b Hiệu quả về kinh tế xã hội: Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách nắm bắt được tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại khu vực ASEAN+3.. CHƯƠNG 4:
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH ĐOÀN TP HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRẺ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP THÀNH PHỐ
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+3: BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: Trung tâm Phát triển Khoa học
và Công nghệ Trẻ
Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS Lê Hoàng Anh
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH ĐOÀN TP HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRẺ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP THÀNH PHỐ
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+3: BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM (Đã chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng nghiệm thu ngày 06/06/2019)
Chủ nhiệm nhiệm vụ
Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu
Lê Hoàng Anh
Cơ quan chủ trì nhiệm vụ
Đoàn Kim Thành
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên nhiệm vụ: Tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thuộc: Chương trình/lĩnh vực (tên chương trình/lĩnh vực): Vườn ươm Sáng
tạo Khoa học và Công nghệ trẻ
2 Chủ nhiệm nhiệm vụ:
- Họ và tên: Lê Hoàng Anh
- Ngày tháng năm sinh: 03/02/1989 Giới tính: Nam
- Học hàm, Học vị: Thạc sĩ Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Năm đạt học vị: 2013
- Chức danh khoa học: Năm được phong chức danh:
- Tên cơ quan đang công tác: Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM
- Chức vụ: giảng viên
- Địa chỉ cơ quan: 140 Lê Trọng Tấn, Phường Tây Thạnh, Quận Tân Phú, Tp.HCM
- Điện thoại cơ quan: 08.38161673 Fax: 08.38163320
- Địa chỉ nhà riêng: 48/9 Lê Ngã, Phường Phú Trung, Quận Tân Phú, Tp.HCM
- Điện thoại nhà riêng:
- Điện thoại di động: 0973 624 322
3 Tổ chức chủ trì nhiệm vụ:
- Tên tổ chức chủ trì nhiệm vụ: TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TRẺ
- Điện thoại: Fax:
- E-mail: Website: http://khoahoctre.com.vn/
- Địa chỉ: 01 Phạm Ngọc Thạch, P Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Trang 4- Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Đoàn Kim Thành
- Số tài khoản: 3713.0.1083277.00000
- Ngân hàng : Kho bạc nhà nước quận 1
- Mã số thuế : 0301744926
II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện nhiệm vụ:
- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ tháng …./ năm ……đến tháng …/ năm……
- Thực tế thực hiện: từ tháng …./năm…… đến tháng …./năm……
- Được gia hạn (nếu có): không
Thời gian
(Tháng, năm)
Kinh phí (Tr.đ)
Thời gian (Tháng, năm)
Kinh phí (Tr.đ)
Trang 5- Lý do thay đổi (nếu có):
3 Các văn bản hành chính trong quá trình thực hiện đề tài/dự án:
(Liệt kê các quyết định, văn bản của cơ quan quản lý từ công đoạn xét duyệt, phê duyệt kinh phí, hợp đồng, điều chỉnh (thời gian, nội dung, kinh phí thực hiện nếu có); văn bản của tổ chức chủ trì nhiệm vụ (đơn, kiến nghị điều chỉnh nếu có)
Số
TT
Số, thời gian ban
Nội dung
tham gia chủ yếu
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Ghi chú*
1
2
- Lý do thay đổi (nếu có):
5 Cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ:
Trang 6(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp, không quá
Nội dung tham gia chính
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Ghi chú*
1 Lê Hoàng Anh,
Thạc sĩ
Lê Hoàng Anh, Thạc sĩ
Xây dựng thuyết minh chi tiết ban đầu và thuyết minh các nội dung 1,2,3, 5,
6
Bản Thuyết minh chi tiết ban đầu và các nội dung 1,2,3, 5, 6
2 Phạm Hòa
Thịnh, Cử nhân
Phạm Hòa Thịnh, Cử nhân
Thuyết minh nội dung 1
Nội dung 1
3 Huỳnh Xuân
Hiệp, Tiến sĩ
Huỳnh Xuân Hiệp, Tiến sĩ
Thuyết minh nội dung 1,2
Nội dung 1,2
4 Phan Ngọc
Trung, Tiến sĩ
Phan Ngọc Trung, Tiến sĩ
Thuyết minh nội dung 4
Nội dung 4
5 Nguyễn Chí
Công, Thạc sĩ
Nguyễn Chí Công, Thạc sĩ
Thuyết minh nội dung 3, 4
Thuyết minh nội dung 3,4
Nội dung 3,4
7 Đào Thị Trang,
Thạc sĩ
Đào Thị Trang, Thạc sĩ
Thuyết minh nội dung 4,5
Nội dung 4,5
8 Mai Bình
Dương, Thạc sĩ
Mai Bình Dương, Thạc sĩ
Thuyết minh nội dung 4,5
Báo cáo tổng kết
- Lý do thay đổi ( nếu có):
Trang 7địa điểm, tên tổ chức hợp tác,
số đoàn, số lượng người tham
gia )
địa điểm, tên tổ chức hợp tác,
số đoàn, số lượng người tham
gia )
1
2
- Lý do thay đổi (nếu có):
7 Tình hình tổ chức hội thảo, hội nghị:
(Nội dung, thời gian,
kinh phí, địa điểm )
Ghi chú*
1 Hội thảo kinh tế tác động của
chi tiêu công, thể chế công đến
tăng trưởng kinh tế tại các quốc
gia ASEAN+3, tháng 4/2019,
kinh phí 8.000.000 đ, địa điểm
tổ chức: Trường Đại học Công
nghiệp thực phẩm TP.HCM
Hội thảo kinh tế tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh
tế tại các quốc gia ASEAN+3, tháng 4/2019, kinh phí 8.000.000 đ, địa điểm tổ chức: Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP.HCM
- Lý do thay đổi (nếu có):
8 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:
(Nêu tại mục 15 của thuyết minh, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát trong nước và nước ngoài)
Theo kế hoạch
Thực tế đạt được
1
Nội dung 1: Xây dựng cơ sở 06/2018- 06/2018- Lê Hoàng Anh, Phạm Hòa
Trang 8lý thuyết về tác động của chi
tiêu công, thể chế công đến
tăng trưởng kinh tế
Nội dung 2: Lược khảo các
nghiên cứu liên quan
1.1 Các nghiên cứu về tác
động của chi tiêu công
đến tăng trưởng kinh tế
1.2 Các nghiên cứu về tác
động của thể chế công
đến tăng trưởng kinh tế
09/2018
09/2018
08/2018-Lê Hoàng Anh, Huỳnh Xuân Hiệp
3
Nội dung 3: Xây dựng mô
hình nghiên cứu và phương
pháp ước lượng
3.1 Xây dựng mô hình
nghiên cứu tác động của chi
tiêu công đến tăng trưởng
kinh tế của các nước
ASEAN+3
3.2 Xây dựng mô hình
nghiên cứu tác động của thể
chế công, chi tiêu công đến
tăng trưởng kinh tế của các
nước ASEAN+3
11/2018
11/2018
08/2018-Lê Hoàng Anh, Nguyễn Chí Công
4 Nội dung 4: Thu thập dữ liệu
10/2018-12/2018
12/2018
10/2018-Phan Ngọc Trung, Nguyễn Chí Công, Đào Thị Trang, Nguyễn Văn Tuấn, Mai Bình Dương
5 Nội dung 5: Xử lý dữ liệu và 12/2018- 12/2018- Lê Hoàng Anh,
Đào Thị Trang,
Trang 9chạy mô hình 03/2019 03/2019 Nguyễn Văn
Tuấn, Mai Bình Dương
6 Nội dung 6: Viết báo cáo
tổng kết
05/2019
05/2019
03/2019-Lê Hoàng Anh, Phạm Thị Hà
An
- Lý do thay đổi (nếu có):
III SẢN PHẨM KH&CN CỦA NHIỆM VỤ
1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:
Trang 101
2
- Lý do thay đổi (nếu có):
d) Kết quả đào tạo:
Theo kế hoạch Thực tế đạt
được
- Lý do thay đổi (nếu có):
đ) Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp:
Theo
kế hoạch
Thực tế đạt được
Trang 112
- Lý do thay đổi (nếu có):
e) Thống kê danh mục sản phẩm KHCN đã được ứng dụng vào thực tế
Kết quả
sơ bộ
1
2
2 Đánh giá về hiệu quả do nhiệm vụ mang lại:
a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung vào cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, cho thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động này trong điều kiện ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành thể chế công Bên cạnh đó, việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá chất lượng thể chế công góp phần khắc phục các hạn chế của hai bộ chỉ số đang được sử dụng phổ biến hiện nay là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG).
b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách nắm bắt được tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại khu vực ASEAN+3 Đồng thời, thấy rõ hơn tác động này giữa Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực Đặc biệt, kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy ảnh hưởng của thể chế công lên tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Từ kết quả này, họ có thêm cơ sở để đưa ra những điều chỉnh về mức độ chi tiêu công, đồng thời cải thiện thể chế nhằm tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai cũng như tăng cường hiệu quả chi tiêu công
3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của nhiệm vụ:
Trang 12I Báo cáo tiến độ Tháng ……… Báo cáo tiến độ thực hiện
đề tài, chủ trì: Trung tâm phát triển khoa học và công nghệ trẻ
II Báo cáo giám định Tháng 04/2019 Đánh giá được tác động
của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh
tế tại các quốc gia ASEAN+3 Người chủ trì: PGS.TS Trần Phước
III Nghiệm thu cơ sở Tháng 06/2019 Báo cáo nghiệm thu, đánh
giá được tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 Chủ tịch hội đồng nghiệm thu: GS., TS Sử Đình Thành
Chủ nhiệm đề tài
(Họ tên, chữ ký)
Thủ trưởng tổ chức chủ trì
(Họ tên, chữ ký và đóng dấu)
Trang 13MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
BÁO CÁO THỐNG KÊ
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Những điểm mới và đóng góp của nghiên cứu 7
1.7 Kết cấu nghiên cứu 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 10
Giới thiệu chương 10
2.1 Các khái niệm liên quan 10
2.1.1 Khái niệm chi tiêu công 10
2.1.2 Khái niệm về thể chế công 10
2.1.3 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 13
2.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế 14
2.2.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 14
2.2.1.1 Các lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 14
2.2.1.2 Các mô hình về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 15
2.2.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế 18
2.2.3 Cơ sở lý thuyết về tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế 24
Trang 142.2.3.1 Lý thuyết về lựa chọn công và lý thuyết kinh tế chính trị 24
2.2.3.2 Lý thuyết kinh tế học thể chế mới 26
2.3 Khung phân tích về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế 30
2.4 Lược khảo các nghiên cứu liên quan 32
2.4.1 Lược khảo các nghiên cứu về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 32
2.4.2 Lược khảo các nghiên cứu về tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế 36
2.4.3 Lược khảo các nghiên cứu về tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế 40
Tóm tắt chương 2 45
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 46
Giới thiệu chương 46
3.1 Thiết kế nghiên cứu 46
3.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Phương pháp đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 48
3.2.2 Phương pháp xác định các nhân tố đại diện cho thể chế công 52
3.2.3 Phương pháp đánh giá tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế 53
3.2.4 Phương pháp đánh giá tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế 55
3.4 Phương pháp ước lượng: 60
3.4.1 Phương pháp ước lượng mô hình 60
3.4.2 Kiểm định tính vững của mô hình 61
3.5 Thu thập và xử lý dữ liệu 63
Tóm tắt chương 3 64
Trang 15CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC
QUỐC GIA ASEAN+3 66
Giới thiệu chương 66
4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và tương quan giữa các biến: 66
4.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 70
4.2.1 Kết quả đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 70
4.2.2 Kết quả xác định các nhân tố đại diện cho thể chế công tại các quốc gia ASEAN+3 79
4.2.2.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo 79
4.2.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá 81
4.2.3 Đánh giá tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 84
4.2.4 Kết quả đánh giá tác động của thể chế công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3: 90
4.2.5 Kiểm định tính vững của các mô hình 93
Tóm tắt chương 4 96
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Hàm ý chính sách cho Việt Nam 104
5.2.1 Hạn chế các khoản chi tiêu công không mang lại ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế 104
5.2.2 Thúc đẩy thể chế công nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 105
5.2.3 Nâng cao chất lượng thể chế công đối với hoạt động chi tiêu công 107
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC QUỐC GIA ASEAN+3
PHỤ LỤC 2: THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU
Trang 16PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+3
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ĐẠI DIỆN CHO THỂ CHẾ CÔNG TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+3
PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+3
PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN+3
PHỤ LỤC 7: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TÍNH VỮNG CỦA MÔ HÌNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP BMA
Trang 17DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu
1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
2 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
3 CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
4 DGMM Difference generalized
method of moments
Phương pháp moment tổng quát
sai phân
5 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
Indicators Chỉ số phát triển thế giới
8 WEO World Economic Outlook
9 ICRG International Country Risk
Guide Chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia
10 WGI Worldwide Governance
Indicators Chỉ số quản trị toàn cầu
Trang 1811 EFA Exploratory Factor Analysis Phương pháp phân tích nhân tố
khám phá
12 BMA Bayesian Model Averaging
Trang 19DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Chính sách tài khóa và các mục tiêu phát triển kinh tế: vai trò ràng buộc
thể chế - chính trị và ràng buộc ngân sách 31
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến trong các mô hình nghiên cứu 57
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình 66
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 68
Bảng 4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến giữa các biến độc lập 69
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng mô hình tác động của chi tiêu công tổng thể đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 70
Bảng 4.5 Kết quả ước lượng mô hình tác động phi tuyến của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 72
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng mô hình tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế trong điều kiện khủng hoảng 74
Bảng 4.7 Kết quả ước lượng mô hình tác động của các thành phần chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 76
Bảng 4.8 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo WGI 80
Bảng 4.9 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo ICRG 81
Bảng 4.10 Kiểm định KMO và Bartlett 81
Bảng 4.11 Tổng phương sai được giải thích 82
Bảng 4.12 Ma trận xoay nhân tố 83
Bảng 4.14 Kết quả ước lượng mô hình với biến độc lập ICRG 84
Bảng 4.15 Kết quả ước lượng mô hình với biến độc lập WGI 87
Bảng 4.16 Kết quả ước lượng mô hình với biến độc lập PV 89
Bảng 4.17 Kết quả ước lượng mô hình 91
Bảng 4.18 Kết quả kiểm định tính vững tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 94
Bảng 4.19 Kết quả kiểm định tính vững tác động của các thành phần chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 95
Trang 20Bảng 4.20 Kết quả kiểm định tính vững tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 96
Trang 21CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới Lịch sử các học thuyết kinh tế mặc dù đã công nhận những ưu thế không bàn cãi của hệ thống kinh tế thị trường tự do trước nền kinh tế kế hoạch tập trung nhưng vẫn nhận định rằng hệ thống kinh tế thị trường không thể giải quyết được nhiều vấn đề hoặc giải quyết chúng với hiệu quả thấp Đây gọi là những thất bại thị trường (market fiasco) Vì vậy, cần phải có sự can thiệp của chính phủ vào thị trường nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế (Keynes, 1936) Trong đó, chi tiêu công là một công cụ quan trọng của chính sách tài khoá, thể hiện sự tác động chủ động của nhà nước lên nền kinh tế
Về mặt lý luận, trong nhiều thập kỷ qua, ảnh hưởng của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện (Alexiou, 2009; Anh, 2008; Gemmell, Kneller, & Sanz, 2014; Luận, 2012; Malek, 2014; Thon, Hương, & Thủy, 2010; Yasin, 2000) Kết quả của các nghiên cứu cho thấy, tại hầu hết các quốc gia, chi tiêu công được sử dụng như một công cụ của chính sách tài khóa nhưng tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế vẫn là một vấn
đề đang tranh cãi Hai lý thuyết đầu tiên về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là luật Wagner và lý thuyết của Keynes Luật Wagner (1883) cho rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu công và thu nhập quốc gia Tuy nhiên, Wagner (1883) cho rằng chi tiêu công không phải là nguyên nhân của sự phát triển kinh tế, mà là một biến nội sinh của tăng trưởng kinh tế Cụ thể, sự gia tăng của tăng trưởng kinh tế mới là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng chi tiêu công Trái với quan điểm của Wagner (1883), lý thuyết của Keynes (1936) lại cho rằng sự gia tăng của chi tiêu công sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Như vậy, chi tiêu công là một lực ngoại sinh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Loizides & Vamvoukas, 2005) Các nhà kinh tế ủng hộ lý thuyết của Keynes cho rằng chính sách tài khóa chủ động là một công cụ quan trọng có sẵn cho các chính phủ để kích thích các hoạt động kinh tế và tăng trưởng kinh tế (Shafuda, 2015) Thêm vào hai lý
Trang 22thuyết này, Solow (1956) trong mô hình tăng trưởng Tân cổ điển cho rằng không có ảnh hưởng lâu dài của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế Các mô hình tăng trưởng Tân cổ điển chỉ ra rằng các chính sách tài khóa không thể mang lại sự thay đổi trong tăng trưởng dài hạn của đầu ra Các nhà kinh tế Tân cổ điển cho thấy, tốc
độ tăng trưởng dài hạn là do tăng dân số, tốc độ tăng lực lượng lao động, tốc độ tiến
bộ công nghệ và các biến số này được xác định là ngoại sinh Trái với các kết quả trên, Barro (1989) trong mô hình tăng trưởng nội sinh lập luận rằng chi tiêu công có tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế Barro (1989) lý giải rằng chi tiêu công của chính phủ có thể lấn áp đầu tư tư nhân, nhưng không cung cấp một kích thích bù đắp cho đầu tư và tăng trưởng Như vậy, một số nghiên cứu cho rằng chi tiêu công
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Một số khác lại cho rằng chi tiêu công
có tác động tiêu cực hoặc không có tác động đến tăng trưởng kinh tế Đặc biệt, khi các quốc gia thâm dụng phần lớn các yếu tố này thì tốc độ tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chậm lại hoặc thậm chí giảm dần (Malek, 2014)
Về mặt thực tiễn, chi tiêu công cũng có những tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế Tại các quốc gia đang phát triển như ASEAN+3, quy mô chi tiêu công có xu hướng tăng dần qua các năm, phản ánh nhu cầu ngày càng tăng của các dịch vụ công cộng như giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng hay cở sở hạ tầng (IMF, 2014) Xu hướng tăng này này bắt đầu từ giữa những năm 1990, gia tăng ở cả các khoản chi tiêu xã hội và đầu tư công Đặc biệt, trong giai đoạn khủng hoảng 2008-2009, chi tiêu công tăng mạnh tại đa phần các quốc gia đang phát triển Như Gemmell và cộng sự (2014) nhận định, các gói kích thích tài khóa, mở rộng đáng kể các chương trình chi tiêu công khác nhau, được ban hành ở nhiều quốc gia từ năm
2008 trở đi nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Mặc dù chi tiêu công luôn ở mức cao, hiệu quả sử dụng vốn chi tiêu công ở các quốc gia đang phát triển hiện nay là rất đáng lo ngại (Cavallo & Daude, 2011; Gupta, Kangur, Papageorgiou, & Wane, 2014) Theo nghiên cứu của Gupta và cộng sự (2014), mỗi đơn vị chi tiêu công tại các quốc gia đang phát triển chỉ tạo ra được nửa đơn vị giá trị cơ sở vật chất tương ứng
Trang 23Như vậy, cả bối cảnh lý thuyết lẫn thực tiễn đều cho thấy tác động không nhất quán của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả đặt mục tiêu đánh giá lại tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
để có thể rút ra được kết luận phù hợp với điều kiện của các quốc gia ASEAN+3 Ngoài ra, để có được bằng chứng toàn diện hơn, tác giả cũng tiến hành xem xét tác động phi tuyến của chi tiêu công và các thành phân chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại các quốc gia và khu vực khác nhau về điều kiện kinh tế vĩ mô, đã chỉ ra rằng chi tiêu công có tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nghiên cứu của Zhuang và cộng sự (2010) lại cho thấy chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia song lại có tác động tiêu cực tại một số quốc gia khác có cùng các điều kiện về kinh tế vĩ mô Lược khảo nghiên cứu chỉ ra, đặc thù chính trị và chất lượng thể chế là các yếu tố tác động đến khả năng của một quốc gia trong việc thực thi chính sách tài khóa hiệu quả (Brahmbhatt & Canuto, 2012)
Đến đầu những năm 90, vấn đề thể chế công và tác động đến tăng trưởng kinh tế bắt đầu được thảo luận trong các cuộc tranh luận quốc tế và phát triển chính sách Các tổ chức quốc tế cho rằng chi tiêu công cho hàng hóa và dịch vụ công sẽ không đạt được hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như mong muốn nếu việc xây dựng, thực hiện và giám sát ngân sách bị trục trặc (World Bank, 1992) Đề xuất này cho thấy thể chế công đóng vai trò quan trọng trong tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy các yếu tố thuộc về thể chế công có thể đã tạo ra thay đổi trong tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Chẳng hạn, một trong những yếu tố của thể chế công được các nghiên cứu xem xét gần đây là tham nhũng Các nghiên cứu đều cho rằng tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia (Glaeser & Saks, 2004; Xu,
Li, & Zou, 2000) Đặc biệt, nghiên cứu của dAgostino và cộng sự (2016) cho thấy dưới ảnh hưởng của tham nhũng các khoản chi tiêu công cho quốc phòng đã có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của 106 quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Trang 24Mặc dù có bằng chứng cho thấy thể chế công đóng vai trò là chất xúc tác, kiểm soát tốt và hiệu quả hơn việc sử dụng chi tiêu công để từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng chưa có nghiên cứu nào xem xét toàn diện các yếu tố cấu thành thể chế công ảnh hưởng đến tác động này Bên cạnh đó, một số nghiên cứu gần đây xem xét tác động riêng lẻ của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế nhưng cách thức đo lường chưa thống nhất (Siddiqui & Ahmed, 2013) Các nghiên cứu trước hầu hết đo lường thể chế công dựa trên hai bộ chỉ số là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG) Mặc dù hai chỉ số trên được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu thực nghiệm đo lường chất lượng thể chế công và tùy vào điều kiện nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có thể chọn WGI hoặc ICRG nhưng các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một số bất cập trong các chỉ số này Cụ thể,
các nghiên cứu của Knoll & Zloczysti (2012), Langbein & Knack (2010) đã cho
thấy bằng chứng về sự chồng chéo của 6 nhóm chỉ tiêu cấu thành hai bộ chỉ số này Đồng thời, một số chỉ tiêu trong hai bộ chỉ số này khó tách biệt nhau Điều này hàm
ý rằng một số chỉ tiêu trong hai bộ chỉ số này có thể cùng đo lường một khái niệm
Đó là lý do một số nghiên cứu thực nghiệm khác như Al-Marhubi (2004), Bjørnskov (2006), Easterly & Levine (2002) đã tính trung bình tất cả sáu chỉ số WGI trong phân tích của họ Tuy nhiên theo Siddiqui & Ahmed (2013), việc tính trung bình này không mô tả được chính xác chất lượng thể chế công
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện để xem xét tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế Đồng thời để giải quyết những bất cập khi sử dụng các bộ chỉ số đo lường thể chế công đã được nêu ra ở trên Cụ thể, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) dựa trên hai bộ chỉ số WGI và ICRG, nhằm xác định các nhân tố đại diện đo lường thể chế công Phương pháp này có thể giúp nhóm các chỉ tiêu cùng đo lường một khái niệm lại với nhau để tạo thành một nhân tố đại diện Các nhân tố đại diện này sẽ tách biệt với nhau Bằng cách làm này, tác giả sẽ khắc phục
Trang 25được sự chồng chéo của 6 nhóm chỉ tiêu cấu thành hai bộ chỉ số WGI và ICRG để hình thành các nhân tố thực sự đại diện cho thể chế công
Cuối cùng, tác giả sử dụng các nhân tố đại diện đo lường thể chế công nhằm tìm kiếm bằng chứng về tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu có mục tiêu chung là đánh giá tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
Để đạt được mục tiêu chung, nghiên cứu có các mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
- Xác định các nhân tố đại diện cho các thành phần của thể chế công tại các quốc gia ASEAN+3
- Đánh giá tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
- Đánh giá tác động của thể chế công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau:
- Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 như thế nào?
- Các nhân tố nào đại diện cho các thành phần của thể chế công tại các quốc gia ASEAN+3?
- Tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 như thế nào?
- Tác động của thể chế công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 như thế nào?
Trang 261.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành tại 13 quốc gia ASEAN+3
Danh sách các quốc gia được trình bày trong phụ lục 1
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành trong giai đoạn 2004 -
2017 Giai đoạn này được lựa chọn vì hầu hết các quốc gia có sẵn dữ liệu Mặt khác, giai đoạn này cũng bao gồm trong đó thời kỳ khủng hoảng kinh tế Giai đoạn này được tác giả lựa chọn để thực hiện nghiên cứu vì nhiều lý do Thứ nhất, giai đoạn này đảm bảo 13 quốc gia đều có đủ số liệu để thực hiện nghiên cứu Thứ hai, giai đoạn nghiên cứu này bao gồm giai đoạn trước khủng hoảng 2004 – 2007, giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2009, giai đoạn sau khủng hoảng 2010 – 2017 Do đó, tác giả có thể xem xét toàn diện tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 trong điều kiện bình thường và trong điều kiện đặc thù
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, nghiên cứu sử dụng các phương pháp ước lượng thích hợp nhằm khám phá tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 Cụ thể:
Nhằm khám phá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3, tác giả phát triển mô hình từ các nghiên cứu của Alexiou (2009), Cooray (2009) Để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và đặc biệt là hiện tượng nội sinh thường xảy ra trong các mô hình kinh tế vĩ
mô, tác giả sử dụng phương pháp GMM sai phân (Difference GMM – DGMM) của Arellano & Bond (1991)
Nhằm khám phá các nhân tố đại diện cho các thành phần của thể chế công tại các quốc gia ASEAN+3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA) với hai bộ chỉ số đánh giá thể chế công là chỉ
số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG)
Trang 27Để đánh giá tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3, tác giả phát triển mô hình từ nghiên cứu của Siddiqui & Ahmed (2013) Phương pháp GMM sai phân (Difference GMM – DGMM) của Arellano & Bond (1991) tiếp tục được sử dụng để ước lượng mô hình
Để đánh giá tác động của thể chế công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3, tác giả tiếp tục phát triển mô hình
từ các nghiên cứu của Alexiou (2009), Cooray (2009), Siddiqui & Ahmed (2013) Phương pháp GMM sai phân (Difference GMM – DGMM) của Arellano & Bond (1991) tiếp tục được sử dụng để ước lượng mô hình
1.6 Những điểm mới và đóng góp của nghiên cứu
❖ Về mặt lý luận:
Nghiên cứu tổng kết các lý thuyết về chi tiêu công, tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế, cơ sở lý thuyết về thể chế công và tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế Đặc biệt hơn, nghiên cứu đã tổng hợp và nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công
và tăng trưởng kinh tế
Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết có liên quan kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả phát triển các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia ASEAN+3
Dựa vào nguồn dữ liệu nêu trên, tác giả đã đánh giá tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 bằng phương pháp nghiên cứu định lượng cùng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 và phần mềm Stata 15.0 Tác giả sử dụng phương pháp EFA giúp nhóm các chỉ tiêu cùng đo lường một khái niệm lại với nhau để tạo thành một nhân
tố đại diện Đồng thời, các nhân tố đại diện này sẽ tách biệt với nhau Các nhân tố đại diện đo lường thể chế công sau đó sẽ được tác giả sử dụng để đánh giá tác động đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3 thông qua việc ước lượng các mô hình bằng phương pháp DGMM của Arellano & Bond (1991) Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các ước
Trang 28lượng dữ liệu bảng động tuyến tính để khắc phục hiện tượng nội sinh thường xảy ra trong các mô hình kinh tế vĩ mô Do đó, các kết quả thu được đảm bảo độ tin cậy để rút ra các kết luận
Bên cạnh đó, một vấn đề đặt ra đối với các phương pháp ước lượng là tính vững của mô hình Điều này xuất phát từ việc hệ số hồi quy của các biến trong mô hình bị thay đổi giá trị khi số lượng biến giải thích trong mô hình thay đổi Khi đó, các kết luận rút ra từ kết quả ước lượng có thể bị ảnh hưởng Do đó, sau khi ước lượng các mô hình tác giả tiếp tục sử dụng phân tích Bayesian Model Averaging (BMA) để kiểm định lại các hệ số hồi quy nhằm đảm bảo tính vững của mô hình cũng như các kết luận được rút ra
❖ Về mặt thực tiễn:
Xuất phát từ việc chi tiêu công ngày càng gia tăng và không hiệu quả có thể góp phần làm suy giảm kinh tế, tác giả xem xét vai trò của thể chế công như một chất xúc tác, kiểm soát tốt và hiệu quả hơn việc quản lý, sử dụng chi tiêu công để từ
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách nắm bắt được tác động của thể chế công đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại khu vực ASEAN+3 Từ kết quả này, họ có thêm cơ
sở để đưa ra những điều chỉnh về hoạt động thể chế công nhằm quản lý, sử dụng chi tiêu công tốt hơn để từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.7 Kết cấu nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nghiên cứu được kết cấu bao gồm 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, điểm mới và đóng góp của nghiên cứu, kết cấu nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế
Trang 29Đưa ra các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế
Phát triển giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng mô hình Trình bày dữ liệu nghiên cứu và cách thức thu thập dữ liệu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
Trình bày thực trạng và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+3
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Tóm tắt nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách về quản lý chi tiêu công nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cải thiện thể chế công nhằm quản lý,
sử dụng chi tiêu công tốt hơn để từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 30CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG,
THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Giới thiệu chương
Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài bao gồm các lý thuyết liên quan về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế, các mô hình tác động đã được các nhà nghiên cứu phát triển Đặc biệt, tác giả cũng trình bày và phân tích về tác động của thể chế công lên mối quan
hệ của chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan làm cơ sở cho việc phát triển đề tài
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm chi tiêu công
Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế- xã hội cho cộng đồng (Dương Thị Bình Minh, 2005) Định nghĩa này xuất phát
từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế xã hội của nhà nước
Theo Dương Thị Bình Minh (2005), chi tiêu công phản ánh các chính sách của chính phủ, cung cấp nguồn lực tài chính cho việc thực thi các chính sách đó Đặc trưng của chi tiêu công là tính chất không hoàn trả hoặc không hoàn trả trực tiếp, thể hiện ở chỗ kết quả của chi tiêu công không tương ứng với khoản chi cả về
số lượng, chất lượng, thời gian và địa điểm Nhiều khoản chi tiêu công mà lợi ích của nó chỉ thu được sau một thời gian dài, hoặc lợi ích thu được khó đo lường được bằng tiêu chí giá trị tương ứng mà Chính phủ đã bỏ ra Chi tiêu công là một công cụ của Chính phủ nhằm cung cấp các hàng hóa công cho xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập, ổn định kinh tế vĩ mô và thu hút vốn đầu tư của khu vực tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.2 Khái niệm về thể chế công
Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu định nghĩa thể chế công, một
số nghiên cứu có thể kể đến như:
Trang 31Schneider (1999) định nghĩa chất lượng thể chế công là việc thi hành thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa thể chế công là chức năng và quy trình đặc trưng bởi giá trị của trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia Zinnbauer (2002) định nghĩa thể chế công là phấn đấu vì quy định của pháp luật, tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính
Ngân hàng Thế giới định nghĩa thể chế công là việc thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Phi - African Development Bank mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa (Paul Kagundu, 2006) Cụ thể, Ngân hàng Phát triển châu Phi định nghĩa thể chế công là một quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý các vấn đề công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác (Paul Kagundu, 2006) Các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Phi đều tập trung vào khía cạnh hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ cho các thành viên trong xã hội
Từ các định nghĩa trên có thể thấy thể chế công là một thuật ngữ đa chiều Keefer (2004) chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên quan đến mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ
mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân
Mặc dù các nghiên cứu, chưa đưa ra định nghĩa thống nhất nào cho thuật ngữ thể chế công, nhưng dường như có một sự thống nhất về các khía cạnh cấu thành thể chế công Theo Jreisat (2002), thể chế công liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ Các khía cạnh này bao gồm cách tổ chức của
Trang 32hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị
Do thể chế công là một khái niệm đa chiều nên thường được đo lường bằng cảm nhận của công chúng và doanh nghiệp về nhiều khía cạnh khác nhau (Siddiqui
& Ahmed, 2013) Hiện tại, nhiều tổ chức thương mại (Political Risk Service (PRS)
và Business Environment Risk Intelligence (BERI)) và tổ chức phi thương mại (World Bank, World Economic Forum (WEF), Global Integrity, Freedom House)
đã và đang phát triển các bộ chỉ số khác nhau để đo lường chất lượng thể chế công tại các quốc gia Trong các bộ chỉ số đó thì hai bộ chỉ số được đa phần các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG)
Chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) là cơ sở
dữ liệu về quản trị quốc gia của hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Chỉ số WGI ra đời năm 1996 và liên tục được hoàn thiện cho đến nay Chỉ số WGI bao gồm hơn
300 chỉ tiêu từ 30 nguồn dữ liệu khác nhau và được chia thành sáu nhóm chỉ tiêu lớn là: Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability), Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political stability and Absence of Violence), Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness), Chất lượng các quy định (Regulatory Quality), Nhà nước pháp quyền (Rule of Law), Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption)
Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability): đo lường cảm nhận về mức độ tham gia của người dân vào việc lựa chọn chính phủ, mức độ
tự do bày tỏ quan điểm của người dân và các phương tiện truyền thông đại chúng
Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political stability and Absence of Violence): đo lường cảm nhận về khả năng chính phủ không ổn định hay bị lật đổ bởi các phương tiện không hợp hiến hay bạo lực, bao gồm bạo lực có động cơ chính trị và khủng bố
Trang 33Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness): đo lường cảm nhận về chất lượng của dịch vụ công và mức độ độc lập với các áp lực chính trị, chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, và tính tin cậy của cam kết thực hiện của chính phủ trong việc thực thi các chính sách này
Chất lượng các quy định (Regulatory Quality): đo lường cảm nhận về khả năng của chính phủ trong việc xây dựng các chính sách khuyến khích sự phát triển của khu vực tư nhân
Nhà nước pháp quyền (Rule of Law): đo lường cảm nhận về mức độ tin tưởng và tôn trọng của người dân đối với các quy định của xã hội, đặc biệt là về chất lượng của việc thực thi hợp đồng, quyền sở hữu tài sản, cảnh sát, tòa án, cũng như về mức độ tội phạm và bạo lực
Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption): đo lường cảm nhận về mức
độ chế tài của pháp luật đối với các hành vi tham nhũng và các loại tham nhũng khác nhau, kể cả việc thâu tóm chính quyền của một số nhóm lợi ích
Kể từ năm 1980, chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (ICRG) đã xếp hạng mức độ rủi ro về chính trị, kinh tế và tài chính của các quốc gia và vùng lãnh thổ có ảnh hưởng quan trọng đối với kinh doanh quốc tế ICRG giám sát hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ Bảng xếp hạng ICRG tạo cơ sở cho một hệ thống cảnh cáo sớm về các cơ hội và khó khăn theo từng nước Về cơ bản, chỉ số ICRG cũng đánh giá chất lượng thể chế theo sáu nhóm chỉ tiêu lớn giống với chỉ số WGI là: Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability), Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political stability and Absence of Violence), Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness), Chất lượng các quy định (Regulatory Quality), Nhà nước pháp quyền (Rule of Law), Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption)
2.1.3 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Theo Nguyễn Đình Luận (2016), tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định
Trang 34Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội Trong
đó, tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
2.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, thể chế công đến tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế 2.2.1.1 Các lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
Một trong những lý thuyết đầu tiên nói về mối liên hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là lý thuyết luật Wagner (1883) Trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm, Wagner (1883) cho rằng sự tăng trưởng trong chi tiêu công là điều không thể tránh khỏi đối với một nền kinh tế tiến bộ bởi nó có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Theo lý thuyết luật Wagner (1883), mức tăng trưởng trong chi tiêu công phải lớn hơn mức tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, Wagner (1883) lại cho rằng chính tăng trưởng kinh tế mới là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng trong chi tiêu công
Khác với Wagner (1883), Trong thập niên 70, các nhà kinh tế theo trường phái Keynes lại tin rằng chi tiêu chính phủ, đặc biệt là các khoản chi tiêu thông qua vay nợ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ làm tăng sức mua (tổng cầu) của nền kinh tế (Loizides & Vamvoukas, 2005) Các chính trị gia thường ưa thích lý thuyết của Keynes bởi vì nó cho họ những lý do hợp lý để chi tiêu Một số nhà nghiên cứu
đã ước lượng được mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa chi tiêu chính phủ và mức sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên, các phương pháp ước lượng của họ thường một
số hạn chế do các hiện tượng nội sinh của dữ liệu nghiên cứu Những phương pháp ước lượng phức tạp hơn đã chỉ ra rằng, chi tiêu chính phủ không thể thúc đẩy tăng trưởng Lý thuyết của trường phái Keynes đã bỏ qua sự thật là chính phủ không thể
Trang 35thúc đẩy sức mua của nền kinh tế trước khi làm giảm nó thông qua thuế và vay nợ Sau đó, lý thuyết của Keynes đã gặp thách thức lớn khi nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái trong những năm 1970, và khi có sự bùng nổ kinh tế nhờ cắt giảm thuế kết hợp với thắt chặt chi tiêu trong những năm 1980 Ngày nay, mặc dù lý thuyết của Keynes về chi tiêu chính phủ không còn được các nhà kinh tế trọng dụng nhưng nó vẫn được các chính trị gia thường xuyên nhắc đến như là động lực để thúc đẩy tăng trưởng
Sau luật Wagner (1883) và lý thuyết Keynes, các nhà kinh tế học Barro (1990), Devarajan và cộng sự (1996), Davoodi & Zou (1998) bắt đầu mô hình hóa tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế để tìm kiếm các bằng chứng thuyết phục hơn
2.2.1.2 Các mô hình về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế
❖ Mô hình của Barro (1990)
Trước Barro (1990) cũng đã có nhiều nghiên cứu về chi tiêu chính phủ, tuy nhiên vai trò của chi tiêu chính phủ và thuế đối với tăng trưởng kinh tế chỉ được xem xét một cách có hệ thống dựa trên các hành vi tối đa hoá lợi ích của các tác
nhân trong nền kinh tế kể từ khi xuất hiện bài báo “Government Spending in a Simple Model of Endogenous Growth” của Barro vào năm 1990
Barro (1990) đã đưa khu vực chính phủ vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển
để nghiên cứu mối quan hệ giữa các lựa chọn chính sách của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Mô hình cụ thể:
𝑌 = 𝐴 × 𝐿1−𝛼× 𝐾𝛼 × 𝐺1−𝛼Trong đó 0 < 𝛼 < 1, L, K và Y lần lượt là lao động, vốn tư bản và sản lượng của nền kinh tế G là tổng chi tiêu chính phủ Mô hình này có thể được biến đổi như sau:
𝑦 = 𝐴 × 𝑘𝛼 × 𝐺1−𝛼Với 𝑦 =𝑌
Trang 36thuế suất cố định 𝜏 tính trên sản lượng của nền kinh tế Mô hình của Barro (1990) cho thấy sự ảnh hưởng của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế thông qua công thức:
tế do (1 − 𝜏) tiến dần về 0 Nguyên nhân có thể được lý giải là do việc tăng thuế sẽ làm giảm sản phẩm biên sau thuế của tư bản và do vậy làm giảm tốc độ tích lũy tư bản và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
❖ Mô hình của Devarajan và cộng sự (1996)
Mặc dù tìm thấy bằng chứng về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế nhưng Barro (1990) không cho thấy được vai trò của các thành phần chi tiêu công khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế Do đó, Devarajan và cộng sự (1996) đã phát triển thêm mô hình của Barro (1990) bằng cách đưa thêm vào mô hình hai thành phần chi tiêu khác nhau của chính phủ là g1 và g2 Mô hình cụ thể như sau:
𝑦 = 𝑓(𝑘, 𝑔1, 𝑔2) = [𝛼𝑘−𝛿+ 𝛽𝑔1−𝛿+ 𝛾𝑔2−𝛿]−1𝛿 (4), trong đó 𝛼 ≥ 0, 𝛽 ≥
0, 𝛾 ≥ 0, 𝛼 + 𝛽 + 𝛾 = 1, 𝛿 ≥ −1, k là vốn đầu tư tư nhân
Tương tự Barro (1990), các tác giả cũng giả định rằng chính phủ tài trợ cho chi tiêu công nhờ áp dụng một mức thuế suất cố định 𝜏 tính trên sản lượng của nền kinh tế Tức là:
𝑔1+ 𝑔2 = 𝜏𝑦 hay 𝑔1 = 𝜑𝜏𝑦 và 𝑔2 = (1 − 𝜑)𝜏𝑦 với 𝜑 là tỷ trọng của thành phần chi tiêu công 𝑔1 trong tổng chi tiêu công
Trang 37Mô hình của Devarajan, Swaroop và Zou (1996) cho thấy sự ảnh hưởng của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế thông qua công thức:
𝑦′ =
𝛼(1 − 𝜏)[ 𝛼𝜏𝛿
𝜏 𝛿 −𝛽𝜑 −𝛿 −𝛾(1−𝜑) −𝛿]−1+𝛿𝛿 − 𝜌
𝜎Trong đó, y’ là tăng trưởng kinh tế, 𝜎 là hệ số thay thế của tiêu dùng giữa các thời kỳ, 𝛿 là tỷ lệ hao mòn của vốn tư bản
Phương trình trên cho thấy ảnh hưởng của thuế 𝜏 và tỷ trọng của các khoản chi tiêu công 𝜑 và (1 − 𝜑) đến tăng trưởng kinh tế
❖ Mô hình của Davoodi & Zou (1998)
Davoodi & Zou (1998) đã mở rộng mô hình của Barro (1990), Devarajan và
cộng sự (1996) để xem xét mối quan hệ, cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm, giữa phân
cấp trong việc thực thi chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tế Trước đó, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều lập luận ủng hộ sự phân quyền trong việc thực thi chính sách tài khoá Họ cho rằng: (i) sự phân quyền sẽ làm tăng tính hiệu quả của các khoản chi bởi vì các chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn so với chính quyền trung ương; (ii) chính quyền địa phương có thể cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng thiết thực hơn đối với nhu cầu của cộng đồng địa phương, do họ nắm bắt được các đặc tính khác biệt về mặt địa lý, con người… Davoodi & Zou (1998) giả định rằng chi tiêu chính phủ có thể được phân thành ba cấp: trung ương, bang, và địa phương Mức độ phân cấp trong việc thực thi chính sách tài khoá được xác định theo tỉ phần chi tại các cấp địa phương so với tổng chi tiêu chính phủ Chẳng hạn, mức độ phân cấp sẽ tăng nếu chi tiêu cấp địa phương và chi tiêu cấp bang tăng một cách tương đối so với chi ở cấp trung ương
Davoodi & Zou (1998) đã chứng minh được tốc độ tăng trưởng kinh tế là một hàm của thuế suất và các tỉ trọng chi tiêu chính phủ ở các cấp Và do đó, việc thay đổi phân bổ chi tiêu giữa các cấp có thể thúc đẩy tăng trưởng mà không cần phải tăng tỉ trọng chi tiêu chính phủ trong GDP
Trang 382.2.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển được coi là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ được khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Thế nhưng,
mô hình tăng trưởng tân cổ điển vẫn tồn tại nhiều hạn chế Một hạn chế lớn nhất của
mô hình tăng trưởng tân cổ điển là trong dài hạn, yếu tố tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế như tốc độ tăng hiệu quả lao động lại được xác định một cách ngoại sinh
Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hướng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nước đang phát triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh nhằm giải thích tăng trưởng từ các yếu tố bên trong của nền kinh tế Cụ thể, tăng năng suất có được
từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng trưởng dài hạn Các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặc biệt là các mô hình xét đến vốn con người đã góp phần giải thích sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia Mặc dù có những đóng góp đáng kể nhưng các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn gặp một số hạn chế do bỏ qua những yếu tố kìm hãm tăng trưởng như sự yếu kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế, hiệu quả thể chế công ở các nước đang phát triển
Mặc dù nghiên cứu chi tiết về vai trò của thể chế công đối với tăng trưởng kinh tế là tương đối mới, nhưng tầm quan trọng của thể chế công đã được công nhận từ thế kỷ trước được thể hiện qua các lý thuyết của Smith (1755) Ông cho rằng điều kiện tiên quyết để xây dựng một nhà nước thịnh vượng cao nhất từ một nhà nước có sự thịnh vượng thấp nhất là hòa bình, thuế và một chính quyền của công lý được chấp nhận
Bên cạnh lý thuyết của Smith (1755), tầm quan trọng của thể chế công cũng được khẳng định qua Lý thuyết của Buchanan (1987) Ông lập luận rằng các nhà kinh tế nên nhìn vào Hiến pháp của chính thể chế kinh tế để kiểm tra các quy định
và những hạn chế mà trong đó các tác nhân chính trị đóng vai trò quan trọng
Trang 39Mặc dù các lý thuyết của Smith (1755), Buchanan (1987) đã cho thấy tầm quan trọng của thể chế công nhưng vai trò của thể chế công đối với hoạt động kinh
tế của các quốc gia chỉ thực sự được quan tâm khi nghiên cứu tại khu vực Châu Phi của Ndulu & O’Connell (1999) được công bố Họ nhận thấy rằng độc tài gắn liền với nền kinh tế yếu kém Thể chế tốt cho phép công dân tham gia vào hoạt động chính trị và các hoạt động liên quan đến sự trao quyền, do đó có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng
Dethier (1999) cho rằng hiệu quả sử dụng các nguồn lực công phụ thuộc vào các chương trình khuyến khích của các tổ chức công và các hoạt động cải cách nên tập trung vào việc thiết kế các chương trình đảm bảo cam kết và thực hiện chính sách tối đa hóa phúc lợi xã hội đáng tin cậy Thể chế công tốt sẽ cải thiện nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên, do đó nâng cao tăng trưởng kinh tế (Dethier, 1999)
Tuy nhiên, lý thuyết kinh tế chính trị cũng cho rằng thể chế công được hình thành bởi những người cầm quyền để chuyển các nguồn lực cho chính họ Acemoglu và cộng sự (2004) lập luận rằng các nhóm lợi ích khác nhau sẽ thích thể chế khác nhau và các nhóm có quyền lực chính trị mạnh hơn cuối cùng sẽ quyết định việc thiết lập bộ máy quản trị Và điều này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế do hệ thống quản trị được thiết lập để bảo vệ quyền lợi của một nhóm lợi ích
Các thể chế chính trị thiết lập hệ thống pháp luật quy định các quy tắc kiểm soát biến động Do đó, các nhóm lợi ích khác nhau sẽ cạnh tranh quyền lực chính trị, đặc lợi kinh tế trong khuôn khổ các quy tắc được xác định bởi hệ thống pháp luật Nếu không có một cơ chế khuyến khích thích hợp trong các thể chế chính trị, các quy tắc ngầm có thể được thiết lập để đem lại lợi ích cho những nhóm đặc biệt
có lợi thế chính trị Và điều này sẽ gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia do các xung đột lợi ích
Mặt khác, nếu không có sự bảo vệ pháp lý cơ bản về quyền sở hữu của chính phủ đối với các cá nhân, tốc độ tăng trưởng đầu tư tư nhân sẽ bị sụt giảm, do đó sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Đầu tư tư nhân, đặc biệt là đầu tư nước ngoài
Trang 40cũng không được khuyến khích vì ảnh hưởng của sụ quan liêu Điều này cũng sẽ làm chậm tăng trưởng kinh tế
Mặc dù tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra trong các lý thuyết của mình nhưng các khía cạnh của thể chế công chỉ thực sư được xem xét toàn diện về mặt lý luận khi ra đời hai bộ chỉ số đo lường thể chế công là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG) với 6 nhóm chỉ tiêu lớn là Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability), Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political stability and
Absence of Violence), Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness), Chất
lượng các quy định (Regulatory Quality), Nhà nước pháp quyền (Rule of Law), Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption)
Theo Tổ chức Quốc tế về các cơ quan kiểm toán (Intosai - International Organization of Supreme Audit Institutions), tác động của tiếng nói và vấn đề trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability) đến tăng trưởng được đưa ra bởi hai lý
do Đầu tiên, không có tiếng nói và thiếu trách nhiệm giải trình là cấu thành của nghèo đói Như vậy, tăng cường tiếng nói và trách nhiệm có thể giảm nghèo Thứ hai, tiếng nói và trách nhiệm giải trình có thể dẫn đến kết cục khác như quyền sở hữu lớn hơn và các chính sách hỗ trợ người nghèo có thể dẫn đến việc giảm nghèo (Intosai, 2005) Trách nhiệm giải trình với người dân là một trong những thuộc tính quan trọng của công tác quản trị và hành chính công Nó đóng vai trò hết sức đặc biệt trong công tác phòng chống chống tham nhũng, cũng như nâng cao tính hiệu quả và mở rộng độ bao phủ của dịch vụ công Trách nhiệm giải trình với người dân nhằm bảo đảm để người dân, nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước có cơ sở pháp
lý và khả năng yêu cầu các cơ quan và cán bộ nhà nước phải có trách nhiệm giải trình về những việc họ đã làm hoặc chưa làm
Ổn định chính trị và không có bao lực (Political stability and Absence of Violence) có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi khi sự bất ổn và bạo lực xảy
ra sẽ làm giảm tầm nhìn của các nhà hoạch định chính sách trong việc tối ưu hóa