học sinh:

+ Thành phần gia đình

Thành phần gia đình Số lượng Tỉ lệ (%)

Cha mẹ,con, ông/bà hoặc các thành viên khác 126 25.2

Chỉ có cha hoặc mẹ và con 51 10.2

Cha ruột, mẹ kế hoặc mẹ ruột, cha kế và con 6 1.2

Trang 5

+Nghề nghiệp của cha mẹ

Nghề nghiệp của cha mẹ Số lƣợng Tỉ lệ (%)

+ Số lƣợng con trong gia đình

Số lƣợng con trong gia đình Số lƣợng Tỉ lệ (%)

Trang 6

- Thử nghiệm nội dung và phương pháp giáo dục gia đình nhằm nâng cao một

số kiến thức, kĩ năng cơ bản trong việc giáo dục gia đình phù hợp với lứa tuổi học sinh THPT:

+ Thử nghiệm về nội dung đào tạo: Kiến thức về sự phát triển tâm sinh lí của học sinh lứa tuổi THPT; Kiến thức và kĩ năng cơ bản về giáo dục gia đình; Những vấn đề về sức khỏe thể chất, tinh thần, sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi THPT

+ Thử nghiệm phương pháp đào tạo: phương pháp tương tác và cùng tham gia

Về khách thể nghiên cứu :

Chúng tôi thực hiện khảo sát trên: 502 cha mẹ và 502 con của họ đang theo

học tại 6 trường THPT tại tp.HCM: THPT Nguyễn Huệ, Q9; THPT Mạc Đĩnh Chi, huyện Củ Chi; THPT DL Đông Đô; THPT DL Đăng Khoa, Q1; THPT Mạc Đĩnh Chi, Q6; THPT Marie Curie

Về thời gian khảo sát: cuối năm học 2009 – 2010

7 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 7

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

- Bảng hỏi được khảo sát trên 502 gia đình học sinh THPT (cha hoặc mẹ và con) cư ngụ tại tp.HCM theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn:

+ Mẫu được chọn theo cụm trường phân bố ở khu vực: nội thành, vùng ven

và ngọai thành Sau đó được chọn theo cụm lọai hình trường: công lập và dân lập và chọn theo khối lớp: 10, 11, 12

+ Trên cơ sở số lượng học sinh mỗi khối lớp, ở mỗi trường tiến hành chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện

- Bảng hỏi dành cho cha mẹ học sinh được phát cho 502 cha/ mẹ học sinh gồm

2 phần:

Phần 1: thông tin chung về gia đình, điều kiện kinh tế gia đình, cấu trúc gia đình; trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ

Phần 2: Những vấn đề liên quan tới nội dung chính của đề tài

- Bảng hỏi dành cho học sinh được phát cho 502 học sinh THPT trong các gia đình trên Trong bảng hỏi cũng có 2 phần: phần 1 là những thông tin cá nhân của học sinh; phần 2 có một số câu hỏi được xây dựng với nội dung tương đồng với câu hỏi dành cho cha mẹ học sinh để so sánh

7.3 Phương pháp phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu cá nhân

- Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 9 nhóm tập trung: đối với các chuyên gia

(1 nhóm), cha mẹ học sinh (3 nhóm) và học sinh (3 nhóm), giáo viên (2 nhóm) Các cuộc phỏng vấn đều có Bảng hướng dẫn và được đưa trước khi phỏng vấn

- Chúng tôi đã tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia về tâm

lí học, giáo dục học, xã hội học; cha mẹ học sinh, học sinh; lãnh đạo và giáo viên một số trường THPT tại TP HCM., trước và sau khảo sát

Các cuộc phỏng vấn đều được ghi băng và được gỡ ra thành các biên bản phỏng vấn

Trang 8

7

7.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study): chúng tôi

đã nghiên cứu sâu về cách thức giáo dục con của 8 gia đình học sinh với những đặc điểm giáo dục điển hình :

+ Gia đình 1: cha mẹ hiểu con, tạo được niềm tin để con có thể chia sẻ mọi chuyện, như những người bạn lớn của con

+ Gia đình 2 : cha mẹ gặp khó khăn trong tiếp cận với con, mâu thuẫn trong quan hệ giữa cha mẹ và con

+ Gia đình 3 : cha mẹ thờ ơ, không quan tâm đến giáo dục con cái, quan hệ giữa cha mẹ và con mờ nhạt

7.5 Phương pháp thực nghiệm :

Xây dựng và thử nghiệm chương trình Bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng giáo

dục gia đình cho cha mẹ học sinh THPT

7.6 Phương pháp xử lý thông tin:

- Các thông tin tư liệu được tổng thuật theo các chủ đề ;

- Thông tin định lượng: các dữ liệu thu thập từ bảng hỏi được xử lí bằng phần mềm SPSS

- Các thông tin định tính thu được từ phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn nhóm, nghiên cứu các trường hợp điển hình sẽ được xử lý bằng cách thiết lập các phạm trù (categories), đặt ám mã (coding) và lọc ra theo chủ đề dưới dạng trích dẫn báo cáo hoặc trích dẫn bản gỡ băng phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu Trong khi phân tích, các trích dẫn được sử dụng kết hợp với số liệu thống kê định lượng

8 Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn:

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận về giáo dục gia đình và giáo dục gia đình cho lứa tuổi đầu thanh niên trong gia đình thành phố hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là một cơ sở khoa học để các nhà quản lí, các nhà giáo dục và cha mẹ học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT cũng như bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng về giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 9

mẹ, rõ ràng trong cách giáo dục ) Từ 30 yếu tố đó, các tác giả xây dựng 3 yếu tố

chính: đón nhận trẻ (bao gồm các tiêu chí như tương quan với trẻ, tình cảm dành cho trẻ, tập trung vào trẻ ); bao bọc và nhu nhược (bảo bọc trẻ, lo lắng cho sức khoẻ của trẻ, gắn bó quá chặt chẽ với mẹ - bám mẹ ); dân chủ trong gia đình

(gồm các tiêu chí liên quan đến dân chủ trong cách giáo dục, có các qui định rõ ràng, nghiêm minh, lắng nghe, giải thích ) Các nhà nghiên cứu quan tâm xem các chiều kích khác nhau của phong cách giáo dục của cha mẹ ảnh hưởng thế nào đến

sự phát triển của trẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy các gia đình dân chủ có tương quan tích cực với sự phát triển trí tuệ của trẻ (dựa trên chỉ số IQ), trong khi các kiểu giáo dục nghiêm khắc hay bao bọc lại ít kích thích sự phát triển trí tuệ Một nghiên cứu khác của Schaefer (1959) cũng đưa ra 2 trục lưỡng cực: yêu thương/hất hủi và

tự chủ-tự lập/kiểm soát Nghiên cứu được thực hiện 2 giai đoạn: mối quan hệ, gắn

bó giữa mẹ và bé được quan sát từ 0 đến 3 tuổi, sau đó trong khoảng 9 đến 14 tuổi

dữ liệu được thu thập qua các cuộc phỏng vấn sâu các bà mẹ Kết quả cho thấy chỉ

có trục yêu thương/hắt hủi là có tương đồng giữa kết quả thu được lúc trẻ 0-3 tuổi

và kết quả lúc trẻ 9-14 tuổi Bước kế tiếp, các tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi gắn bó của mẹ với trẻ (độ tuổi 0-3 cũng như 9-14) và sự phát triển trí tuệ khẳng định tương quan giữa trục yêu thương/ hất hủi và trí thông minh (IQ) của trẻ

Trang 10

nếp (Baldwin, 1945 [2]; Becker, 1964 [4]; Baumrind, 1971 [3]) Các nhà nghiên cứu

đã kết hợp 2 chiều kích này để xây dựng mô hình giáo dục của cha mẹ Becker (1964) [4] phân biệt những cha mẹ nhiều tình cảm và đồng thời kiểm soát cao với những cha mẹ nhiều tình cảm và dễ dãi; phương cách giáo dục của nhóm thứ nhất hình thành nên các trẻ em nề nếp và vâng lời, nhóm thứ hai tạo ra những trẻ có cá tính và biết sáng tạo Baumrind (1971) [3] có cách phân định khác Trước hết tác giả chia làm 2 loại kiểm soát : độc đoán và nghiêm khắc nhưng dân chủ Rồi tuỳ theo loại kiểm soát của cha mẹ và mức độ quan tâm nâng đỡ của cha mẹ, Baumrind phân biệt các kiểu giáo dục i) độc đoán, ii) dễ dãi, iii) nghiêm khắc và dân chủ và iv) thờ ơ Theo Baumrind, kiểu giáo dục độc đoán đại diện cho các cha mẹ hà khắc luôn kiểm soát hành vi và thái độ của con với những qui định cứng nhắc và không được bàn cãi Những cha mẹ này sử dụng chủ yếu sự kiểm soát nghiêm khắc, đòi hỏi sự vâng lời tuyệt đối, ít trao đổi với con cái Tác giả nhận thấy các trẻ lớn lên trong các gia đình độc đoán nhất mực tuân theo các hướng dẫn và có năng lực nhận thức không cao Còn các cha mẹ dễ dãi thì rất khoan dung, có xu hướng chấp nhận tất cả y thích, các hành vi và cả các cơn chướng của trẻ Họ ít trách phạt, ít đòi hỏi

sự trưởng thành, chín chắn trong các hành vi của trẻ Những trẻ này thiếu trưởng thành, thiếu tự tin, thiếu trách nhiệm xã hội và nhất là thiếu sự độc lập Năng lực nhận thức và năng lực xã hội của chúng cũng thấp Ngược lại, những cha mẹ có kiểu giáo dục “dân chủ-nghiêm minh” khuyến khích sự tự tin, tính tự lập-tự chủ nhưng cũng yêu cầu con cái có kỷ luật và tuân thủ các qui định trên cơ sở trẻ được trao đổi và cùng cha mẹ thiết lập các qui định Những cha mẹ này khuyến khích sự trao đổi giữa cha mẹ và con cái, nhìn nhận những nhu cầu của trẻ, nhưng cũng đòi buộc trẻ chấp hành kỷ luật, khuyến khích con độc lập Tác giả nhấn mạnh rằng kiểu

Trang 11

Từ các mô hình giáo dục trên, rất nhiều công trình nghiên cứu đã tìm hiểu ảnh hưởng của các phong cách giáo dục khác nhau đến sự phát triển của trẻ Steinberg

và đồng nghiệp (1989) [32] tìm hiểu mối liên hệ giữa phương cách giáo dục

“nghiêm khắc và dân chủ” của các cha mẹ người Mỹ, sự trưởng thành tâm lý xã hội của trẻ và thành quả học tập tốt của trẻ Mantzicopoulos và Oh-Hwang (1998) [37]nghiên cứu mối quan hệ giữa các kiểu giáo dục của cha mẹ Mỹ và Hàn Quốc với sự trưởng thành tâm lí xã hội của trẻ Kết quả cho thấy kiểu giáo dục “dân chủ-nghiêm minh” có tương quan tích cực với sự tự tin, ý thức học tập và căn tính cá nhân; kiểu giáo dục độc đoán và thờ ơ luôn luôn ảnh hưởng xấu đến sự trưởng thành tâm lý xã hội trong khi kiểu giáo dục dễ dãi lại có ảnh hưởng tích cực hơn 2 kiểu giáo dục trước đối với sự phát triển căn tính của trẻ vị thành niên Kellerhals và Montandon (1991) [26] xem xét mối quan hệ giữa các kiểu giáo dục của cha mẹ và lòng tự trọng của trẻ Giả thuyết của nhóm tác giả đã được chứng minh: lòng tự trọng của trẻ có mối liên hệ rõ ràng với kiểu giáo dục của cha mẹ, đặc biệt là với mức độ khuyến khích tính tự lập-tự chủ và sự nâng đỡ, hỗ trợ của cha mẹ Giao tiếp tốt giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ cũng tác động tích cực đến lòng tự trọng Trẻ vị thành niên có lòng tự trọng tốt hơn trong các gia đình có kiểu giáo dục dân chủ và khuyến khích tính tự chủ-tự lập Các tác giả cũng nhấn mạnh hai tác động khác: mối quan

hệ giữa lòng tự trọng và kiểu giáo dục của cha mẹ rõ nét hơn nơi trẻ vị thành niên trai, và tương quan giữa 2 biến này càng mạnh hơn khi vị thế xã hội của cha mẹ càng cao

Phong cách giáo dục của cha mẹ là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu, nhất là tại Hoa Kỳ Tuy nhiên, nhận định của con cái về phong cách giáo dục của cha mẹ lại ít được tìm hiểu Một số tác giả tìm hiểu nhận định của trẻ vị thành niên

về hành vi giáo dục của cha mẹ và tìm hiểu mối liên hệ với sự phát triển nhận thức

Trang 12

11

và tâm lý xã hội của chúng (Steinberg và cộng sự, 1992, 1994 [44, 45]); Deslandes

và đồng nghiệp, 2000; Kowal và cộng sự, 2002 [32] Kowal và các đồng nghiệp đã thực hiện một nghiên cứu nhằm tìm hiểu sức khoẻ tâm thần của trẻ biến đổi thế nào theo nhận định về tầm mức và sự công bình trong hành vi thể hiện tình cảm hay kiểm soát của cha mẹ Kết quả cho thấy trẻ nhận định cha mẹ công bình trong cách ứng xử chọn những câu trả lời về cảm xúc tích cực để tự đánh giá bản thân và những trẻ này ít gặp vấn đề về hành vi Các tác giả nhận thấy nhận thức về sự công bình trong cách giáo dục của cha mẹ có mối liên hệ ổn định hơn với các tiêu chí của sức khoẻ tâm thần so với nhận định về mức độ yêu thương hay kiểm soát thể hiện qua các hành vi của cha mẹ Các nghiên cứu này cũng khẳng định tầm quan trọng của việc xem xét nhận thức của trẻ về phong cách giáo dục của cha mẹ trong việc tìm hiểu về sức khoẻ tâm thần của trẻ

Đặc biệt đối với lứa tuổi 15-18, các nghiên cứu tập trung vào quan hệ giữa cha

mẹ và con cái trong các vấn đề về giới tính, bạn bè, tình yêu (Bersamin et all., 2008

[5]; Kan et all., 2008 [25]; Knoester et all., 2006 [26] ) Lee và đồng nghiệp (2006)

[31] tìm hiểu ảnh hưởng của cha mẹ đến việc điều chỉnh hành vi, sự phát triển và thành tích học tập của thiếu niên

Colette Sabatier và các cộng sự đã thực hiện một chuỗi các nghiên cứu về sự

khác biệt giữa các giá trị của thiếu niên Việt và cha mẹ, cũng như xung đột cha

mẹ-con cái từ các gia đình người Việt tại Pháp (Sabatier, 2001, 2005)[38, 42] Trong

nghiên cứu về các giá trị gia đình, nhóm tác giả đã chỉ ra cha mẹ và các thiếu niên Việt giữ các giá trị truyền thống nhiều hơn cha mẹ và thiếu niên Pháp, nhưng khoảng cách khác biệt giữa các giá trị gia đình của cha mẹ và của thiếu niên thì

giống nhau ở các gia đình Pháp cũng như Việt Các nghiên cứu của Deslandes và

đồng nghiệp (2000) đối với cha mẹ và trẻ vị thành niên Canada [10], nghiên cứu

của Mantzicopoulos và Oh-Hwang (1998) [37] tại Hoa Kỳ và Hàn Quốc, nghiên

cứu của Lescaret et Philip-Asdih (1995) [35] trên các cha mẹ Pháp và nghiên cứu

của Hoàng Mai Khanh (2005) [29] so sánh phong cách giáo dục của cha mẹ Việt

và Pháp cùng cho thấy các cha mẹ không sử dụng kiểm soát độc đoán và có sự nâng

đỡ, thể hiện tình cảm yêu thương với con cái đều khuyến khích tính tự chủ-tự lập

Trang 13

12

của trẻ Có thể kết luận: cho dù trong các bối cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau, các phong cách giáo dục của cha mẹ khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển tính tự chủ-tự lập của trẻ đều là sự yêu thương, nâng đỡ và mối quan hệ dân chủ - nghiêm minh

Nhiều tác phẩm viết về giáo dục gia đình của các tác giả nước ngoài được dịch

và in tại Việt nam:

“Giáo dục các con trong gia đình” của Ambacđian do NXB Kim Đồng phát

hành năm 1977

Nói chuyện về giáo dục gia đình” của A Macarenko, NXB Kim Đồng

(1978) [37] A Macarenko là một nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng, ông cho rằng giáo dục thế hệ trẻ phải được bắt đầu ngay từ thời thơ ấu Tất cả các bậc cha mẹ đều

có thể làm được và nó mang lại nhiều niềm vui và hạnh phúc cho cha mẹ

I.A Pesecnicova với tác phẩm “Dạy con yêu lao động”[47], NXB Phụ nữ

(1980) Theo tác giả, phẩm chất đạo đức, nhân cách được hình thành trước hết là trong quá trình lao động, do vậy, muốn cho con lớn lên luôn vui tươi, yêu đời, mạnh khỏe và cống hiến được nhiều cho xã hội thì phải giáo dục về lao động (lao động học tập, lao động giáo dục và lao động xã hội)

Nhìn chung, vấn đề giáo dục gia đình đã được các nhà khoa học ở nhiều nước quan tâm, các tác giả đã đi sâu vào nhiều khía cạnh khác nhau về giáo dục gia đình: nhấn mạnh vai trò của giáo dục gia đình; những nội dung giáo dục và đặc biệt các phong cách và ảnh hưởng của các phong cách giáo dục đến sự hình thành các phẩm chất nhân cách của trẻ

1.1.2 Trong nước

- Ở Việt Nam, trong những năm qua có nhiều sách và công trình khoa học

của nhiều tác giả đề cập khá sâu sắc đến những góc độ, khía cạnh khác nhau của giáo dục gia đình Có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau:

+ Cuốn sách “Khoa học giáo dục con em trong gia đình” của Ủy ban Thiếu

niên nhi đồng Trung ương, xuất bản năm 1979 do tác giả Đức Minh chủ biên, giới

thiệu một số quan điểm về giáo dục Xã hội Chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò, đặc điểm

Trang 14

13

của giáo dục gia đình, cung cấp những cơ sở lí luận, những nội dung và yêu cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ

+ “Dạy con nên người” của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, xuất bản

năm 1991 Các tác giả đã cung cấp những hiểu biết cần thiết về giáo dục, về trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo dục con, trên các mặt cơ bản của nội dung giáo dục: đức trí, thể mĩ và lao động

+ Cuốn sách “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” đã công bố những kết

quả nghiên cứu ban đầu của đề tài: “Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” (Mã số KX – 07 – 09) thuộc chương trình khoa học công nghệ nhà nước Cuốn sách đề cập tới hai nội dung cơ bản: gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình và vai trò của giáo dục gia đình trong sự phát triển nhân cách con người Việt Nam Những vấn đề lí luận, phương pháp luận; quá trình biến đổi của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại; việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam cũng như những vấn

đề về vai trò của gia đình, các thành viên trong gia đình với việc giáo dục thế hệ trẻ; những nội dung, phương pháp giáo dục trong gia đình hiện nay; sự ảnh hưởng của tôn giáo, thời đại và các môi trường giáo dục khác đến giáo dục gia đình đã được trình bày một cách sâu sắc trong tác phẩm này

+ Tác giả Trần Trọng Thủy với tác phẩm “Gia đình với sự phát triển nhân

cách của trẻ em”, NXB Hà Nội1996) [50], Lê Ngọc Văn đề cập tới “Gia đình

Việt Nam với chức năng xã hội hóa”, NXB Giáo dục, 1996.[53]

+ Đề tài cấp Nhà nước KX-07-09 “Vai trò gia đình trong sự hình thành và

phát triển nhân cách con người Việt Nam” của Trung tâm Nghiên cứu về gia

đình và phụ nữ, do GS Lê Thi chủ nhiệm, NXB Phụ nữ phát hành năm 1977 Các tác giả đã cho rằng: những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối thế kỉ 20 đang đưa lại những khả năng sáng tạo, trí thông minh tuyệt vời cho con người và hứa hẹn đem lại những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của cá nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần Bên cạnh đó thì hàng loạt những sai lầm, thiếu hụt, những tệ nạn xấu xa, nguy hiểm đang tồn tại trên khắp thế giới cũng do con người gây ra Những hậu quả đó đang làm cho hàng triệu

Trang 15

14

gia đình tan tác, chia li, cùng khổ Tác giả khẳng định: bàn về sự phát triển ổn định của xã hội không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của giáo dục trong việc bồi dưỡng, đào tạo nguồi nhân lực, xây dựng nhân cách con người

+ Tác giả Phạm Khắc Chương và Tạ Văn Doanh trong cuốn “Giáo dục gia

đình và tâm lý trẻ ngày nay” (1997) [8] đã bàn đến ảnh hưởng của các thái độ

giáo dục của cha mẹ (tôn trọng trẻ, nghiêm khắc, khoan dung, dễ dãi…) đến tâm lý của trẻ

+ “Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên trong

gia đình thành phố hiện nay” (2001) của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học

Giáo dục đã trình bày những kết quả nghiên cứu của đề tài: “Những nội dung cần bồi dưỡng cho cha mẹ để giải quyết những vấn đề cấp bách giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên ở gia đình thành phố hiện nay” Các tác giả đã trình bày cơ sở để xác định những vấn đề cấp bách trong giáo dục gia đình thành phố có con ở lứa tuổi thiếu niên và nội dung những vấn đề cần bồi dưỡng cho cha mẹ Cuốn sách này đề cập tới những vấn đề rất gần gũi với đề tài của chúng tôi

+ Tác giả Đặng Cảnh Khanh với:“Vai trò của gia đình trong việc giáo dục

các giá trị truyền thống cho trẻ em” (2003) [27]

+ Trong tác phẩm Gia đình học (2007) [28], Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý trình bày bức tranh gia đình Việt Nam khá tổng quát dựa trên kết quả của nhiều

nghiên cứu về gia đình Các tác giả đề cập đến những vấn đề của gia đình trong thời

kỳ hiện đại, sự sai lệch giá trị gia đình, bạo lực gia đình, vấn đề giới và sự phát triển gia đình, các mối quan hệ trong gia đình, giáo dục gia đình và xã hội hóa trẻ Tuy nhiên, tác phẩm được viết theo cách tiếp cận xã hội học nên không đi sâu tìm hiểu việc giáo dục con cái của cha mẹ Việt Nam ngày nay dựa trên cơ sở của khoa học giáo dục gia đình

- Một số đề tài khoa học cấp nhà nước và cấp bộ có liên quan đến gia đình cũng đã được tiến hành Mảng chủ đề gia đình và Nho giáo gắn liền với các tác giả:

Vũ Khiêu, Lê Thị Quý, Đặng Nhứ Những khía cạnh của sự sai lệch chuẩn mực

trong gia đình hiện đại, với bạo lực gia đình, nạn mại dâm, nạn buôn bán phụ nữ Mảng chủ đề về gia đình và việc chăm sóc giáo dục trẻ em có các công trình khoa

Trang 16

15

học của Phạm Tất Dong về vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ Đặng Cảnh Khanh về vai trò của gia đình trong việc giáo

dục các giá trị truyền thống cho trẻ em

- Ngoài ra còn có nhiều bài viết, bài chuyên khảo về gia đình đăng trên các

tạp chí “Tâm lý học”, “Xã hội học”, “Tạp chí Giáo dục”, “Khoa học và Phụ nữ”, các báo cáo tại hội nghị khoa học về gia đình Nghiên cứu về gia đình cũng được sự quan tâm của nhiều khóa luận tốt nghiệp đại học và một số luận văn thạc sĩ và luận

án tiến sĩ

Một số bài viết, đề tài quan tâm đến giáo dục trong gia đình: các nghiên cứu,

bài viết về xung đột trong gia đình (giữa cha mẹ và con cái) của Lê Đức Phúc (2003), Đỗ Hạnh Nga (2005); các vấn đề trong gia đình và ảnh hưởng của gia đình đến sự phát triển nhân cách, lối sống của trẻ (Nguyễn Thị Kim Anh, 1997; Văn Thị Kim Cúc, 2003; Đinh Phương Duy, 2003; Nguyễn Ánh Hồng, 2003; Mai Huy Bích, 2004; Nguyễn Thị Hồng Nga, 2007); những giá trị truyền thống cần giáo dục trong gia đình (Hồ Bá Thâm, 2003; Nguyễn Thế Long, Đặng Văn Minh, 2003) và truyền thống gia đình với việc học tập, rèn luyện của trẻ (Phạm Thanh Bình, Lê Phong, 1998); nhu cầu của học sinh về quan hệ của cha mẹ đối với trẻ (Nguyễn Chí Dũng, 2006; Lưu Song Hà, 2007; Vũ Quỳnh Châu, 2010); kì vọng của cha mẹ đối với con cái (Trần Thị Minh Đức, Trần Thu Hương,1997; Lã Thị Thu Thủy, 2010), một số khuynh hướng sai lệch trong giáo dục gia đình ngày nay (Mạc Văn Trang, 2003; Lê Ngọc Thanh, 2003; Hoàng Bá Thịnh, 2007) Tác giả Lê Thị Lâm

(2006) đã nêu lên một số yếu tố thuận lợi và khó khăn của cha mẹ trong quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và con cái, cũng như trong việc điều chỉnh và uốn nắn hành vi của con qua khảo sát các cha mẹ học sinh tiểu học tại quận Đống Đa, Hà Nội Trong

một nghiên cứu khác, Nguyễn Thị Anh Thư (2006) phân tích 2 trường hợp trẻ được

chẩn đoán tăng động giảm chú ý để chỉ ra tác động của giáo dục gia đình, đặc biệt vai trò của cha và mẹ trong việc kiềm hãm, điều chỉnh những rối nhiễu ở trẻ hay

làm tăng thêm rối nhiễu nếu cha mẹ không có cách giáo dục phù hợp Đoàn Việt

(2005) nghiên cứu các biện pháp giáo dục con của cha mẹ vùng nông thôn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ vẫn quan niệm đánh,

Trang 17

16

mắng con là những biện pháp, công cụ để giáo dục con; một số cha mẹ đã có thay đổi trong nhận thức về việc sử dụng các biện pháp bạo lực trong giáo dục con nhưng trong thực tế họ vẫn thỉnh thoảng sử dụng biện pháp bạo lực như giải pháp tức thời trong tình huống con phạm lỗi, điều này cho thấy sự lúng túng của cha mẹ trong việc đổi mới nhận thức và phương pháp giáo dục con

- Nghiên cứu về giáo dục gia đình đối với con cái tại thành phố Hồ Chí Minh

đã được thể hiện rõ trong các đề tài luận án triến sĩ của Nguyễn Thị Bích Hồng, Đỗ Hạnh Nga (2005) và Hoàng Mai Khanh (2005) Các tác giả đã nghiên cứu những

khía cạnh khác nhau về giáo dục gia đình đối với học sinh tiểu học (đề tài của Nguyễn Thị Bích Hồng) và học sinh THCS (đề tài của Hoàng Mai Khanh và Đỗ Hạnh Nga) Một bức tranh chung về giáo dục gia đình đối với trẻ độ tuổi thiếu niên

tại thành phố Hồ Chí Minh đã được phác họa đậm nét qua đề tài: “Giáo dục gia

đình đối với trẻ độ tuổi 12 – 15 tại tp Hồ Chí Minh: thực trạng – nguyên nhân

– giải pháp” do Th.s Phan Thị Thu Hiền làm chủ nhiệm (2008)

Ngoài gia, các nghiên cứu về giáo dục gia đình còn được thể hiện qua các hội thảo khoa học được tổ chức tại tp Hồ Chí Minh:

- Hội thảo “Gia đình và sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay” do Hội Tâm lí giáo dục tp Hồ Chí Minh tổ chức nhân dịp chào mừng

ngày Gia đình Việt Nam 2003 Hội thảo bao gồm 33 bài tham luận của các nhà khoa học xoay quanh 3 vấn đề lớn: gia đình – nề tảng hình thành nhân cách con trẻ; gia đình và giáo dục giá trị truyền thống; những sai lệch trong giáo dục gia đình, những thách thức giúp con vượt qua hiểm nghèo

- Hội thảo “Sự biến đổi gia đình trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa”, được tổ chức tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn tp Hồ Chí

Minh, tháng 9-2007, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Các bài tham luận đã phân tích sâu sắc những biến đổi của gia đình Việt Nam dưới sự phát triển của xã hội hiện đại Các tác giả đã phân tích sự ảnh hưởng của xã hội đến nhiều khía cạnh của cuộc sống gia đình và những thách thức trong giáo dục gia đình tại t.p Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 18

17

Nhìn chung, giáo dục gia đình đã được nhều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Nghiên cứu về giáo dục gia đình rất đa dạng và phong phú và còn tản mạn Những vấn đề về giáo dục gia đình đối với lứa tuổi đầu thanh niên (15-18 tuổi) nói chung và đối với học sinh THPT nói riêng tại tp Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Do vậy, cùng với hướng tiếp cận nghiên cứu của tác

giả Phan Thị Thu Hiền, chúng tôi tìm hiểu thực trạng giáo dục gia đình đối với học

sinh THPT tại tp Hồ Chí Minh

1.2 Khái niệm chung về gia đình

1.2.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là một trong những chủ đề thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau, do vậy cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình

- Ở góc độ vĩ mô, xã hội học coi gia đình là một thiết chế xã hội, là một đơn vị

cơ sở được mọi người công nhận để thực hiện những chức năng xã hội nhất định,

mà trước hết là sự tái sinh các đặc trưng của loài người

- Ở góc độ vi mô, gia đình thường được mô tả là nhóm gồm một cặp vợ - chồng chung sống với lớp kế cận trực tiếp của họ Tuy nhiên định nghĩa này đã quá nhấn mạnh về mặt sinh học và chỉ thu gọn khái niệm gia đình về gia đình hạt nhân

mà chưa đề cập đến sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, trong khi trên thực tế đây mới là tiêu chuẩn của một gia đình thực sự

- Theo Từ điển bách khoa Việt Nam,

Trang 19

về giới tính (nam/nữ) và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình đa thế hệ hay một thế

hệ Qua gia đình sẽ chuyển hóa mối quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà tất

cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ thành lập của nó Hơn nữa, xã hội cũng giao cho nhóm này những chức năng rất đặc biệt

1.2.2 Chức năng của gia đình

Gia đình có vai trò và chức năng quan trọng đối với mỗi cá nhân và với toàn

xã hội

Trang 20

19

- Chức năng sinh sản-tái sản xuất ra con người: Đây là chức năng cơ bản và

riêng của gia đình Gia đình có vai trò tái sản xuất ra con người duy trì nòi giống, tái sản xuất ra sức lao động qua việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho các thành viên, đồng thời giáo dục - xã hội hóa con người giúp cho con người hòa nhập vào cuộc sống của cộng đồng, dân tộc, đảm bảo sự phát triển liên tục và trường tồn của

xã hội loài người

- Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình: Đây là chức năng cơ bản của

gia đình Thực hiện chức năng này các gia đình tiến hành các hoạt động lao động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra thu nhập chính đáng để nâng cao đời sống, đảm bảo hạnh phúc cho gia đình Thực hiện chức năng này còn là việc các gia đình sử dụng nguồn thu nhập để mua sắm những sản phẩm phục vụ cho đời sống vật chất và đời sống tinh thần của gia đình (tiêu dùng), thông qua đó mà góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển

- Chức năng giáo dục và xã hội hóa của gia đình: Đây là chức năng rất quan

trọng của gia đình Nội dung giáo dục gia đình là tương đối toàn diện Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng con cái, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con cái cả về thể chất lẫn tinh thần để con cái trở thành những công dân

có ích cho xã hội

- Chức năng thỏa mãn những nhu cầu tâm - sinh lý tình cảm: Đây là chức năng

quan trọng, có tính chất văn hoá - xã hội để xây dựng gia đình hạnh phúc Gia đình luôn luôn là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân Từ khi lọt lòng cho đến suốt cuộc đời mình mỗi cá nhân đều tìm thấy ở gia đình sự đùm bọc về vật chất và tinh thần Gia đình là một nhóm tâm lí tình cảm xã hội đặc thù mà ở đó mối quan hệ máu mủ ruột thịt và quan hệ tình cảm, trách nhiệm đã gắn bó các thành viên bằng những sợi dây liên hệ thường xuyên, lâu dài, suốt đời người dù có xa cách, chia li,

dù xã hội có những biến thiên lịch sử, những đảo lộn to lớn cũng khó phá nổi những quan hệ này

1.2.3 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình

- Nếu quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ pháp lí hôn nhân thì quan hệ giữa cha

mẹ và con cái là quan hệ tràn đầy tình cảm yêu thương chăm sóc như một lẽ tự

Trang 21

20

nhiên, nhưng lại đầy ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ trước xã hội Theo Bowlby:

“những sự phục vụ của cha mẹ đối với con cái tự nhiên đến nỗi là tầm quan trọng cực kì của chúng bị lãng quên Không có những quan hệ nào giữa người với người lại đem đặt những người này phụ thuộc vào những người khác một cách vô điều kiện và liên tục như vậy” Mỗi con người từ khi còn nằm trong bụng mẹ cho đến khi trưởng thành luôn được hưởng sự chăm sóc, tình thương yêu lo lắng của cha

mẹ Chính tình yêu thương và công lao to lớn của cha mẹ là nhân tố quan trọng nhen nhóm và nuôi dưỡng những phẩm chất đạo đức cho con cái: lòng nhân ái, những cảm xúc yêu thương, ý thức nghĩa vụ, đạo lí làm người Thực tiễn đời sống

xã hội cho phép chúng ta tin tưởng rằng gia đình cùng với những mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ là trường học đầu tiên giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ

cho con người

- Mối quan hệ cha mẹ - con cái không chỉ là mối quan hệ một chiều hướng về con mà còn thể hiện qua tình yêu thương, thái độ kính trọng trong cách cư xử của con cái đối với cha mẹ Thông qua cách cư xử đối với cha mẹ có thể vẽ nên bức chân dung khái quát về đạo đức của người con Như vậy, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ chính là bài học đạo đức đầu tiên trong suốt quá trình hình thành

nhân cách của mỗi người

- Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái thì vai trò của người cha và người

mẹ đối với đứa trẻ là như nhau Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là có sự đồng nhất giữa hai mối quan hệ cha - con và mẹ - con, bởi lẽ mỗi mối quan hệ ấy lại chứa đựng trong nó những nét đặc trưng riêng biệt Ảnh hưởng của người cha và người

mẹ đối với đứa con khác nhau về chất Tầm quan trọng của mỗi người thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của đứa con, nhưng đều gắn liền với nhau một cách sâu

sắc trong những tác động tới đứa con

- Kể từ khi đứa trẻ đi học, gia đình không còn độc chiếm vị trí quan trọng nhất đối với đứa trẻ Lúc này trẻ bước vào môi trường xã hội hóa khác là nhà trường và

xã hội Tuy nhiên đứa trẻ hàng ngày vẫn tiếp tục được quan tâm chăm sóc và dạy bảo bởi cha mẹ cùng với các thành viên khác trong gia đình Cùng với sự trưởng thành từng bước của con cái, nỗi lo lắng của cha mẹ ngày càng tăng lên Giờ đây

Trang 22

21

không đơn giản chỉ là chăm chút ăn, ngủ mà cha mẹ còn phải lo chuyện học hành,

lo dạy bảo con điều hay lẽ phải, quy tắc ứng xử sao cho trọn vẹn

- Trong những giai đoạn con cái có chuyển biến rõ rệt về tâm sinh lý như lứa tuổi THCS và THPT, cha mẹ càng cần phải tìm hiểu tâm tư tình cảm của con mình, chia sẻ động viên an ủi con trong mọi tình huống Như vậy, cha mẹ phải đóng một lúc nhiều vai trò: vừa là người chăm sóc, vừa là người định hướng, là người dạy dỗ chỉ bảo đồng thời cũng là người bạn tâm tình luôn ở bên con trong suốt chặng đường đời

- Bên cạnh đó, trong gia đình, trẻ là một thành viên tham gia tích cực vào tiến trình giáo dục và ảnh hưởng lên chính các tác nhân dạy bảo mình thông qua các phản ứng, hành vi của bản thân Thông qua các phản ứng, hành vi của con, cha mẹ

sẽ điều chỉnh nội dung, cách thức giáo dục và hành vi của bản thân Nói chung, tự thân con cái cũng hình thành cái nhìn nhận và đánh giá về cha mẹ của mình, đây là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa cha mẹ - con trẻ

1.3 Giáo dục gia đình

1.3.1 Khái niệm giáo dục gia đình

Theo Từ điển Giáo dục học: “Giáo dục gia đình, họat động giáo dục con

em trong gia đình bằng những họat động có định huớng của cha mẹ và bằng những ảnh hưởng tự nhiên của lối sống hằng ngày trong gia đình Gia đình là

môi truờng đầu tiên, thuờng xuyên, gần gũi nhất có ảnh huởng và tác động trực tiếp đối với sự hình thành toàn diện những yếu tố ban đầu của nhân cách Trẻ em hằng ngày nhận được sự chỉ bảo, huớng dẫn có tính định huớng giáo dục của cha mẹ, ông

bà và các thành viên lớn tuổi khác, đồng thời cũng quan sát và bắt chuớc những lời nói, cử chỉ của nguời lớn với nhau Do đó gia đình chỉ trở thành môi truờng giáo dục tốt khi các hành vi và lời nói của nguời lớn có tính mẫu mực, làm gương, chí ít cũng không phải là xấu, khi lời nói luôn luôn đi đôi với việc làm, khi có sự nhất trí, thống nhất ý kiến và hành động giáo dục con cái giữa cha với mẹ, giữa cha mẹ với ông bà Thiếu vắng những điều trên đứa trẻ sẽ mất phuơng huớng suy nghĩ và hành động, sẽ gặp trở ngại lớn trong quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách, và dễ trở thành kẻ xu thế, xu thời, mạnh đâu theo đó, gió chiều nào che chiều ấy”

Trang 23

22

Giáo dục gia đình phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà truờng và xã hội, khi đứa trẻ buớc vào hai môi truờng giáo dục này, thì mới đạt được mục tiêu chung

về giáo dục đối với đứa trẻ Điều quyết định kết quả ở đây là phải có sự thống nhất

về mục đích giáo dục, về định huớng giá trị giáo dục giữa gia đình, nhà truờng và

xã hội Sự thống nhất này phải dựa trên cơ sở thực hiện Pháp luật Việt Nam và Công uớc Quốc tế về quyền trẻ em

Chức năng xã hội hóa của gia đình là chức năng rất cơ bản của gia đình để chuyển con người – sinh vật sang con người xã hội, hình thành nhân cách trẻ em Việc thực hiện chức năng đó phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện lao động, sinh hoạt vật chất của gia đình, hệ thống giá trị đạo đức, môi trường tâm lý tình cảm, nếp sống, tín ngưỡng tôn giáo của gia đình – tức là ảnh hưởng văn hóa gia đình đối với

cá nhân

Giáo dục gia đình có ảnh hưởng lâu dài, toàn diện đối với sự tồn tại phát triển của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời của nó Giáo dục gia đình đặt cơ sở hết sức quan trọng cho sự hình thành nhân cách gốc của trẻ em, thúc đẩy sự phát triển nhân cách ở tuổi thanh niên, củng cố giữ gìn nhân cách con người ở tuổi trưởng thành và khi về già Giáo dục gia đình vì vậy là thường xuyên, suốt đời và có hệ thống

1.3.2 Mục đích của của giáo dục gia đình

Mục đích của giáo dục gia đình và xã hội nhìn chung thống nhất với nhau

Giáo dục con thành người con ngoan, trò giỏi, người công dân tốt, người con hiếu thảo Tuy nhiên, so với mục đích giáo dục của nhà trường thì mục đích giáo dục gia đình phân tán và cụ thể hơn, linh hoạt hơn Mục đích giáo dục gia đình thay đổi theo sự biến đổi và phát triển của trẻ, sự vận động và phát triển của xã hội, phụ thuộc vào cuộc sống và những định hướng giá trị của gia đình

1.3.3 Nội dung của giáo dục gia đình hết sức phong phú, gia đình cũng chú ý giáo

dục đạo đức, trí tuệ, lao động và còn góp phần giáo dục tư tưởng chính trị, thể chất, thẩm mĩ và giáo dục đời sống gia đình cho trẻ em Những kiến thức và kĩ năng do gia đình cung cấp gắn liền với thực tiễn cuộc sống và thông qua giải quyết những tình huống xảy ra trong cuộc sống

Trang 24

23

1.3.4 Phương pháp giáo dục gia đình cần thiết tiến hành đàm thoại mà không phải

là áp đặt, ra lệnh, thông qua tình cảm mà thuyết phục, phân tích phải trái Trong phương pháp giáo dục con, cần kết hợp khéo léo, đúng lúc, đúng mức hai yếu tố tình cảm và quyền uy của cha mẹ Chính sự kết hợp hai yếu tố này sẽ tạo nên các phong cách giáo dục khác nhau của cha mẹ Do vậy trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu về phương pháp giáo dục qua các phong cách giáo dục của phụ huynh

1.3.5 Đặc trưng cơ bản của giáo dục gia đình

1.4 Vai trò của giáo dục gia đình và nhà trường đối với sự phát triển nhân cách của học sinh

Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, có đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo, nội dung chương trình được lựa chọn, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, có các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục

Trang 25

24

Giáo dục nhà trường là một tổ chức giáo dục do nhà trường quản lý Tổ chức giáo dục này chi phối các tổ chức giáo dục khác ở mục đích giáo dục Nơi đây có nội dung và phương pháp giáo dục khoa học, có đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp,

có cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học nhằm đào tạo, bồi dưỡng con người phát triển toàn diện, là cơ sở chính để “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước theo mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Gia đình và nhà trường là hai thiết chế cùng có chức năng xã hội hóa cá nhân Trong quá trình tổ chức việc giáo dục cho trẻ em, đặc trưng của từng thiết chế được bộc lộ rõ rệt và cần được bổ sung cho nhau Như phần trên đã phân tích về đặc điểm giáo dục của gia đình, mặt mạnh là giáo dục mang tính xúc cảm, gắn với những quan hệ họ hàng, ruột thịt nên có khả năng cảm hóa rất lớn Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ rệt, dực trên cơ sở của cuộc sống tự nhiên, cởi mở trong gia đình và trong thời gian lâu dài, có hiệu quả và thuận lợi Giáo dục nhà trường mang tính linh hoạt và thiết thực trên cơ sở thống nhất lợi ích giữa người dạy và người học, phát huy được tính chủ thể của người học Những mặt mạnh dó bổ sung cho những thiết hụt của giáo dục gia đình

Đồng thời, giáo dục gia đình cần được bổ sung những mặt mạnh của giáo dục nhà trường như một thiết chế chuyên biệt Đó là tính mục đích mang tính xã hội cao được quán triệt trong suốt quá trình giáo dục; là hệ thống tri thức và kỹ năng, nhất là phương pháp tư duy mang tính hệ thống cơ bản và có thể mở rộng; là hệ thống phương pháp và phương tiện khoa học, có thể hiện đại hóa, tạo cơ sở cho sự trưởng thành của trẻ em, sự lập nghiệp và thành đạt suốt cả đời người

1.5 Phong cách giáo dục của gia đình

Phong cách giáo dục của cha mẹ là các cách khác nhau mà cha mẹ giáo dục, dạy dỗ con cái Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này Các nghiên cứu nền tảng và tiền khởi từ giữa thế kỷ XX đều tập trung phân tích hai chiều kích của phong cách giáo dục của cha mẹ: chiều kích thứ nhất đề cập đến tình cảm yêu thương, sự quan tâm nâng đỡ; chiều kích thứ hai phản ánh uy quyền hay sự kiểm soát độc đoán , ở đây muốn nói đến phương cách cha mẹ sử dụng để uốn nắn con

Trang 26

1.5.1 Độc đoán

Mô hình giáo dục độc đoán có các đặc điểm sau: quyền lực thuộc về cha mẹ, con cái không được cãi cha mẹ; cha mẹ sử dụng hình phạt nặng khi con không vâng lời; đòi hỏi nhiều, ít đáp ứng yêu cầu

1.5.2 Dễ dãi – nuông chiều

Mô hình giáo dục dễ dãi - nuông chiều có các đặc điểm sau: dễ dãi chiều theo ý muốn trẻ; ít hình phạt; không thể hiện uy quyền hay kiểm soát chặt chẽ cũng như ít đòi hỏi trẻ hành xử chín chắn; cho phép trẻ làm theo ý muốn; trong gia đình ít

qui định

1.5.3 Uy quyền, dân chủ

Mô hình giáo dục dân chủ có các đặc điểm là cha mẹ mong muốn cách cư xử như người trưởng thành ở trẻ và đặt ra những chuẩn mực rõ ràng Họ cương quyết tôn trọng các qui tắc, chuẩn mực đề ra; sử dụng mệnh lệnh hay hình phạt khi cần thiết và cũng khuyến khích con độc lập và phát triển cá nhân Trong gia đình có sự trao đổi cởi mở giữa cha mẹ và con cái, tôn trọng quan điểm của con cũng như quyền lợi của cả hai

Cha mẹ sử dụng phong cách này có kiểm soát và yêu thương, nâng đỡ đều cao và ảnh hưởng tích cực đến năng lực của trẻ

1.5.4 Thờ ơ – không quan tâm

Mô hình thờ ơ – không quan tâm có đặc điểm là: cha mẹ dường như không quan tâm đến cuộc sống của con, không để ý đến việc con làm gì, luôn thả lỏng và

Trang 27

26

để các em làm theo ý mình muốn Cha mẹ ít đòi hỏi, ít bắt buộc trẻ Họ lơ là chối bỏ trách nhiệm làm cha mẹ Nhìn chung cha mẹ sử dụng phong cách này có những mâu thuẫn với con cái, thể hiện sự lạnh nhạt về tình cảm đối với con, xem con cái như một gánh nặng, ít thể hiện sự yêu thương chăm sóc con

Cha mẹ sử dụng phong cách này ảnh hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Trẻ em thường có biểu hiện bất ổn tâm lý, rối nhiễu về tình cảm, trẻ không kiểm soát được bản thân, ảnh hưởng tới quá trình hình thành bản ngã

Chúng tôi đã sử dụng cách phân lọai các phong cách giáo dục của Baumrind trong nghiên cứu này Các biểu hiện của từng lọai phong cách đã được thích nghi hóa cho phù hợp với trẻ em Việt Nam trong đề tài luận án của TS Hoàng Mai Khanh

1.6 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT

1.6.1 Khái niệm học sinh THPT

Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về học sinh:

- Theo từ điển tiếng Việt, “học sinh là người học ở bậc phổ thông”, tức là giới

hạn đối tượng là những người đang học ở bậc phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở

và trung học phổ thông)

- Theo từ điển Giáo dục học: “Bậc trung học trong hệ thống giáo dục phổ thông tiếp nối sau bậc tiểu học và kết thúc trước bậc đại học Bậc trung học bao gồm từ lớp 6 đến lớp 12 và chia thành 2 cấp: cấp trung học cơ sở (THCS) gồm bốn lớp (lớp

6 đến lớp 9) và cấp trung học phổ thông (THPT) gồm ba lớp (lớp 10 đến lớp 12)” [22, tr 201] Học sinh bậc trung học thuộc lứa tuổi thiếu niên (THCS) từ 10 – 11 đến 14 – 15 tuổi và tuổi đầu thanh niên (THPT) từ 14 – 15 tuổi đến 17 – 18 tuổi

Như vậy, theo chúng tôi, học sinh THPT là những người đang theo học tại

các trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân, ứng với lứa tuổi thanh niên học sinh (từ 14 – 15 đến 17 – 18 tuổi)

1.6.2 Sự phát triển cơ thể của học sinh THPT

- Tuổi học sinh THPT là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của con người đang đi

vào giai đoạn hoàn chỉnh Các tố chất thể lực, hệ cơ xương đều được tăng cường,

Trang 28

27

trưởng thành về giới tính, hình thành một cơ thể khỏe đẹp, cân đối của người thanh niên

- Có sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương và các

giác quan, cấu trúc của não phức tạp hơn, là tiền đề cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp… cũng như những thay đổi về chất trong quá trình học tập, lao động của học sinh THPT

- Chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ

ổn định hơn, cân bằng hơn xét cả trên các mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các phát triển khác về thể chất Điều này khiến cho học sinh THPT có sự tập trung, xu hướng ổn định trong khả năng điều khiển và thực hiện các hoạt động trong đời sống hàng ngày

1.6.3 Sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội của học sinh THPT trong gia đình

Ở gia đình, học sinh THPT đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người lớn Các em đã quan tâm đến nhiều mặt sinh hoạt trong gia đình Mặc dù học sinh THPT có những nét của người lớn, nhưng các em chưa phải là người lớn, các em còn phụ thuộc vào người lớn, người lớn quyết định nội dung và xu hướng hoạt động chính của họ Học sinh đến trường học tập và hoạt động dưới sự lãnh đạo của người lớn, vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về vật chất Ở ngoài xã hội, ở trường cũng như trong gia đình, thái độ của người lớn đối với học sinh THPT thể hiện tính chất hai mặt: một mặt đòi hỏi các em có tính độc lập, ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lí, mặt khác, lại đòi hỏi họ thích ứng với cha mẹ, thầy cô…

Sự thay đổi vai trò và vị thế xã hội của thanh niên diễn ra trước hết trong quan hệ gia đình Trước tuổi thanh niên, hầu hết các hoạt động của trẻ đều được điều khiển, quản lí và kiểm soát của người lớn Khi các em gặp sự cố trong quan hệ, thường có sự can thiệp trực tiếp của người lớn và họ sẽ quyết định các hành vi của trẻ Sang tuổi thanh niên, vấn đề đã thay đổi Thanh niên được (và phải) tự quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống của mình, ngay cả các vấn đề hệ trọng như chuyện học hành, yêu đương, chọn và học nghề, việc làm… Sự can thiệp của người lớn không còn có ý nghĩa quyết định như các giai đoạn trước Nếu đã nghỉ học thì phải làm một nghề nào đó để kiếm tiền Ngoài ra, họ phải chăm sóc, tham gia kèm cặp

Trang 29

28

các em nhỏ học bài, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa… Ở những gia đình neo đơn hoặc khó khăn, các em phải đảm nhận trách nhiệm như là một trụ cột

1.6.4 Một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi học sinh THPT

Để xem xét đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh THPT, trước tiên cần xem xét các hoạt động chủ đạo của học sinh THPT Theo các nhà tâm lý học lứa tuổi, học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên, vai trò xã hội có sự thay đổi cơ bản, dần dần được xã hội thừa nhận một cách chính thức nên tác động nhiều đến tâm lý học sinh THPT Tuy nhiên, học sinh THPT do còn trong điều kiện đi học, phụ thuộc gia đình về kinh tế nên ở một góc độ nào đó, họ vẫn chưa được xem là người thanh niên trưởng thành, điều này cũng quy định các hoạt động chủ đạo của học sinh THPT không hoàn toàn trùng khớp với hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đầu thanh niên 1.6.4.1 Các hoạt động chủ đạo của học sinh THPT bao gồm

- Hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu nhưng tính chất và nội dung của nó

có sự khác nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên ở sự phát triển của tính ý thức và động cơ học tập, hứng thú học tập có chọn lọc với một số môn, một số lĩnh vực nhất định

- Hoạt động lựa chọn nghề nghiệp và chuẩn bị cho cuộc sống tương lai cũng là

một hoạt động chi phối rất mạnh đến toàn bộ đời sống của học sinh THPT Đối với các em, đây là hoạt động có ý nghĩa nghiêm túc, trực tiếp, cấp bách

- Ngoài ra, hoạt động giao tiếp vẫn là hoạt động thường xuyên và có tầm quan

trọng lớn đối với học sinh THPT Nhưng ở lứa tuổi này, bên cạnh sự giao tiếp với bạn bè, thầy cô trong nhà trường, hoạt động giao tiếp đã được mở rộng cả về phạm

vi giao tiếp và chất lượng giao tiếp, không chỉ trong nhà trường mà còn trong các hoạt động xã hội

Các hoạt động chủ đạo kể trên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh THPT Về cơ bản, học sinh THPT

có một số đặc điểm tâm lý như sau:

1.6.4.2 Đặc điểm về nhận thức và trí tuệ của học sinh THPT

Theo Piaget, ở tuổi này, các em đã đạt được các thao tác trí tuệ bậc cao như người lớn, đó là tư duy hình thức, tư duy logic Các thao tác trí tuệ cũng như tư duy

Trang 30

29

lý luận phát triển mạnh khiến cho các em có khả năng suy nghĩ độc lập, lý luận chặt chẽ, nhất quán và có thể lĩnh hội được các khái niệm phức tạp, trừu tượng So với học sinh THCS, các em học sinh THPT có khả năng nhận thức sâu sắc hơn về các lĩnh vực (không chỉ tìm hiểu bề ngoài mà có xu hướng đi sâu tìm hiểu về bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng) và hình thành khả năng tự học Do đó, yếu tố nhận thức là một trong những yếu tố rất quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh THPT, nếu các em nhận thức tích cực có thể là động lực thúc đẩy việc học tập nghiêm túc và đạt kết quả cao, đặc biệt là nhằm thỏa mãn nhu cầu của các em về một đối tượng nào đó

1.6.4.3 Một số đặc điểm trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT

- Về sự tự ý thức và tự đánh giá

Ở độ tuổi THPT, các em có nhu cầu tự tu dưỡng bản thân, sự tự ý thức và tự đánh giá bản thân phát triển mạnh mẽ với tiền đề từ độ tuổi THCS nhưng mức độ phức tạp cao hơn Học sinh THPT khao khát muốn biết họ là ai và có những năng lực gì, cũng rất muốn được “nổi bật” và muốn mọi người xung quanh chú ý, quan tâm và có tình cảm đặc biệt đối với mình Để khẳng định và tự đánh giá bản thân, học sinh THPT thường hành động theo 2 cách: tự nguyện nhận những việc, nhiệm

vụ khó khăn hoặc so sánh mình với người xung quanh, đối chiếu ý kiến của mình với ý kiến của bạn bè, người lớn, lắng nghe ý kiến của những người xung quanh về mình

Ở tuổi học sinh THPT, sự tự ý thức và tự đánh giá đang có những biến chuyển và chưa thực sự ổn định Do vậy, nếu xu hướng vươn lên của một cá nhân được hướng dẫn, chỉ đạo bởi môi trường xã hội lành mạnh, trong những hoạt động tập thể học sinh thân ái thì sự phát triển của họ cũng thường tích cực, tốt đẹp Ngược lại, nếu bị lôi kéo vào những nhóm tự phát không lành mạnh, thanh niên cũng dễ bị hư hỏng vì tâm lý của họ rất ưa thích cái mới lạ trong khi kinh nghiệm sống còn hạn chế nên có thể chưa phân biệt được rạch ròi cái hay, cái dở Trong gia đình, cha mẹ phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm tâm lí này ở học sinh THPT

- Tính tự trọng phát triển mạnh ở thanh niên học sinh:

Trang 31

30

Tự trọng là khả năng tự đánh giá có tính khát quát thể hiện sự chấp nhận hay không chấp nhận bản thân với tư cách coi mình mà một nhân cách Do những hạn chế về lứa tuổi, học sinh THPT thường chưa hoàn toàn đạt được tính tự trọng cao với những biểu hiện tích cực của nó, có nhiều em có thái độ không chấp nhận con người mình hoặc đề cao cái Tôi của mình một cách thái quá, dễ dẫn đến các xung đột Ở học sinh THPT, các em nhìn chung có lòng tự trọng cao nhưng tính phê phán

và sự phản tỉnh chưa cao Do vậy, cùng với nhà trường học sinh THPT rất cần có sự hướng dẫn của gia đình để hiểu rõ giá trị bản thân, bên cạnh đó với sự tổ chức cuộc sống, tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động trong gia đình sẽ giúp các em phát triển năng lực tự đánh giá, sự tự tin và lòng tự trọng

- Sự hình thành thế giới quan của học sinh THPT:

Thế giới quan là cái nhìn hệ thống, khái quát về tự nhiên, xã hội, con người, giúp cho học sinh THPT có những lý giải đối với các hiện tượng trong cuộc sống cũng như với bản thân mình Học sinh THPT đã có một quá trình tích lũy một hệ thống tri thức, kỹ năng, lối sống, hành vi…trong nhiều năm nên đã có khả năng đúc kết những suy nghĩ của mình trong việc nhìn nhận thế giới, có thái độ rõ ràng với những người xung quanh, sự vật, hiện tượng xung quanh

Tuy nhiên, thế giới quan này chưa đạt đến mức sâu sắc, bền vững vì nhiều khi các em vẫn còn nhìn nhận sự việc theo cảm tính, phiến diện, kinh nghiệm cá nhân thiếu sự khách quan Có những điều trong thực tế mà các em chưa hiểu, hoặc

đi ngược lại với những hiểu biết của các em, thì trong một số trường hợp, các em

thường hoang mang, lúng túng, thất vọng, thậm chí là tuyệt vọng Do vậy, các em rất cần được trang bị những kỹ năng tư duy phán đoán, tư duy tích cực để có cách nhìn nhận khách quan, sâu sắc và tích cực hơn Đây là điều cha mẹ rất cần chú ý

trong quá trình giáo dục con

- Tính tích cực xã hội của học sinh THPT:

Tính tích cực xã hội của học sinh THPT thể hiện ở sự quan tâm với thế giới xung quanh và tinh thần xung phong, dũng cảm và không sợ khó khăn tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú, sở trường của bản thân hoặc có ý nghĩa

xã hội to lớn Tuy vậy, cần lưu ý một tâm lý chung của học sinh THPT là do sự mâu

Trang 32

31

thuẫn giữa sự tự đánh giá và khả năng hiện thực của họ nên khi không hoàn thành một vài việc nào đó, thanh niên thường dễ chán nản, không muốn tiếp tục, từ đó có thể tự ti, thụ động, khép mình trong hoạt động Đây là đặc điểm mà các nhà giáo dục cần chú ý khai thác để tạo điều kiện cho học sinh THPT được thể hiện bản thân một cách đúng đắn, lành mạnh và hoàn thiện nhân cách của mình

- Sự phát triển ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai của học sinh THPT:

Khác với tuổi nhi đồng và thiếu niên, học sinh THPT là những người đang theo học lớp cuối của hệ thống giáo dục phổ thông nên việc quyết định chọn nghề và định hướng cuộc sống tương lai là điều vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ đường đời sau này Do vậy, đa số học sinh THPT có ý thức chọn nghề và chuẩn bị cho cuộc sống tương lai, điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến cho hoạt động học tập và rèn luyện của mỗi cá nhân Trong việc định hướng nghề nghiệp và sự chuẩn

bị cuộc sống tương lai ở học sinh THPT chịu sự tác động rất lớn của nhiều yếu tố

xã hội và gia đình, do vậy cha mẹ cần quan tâm đến sự định hướng nghề nghiệp trong tương lai cho các em

1.6.4.4 Một số đặc điểm trong đời sống tình cảm của học sinh THPT

Đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh THPT rất phong phú, đa dạng + Nhu cầu giao lưu, giao tiếp là một trong những đặc điểm chính trong đời sống tình cảm của học sinh THPT, vì điều này giúp các em trải nghiệm sự khác biệt giữa mình và người khác, đồng thời tạo dựng tư cách cá nhân, phong cách riêng của mình Những mối quan hệ giao tiếp của các em ngày càng được mở rộng về mặt phạm vi và đặc biệt là có sự phát triển về mặt chất lượng, các em ngày càng độc lập

và bình đẳng trong giao tiếp với người lớn (cha mẹ, thầy cô) cũng như bạn bè cùng tuổi

+ Ở tuổi THPT, tình bạn của những bạn bè cùng tuổi, cùng giới phát triển mạnh Nhu cầu có bạn thân là đòi hỏi tất yếu và việc chọn bạn thường không mang tính cảm tính, bề ngoài như ở tuổi thiếu niên mà được xem xét một cách có căn cứ về hứng thú, lối sống, sự đồng cảm… Tình bạn ở độ tuổi THPT có cơ sở, có lý trí và bền vững hơn tuổi thiếu niên Mối quan hệ bạn bè vẫn là mối quan hệ được các em

Trang 33

32

coi trọng nhất trong giai đoạn này, bạn bè giống như “cái Tôi thứ hai” để các em hiểu rõ về bản thân hơn Tình bạn của những đôi bạn ở lứa tuổi này có khi kéo dài suốt đời, hỗ trợ, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn cũng như khi thành đạt

+ Ở học sinh đầu tuổi thanh niên cũng bắt đầu bộc lộ rõ những tình cảm đạo đức như khâm phục, kính trọng những người dũng cảm, kiên cường, coi trọng những giá trị đạo đức như lương tâm, phẩm giá Họ có mong muốn làm được một cái gì đó mang lại lợi ích cho nhiều người, thể hiện sức mạnh thanh xuân của mình Những tình cảm cao đẹp khác về thẩm mĩ, trí tuệ cũng được hình thành một cách khá sâu sắc Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm sống, có đôi khi các em còn nhầm lẫn những biểu hiện của các giá trị đạo đức, hoặc khi gặp phải những sự việc đi ngược lại niềm tin của mình, các em thường rất dễ suy sụp, thất vọng, tuyệt vọng + Một loại tình cảm cũng rất đặc trưng xuất hiện ở độ tuổi này là tình yêu nam

nữ Có em có những rung cảm thực sự, thậm chí có những mối tình đầu đầy lãng mạn, tuy nhiên lại thường tan vỡ, do sự trưởng thành về tâm lý, về xã hội và kinh nghiệm sống chưa nhiều Những biểu hiện của tình cảm này rất phức tạp, nhìn chung không đồng đều giữa các em cùng tuổi cũng như giữa nam và nữ Điều này không chỉ phụ thuộc vào yếu tố phát dục, mà còn phụ thuộc vào điều kiện giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội hoặc kế hoạch đường đời của mỗi cá nhân, trong đó giáo dục của gia đình có ý nghĩa rất lớn

Tóm lại, lứa tuổi THPT là lứa tuổi có nhiều đặc điểm tâm lý phong phú, lứa tuổi

có nhiều ước mơ, muốn tự thân vận động, muốn khám phá, muốn thể hiện, cống hiến nhưng các em vẫn còn nhiều hạn chế, do vậy để học sinh phát triển nhân cách tốt nhất, giáo dục gia đình có vai trò rất quan trọng và cha mẹ phải hiểu được đặc điểm phát triển tâm sinh lý của các em

Trang 34

33

1.7 Nghiên cứu thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT (15 – 18 tuổi) tại thành phố Hồ Chí Minh và thử nghiệm biện pháp tác động nâng cao kiến thức và kĩ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh

1.7.1 Về việc tìm hiểu thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh

Từ cơ sở đặc điểm phát triển tâm sinh lí của lứa tuổi THPT và lí luận về mục tiêu, chức năng, nội dung, phương pháp giáo dục gia đình được trình bày ở trên, khi triển khai nghiên cứu thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT, chúng tôi

đã nghiên cứu trên ba cấp độ: nhận thức, thái độ và hành vi của cha mẹ học sinh trong hoạt động giáo dục con cái mình và theo các nhân tố cấu trúc của giáo dục gia đình: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và kết quả của quá trình giáo dục

Cụ thể các nội dung nghiên cứu của đề tài chúng tôi như sau:

a Hiểu biết của cha mẹ về con cái và sự quan tâm của họ đến các mặt cơ bản trong cuộc sống của trẻ ở lứa tuổi THPT

+ Hoạt động giáo dục của cha mẹ được tiến hành như thế nào, trước hết bắt nguồn từ việc họ hiểu con cái của mình ra sao Do vậy, chúng tôi đã tìm hiểu sự hiểu biết của cha mẹ về: đặc điểm tâm sinh lí chung của lứa tuổi THPT; ưu, nhược điểm và năng lực, sở thích của con; những khó khăn trong học tập, trong giao tiếp, trong tình cảm và các hoạt động khác mà trẻ đang gặp phải

+ Khác với giáo dục trong nhà trường, xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ giáo dục, các nội dung giáo dục được xây dựng thành chương trình và có nội dung chi tiết, cụ thể còn nội dung, phương pháp, hiệu quả giáo dục gia đình lại xuất phát từ

sự quan tâm của cha mẹ đến những vấn đề gì, qua đó họ mới có ý thức giáo dục con cái Mặc dù giáo dục gia đình có những đặc trưng riêng nhưng đích cuối cùng cũng

là giáo dục trẻ có một nhân cách toàn diện, phát triển theo hướng tích cực trên cả năm mặt: đức, trí, thể, mĩ, lao động Cha mẹ đều mong muốn giáo dục con thành con ngoan, trò giòi, người có ích cho gia đình, xã hội Chính vì vậy, chúng tôi đã tìm hiểu sự quan tâm của cha mẹ về: sức khỏe (thể chất, tinh thần), học tập (động

cơ, thái độ, phương pháp và kết quả học tập), định hướng nghề nghiệp, đời sống

Trang 35

34

tình cảm (tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ khác), hoạt động xã hội và việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của trẻ)

b Nhận thức của cha mẹ về giáo dục gia đình

Nhận thức là cơ sở để hình thành thái dộ, niềm tin và hành vi Nội dung, thái

độ, hành vi và kết quả giáo dục gia đình bị chi phối rất nhiều bổi nhận thức của cha

mẹ về vấn đề này Tìm hiểu thực trạng giáo dục gia đình cho học sinh THPT, chúng tôi tìm hiểu nhận thức của cha mẹ học sinh về vai trò của gia đình và những vấn đề cấp bách giáo dục cho con em họ ngày nay

c Nội dung giáo dục gia đình được tìm hiểu qua các nội dung giáo dục được cha mẹ quan tâm trong thực tiễn giáo dục con bao gồm các nội dung giáo dục đạo đức, các nội dung giáo dục liên quan đến hoạt động học tập và các nội dung giáo dục khác (giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản; giáo dục kĩ năng giao tiếp với bạn bè, người lớn; giáo dục thẩm mĩ; giáo dục lao động và tư duy kinh tế)

d Phương pháp giáo dục gia đình được tìm hiểu qua các phong cách giáo dục theo cách phân chia của Baumrind Phong cách giáo dục là sự tổng hợp khác nhau của các phương pháp giáo dục cụ thể theo hai chiều kích: tình cảm yêu thương, sự quantâm nâng đỡ và chiều kích thứ hai phản ánh uy quyền hay sự kiểm soát và sự kiểm soát độc đoán Phong cách giáo dục con của cha mẹ bao gồm: phong cách độc đoán; dễ dãi, nuông chiều; dân chủ; thờ ơ, không quan tâm Chúng tôi đã đưa ra các biểu hiện của từng phong cách, cha mẹ sẽ đánh giá phong cách giáo dục của mình đối với con cái

e Cách thức và kết quả giáo dục gia đình được tìm hiểu qua các nội dung: + Mức độ hài lòng của cha mẹ trong việc giáo dục con cái nói chung

+ Mức độ tham gia của cha mẹ đối với các hoạt động phối hợp với nhà

trường, xã hội trong việc giáo dục con và mức độ hài lòng của họ trong sự phối hợp

Trang 36

35

g Để đảm bảo tính khách quan trong việc đánh giá thực trạng giáo dục gia đình, cùng với việc khảo sát đánh giá của cha mẹ về các vấn đề, chúng tôi còn khảo sát trên con cái của họ (đối tượng của giáo dục gia đình) và phỏng vấn giáo viên chủ nhiệm, lãnh đạo nhà trường, nơi trực tiếp con họ đang theo học So sánh giữa đánh giá của cha mẹ, con và nhà trường cho phép kết luận nghiên cứu về thực trạng giáo dục gia đình của chúng tôi không chỉ dừng ở cấp độ nhận thức, thái độ của cha mẹ

mà nó đã được thể hiện ở cấp độ hành vi qua việc đánh giá kết quả từ con của các gia đình đó và nhà trường – môi trường thứ hai trẻ sống và thể hiện nhân cách của mình

1.7.2 Xây dựng và thử nghiệm chương trình bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giáo dục gia đình cho học sinh THPT tại trường THPT Tạ quang Bửu, Q8 và trường THPT Long Thới, huyện Nhà Bè

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục gia đình đối với học sinh THPT, chúng tôi xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo cho khoá bồi dưỡng kiến thức

và kỹ năng giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh THPT Nội dung chi tiết được trình bày ở chương 3

Trang 37

36

Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIA

ĐÌNH ĐỐI VỚI HỌC SINH THPT

Kết quả về thực trạng giáo dục gia đình được chúng tôi tìm hiểu qua sự đánh giá của cha mẹ học sinh về những vấn đề liên quan đến việc giáo dục con cái của họ

và sự đánh giá của học sinh và nhà trường về vấn đề này

2.1 Đánh giá của cha mẹ về thực trạng giáo dục con cái trong gia đình

Cha mẹ học sinh đánh giá thực trạng giáo dục gia đình qua: sự hiểu biết và quan tâm của cha mẹ đối với con cái mình; nhận thức của cha mẹ về một số vấn đề của giáo dục gia đình; các nội dung được cha mẹ quan tâm giáo dục cho con cái; phong cách giáo dục của cha mẹ học sinh; đánh giá của cha mẹ về những khó khăn

và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục gia đình

2.1.1 Mức độ hiểu biết và quan tâm của cha mẹ đối với học sinh THPT

Đánh giá của cha mẹ về vấn đề giáo dục con cái của họ được thể hiện qua sự hiểu biết và quan tâm của cha mẹ đến con cái mình

2.1.1.1 Mức độ hiểu biết của cha mẹ về con cái

Với câu 7 [PL1]: “Ông/bà hãy đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân về các nội dung sau ở con cái mình”, chúng tôi đã đưa ra các yếu tố liên quan đến các vấn

đề tâm sinh lí đặc trưng của lứa tuổi THPT cũng như những điểm tốt (hoặc xấu) trong tính cách, năng lực của trẻ, những khó khăn thường gặp trong cuộc sống, tình cảm, học tập,…yêu cầu cha mẹ học sinh đánh giá sự hiểu biết của họ về các yếu tố

đó ở con qua 3 mức độ: không hiểu, hiểu sơ, hiểu rõ Kết quả khảo sát được thể hiện

ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Mức độ hiểu biết của cha mẹ về con cái mình

Không hiểu

Hiểu sơ

1

Đặc điểm phát triển tâm sinh lí đặc

trưng của con ở lứa tuổi học sinh

THPT

23 4.6 242 48.5 234 46.9

2 Ưu và nhược điểm của con 11 2.2 99 19.8 390 78.0

3 Các khả 43 8.6 244 48.8 213 42.6

Trang 38

7 Những khó khăn con đang gặp phải trong cuộc sống học đường 70 14.1 240 48.3 187 37.6

8 Quan hệ bạn bè của con 32 6.4 234 46.9 233 46.7

Kết quả bảng 2.1 cho thấy: 78% cha mẹ khẳng định là hiểu rõ các điểm tốt

và xấu của con, trên 50% cha mẹ hiểu được “sở thích của con” mình, tiếp đến là 48.7% hiểu “những khó khăn con gặp trong học tập” (48.7%), việc hiểu biết về “đặc điểm phát triển tâm sinh lí đặc trưng của lứa tuổi học sinh THPT” (46.9%), khó khăn trong “quan hệ bạn bè” (46.7%) của con Đặc biệt “những khó khăn trong tình cảm (24.4%) và “những khó khăn trong cuộc sống học đường” (37.6%) cha mẹ hầu như không biết

Kết quả trên cho thấy, những điểm xấu, tốt trong tính cách của trẻ cũng như

sở thích của các em, qua quá trình chung sống được bộc lộ ra thì cha mẹ nắm bắt được, còn những đặc điểm rất riêng, đặc trưng trong sự phát triển tâm sinh lí của trẻ thì phần lớn cha mẹ còn rất mơ hồ Những vấn đề nảy sinh trong học tập, trong sinh hoạt và đặc biệt, những biến đổi sâu sắc trong đời sống tình cảm cực kỳ phức tạp của lứa tuổi này rất cần được sự quan tâm, định hướng, giúp đỡ của người lớn thì hầu hết cha mẹ chưa thật hiểu biết về trẻ

Tìm hiểu sâu trong nhóm cha mẹ học sinh có trình độ học vấn khác nhau,

kết quả kiểm định chi bình phương với p<0.05 đã cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm cha mẹ có trình độ học vấn: tiểu học trở xuống, THCS – THPT, đại học trở lên trong việc “hiểu biết về đặc điểm phát triển tâm sinh lí của con ở lứa tuổi học sinh THPT”, “các khả năng con có thể làm sau này”, “những khó khăn con gặp phải trong học tập”, “những khó khăn con gặp phải trong tình cảm”,

“những khó khăn con gặp trong cuộc sống học đường” Kết quả kiểm định cũng cho thấy trình độ học vấn của cha mẹ không ảnh hưởng đến việc hiểu những điểm tốt và xấu của con, sở thích và quan hệ bạn bè của con cái (p>0.05)

Trang 39

cơ hội tìm hiểu và học hỏi về đặc điểm tâm sinh lí của con cái hơn rất nhiều so với những cha mẹ bị hạn chế về trình độ học vấn

Ảnh hưởng trình độ học vấn của cha mẹ đến việc hiểu “những khó khăn con gặp phải trong học tập” được thể hiện ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Mức độ hiểu “những khó khăn con đang gặp phải trong học tập” ở các nhóm học vấn của cha mẹ

Trang 40

39

p=0.001<0.05 Bảng 2.3 lại một lần nữa cho thấy rất rõ sự khác biệt giữa cha mẹ học sinh ở những trình độ học vấn khác nhau đối với việc “hiểu biết về khó khăn của con trong học tập”: 24,2% cha mẹ có trình độ học vấn thấp (tiểu học trở xuống) “không hiểu” được con mình đang gặp những khó khăn gì trong quá trình học tập, 39,4% đáng giá

là “hiểu sơ sơ”, còn 36,4% khẳng định là “hiểu rõ” được vấn đề nảy sinh trong học tập của con cái mình Trong khi đó chỉ có 2,6% cha mẹ học sinh có trình độ học vấn cao (đại học trở lên) đánh giá là “không hiểu” khó khăn về học tập của con còn 60,6% đã “hiểu rõ”, gần 40% hiểu ở mức sơ sơ Tỉ lệ chênh lệch trong mức độ “hiểu rõ” những khó khăn trong học tập của con giữa cha mẹ có trình độ học vấn cao với cha mẹ có trình độ học vấn thấp là 24,2% Sự chênh lệch tỉ lệ đã khẳng định rõ nét hơn về sự ảnh hưởng của trình độ học vấn của cha mẹ đến việc hiểu những khó khăn vướng mắc trong học tập của học sinh THPT

Trả lời câu hỏi phỏng vấn của chúng tôi về việc quan tâm của cha mẹ đến hoạt động học tập của con, chị N.M.A phụ huynh trường THPT Nguyễn Huệ cho biết “Tôi không hiểu được việc học của con tôi vì các cháu học cao quá, mình không biết gì cả” Chị N.T.V.A phụ huynh trường THPT Mạc Đĩnh Chi tâm sự với chúng tôi: “Thú thật tôi đã tốt nghiệp đại học lâu rồi, để có thể chia sẻ với những vướng mắc của cháu trong học tập, tôi phải đọc và học thêm nhiều lắm Chương trình học của các cháu cũng khác với chương trình trước kia nhiều”

Kết quả phỏng vấn trên đã phần nào giúp chúng ta lí giải được mối tương quan giữa trình độ học vấn của cha mẹ với sự hiểu biết về những khó khăn trong học tập của học sinh THPT Họat động học tập ở THPT đã phát triển cao hơn so với tính chất học tập ở THCS và tiểu học, trên cơ sở phát triển tư duy lí luận, tính năng động và tính độc lập cao hơn ở học sinh Do vậy để hiểu được những khó khăn trong học tập của con, cha mẹ cần phải có trình độ học vấn cao

Phân tích sâu ảnh hưởng của trình độ học vấn đến sự hiểu biết “những khó khăn con đang gặp phải trong đời sống tình cảm” ở cha mẹ học sinh THPT TP.HCM cũng đưa đến những phát hiện lí thú

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w