PHỤ LỤC 2 – BẢNG Bảng I.1: Hàm lượng một số nguyên tố trong xoang tiêu hóa của tôm sú 11 Bảng I.2: Vai trò của các acid amin không thay thế đối với Bảng I.3: Công thức khoáng tham khảo c
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH VƯỜN ƯƠM SÁNG TẠO KHKT TRẺ
BÁO CÁO TỔNG KẾT NGHIỆM THU
TẠO CHẾ PHẨM SINH HỌC (PROBIOTIC)
BỔ SUNGTHỨC ĂN TÔM SÚ (PENAEUS MONODON) KÍCH THÍCH TĂNG TRƯỞNG, TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG VIRUS GÂY HỘI CHỨNG ĐỐM TRẮNG (WSSV)
NHÓM NGHIÊN CỨU
NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY TĂNG THIRÍT
Trang 2MỤC LỤC
Trang PHẦN MỘT
PHẦN HAI
TỔNG QUAN
Chương Một
Chương Hai
Chương Ba
III.2 HỘI CHỨNG ĐỐM TRẮNG
Chương Bốn
Trang 3IV.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PROBIOTIC 54
d Vai trò của các chất bổ dưỡng trong thức ăn đối với sức khỏe tôm 59
e Các yếu tố kích thích khả năng kháng bệnh không đặc hiệu ở tôm 60
b.4 So sánh sự gia tăng kích thước và trọng lượng ở các lô thí nghiệm 77 b.5 Khảo sát sự biến động vi sinh vật trong môi trường nước nuôi tôm 78
PHẦN BỐN
Trang 4VII.1 CÁC MÔ ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT VÀ VI SINH VẬT 93
VII.2 KHẢO SÁT HIỆU QUẢ HOẠT TÍNH CÁC CHẤT TÁCH CHIẾT
A.1 Kết quả thí nghiệm với chất tách chiết động vật – SH 95 A.2 Kết quả thí nghiệm với chất tách chiết thư vậtï – AH 101 A.3 Kết quả thí nghiệm với chất tách chiết vi sinh vật - CS 103
B Theo dõi sự biến động vi sinh vật của chế phẩm life bổ sung… 115 VII.4 KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CHẾ PHẨM SINH HỌC LIFE
Trang 5PHỤ LỤC 1 - HÌNH
Trang
Hình I.5: Hệ tuần hoàn và các dạng huyết bào của tôm sú 17
Hình II.1: Biểu đồ diện tích nuôi tôm những năm gần đây tại Việt Nam 27 HìnhII.2: Sản lượng tôm nuôi trong những năm gần đây tại Việt Nam 27 Hình II.3: Sơ đồ biểu thị cơ chế của sự lây nhiễm mầm bệnh 29 Hình II.4: Nguồn gốc và các nguy cơ gây stress cho tôm nuôi 30
Hình III.1: Tỷ lệ nhiễm bệnh do các tác nhân gây ra trên tôm sú 34
Hình III.6:Tác động qua lại của ba nhân tố gây hội chứng đốm trắng 41 Hình III.7: (A) ảnh hiển vi điện tử của hạt virus WSSV (B) ảnh
hiển vi điện tử của nucleocapsid (Just M Vlak., 2002) 42
Hình III.9: Cơ chế lây nhiễm của virus đốm trắng trong ao nuôi tôm 43 Hình III.10: Ảnh hiển vi điện tử của tế bào tôm nhiễm virus đốm trắng 45
Trang 6Hình VI.12: Thử nghiệm nitrat 80
Hình VII.1: Mối tương quan giữa mật độ tế bào và OD
Hình VII.5: Thức ăn có bổ sung chất tách chiết (A: Thức ăn + AH;
Hình VII.7.1: Biểu đồ tỷ lệ tăng trọng của tôm thí nghiệm 95
Hình VII.10: Biểu đồ chiều dài tôm trước và sau thí nghiệm 96 Hình VII.11: Biểu đồ số lượng tôm còn sống theo thời gian sau khi lây nhiễm 97
Hình VII.13: Biểu đồ về sự biến động tổng số vi khuẩn hiếu khí ở các bể 98
Hình VII.15: Biểu đồ Biểu đồ sự sống của tôm sau khi gây nhiễm 102 Hình VII.16: Biểu đồ tỷ lệ sống của tôm sau 30 gây nhiễm trong bể kiếng 105
Hình VII.19: Biểu đồ trọng lượng tôm trước và sau thí nghiệm 107 Hình VII.20: Biểu đồ chiều dài tôm trước và sau thí nghiệm… 108 Hình VII.21: Biểu đồ số lượng tôm còn sống theo thời gian… 109 Hình VII.22: Biểu đồ biểu đồ sự sống của tôm ở lô A và lô B… 111 Hình VII.23: Biểu đồ tỷ lệ sống của tôm sau 30 ngày gây nhiễm… 113 Hình VII.24: Biểu đồ sự sống sót của vi sinh vật X trong probiotic life 114 Hình VII.25: Biểu đồ sự sống sót của vi sinh vật X trong viên thức ăn 115
Hình VII.27: Biểu đồ tỷ lệ sống sót ở các lô thí nghiệm (%) 118 Hình VII.29: Biểu đồ sự biến động tổng số vi khuẩn hiếu khí ở các ao 118
Trang 7Hình VII.30: Biểu đồ sự biến động vi khuẩn nitrat hóa ở các ao trong 3 đợt 119
Hình VII.32: Biểu đồ so sánh trọng lượng trung bình của tôm sú 123
Hình VII.36: Biểu đồ so sánh mật độ haemocyte/ml trung bình của ba đợt 125
Trang 8PHỤ LỤC 2 – BẢNG
Bảng I.1: Hàm lượng một số nguyên tố trong xoang tiêu hóa của tôm sú 11
Bảng I.2: Vai trò của các acid amin không thay thế đối với
Bảng I.3: Công thức khoáng tham khảo cho thức ăn nuôi tôm 14
Bảng I.5: Tóm tắt một số đặc điểm sinh học của huyết bào tôm 18
BảngI.6: Một số thành phần tăng cường hệ miễn dịch cho tôm sú 22
Bảng II.1: Sản lượng tôm nuôi trên Thế giới và một số nước châu Á 24
Bảng III.1: Tỷ lệ phát bệnh theo từng giai đoạn của tôm 34
Bảng III.2: Một số bệnh thường gặp ở tôm sú do virus gây ra 35
Bảng III.3: Phân loại vi khuẩn theo nguồn thức ăn và năng lượng sử dụng 38
Bảng IV.1: Các loại thức ăn viên cho từng giai đoạn của tôm sú 58
Bảng VI.1: Các nguyên tố vi lượng được chọn trong chế phẩm 73
Bảng VI.2: Các thành phần cơ bản của thức ăn đối chứng (Tomboy) 73
Bảng VI.4: Phân lô thí nghiệm với chất tách chiết thực vật 76
Bảng VII.4: Số lượng tôm còn sống theo thời gian sau khi lây nhiễm 96
Trang 9Bảng VII.6: Kết quả tổng số vi khuẩn hiếu khí trong mẫu nước (đvtb x 10/l) 98 Bảng VII.7: Kết quả thử nghiệm nitrat theo phương pháp MPN (cfu/l) 100 Bảng VII.8: Kết quả gia tăng trọng lượng ở 2 lô thí nghiệm trong bể kính 101 Bảng VII.9: Kết quả gia tăng kích thước ở 2 lô thí nghiệm trong bể kính 101 Bảng VII.10: Tỷ lệ sống của tôm sau khi gây nhiễm ở 2 lô (lô A, lô B) 102 Bảng VII.11: Sự gia tăng trọng lượng của tôm sau 20 ngày trong bể kiếng 103 Bảng VII.12: Sự gia tăng kích thước tôm sau 20 ngày thí nghiệm… 104 Bảng VII.13: Tỷ lệ sống của tôm sau 30 ngày gây nhiễm trong bể kiếng 104 Bảng VII.14: Số tế bào Pseudomonas ở 2 lô thí nghiệm và đối chứng 105 Bảng VII.15: Số vi khuẩn hiếu khí ở 2 lô thí nghịêm và đối chứng 106
Bảng VII.19: Số lượng tôm còn sống theo thời gian sau khi lây nhiễm 109 Bảng VII.20: Kết quả tăng trọng lượng tôm ở 2 lô (bể xi măng) 110 Bảng VII.21: Tỷ lệ sống của tôm sau khi gây nhiễm ở 2 lô (lô A, lô B) 111 Bảng VII.22: Sự gia tăng trọng lượng sau 20 ngày thí nghiệm 112 Bảng VII.23: Tỷ lệ sống của tôm sau 30 ngày gây nhiễm trong bể xi măng 113 Bảng VII.24: Sự sống của vi sinh vật trong probiotic Life - probiotic 114
Bảng VII.26: Kết quả các chỉ tiêu hóa-lý của thức ăn sau bổ sung… 115
Bảng VII.27: Tỷ lệ sống của tôm sú nuôi trên các ao thí nghiệm đợt 1 116
Bảng VII.35: Tỷ lệ sống của tôm sú nuôi trên các ao thí nghiệm đợt 2 121
Trang 104 Trần Thị Việt Ngân (2002), Hỏi và đáp về kỹ thuật nuôi tôm sú, Nxb Nông nghiệp
5 Tạp chí thủy sản số: 1/2004, 3/2004
6 Bùi Quang Tề (1997), Bệnh của động vật thủy sản, Nxb Hà Nội
7 Thông tin khoa học và công nghệ thủy sản số 1/2002
8 Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Đặng Thị Hoàng Oanh (1995), Quản lý sức khoẻ tôm trong ao nuôi, Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ
9 Vũ Thế Trụ (1993), Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam, Nxb Nông nghiệp
TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
10 Alday-Sanz,V., Roque, A and Turnbull, J F (2002) Clearance mechanisms of Vibrovulnificus biotype I in the black tiger shrimp, Penaeus monodon Diseases of Aquatic Organisms, in presS
11 Anggraeni, M S and Owens, L (2000) The haemocytic origin of lymphoid organ
spheroid cells in the penaeid prawn Penaeus monodon Diseases of Aquatic
Organisms 40
12 Aspán, A, Huang, T.S., Cerenius, L and Sóderháll, K (1995) cDNA cloning of prophenoloxidase from the freshwater crayfish, Pacifastacus leniusculusand its activation Proc Natl Acad Sci USA 92
13 Aspán, A, Sturtevant, J., Smith, V J and Sóderháll, K (1990) The effect of
endogenous proteinase inhibitor on the prophenoloxidase activating enzym, a serine proteinase form crayfish haemocytes Insect Biochem 20
14 Bauchau, A G (1981) Crustaceans In: Ratcliffe, N A.and Rowley, A F (editors) Invertebrate blood cells Academic Press, London and New York
15 C B T van de Braak, (2002) Haemocytic defence in black tiger shrimp
18 Destoumieux.D, Bulet, P., Loew, D.,Van Dorsselear, A., Rodriquez, J and Bachere
E (1997) Penaeidin: a new family of antimicrobial peptiddes in the shrimp penaeues vanmamei (Decapoda)
Trang 1119 Factor, J R and Beekman, J (1990) The digestive system of the lobster, Homarus americanus: III Removal of foreign particles from the blood by fixed phagocytes of
the digestive gland Journal of Morphology
20 Fontaine, C T and Ligtner, D V (1974) Observations on the phagocytosis and elimination of carmine particles into the abdominal musculature of the white shrimp,
Penaeus setiferus Journal of Ivertebrate Pathology 24
21 Gargion, R and Barracco, M A (1998) Hemocytes of the palaemonids
Macrobrachium rosenbergii and M.acanthurus, and of the penaeid, Penaeus
paulensis Journal of Morphology
22 Gollas-Galván, T., Hernández-Lopáz, J., Vargas-Albores, F (1999)
Prophenoloxidase from brown shrimp (Penaeus californiensis) hemocytes Comp Biochem Physiol
23 Hahn,M., Keitel, T., Heinemann,U 1995 Crystal and molecular structure at 0.16-nm resolution of the hybrid Bacillus endo-1,3-1,4-beta-D-glucan-4 glucanohydrolase H
(A16-M) Eur J Biochem
24 Hall, M., Wang, R., Antwerpen, R., Sottrup-jensen, L and Sóderháll, K (1999) The
crayfish plasma clotting protein Proc Natl Acad Sci USA 96
25 Hoffmann, J.A., Kafatos, F.C., Janeway, C.A., Ekekowitz, R.A.B 1999 Phylogenetic perspectives in innate immunity
26 Holmblad, T., Sóderháll, K 1999 Cell adhesion molecules and antioxidative
enzymes in a crustacean, possible role in immunity Aquaculture 172
27 Holmblad T and Sóderháll, K (1999) Cell adhesion molecules and antioxidation enzymes in crustacean, possible role in immunity Aquaculture 172
28 Iwanaga S Kawabata, S and Muta, T (1998) New type of factors and defence molecules found in horseshoe crab hemolymph- their structures and function J Biochem (Tokyo) 123
29 Janeway, C.A.Jr 1989 Approaching the asymptole? Evolution and revolution in immunology Cold Spring Habour Symp Quant Biol 54
30 Johansson, M W (1999) Cell adhesion molecules in invertebrates immunity Dev Comp Immunol 23
31 Johansson, M W., Keyser, P., Sritunyalucksana, K and Soderhall, K (2000)
Crustacean haemocyte and haematopoiesis Aquaculture191
32 Johnson, P T (1976) Bacteria infection in the blue crab Callinectes sapidus: course
of infection and histopathology Journal of Invertebrate Pathology 28
33 Kallaya Sritunyalucksana 2001 Characterisation of Some Immune Genes in the
Black Tiger Shrimp, Penaeus monodon Keyser, P (1999) Crustacean immunity:
characterization of some crayfish blood protein Comperhensive summaries of
Uppsala dissertations from the Faculty of Science and Technology
34 Lee, S.Y and Lee, B L and Sóderháll K (2001) Characterization of a pattern
recognition protein amasquerade- likeprotein, ih the frshwater crayfish pacifastacus leniusculu
Trang 1235 Li-Li-Chen, Jiann Horng Leu (2001), Identification of a Nucleocapsid Protein (VP35) gene of shrimp White Spot Syndrome Virus and characterization of the Motif
important for targeting VP35 to the Nuclei of transfected insects cell, Department of
Zoology, National Taiwan University
36 Mariene O W van Hulten (2001), White spot syndrome Virus Envelope Protein VP28
is Involved in the Systemic Infection of Shrimp, Laboratory of virology, Wageningen
university
37 Jurgen Schrezenmeir and Michael de Vrese (1998), Probiotics, prebiotics, and
synbiotics-approaching a definition, the Institute of Physiology and Biochemistry of
Nutrion, Federal Dairy Research Center, Kiel, Germany
38 Shi-Yen Shiau (1998), Nutrient requirements of penaeid shrimps, Department of
Marine Food Science, National Taiwan Ocean University, Keelung, 202, Taiwan
Tài liệu internet
Trang 14
Trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt nam về tình hình của
ngành mình trong năm 2003, Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc cho biết đó là
một năm “…đầy khó khăn, kim ngạch xuất khẩu giảm, đặc biệt là tôm sú…” Và có lẽ sản lượng cũng như giá cả của con tôm sú xuất khẩu đã giảm ở mức thấp nhất so với những năm kề cận
Tuy vậy, Bộ trưởng cũng cho biết thêm “nếu sản lượng và giá cả đạt như những năm trước, thì kim ngạch xuất khẩu không chỉ 2,24 tỷ USD mà còn hơn thế…”
Rõ ràng con tôm sú luôn có một vị thế chủ lực đặc biệt trong lợi nhuận thủy sản nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung ở nước ta
Không thể phủ nhận rằng, nghề nuôi tôm đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế, nâng cao đời sống xã hội ở các làng chài ven biển, nhiều vùng đã thoát cảnh đói nghèo, tạo việc làm ổn định cho cư dân và khuyến khích các ngành nghề liên quan khác cùng phát triển
Tuy nhiên, việc gia tăng hoạt động nuôi tôm một cách quá nhanh chóng và tự phát đã kéo theo một số biến động đáng lưu ý về chất lượng tôm nuôi cũng như gây ảnh hưởng xấu, khó xử lý lên môi trường xung quanh, do vậy tạo cơ hội cho sự bùng nổ dịch bệnh Điều này dẫn đến tình trạng bất cân đối giữa sự đầu tư ban đầu và lợi nhuận thu được, và thông thường người nuôi tôm chịu lỗ vốn
Trong các bệnh nói trên, hội chứng đốm trắng (WSS) là nỗi ám ảnh lớn nhất, gây chết tôm với tỷ lệ rất cao (có thể tới 100%), làm thiệt hại trung bình hàng năm trên thế giới từ 1-3 tỷ USD (theo thống kê của FAO, 2003)
Ở Việt Nam, chỉ tính 6 tháng đầu năm 2004 đã có 33.563 ha diện tích nuôi
tôm sú bị nhiễm bệnh đốm trắng Xuất khẩu Thủy sản năm 2004 đã không đạt chỉ tiêu đề ra là 2,6 tỷ USD, trong đó tỷ lệ hao hụt phần lớn do bệnh tôm
Mặc dù đã có nhiều chương trình nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong việc phòng và điều trị bệnh đốm trắng, nhưng với những khó khăn nhất định về phương tiện kỹ thuật, điều kiện thí nghiệm… những hiểu biết về bệnh học tôm còn hạn chế
Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh như là một biện pháp để phòng và trị bệnh tôm; nhưng việc sử dụng những chất này một cách vô kiểm soát đã vô tình hủy hoại môi trường nuôi tôm, giảm năng suất thu hoạch… Ngoài ra, sự tồn dư của thuốc trong sản phẩm còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Trong năm 2002, Cộng đồng Châu Aâu và Hoa kỳ – nguồn thị trường lớn của Việt nam - bắt đầu kiểm tra và trả về nhiều sản phẩm tôm nhập khẩu có dư lượng
các chất chloramphenicol và nitrofurans, những chất đã bị cấm trong sản xuất và chế
biến thực phẩm Điều này khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn trong công nghệ nuôi tôm, khi sử dụng các yếu tố thức ăn hoặc thuốc trị liệu
Trong các văn bản pháp quy về nuôi trồng chế biến thủy sản, đã có các quy định cụ thể về vấn đề này
Trang 15Hiện nay, trong việc sử dụng các chế phẩm sinh học để giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh đốm trắng thì mục đích tăng cường sức khỏe cho tôm sú, nhằm kích thích tăng trưởng nhanh rút ngắn thời gian nuôi, tăng sức đề kháng bệnh cho tôm sú nhằm đảm bảo không bùng phát bệnh trong suốt thời gian nuôi… được coi là một trong những biện pháp khả thi, đạt hiệu quả kinh tế cao
Thực nghiệm đã chứng minh dinh dưỡng là công cụ hiệu quả nhất để tăng cường sức khỏe cho tôm nhưng không phải chỉ cần các thành phần cơ bản như protid, lipid, glucid… mà cần bổ sung yếu tố có thể hỗ trợ sự tiêu hóa, hấp thu của tôm, đồng thời hỗ trợ các tế bào có khả năng miễn dịch hoạt động một cách hiệu quả chống lại các tác nhân gây bệnh đặc biệt là virus gây bệnh đốm trắng
Phát triển kinh tế thủy sản bền vững, đó là chiến lược phát triển trong tương
lai nhưng phải được bắt đầu từ bây giờ, càng sớm càng tốt
Để góp phần nhỏ vào chiến lược phát triển bền vững trong nuôi tôm, chúng tôi tập trung nghiên cứu cho ra đời chế phẩm sinh học (Probiotic)
Chế phẩm được tổng hợp từ những mô động vật, thực vật với nhiều protein có hoạt tính khác nhau và một số vi khuẩn có lợi được bổ sung vào thức ăn nuôi tôm nhằm kích thích tăng trọng và tăng cường sức đề kháng bệnh cho tôm sú thịt, đặc biệt là phòng ngừa được bệnh đốm trắng, đồng thời không gây ô nhiễm môi trường
Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài này là nghiên cứu, tổng hợp chế phẩm sinh học (LIFE) trong phòng thí nghiệm, đồng thời khảo sát một số hiệu quả sinh học của chế
phẩm LIFE PROBIOTIC khi bổ sung vào thức ăn nuôi tôm sú thịt Penaeus monodon trong các điều kiện sống khác nhau
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2006
Nguyễn Thị Bích Thúy, Tăng Thi Rit
Trang 16PHAÀN HAI
TOÅNG QUAN
Life probiotic
Trang 17Chương Một
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA TÔM SÚ
Trang 18I.1.PHÂN LOẠI HỌC
Tôm sú Penaeus monodon còn có tên thường gọi là tôm sú sắt, tôm cỏ, tôm giang,
tôm he… Tên thương mại là Black Tiger Prawn; Giant Tiger Prawn; Jumpo Tiger Prawn; Black Tiger Shrimp; Grass Shrimp
Hệ thống phân lọai theo Hothuis (1980) và Barner (1987):
Động vật không xương sống Invertebrata
Lớp phụ Eumalacostra
Tôm sú có kích thước lớn nhất trong họ tôm he (Penaeidae), trung bình dài 190–
195mm, nặng 150g Kích thước tối đa có thể đạt 290-305mm
I.2 HÌNH THÁI GIẢI PHẪU [1]; [9]
Hình thể từ bên ngoài, tôm gồm các bộ phận sau:
- 08 đốt đầu ngực, 06 đốt thân
- 05 đôi chân bơi (phụ bụng)
- 05 đôi chân phụ (chân bò - phụ ngực)
Hình I.1: Hình thái bên ngoài của tôm sú
Chủy: dạng như lưỡi kiếm, cứng, có răng cưa Phía trên chủy có 7- 8 răng và dưới chủy có 3 răng
Mũi khứu giác và râu: cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm
Các cặp chân hàm: lấy thức ăn và bơi lội
Râu 1
Mắt
Chân bò
Mai cứng Chủy
Gai đuôi
Đôi mấu đuôi
Chân hàm trên
Chân hàm dưới
Đốt đuôi Các đốt đầu ngực Các đốt thân
Chân bơi Râu 2
Trang 19Các cặp chân ngực: lấy thức ăn và bò, cặp chân bụng dùng để bơi
Một cặp chân mấu đuôi để tôm có thể nhảy xa, điều chỉnh bơi lên, xuống
Bộ phận sinh dục ngòai (nằm dưới bụng) nhưng thụ tinh trong
Tôm sú thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước to hơn con đực Khi tôm trưởng thành, có thể phân biệt rõ đực cái nhờ cơ quan sinh dục phụ bên ngoài Con đực: cơ quan sinh dục chính nằm ở phía trong phần đầu ngực, bên ngoài có
cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chân ngực thứ 2, lỗ sinh dục đực mở ra
ở hốc háng đôi chân ngực thứ 5 Tinh trùng chứa trong các túi tinh
Con cái: buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng mở ra
ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3 Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấm phồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm Tôm thụ tinh bằng cách con cái nhận cả túi tinh của con đực sau khi giao phối và chúng tiến hành thụ tinh dần
Hình I.2: Giải phẫu học nội quan tôm sú
I.3 SINH THÁI VÀ PHÂN BỐ
Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía đông Tahiti, phía nam Châu Úc và phía tây Châu Phi (Racek – 1955, Holthuis và Rasa – 1965, Motoh – 1981, 1985), và vùng ven biển Nam Trung Mỹ Tôm sú thích nghi với các vùng biển ấm, có các chu kỳ thủy triều rõ ràng, khó sống và phát triển tại các vùng biển lạnh có băng tuyết Chúng cũng không thích hợp với một số khu vực biển có quá nhiều tảo lớn
Tôm sú phân bố từ kinh độ 30E đến 155E, từ vĩ độ 35N tới 35S xung quanh các thềm lục địa của các quốc gia vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam… Ở nước ta, tôm sú phân bố tập trung ở vùng duyên hải Miền Trung, Miền Bắc và không nhiều ở Miền Nam và cực Nam
Trang 20Đặc biệt khi trưởng thành, tôm thích sống tại các triền bãi đất ngập mặn, có thực vật xen kẽ và có độ phù sa cao
Tôm bột (Post Larva - PL), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ biển và ven rừng ngập mặn ven bờ Khi trưởng thành, tôm di chuyển xa bờ, vùng nước sâu hơn
I.4 CHU KÌ SỐNG CỦA TÔM SÚ
Trong môi trường biển tự nhiên, tôm cái mang trứng, khi trứng chín, tôm mẹ
dùng những cặp chân bò để pha trộn trứng và tinh trùng tại bộ phận Thelycum, sau đó
đẩy trứng đã thụ tinh (hợp tử) ra môi trường nước xung quanh
Hình I.3: Vòng đời và sự phân bố tự nhiên của tôm sú
Trên lý thuyết, tôm cái mang hợp tử chín và đẻ sau 1-3 ngày (thải ra môi trường) từ 600.000 -1.000.000 hợp tử chín (trứng chín), sau đó hợp tử bắt đầu nở, độ
nở trung bình 70-90% Aáu trùng tôm phát triển theo từng giai đoạn
Trang 21- Chu kì sống của tôm sú có thể chia thành 5 giai đoạn: trứng, ấu trùng, ấu niên, thiếu niên và trưởng thành Tôm sú trưởng thành mang trứng (khoảng 1 năm tuổi) thường di chuyển ra khơi xa và đẻ trứng ở đó Mỗi con cái tùy theo kích cỡ khác nhau mà có thể đẻ từ 300.000-1.200.000 trứng Sau 12-14 giờ, trứng nở thành ấu trùng Ấu trùng sống trôi nổi trong nước và được thủy triều đưa vào ven bờ
- Ấu trùng qua nhiều lần lột xác với các giai đoạn như: Nauplius, Zoae, Mysis mất 12-14 ngày để trở thành hậu ấu trùng hay còn gọi là tôm bột (Post larvae) Tôm bột sống bám vào vật bám ở ven bờ có độ mặn thấp, thường là ở cửa sông Vào thời
kì ấu niên, tôm sú bắt đầu chuyển sang sống ở đáy và đến giai đoạn thiếu niên tôm tìm đường di chuyển ra bãi đẻ ở vùng biển khơi
I.5 ĐẶC ĐIỂM TĂNG TRƯỞNG [2]; [36]
Vỏ tôm là áo giáp bảo vệ, được tạo thành từ chất chitin Trong quá trình tăng
trưởng, khi trọng lượng và kích thước của tôm đạt mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên Tôm lớn càng nhanh nhịp độ lột vỏ sẽ càng nhanh Nhiệt độ, nước, thời tiết, khí hậu, tuổi tác cũng ảnh hưởng đến việc tôm lột vỏ, cũng có trường hợp lột xác nhưng không tăng thể trọng
Hóa chất cũng đóng một vai trò lớn trong việc kích thích tôm lột vỏ, ví dụ sự kích thích của chất saponin Tôm non thay vỏ nhanh hơn tôm già, tôm được ăn đầy đủ thay vỏ nhanh hơn tôm đói, thiếu chất
Quá trình lột xác xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng thường vào ban đêm hay lúc sáng sớm Cường độ ánh sáng quá cao sẽ hạn chế quá trình lột xác của tôm Nhiệt độ thích hợp cho tôm lột xác khoảng 28 – 320C
Khi lột xác, lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và bụng nứt ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, tiếp theo là phần bụng và các phần phụ phía sau rút ra khỏi lớp vỏ cứng Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại 1-2 giờ với tôm nhỏ, 1-2 ngày với tôm lớn, tôm sú khi mới lột xác còn mềm cho nên rất nhạy cảm với sự thay đổi quá đột ngột của môi trường
Chanratchakool (1994) cho biết tần số lột xác đối với tôm sú có khối lượng 2-5g là 7-8 ngày/ lần, nếu tôm có khối lượng 23-40g là 14-16 ngày/ lần
Tác giả còn cho biết giữa tôm đực và tôm cái có tần số lột xác hòan tòan khác nhau Tôm cái có khối lượng 50-70g thì lột xác 18-21 ngày/ lần, trong khi đó nếu tôm đực cũng có cùng khối lượng thì lột xác 23-30 ngày/ lần
I.6 TẬP TÍNH ĂN VÀ ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA
Tập tính ăn [1]
Tôm sú là loài ăn tạp (rong rêu, động vật thủy sinh, tôm, mực tươi băm nhỏ, cá tạp…), giáp xác, giun nhiều tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng (thông thường 85% thức ăn tự nhiên của tôm là giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể, 15% còn lại là cá, giun nhiều tơ, thủy sinh vật, mảnh vụn hữu cơ )
Trang 22Tuy nhiên khi đói, tôm ăn tất cả những gì có thể bắt được như rong, rêu, mùn bã hữu cơ… Đặc biệt chúng rất thích ăn thịt những con tôm tươi mới lột vỏ, hoặc là con khoẻ mạnh tấn công và ăn thịt những con yếu
Trong tự nhiên, tôm sú bắt mồi nhiều hơn khi thủy triều rút Tôm sú nuôi trong
ao bắt mồi mạnh vào sáng sớm và chiều tối
Tôm sú bắt mồi bằng càng, sau đó đẩy thức ăn vào miệng để gặm Thời gian tiêu hóa trong dạ dày là 4-5 giờ
Tôm sú hoạt động bắt mồi mạnh ở giai đoạn tôm giống Tôm sú bố mẹ nuôi trong bể nuôi có hoạt động bắt mồi chậm chạp khi buồng trứng đang phát triển
Đôi khi, tôm đói vẫn nằm yên nhưng nếu dùng que gạt từng viên thức ăn vào gần miệng, tôm đưa chân bò ra gắp và ăn ngay Số lượng và chủng loại thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tuyến sinh dục của tôm sú
Cấu tạo và hoạt động của cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa [38]
- Tôm sú là loài ăn tạp, có cấu trúc ngàm, hàm và ống tiêu hóa đặc trưng cho chế độ bắt mồi động vật
- Tôm có ba đôi chân hàm với chức năng cắt và chuyển thức ăn vào miệng
- Các đôi chân hàm chủ yếu để phát động luồng nước qua mang, cùng với tấm quạt nước và các hàm dưới quạt và nén thức ăn vào miệng
- Hàm trên ngắn với các mặt đối diện nhau dùng để cắt và nghiền Phía sau hàm trước là hai đôi phần phụ bắt mồi Đó là đôi chân hàm sau thứ nhất và đôi chân hàm sau thứ hai
- Phần phụ của ba đốt ngực thứ nhất là các đôi chân hàm giúp cho việc cắt giữ mồi và chuyển thức ăn vào miệng
- Ruột trước phân hóa thành dạ dày, bao gồm dạ dày trước và dạ dày sau Thành trong của dạ dày có những gờ của lớp cuticun lát mặt trong của ruột trước Ruột giữa ngắn có những ống tiêu hóa tiết dịch tiêu hóa ở chỗ giữa ruột trước và ruột sau Ruột sau dài và cũng có lát cuticun ở mặt trong
Đổ vào ruột giữa còn có một tuyến tiêu hóa đặc biệt (tuyến ruột giữa) có chức năng như gan và tụy của động vật bậc cao Dịch tiết của tuyến tiêu hóa này không những có khả năng tiêu hóa protein, lipid, glucid mà còn có khả năng thực bào các mảnh vụn thức ăn do chứa nồng độ cao các tế bào chức năng
Một số enzyme tiêu hóa chủ yếu như: Proteolytic enzyme, carboxypeptidase
A và B, enzyme không đặc hiệu esterase, amylase Trong đó amylase có khả năng tiêu hóa cellulose có hoạt tính ở pH 6,8 Protease có hoạt tính trong vùng pH 7,5 – 8,0; 400C Các enzym kiềm có vai trò tích cực trong hoạt động tiêu hóa của tôm
Đặc điểm hoạt động cơ quan tiêu hóa
- Xoang tiêu hóa của tôm sú có chức năng như vùng đệm của quá trình tiêu hóa, là nơi dự trữ năng lượng khi tôm ăn vào Khi không có thức ăn, đây là nơi cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của cơ thể
Trang 23- Hoạt động chính của quá trình tiêu hóa xảy ra tại xoang tiêu hóa Thức ăn sau khi được cắt sơ bộ bằng các đôi chân hàm, một lần nữa được nghiền lại bằng cối xay vị nghiền, sau đó được thủy phân dưới tác dụng của enzym tiêu hóa
- Trong xoang tiêu hóa của tôm sú phát hiện thấy một số loại enzyme tiêu hóa chủ yếu như: protease, amylase… Trong giai đoạn ấu trùng Mysis còn phát hiện thấy khả năng tiêu hóa cellulose Amylase trong xoang tiêu hóa của tôm sú có hoạt tính trong vùng pH 6,8 Hoạt tính của protease trong vùng pH 7,5-8 Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của protease là trong vùng 40oC
- Vai trò của enzyme kiềm đã được thể hiện một cách tích cực trong hoạt động
tiêu hóa của tôm sú P.monodon Khi phân tích thành phần các acid amin tự do trong
xoang tiêu hóa của tôm sú thì thấy rằng hàm lượng các acid amin tự do kiềm cao hơn hẳn hàm lượng của chúng có trong thức ăn
Bảng I.1: Hàm lượng một số nguyên tố trong xoang tiêu hóa của tôm sú
(Đơn vị: mg/kg vật chất khô)
TT Nguyên tố Hàm lượng TT Nguyên tố Hàm lượng
- Các lọai thức ăn sau khi được tiêu hóa và tích lũy ở xoang tiêu hóa của tôm
P.monodon đã có sự thay đổi cơ bản về thành phần:
Hàm lượng protein tổng số trong xoang tiêu hóa của tôm là 35,44% và có tới 31,51% là protein tan (phần protein tích luỹ chủ yếu là protein tan)
Hàm lượng lipid tổng số trong xoang tiêu hóa của tôm P.monodon chiếm tới
57,74% Tổng lượng này lớn hơn rất nhiều so với tỉ lệ có trong thức ăn (xoang tiêu hóa có thể là nơi dự trữ năng lượng của tôm sú dưới dạng lipid)
Chất khoáng tổng số trong xoang tiêu hóa tôm chiếm 31,5% trong tổng chất chứa trong xoang tiêu hóa
Carbohydrate: trong xoang tiêu hóa của tôm sú được nuôi bằng thức ăn tự nhiên không phát hiện thấy có carbohydrate, chứng tỏ nhu cầu carbohydrate trong thức ăn nuôi tôm sú không lớn
I.7 NHU CẦU DINH DƯỠNG
Protein và amino acid [2]; [38]
Trong thành phần thức ăn cho tôm nuôi, protein là dưỡng chất quan trọng nhất Nhu cầu protein của tôm thay đổi theo lứa tuổi từ 30-57%
Trang 24Ở giai đoạn ấu trùng, tôm cần nhiều protein (trên 40%) và giảm dần theo quá trình phát triển
Nhìn chung, hàm lượng protein trong thức ăn nuôi ấu trùng tôm sú dao động khoảng 50-70% Tốc độ sinh trưởng và độ lớn của tôm không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng protein mà còn phụ thuộc vào tính chất, tỷ lệ các acid amin có trong protein
Bảng I.2: Vai trò của các acid amin không thay thế đối với động vật thủy sinh Tên acid amin Tính chất và chức năng
Lysine Kích thích thèm ăn, thúc đẩy sinh trưởng và phát dục, làm
chóng lành các vết thương, tăng sức đề kháng
Tryptophan Trong quá trình trao đổi chất, nó biến đổi thành threonine,
phenylalanine, có quan hệ mật thiết với vitamin B6.
Methionine Có tác dụng ngăn sự nhiễm mỡ ở gan, làm cho sự chuyển
hóa của mỡ được bình thường, đồng thời nâng cao chức năng hoạt động của gan
Leucine Trong quá trình trao đổi vật chất, đầu tiên chúng chuyển
thành NH4, sau đó tạo đạm của tế bào và huyết tương
Threonine Phòng chống tác dụng gan nhiễm mỡ
Histidine Hợp thành vật chất đặc biệt trong gan, chúng có tác dụng
như enzym, làm giãn nở huyết quản, tăng cường tính thẩm thấu huyết quản
Isoleucine Giống như leucine là nguyên liệu tạo thành đường, tiến
hành các phản ứng men trong gan, thận, tim
Valine Nguyên liệu chính để tạo ra đường, rất cần thiết cho hệ
thần kinh
Phenylalanine Tạo thành đạm cho cơ thể, nguyên liệu hình thành chất
tuyến giáp trạng, chất tuyến thượng thận Có thể chuyển hóa thành tyrosine
Arginine Rất cần thiết cho sinh trưởng và phát dục
Ngoài ra, các nghiên cứu đã cho thấy casein và albumin là nguồn protein thích hợp cho đặc điểm tiêu hóa của tôm sú
Với các loại protein có nguồn gốc, phương pháp chế biến khác nhau cũng cho
tỉ lệ tiêu hóa khác nhau ở tôm
Nhu cầu protein trong thức ăn tôm nhìn chung cao hơn nhiều so với các loại gia súc và thủy sản nước ngọt khác nhưng còn phụ thuộc vào giống và thời điểm sinh trưởng, thậm chí có thể phụ thuộc cả môi trường nuôi
Trang 25Trong thực tế sản xuất, cũng có khi bắt gặp một số công thức thức ăn có chứa một tỉ lệ nhất định carbohydrate nhưng đó không phải là nhu cầu dinh dưỡng của tôm mà chỉ đơn giản là giải pháp công nghệ để tạo viên thức ăn
Trong dinh dưỡng tôm, vai trò chính của glucid là sinh năng lượng Ngoài vai trò trên, ở mức độ nhất định, glucid tham gia cơ chế tạo hình vì có mặt trong tế bào và tổ chức mô thịt tôm (glycogen) Chuyển hóa glucid liên quan chặt chẽ với chuyển hóa protid và lipid Cung cấp đủ glucid trong thức ăn sẽ làm giảm phân hủy protid đến mức tối thiểu Lượng glucid thừa dễ dàng chuyển thành lipid tích trữ trong các tổ chức mỡ dự trữ của cơ thể
Glucid trong nhu cầu dinh dưỡng tôm chủ yếu là tinh bột Trong cơ thể tôm, tinh bột chuyển hoá thành glucose rồi tạo thành glycogen, đây là nguồn dinh dưỡng cho các cơ quan và các hệ thống dưới dạng chất sinh năng lượng Cellulose có khả năng điều hòa bài tiết và kích thích các hệ vi khuẩn có ích ở ruột, tạo điều kiện tốt nhất cho các chức phận sinh tổng hợp cơ chất
Nhìn chung, carbohydrat cùng với chất béo tạo thành nguồn năng lượng họat động cho tôm, đồng thời nó cũng có vai trò quan trọng trong việc tồn trữ năng lượng
ở dạng glycogen, tổng hợp chitin tạo vỏ, steroid và chất béo
Lipid và steroid
Tôm (cũng như các loài giáp xác khác) không chịu được hàm lượng lipid cao quá 10% trong khẩu phần ăn Hàm lượng lipid tối ưu trong khẩu phần thức ăn nuôi tôm là từ 5-7% Hàm lượng lipid trên hoặc dưới giới hạn đều có thể ảnh hưởng không tốt tới sự tăng trưởng của tôm ở giai đọan đầu đời
Hàm lượng lipid quá cao trong khẩu phần ăn cản trở việc tiêu thụ thức ăn và giảm tính ngon của thức ăn Tuy nhiên, thành phần lipid không no trong thức ăn mới là nhân tố quyết định giá trị dinh dưỡng của thức ăn
Để đảm bảo cho tôm sinh trưởng bình thường, ngoài các acid béo không no người ta thường bổ sung một thành phần rất quan trọng là cholesterol bởi đó là tiền chất của vitamin D và là thành phần quan trọng trong các hormone lột xác
Sự hiện diện của sterol trong thức ăn tôm rất quan trọng trong việc tham gia thành phần cấu trúc của tế bào, tiền chất của những hormone steroid, hormone não, hormone lột xác và vitamin D, tăng cường sự hấp thụ Ca++ Nói chung các hormone này có vai trò chính trong cơ chế tăng trưởng và phân bào
Không những vậy, chất béo không no còn là nguồn cung cấp năng lượng và là dung môi tốt cho các vitamin A, D, E, K… (các vitamin tan trong mỡ, giúp tạo các hương vị hấp dẫn cho thức ăn tôm cá)
Trong thức ăn nuôi tôm P.monodon, thành phần các acid béo rất quan trọng và
giữ vai trò thiết yếu trong sinh trưởng, đó là các acid béo không no: Arachidonic (C19H31COOH), Linoleic (C17H29COOH), những acid béo của động vật biển
Cũng cần lưu ý rằng sterol rất quan trọng trong dinh dưỡng của tôm, nhưng ngược lại tôm không thể tự tổng hợp sterol từ acetate
Trang 26Khoáng
Tôm cũng như hầu hết các sinh vật khác có khả năng hấp thu, bài tiết chất khoáng qua màng và bề mặt cơ thể Do vậy, nhu cầu khoáng trong thức ăn phụ thuộc rất lớn vào nồng độ các chất khoáng trong môi trường nước nuôi
Do hệ thống tiêu hoá tôm rất ít tính acid nên việc bổ sung các chất khoáng tan trong nước vào trong thức ăn tôm là rất cần thiết, đặc biệt trong đó tỉ lệ Ca/P phải luôn được duy trì ở mức 1:1-1,5:1
Việc bổ sung khoáng trong thành phần thức ăn nuôi tôm phải tính đến hàm lượng khoáng có trong môi trường nuôi (vì tôm có khả năng hấp thu các chất khoáng trực tiếp từ bên ngoài vào cơ thể bằng con đường thẩm thấu qua mang) Các giống tôm biển có khả năng hấp thu calci trực tiếp từ nước biển nên nhu cầu calci trong khẩu phần ăn của tôm biển thấp hơn tôm nước ngọt
Do hàm lượng phospho trong nước biển thấp nên việc bổ sung phospho vào khẩu phần ăn của tôm là rất quan trọng
Trên thực tế, các công thức thức ăn nuôi tôm đều được bổ sung khoáng vi lượng dưới dạng premix như là một nhân tố bảo đảm
Hàm lượng các chất khoáng trong thức ăn nuôi tôm thường chiếm khoảng 3%, trong đó chủ yếu là calci và phospho, các nguyên tố vi lượng thường ở mức 0,2%
Bảng I.3: Công thức khoáng tham khảo cho thức ăn nuôi tôm
- Tuy nhiên việc bổ sung chất khoáng vào trong thức ăn nuôi tôm P.monodon
cần căn cứ cụ thể trên thành phần nguyên liệu thực tế và nên tận dụng các nguồn chất khoáng ngay trong các nguyên liệu được sử dụng chế biến thức ăn để làm
nguồn cân đối cho nhu cầu dinh dưỡng của tôm P.monodon
Nói chung, cho đến nay, nhu cầu về các chất khoáng trong thức ăn nuôi tôm (chủng lọai, hàm lượng…) vẫn còn nhiều vấn đề phải thảo luận
Chitin
Trong dinh dưỡng tự nhiên, tôm cũng cần nguồn chitin từ côn trùng, giáp xác và vi khuẩn Chitin cần cho nhu cầu lột xác và tăng trưởng Do đó, bột tôm là thành phần rất quan trọng trong thức ăn bổ sung cho tôm
Chitin là thành phần cấu trúc chính của vỏ tôm Thức ăn tôm chứa 0,5% chitin sẽ kích thích tôm tăng trưởng nhanh
Vitamin
Vai trò của vitamin đối với cơ thể tôm P.monodon cũng quan trọng như ở con
người và các loài động vật khác Vitamin tham gia vào quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng, quá trình lột xác và tăng trưởng Phần lớn các vitamin không được tổng
Trang 27hợp trong cơ thể mà phải lấy từ thức ăn Tôm có thể tự tổng hợp được vitamin D từ sterol Vitamin nhóm B, C, E rất cần thiết trong thức ăn của tôm
Bảng I.4: Vai trò của vitamin đối với động vật thủy sinh
Vitamin A Hình thành các thể đỏ tím trong võng mạc, có tác
dụng chữa các bệnh về mắt, bảo vệ tổ chức thượng
bì, khi thiếu vitamin A khả năng đề kháng kém
Vitamin D Làm tăng sự hấp phụ Ca và P, có quan hệ mật thiết tới
quá trình hình thành xương, chống bệnh còi xương
Vitamin E Chống oxi hóa, có tác dụng hỗ trợ cơ quan sinh dục
Vitamin
hòa tan
trong
lipid
Vitamin K Làm máu đông kết nhanh
Vitamin B1 Chống viêm thần kinh, tham gia vào quá trình trao
đổi carbohydrate
Vitamin B2 Trao đổi năng lượng, thúc đẩy sinh trưởng, hô hấp
và sinh dục, chống mệt mỏi
Vitamin B6 Chống viêm da, là chất xúc tác của các phản ứng
acid amin
Vitamin C Có lợi cho sinh trưởng và phát triển xương
Acid Nicotilic (vitamin B5)
Chất xúc tác trong các phản ứng oxi hóa – hoàn nguyên, chống các rối lọan trong cơ chế tiêu hóa, và họat động thần kinh
Vitamin B3 Có tác dụng quan trọng trong trao đổi acid béo
Choline Tác dụng nhũ hóa chống gan tụ mỡ
Vitamin B11 Có quan hệ với suy dinh dưỡng, thiếu máu, tham gia
vào trao đổi đạm
Vitamin B12 Chống thiếu máu, tăng cường hiệu lực đạm, có tác
dụng sinh trưởng đối với ấu thể
Vitamin H Là một enzyme quan trọng trong quá trình trao đổi
đường, đạm, mỡ
Có quan hệ nhất định với vitamin H
I.8 CƠ CHẾ KHÁNG BỆNH CỦA TÔM
Các hiểu biết về hệ miễn dịch của tôm chưa có nhiều Flegel (2001) đã chỉ ra rằng, phần lớn các kiến thức của chúng ta về hệ miễn dịch của tôm chủ yếu dựa trên những nghiên cứu về sự nhiễm bệnh do vi khuẩn và nấm Phản ứng của tôm tới sự nhiễm bệnh do virus hoàn toàn khác với sự nhiễm bệnh do vi khuẩn
Cơ chế bảo vệ của tôm rất nguyên thủy và đơn độc về khả năng kiểm soát sự nhiễm trùng Cơ chế này còn bị hạn chế so với động vật có xương sống do sự khác
Trang 28biệt về tiến hóa, biểu hiện ở chỗ không có và không tạo ra được kháng thể đáp ứng lại kháng nguyên xâm nhập [11]; [16]
Tôm (và các giáp xác 10 chân khác) có hệ tuần hoàn mở sơ khai và không có sự phân tách giữa hệ tuần hoàn và hệ bạch huyết Chất lỏng bên trong hệ tuần hoàn được gọi là haemolymph (huyết tương), còn các tế bào bên trong haemolymph được gọi là haemocytes (huyết bào) [15]
Trong các tài liệu được công bố gần đây, đã có nhiều ý kiến tương đối thống nhất về việc phân loại nhóm những tế bào haemocyte có trong tôm he Martine và Graves (1985) báo cáo xác định 3 dạng tế bào haemocyte khác nhau: [14]; [19]
Haemocyte không hạt là những haemocyte nhỏ nhất (12,4x7,8μm), hình
trứng, không hạt, chỉ chiếm khoảng 5-10% những haemocyte tuần hoàn, và không khúc xạ khi quan sát bằng kính hiển vi quang học
Haemocyte hạt nhỏ là dạng phổ biến của haemocyte (chiếm 75% toàn bộ
các haemocyte) Có dạng hình trứng, dài và rộng hơn không đáng kể so với tế bào haemocyte không hạt (14,8x8,3μm), không khúc xạ, và chứa một lượng hạt có thể thay đổi (từ 1 đến 40 hạt)
Haemocyte hạt lớn chiếm 10-20% trong tổng số các haemocyte Chúng có
hình trứng đến hình cầu và có kích thước tương đương với kích thước của haemocyte hạt nhỏ (13,6x9,5μm) Các tế bào này được làm căng đầy bởi những hạt nhỏ có khả năng khúc xạ cao khi quan sát bằng kính hiển vi quang học
Trong khi đó, theo Van de Braak: [15]
- Có 2 dòng tế bào khác nhau gọi là haemocyte hạt lớn và haemocyte hạt nhỏ Những tế bào tiền thân hyaline (tế bào thủy tinh) chính là những tế bào non và chưa trưởng thành của cả 2 dòng tế bào nói trên
- Những tế bào hạt của dòng tế bào hạt lớn trưởng thành và tích trữ trong mô liên kết và dễ dàng được phóng thích vào huyết tương Nó không xuất hiện ở những nơi có dòng tế bào hạt nhỏ trưởng thành
- Năm dạng tế bào khác nhau được tìm thấy như tế bào hyaline (tế bào thủy tinh), small-granular semigranulocyte (các tế bào có kích thước trung bình- hạt bán nhỏ), large-granular semigranulocyte (các tế bào có hạt lớn hơn-bán hạt lớn), small-granular granulocyte (tế bào hạt nhỏ), large-granular granulocyte (tế bào hạt lớn) Những huyết bào semigranular (tế bào bán hạt) là những tế bào liên quan đến sự thực bào của tôm (Soderhall and Cerenius, 1992; Bachère et al., 1995)
- Những tế bào hyaline (tế bào thủy tinh) cũng được nhận biết như là những bạch huyết cầu (Soderhall and Cerenius, 1992)
Trang 29Hình I.5: Hệ tuần hoàn và các dạng huyết bào của tôm sú
- Những tế bào hạt đã được chứng minh có vai trò quan trọng trong hệ thống bảo vệ của tôm do hoạt động kháng khuẩn của chúng (Chisholm and Smith, 1995)
Hình I.6: Cấu trúc tế bào heamocyte
(a) Heamocyte với granules nhỏ (SGH); (b) Heamocyte với granules lớn (LGH)
Haemocytes chính là các tế bào bảo vệ nguyên thuỷ của tôm, có khả năng thực bào các tác nhân lạ Các phân tử lectin có hoạt tính miễn dịch Lectin là các phân tử glycoprotein có khả năng gắn với tiểu phần đường của các phân tử khác, đặc biệt ở các tác nhân lạ nhằm bắt dầu cho sự nhập bào [13]; [18]
Sự thực bào (của haemocyte) là một cơ chế tự nhiên, tự vệ quan trọng hàng đầu của loài giáp xác, đồng thời chúng tham gia thực bào các chất dinh dưỡng
Trang 30- Vi khuẩn, virus hay độc tố cũng có thể có lectin bề mặt Các phân tử lectin này một mặt có thể giúp nối kết tác nhân lạ với huyết bào tôm, hoạt hóa chúng, làm tăng hoạt động thực bào và hoạt tính kháng khuẩn; mặt khác vi khuẩn hay virus cũng có thể sử dụng các phân tử lectin để sáp nhập vào tế bào tôm ở vị trí các thụ thể (receptor), khởi đầu cho quá trình nhiễm [27]; [32]
Các haemocytes này đóng một vai trò quan trọng trong các phản ứng miễn dịch của tôm Hệ miễn dịch của tôm nhận biết vi khuẩn và nấm xâm nhiễm vào cơ thể chúng thông qua các thành phần đặc biệt trên màng tế bào của chúng
Đó chính là các protein nhận biết (thụ thể) ở huyết bào, để nhận diện các cấu trúc tương ứng ở vách tế bào của vi khuẩn xâm nhập [31]; [25]
Bảng I.5: Tóm tắt một số đặc điểm sinh học của huyết bào tôm
Hoạt động Tế bào thủy tinh Tế bào bán hạt Tế bào hạt
Hoạt động
Sự thực bào
Đáp ứng với
Đáp ứng với
Protein proPO Gia tăng thực bào Giảm thực bào Sự mất hạt nhỏ
Sau đó, những chỗ gắn trên tế bào này khởi động một đáp ứng bảo vệ của cơ thể bắt đầu từ bề mặt tế bào vào trong, dẫn đến sự mất hạt của huyết bào và phóng thích những protein có bản chất rất khác nhau:
- Một vài protein là tiền enzyme
- Một vài protein khác là chất nền
Nguyên tắc của cơ chế đông tụ là bắt lấy những vật lạ và ngăn cản sự tổn hại huyết tương Quá trình đông tụ khởi động khi mà enzym Tranglutaminase (TGase) được phóng thích từ huyết bào hay mô TGase phụ thuộc ion calci xúc tác cho quá
Trang 31trình tổng hợp protein đông tụ Protein đông tụ được tìm thấy trong huyết tương để hình thành cục đông tụ ở dạng gel [28]; [30]
- Khi những huyết bào được hoạt hóa và mất hạt, thì proPO bất hoạt được chuyển thành phenoloxidase hoạt động (PO) bởi enzym hoạt hóa prophenoloxidase (ppA) Enzym PO xúc tác quá trình oxi hóa phenol thành quinones, được thông qua bởi một vài bước trung gian để cuối cùng hình thành melanin [22]
- Trong suốt quá trình hình thành melanin, những yếu tố kháng khuẩn cũng được hình thành Melanin (sắc tố nâu đen) cô lập nguồn bệnh, vì vậy ngăn cản được sự tương tác của nguồn bệnh với cơ thể vật chủ Vật liệu để tổng hợp melanin thường được tìm thấy như những đốm đen trong hoặc dưới lớp cuticun của tôm [34]; [15]
Một yếu tố có liên quan đến hệ thống proPO là peroxinectin Peroxinectin có
hai chức năng khác nhau: kết dính tế bào và hoạt động peroxidase
Peroxinectin được tổng hợp trong những huyết bào, chúng được dự trữ trong những hạt bài tiết ở dạng bất hoạt và được phóng thích trong đáp ứng với những kích thích và hoạt động bên ngoài tế bào [15]; [29]
Hình I.7: Cấu trúc phân tử và hoạt tính của Lectine
Những receptor chuyển màng của họ integrin có trên huyết bào đóng vai trò quan trọng trong chức năng kết dính tế bào của peroxinectin Sự kết dính tế bào bao gồm từ việc bắt giữ, lan tỏa, thực bào, bao nang hóa, hình thành u nhỏ và cuối cùng là sự kết dính, trong khi đó những thành phần kháng khuẩn của hoạt động peroxidase giúp giết những vi sinh vật xâm nhiễm Sự thực bào là một thành phần quan trọng trong hệ thống miễn dịch của tôm, có chức năng trừ khử các tế bào lạ xâm nhập vào hệ thống huyết dịch của tôm bởi những tế bào riêng lẻ [20]; [26]
Thực bào có thể phát sinh một số thể tự do trong trường hợp thường gọi là thở gấp, qua đó tạo ra khả năng diệt khuẩn mạnh Sau khi ăn vào, những huyết bào tôm, giống như tế bào máu của động vật có xương sống, sử dụng những gốc oxi tự do để giết những vật thể ngoại bào này
Trang 32Hình I.8: Cơ chế bảo vệ ở tôm
βG: β-Glucan βG-BP: β-Glucan binding protein
proPO: prophenoloxidase ppA: Prophenoloxidase activating enzym
PO: Phenoloxidase
Nếu có quá nhiều vật lạ vào cơ thể hoặc nếu chúng quá lớn để có thể tiếp nhận thì các huyết bào sẽ liên kết với nhau lại để cô lập nguồn bệnh đó, những hiện tượng này được gọi là sự hình thành khối u nhỏ và sự bao nang hóa
- Những enzym ức chế, cũng được sản xuất bởi các huyết bào, rất cần thiết để điều hòa những protease theo từng đợt và ngăn cản sự hoạt hóa quá mức và gây nguy hiểm cho mô của cơ thể
Trang 33- Những protease ức chế từ họ Kazal và Serpin đã được xác nhận ở giáp xác Trong đó, α2-Macroglobulin đáp ứng như một protein gắn protease được dự trữ trong những hạt của huyết bào
- Thêm vào đó, các huyết bào đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất và phóng thích của sự kết dính, của những peptide kháng khuẩn và những phân tử độc tố như enzym tiêu hóa (lysozyme, esterases, phosphatases, protease, phospholipases và peroxidase)
- Để một hệ miễn dịch bảo vệ một cách hiệu quả thì tất cả các thành phần của hệ miễn dịch phải hoạt động đồng thời
Peptidoglycans, lipopolysaccharides trên màng tế bào vi khuẩn và β-glucan trên màng tế bào nấm là những phần tử dễ dàng bị phát hiện bởi những yếu tố đặc biệt trong hemolymph Khi các phần tử này bị nhận dạng thì hệ miễn dịch của tôm sẽ có các phản ứng chống lại vi sinh vật xâm nhiễm [23]; [24]
Các phản ứng này cũng bao gồm: sự kết dính, sự thực bào, sự hình thành các thành phần kháng lại gốc tự do Một vài nghiên cứu cho thấy rằng hệ miễn dịch của tôm có thể được kích thích với peptidoglycans, lipopolisaccharides, hay β-glucan tinh khiết Ngay cả các vi khuẩn sống hay ở dạng tiềm sinh cũng có thể tăng khả năng kháng bệnh do vi khuẩn Chúng có tác dụng cải thiện tình trạng stress ở tôm và khống chế sự phát triển bệnh ở tôm Tuy nhiên vẫn tùy thuộc vào dạng sản phẩm và việc cung cấp các chất bổ dưỡng phụ trợ
Đây là vấn đề cơ bản để thúc đẩy việc thiết lập hệ thống miễn dịch ở tôm Do đó việc xây dựng các chế phẩm sinh học đặc trưng thúc đẩy việc ngăn chặn bệnh phải dựa trên sự lựa chọn thích hợp các tác nhân kích thích miễn dịch kết hợp với việc cung cấp cân đối các chất dinh dưỡng chủ chốt nhằm tăng cường khả năng hoạt động của hệ thống miễn dịch
Tóm lại, tôm không có khả năng phản ứng lại sự miễn dịch một cách thích nghi
vì các thành phần dịch thểù trong tôm không có các yếu tố có thể cảm nhận như: globulin miễn dịch, tế bào tiếp nhận hình T, phức hệ tương hợp ghép mô chính, và tế bào ghi nhớ hình T [17]; [21]
Dù có sự nhiễm bệnh lặp đi lặp lại, nhưng tôm nhiễm bệnh vẫn không chống nổi bệnh dịch bằng cơ chế tự bảo vệ Tuy nhiên, những con tôm đã nhiễm một loại virus nào đó mà vẫn còn sống thì chúng rất nhạy cảm với các loại virus khác.Trên cơ sở tự nhiên của cơ chế miễn dịch, trong chăn nuôi công nghiệp, người ta có thể tăng cường sức khỏe tôm bằng cách cung cấp các yếu tố tăng cường họat động cho hệ đề
kháng bệnh thông qua việc bổ xung vào thành phần thức ăn:
- Thức ăn đảm bảo chất dinh dưỡng cho tôm
- Sử dụng lượng thức ăn thích hợp trong mỗi lần cho ăn
- Cung cấp thêm các chất dinh dưỡng và sản phẩm giúp tăng cường và kích thích hệ miễn dịch của tôm
Trang 34BảngI.6: Một số thành phần tăng cường hệ miễn dịch cho tôm sú
Các chất bổ dưỡng
Vitamin C Chữa trị các vết thương, chống oxy hóa, tăng cường khả
năng chống stress cho ấu trùng tôm
Acid béo w-3 Phản ứng viêm, tăng sức khỏe cho ấu trùng tôm
Phospholipid Bảo vệ màng sinh họ, tăng chống stress ở ấu trùng tôm Astaxanthin Chống oxy hóa, tăng khả năng chống stress cho tôm
Nucleotid Chất bổ dưỡng chính trong chống stress và nhiễm bệnh
Sản phẩm kích thích hệ miễn dịch
Lipopolysaccharide Thành phần của màng vi khuẩn Gram âm, hoạt hóa hệ
miễn dịch; tăng kháng, chống nhiễm bệnh và stress
Glucan Thành phần của màng tế bào nấm, tăng sức đề kháng
Mannan
oligosaccharide
Thành phần màng tế bào nấm, ngăn chặn và loại bỏ nguồn lây bệnh vào đường ruột
hóa hệ miễn dịch và tăng sức đề kháng
Fucoidan Thành phần màng tế bào tảo nâu, hoạt hóa hệ miễn dịch
và tăng cường sức đề kháng
Chế phẩm sinh học
Vi khuẩn Giúp loại bỏ vi khuẩn lây bệnh trong đường ruột, chống
vi trùng và kích thích hệ miễn dịch
oOo
Trang 36II.1 TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SÚ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
[7];[41];[42]
Nuôi trồng Thủy sản là ngành kinh tế quan trọng, trong đó chủ chốt là con tôm Trên thế giới có khoảng 50 quốc gia nuôi tôm, chủ yếu tập trung ở hai khu vực Nam Mỹ và Đông Nam Á Trong đó, sản lượng tôm nuôi ở Đông Nam Á chiếm hơn 80% tổng sản lượng tôm nuôi trên toàn thế giới
Trong quần thể tôm nuôi nói chung, tôm là một đối tượng kinh tế quan trọng Thịt tôm là món ăn thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng nên được nhiều người ưa thích, đặt biệt tôm là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Diện tích, sản lượng tôm trên thế giới và Việt Nam không ngừng tăng qua các năm
- Theo FAO (2002) và báo cáo của Hội nghị Nuôi tôm toàn cầu (2003):
Bảng II.1: Sản lượng tôm nuôi trên Thế giới và một số nước châu Á
Mức tăng bình quân khoảng 10,5%/năm
Theo số liệu của FAO (2002), các nước Châu Á dẫn đầu về sản xuất tôm nuôi của thế giới, chiếm khoảng 86% sản lượng toàn cầu năm 2003, sản lượng tôm nuôi đạt 1,35 triệu tấn, tăng 11% so với sản lượng ước tính năm 2002 là 15% sản lượng thực tế của năm 2001 Trong đó những nước có sản lượng cao như Thái Lan 150.000 tấn, Indonesia 160.000 tấn, Aán độ 150.000 tấn
Theo thống kê năm vào năm 1990 (Lo C.F., 1996), trên thế giới có tới 18.000 trang trại với diện tích trên một triệu ha được sử dụng để nuôi tôm công nghiệp Sản lượng tôm nuôi đạt 700.000 tấn, chiếm 25% sản lượng so với tôm đánh bắt ngòai tự nhiên trên tòan thị trường thế giới (2,6 triệu tấn)
Để tăng sản lượng nuôi tôm, việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến như nuôi thâm canh năng suất cao, tăng diện tích nuôi đã có nhiều tác động đến môi trường sinh thái các vùng nuôi, có thể gây ô nhiễm môi trường dẫn đến bùng phát bệnh ở các trại nuôi tôm Đặc biệt là bệnh đốm trắng đã gây thiệt hại không nhỏ cho nghề nuôi tôm sú từ năm 1993-1994 và đã tác động mạnh đến nghề nuôi tôm công nghiệp
Chỉ riêng Châu ÁÙ, bệnh đốm trắng và đầu vàng gây thiệt hại 1 tỷ USD vào năm 1994 nhưng đến năm 1999 mức thiệt hại đã lên đến 3 tỷ USD
Đài Loan là một quốc gia rất mạnh về nuôi tôm nhưng chỉ sau dịch bệnh tôm
Trang 37sú năm 1988, Đài Loan (từng là một quốc gia nuôi tốm) đã bất đắc dĩ phải trở thành nước nhập khẩu tôm để đáp ứng nhu cầu trong nước
- Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, có gió mùa với 3260km bờ biển, 12 đầm lớn và các eo vịnh, 112 cửa sông, rạch, hàng ngàn các đảo lớn nhỏ ven biển Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước khoảng 1.700.000ha, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi tôm
Trong các năm gần đây, Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực trong việc nâng cao diện tích và sản lượng, đầu tư mạnh vào kỹ thuật và công nghệ Công nghiệp nuôi tôm đang phát triển nhanh
Hình thức nuôi tôm đa dạng như: nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh, nuôi quảng canh cải tiến, nuôi bán công nghiệp, nuôi công nghiệp Nhiều nguồn đầu tư lớn để nuôi tôm đã được triểân khai, không chỉ ở các vùng ven biển mà còn cả ở những vùng có điều kiện lấy nước mặn trong đất liền Sản lượng tôm nuôi không ngừng gia tăng
Bảng II.2: Các địa phương nuôi tôm sú trong cả nước
Bà Rịa-Vũng Tàu Đồng Nai
TP Hồ Chí Minh Long An Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau Kiên Giang
- Năm 2002, Việt Nam đứng thứ hai khu vực về sản lượng tôm nuôi (180.000 tấn) Năm 2003, Việt Nam đã có sản lượng tôm nuôi là 205.000 tấn, đứng thứ ba Thế giới sau Trung Quốc (sản lượng 370.000 tấn) và Thái Lan (280.000 tấn)
- Diện tích nuôi tôm ở nước ta tăng rất nhanh từ 207.000ha (năm 1999) lên
500.000ha (năm 2003) Các địa phương nuôi tôm sú trong cả nước gồm (bảngII 2):
Trong số các địa phương kể trên, nhiều nơi đã chọn con tôm làm mũi nhọn Nhìn chung, trong các năm 2001 – 2002, cả nước đã có sự tăng nhanh về mặt sản lượng (300%), 2003 tăng 11,1% so với năm 2002 Riêng năm 2003, Việt Nam là
Trang 38nước đứng đầu khu vực về sản lượng tôm, đạt lợi nhuận hơn 1 tỷ USD và nhắm đến mục tiêu đạt sản lượng 300.000 tấn vào năm 2010
Hình thức nuôi tôm đa dạng như: nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh, nuôi quảng canh cải tiến, nuôi bán công nghiệp, nuôi công nghiệp Nhiều nguồn đầu tư lớn để nuôi tôm đã được triểân khai, không chỉ ở các vùng ven biển mà còn cả ở những vùng có điều kiện lấy nước mặn trong đất liền Sản lượng tôm nuôi không ngừng gia tăng
- Năm 2002, Việt Nam đứng thứ hai khu vực về sản lượng tôm nuôi (180.000 tấn) Năm 2003, Việt Nam đã có sản lượng tôm nuôi là 205.000 tấn, đứng thứ ba Thế giới sau Trung Quốc (sản lượng 370.000 tấn) và Thái Lan (280.000 tấn)
- Diện tích nuôi tôm ở nước ta tăng rất nhanh từ 207.000ha (năm 1999) lên 500.000ha (năm 2003)
Nhìn chung, trong các năm 2001 – 2002 đã có sự tăng nhanh về mặt sản lượng (300%), 2003 tăng tới 11,1% so với năm 2002 Riêng trong năm 2003, Việt Nam là nước đứng đầu khu vực về sản lượng tôm, đạt lợi nhuận hơn 1 tỷ USD và nhắm đến mục tiêu đạt sản lượng 300.000 tấn vào năm 2010
- Ở Thái Bình có khoảng 4.000ha diện tích được đưa vào nuôi trồng thủy sản, trong đó chủ yếu là tôm sú
- Đề án phát triển thủy sản giai đoạn 2001-2005 của Sở thủy sản Quảng Trị đã đưa
ra chỉ tiêu phát triển diện tích nuôi tôm sú đến năm 2005 là 1.300ha
- Đến năm 2004, tỉnh Thừa Thiên Huế có kế hoạch đưa diện tích nuôi tôm sú lên 4.000ha, thu hút 5.052 hộ nuôi tôm
- Vụ nuôi tôm sú năm nay ở huyện Cần Giờ có 1.572 hộ thả nuôi 234 triệu con giống trên diện tích canh tác 1.348ha, so với cùng kì năm trước diện tích thả nuôi tôm giảm 518ha, chiếm 34,8%
- Đến tháng 5/2004, toàn tỉnh Trà Vinh đã nâng cấp, mở rộng và phát triển với diện tích nuôi tôm sú lên hơn 18.000ha Trong đó, diện tích nuôi tôm sú công nghiệp được thả nuôi hơn 1.200ha, tăng hơn 18 lần so với năm trước Ngành Thủy sản đã phối hợp với viện Hải sản, trường Đại học Cần Thơ tổ chức mở các lớp tập huấn kĩ năng sản xuất và ương dưỡng tôm giống sạch bệnh, có chất lượng cao Đồng thời tăng cường công tác huấn luyện kĩ thuật nuôi tôm sú công nghiệp và bán công nghiệp cho hơn 2.600 chủ trang trại và hộ nuôi trong tỉnh nhằm góp phần tăng năng suất và đạt hiệu quả cao trong sản xuất trên đơn vị diện tích sử dụng Hiện tỉnh đang triển khai qui hoạch 187ha nuôi tôm sú công nghiệp tại xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, với tổng vốn đầu tư hơn 59,8 tỷ đồng
Dự án nuôi tôm sú thâm canh công nghiệp
- Dự kiến vốn đầu tư 1.088.121 triệu đồng Dự án nhằm xây mới, cải tạo và nâng cấp khu vực nuôi tôm được thực hiện trên 21 tỉnh ven biển: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,
Trang 39Ninh Thuận, Bình Thuận, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre
- Tổng diện tích vùng dự án 10.802.000ha, trong đó diện tích nuôi tôm công nghiệp là 4.192.000 ha Năng suất nuôi tôm sú phấn đấu đạt 2-4 tấn/ha
Hình II.1: Biểu đồ diện tích nuôi tôm những năm gần đây tại Việt Nam
HìnhII.2: Sản lượng tôm nuôi trong những năm gần đây tại Việt Nam
II.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DỊCH BỆNH Ở TÔM [40]; [42]; [45]
a Tình hình chung
Dịch bệnh ở tôm luôn là mối đe dọa cho ngành nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia nuôi tôm sú khác trên Thế giới Tình hình dịch bệnh tôm ở nước ta (cùng chung các nước trong khu vực Đông Nam Á), vẫn luôn tồn tại và lây lan ngày càng rộng, gây tổn thất nghiêm trọng theo kiểu bùng nổ từng đợt
Diện tích nuôi (ha)
0 200 400 600 800 1000
1200
Sản lượng (1000 tấn)
0 50 100
150
200
250
Trang 40Đặc biệt từ năm 1993 đến nay, tại Việt nam liên tiếp xảy ra dịch bệnh WSSV, gây thiệt hại về kinh tế rất lớn, bệnh WSSV xuất hiện trên tất cả các mô hình nuôi tôm ở Đồng bằng sông cửu long (ĐBSCL) từ quảng canh đến bán thâm canh và thâm canh Được biết diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL năm 2001 là khoảng 400.000ha riêng trong vụ 1 năm 2002 diện tích tôm nuôi bị nhiễm bệnh ước tính từ 30% - 60%, mà bệnh đốm trắng do virus là môït trong số các bệnh nguy hiểm đã gây tổn thất lớn cho người nuôi tôm ĐBSCL
Bảng II.3: Tình hình bệnh tôm ở một số tỉnh (2003)
Kết quả nuôi trồng thủy sản năm 2003: cả nước có 546.757ha nuôi tôm nước lợ thương phẩm, trong đó diện tích tôm nuôi bị bệnh và chết là 30.083ha
Các tỉnh, thành ven biển từ Đà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29.200ha tôm bị chết nhiều, chiếm 97,06% diện tích có tôm bị chết trong cả nước Cịn Bạc Liêu mỗi năm số tôm sú nuôi bị chết trên diện tích từ 35.000-42.000ha, chiếm gần phân nửa diện tích nuôi
Các bệnh xảy ra với tôm cũng vẫn như vậy, chủ yếu là bệnh do virus đốm
trắng (WSSV), bệnh MBV (Monodon Baculovirus), bệnh do vi khuẩn vibrio, bệnh do
kí sinh trùng, do dinh dưỡng và gần đây xuất hiện thêm bệnh phân trắng, teo gan ở một vài nơi Tình hình dịch bệnh gây ra nhiều thiệt hại nặng nề và người nuôi tôm thì khốn đốn, phá sản, nợ nần, các cơ sở chế biến thiếu nguyên liệu gây biến động cho tình hình xuất nhập khẩu nước nhà
Trong năm 2004, tình trạng tôm sú chết hàng loạt xảy ra tại các tỉnh:
- Tháng 2/2004 huyện Hoài Nhơn (Bình Định) là huyện bị dịch bệnh nặng nhất với các bệnh thân đỏ đốm trắng trên diện tích 10ha
- Tháng 3/2004 toàn tỉnh Phú Yên đã có 252ha tôm nuôi bị dịch bệnh Cũng
trong tháng này, dịch đốm trắng đã làm thiệt hại 10 tỷ đồng của Long An
- Đến ngày 7/4/2004 diện tích tôm sú lại bị thiệt hại ở Sóc Trăng là 11.112ha Theo số liệu báo cáo của tỉnh, huyện Mỹ Xuyên có diện tích thả tôm là 8.736ha, đã
có tới 6.102ha bị thiệt hại; Vĩnh Châu nuôi tôm là 7.916ha, có 5.050ha bị thiệt hại
- Đến ngày 21/4/2004 toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có hơn 800 ha/tổng diện tích tôm đã thả nuôi 3.281ha bị dịch bệnh, trong đó nặng nhất là huyện Phú Lộc với hơn
Tên tỉnh DT tôm nuôi (ha) DT tôm nuôi bị bệnh(ha)