Tuy niên trong quá trình đổi mới, sự tác động của kinh tế thị trường, việc mở rộng giao lưu hợp tác..đã ảnh hướng sâu sắc đến lối sống, nhân cách, quan niệm đạo đức của con người, đến hệ
Trang 1Vi GV VAT KT KHẤC AI ẤT AY ẤT AC ẤT AY ẤT ẤY ẤTẤY KYAY AYAY ẤT ĐA NA ẤY ẤYAVAC KYAY ẤN! vat
& _ SỰ SUY THOÁI BAO DUC LOI SONG CUA CAN BỘ ĐÁNG VIÊN 5 3 mà wk e a s Ở THÀNH PHO HO CHÍ MINH THỰC TRẠNG NGUYÊN NHÂN §
Trang 2MUC LUC
MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của để tài
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lý luận chung về đạo đức
Sự suy thóa¡ đạo đức
Chương 2 THỰC TRẠNG SUY THÓAI ĐẠO ĐỨC LỐI
SỐNG CỦA CÁN BỘ ĐẲNG VIÊN
Ở THÀNH PHỐ HỖ CHÍ MINH Dấu hiệu sự suy thóai đạo đức lối sống
Sự suy thóai đạo đức lối sống trên các tiêu chuẩn đạo đức
Trang 3MO DAU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi to
lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy niên trong quá trình đổi mới,
sự tác động của kinh tế thị trường, việc mở rộng giao lưu hợp tác đã ảnh hướng sâu sắc đến lối sống, nhân cách, quan niệm đạo đức của con người, đến
hệ thống các chuẩn mực xã hội truyền thống, nhiều tệ nạn xã hội gắn liển với
sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên Tìm
biểu về sự suy thóai này là một yêu cầu bức thiết trong giai đoan hiện nay
Về lý luận:
- Vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được thể hiện ở nhận thức, tình cầm , hành vi thực tế của đội ngũ Đảng viêz Thông qua sự lãnh đạo của
Đảng, cán bộ, công chức là chỗ dựa vững chấc để thực hiện thắng lợi mục tiêu
cách mạng của Đảng như mong mỏi của Chủ tịch Hê Chí Minh trước lúc di
xa: “Dang ta là một đẳng cầm quyển, mỗi đáng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
phải giữ gìn Đáng ta thật trong sạch, phẩi xứng đáng là người lãnh đạo, là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”
- Cần khẳng định một cách chắc chấn và kiên định về sự cần thiết và tâm quan trọng sống cồn về ý thức đạo đức của cán bộ, đắng viên trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh
- Tinh thân của Nghị quyết TW 3 khóa VIII là cần xem xét tương quan
mật thiết giữa đức và tài trong đánh giá cán bộ, trong đó đức là gốc
Trang 4- Sự suy thóai đạo đức có phải là một hiện tượng có tính qui luật trong
cơ chế thị tường hay không? Hiện tượng này có thể bị đẩy lùi triệt để ?
Về thực tiễn:
- Báo cáo chính trị tại Đại hội VIH Dang Cộng sản Việt nam đã chỉ rõ:
“Tệ quan liêu, tham những và suy thoái về phẩm chất, đạo đức của một bộ
phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin
của nhân dân đối với Đảng đối với chế độ bị xói mòn, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch dẫn đến chệch hướng”
- Đại hội IX Đáng Cộng sản Việt nam một lần nữa nhấn mạnh: “Trong
công tác xây dựng Đáng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt
yếu kém và khuyết điểm nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện
đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư
tưởng chính trị và đạo đức lối sống ”
~ Trong quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ mới đã có không ít
cán bộ, đẳng viên biến chất, đó là kết quả của sự suy thóai đạo đức hiện
tượng này không có xu hướng giảm đi mà có nguy cơ ngược lại Đặc biệt trong
những vụ án lớn gần đây, số lượng bị cáo có chức quyền không phải là ít
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu Giúp Thành ủy, UBND thành phố có định hướng lãnh đạo phù hợp và
có chú trương nhất quán trong công tác qui họach, đào tạo, bổi dưỡng, đánh
giá cán bộ trong tình hình hiện nay, góp phân nâng cao vai trò lãnh đạo cửa
Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
Trang 52.2 Nhiém vu
- Xây dựng các khái niệm liên quan đến sự suy thóai đạo đức lối sống
- Đánh giá đúng thực trạng của sự suy thóai đạo đức lối sống cửa đội ngũ cán bộ, ding vién Thành phố
- Mô tẩ các biểu hiện của việc suy thóai đạo đức lối sống
- Tìm hiểu nguyên nhân của sự suy thóai đạo đức lối sống
- Để xuất một số biện pháp khả thi nhằm hạn chế và đẩy lùi sự suy
thóai đạo đức lối sống
3 Nội dung nghiên cứu:
3.1 Nội dung
- Xây dựng cơ sở lý luận của dé tài
- Tìm hiểu thực trạng đạo đức lối sống cán bộ, đáng viên, thực trạng
về sự suy thóai đạo đức ,xác định các nguyên nhân của thực trạng trên
- Để xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng suy thóai dạo
đức lối sống, một số giải pháp ngăn ngừa hiệu quả
- Kiến nghị với các cấp có thẩm quyển một số vấn để cụ thể
3.2 Giơi hạn, phạm ví nghiên cứu
Để tài chỉ tập trung nghiên cứu ở địa bàn Thành phố Hỗ Chí Minh
Đối tượng nghiên cứu gồm: Cán bộ, đảng viên đương chức, nhân dân lao động , cán bộ hưu trí, cựu chiến binh,
3.3 Giả thuyết khoa học
Hiện nay có một bộ phận cán bộ, đẳng viên suy thóai về đạo đức đặc
biệt về đạo đức lối sống Nguyên nhân chú quan do cán bộ, đáng viên thiếu
rèn luyện và khách quan do tác động của cơ chế và môi trường xã hội
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận van dé
-Phương pháp tiếp cận chủ nghĩa duy vật biện chứng duy vật lịch sử
- Phương pháp tiếp cận thực tiễn
- Phuong phép tiếp cận lịch sử
4.2 Các phương pháp cụ thể
- Nghiên cứu tài liệu
-_ Điều tra xã hội học, phỏng vấn
- Tóan thống kê, xử lý theo phần mềm SPSS 10.05
$ Sản phẩẩm khoa học của đề tài
- Báo cáo “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ đắng viên ở
thành phế Hồ Chí Minh-Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục
có khá nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức, trong đó có nhiều công trình
nổi tiếng như “Giá trị tỉnh thần truyền thống của dân tộc Việt nam” (Trần văn
Giàu, Nxb.TP.Hê Chí Minh, 1993), “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh- Truyền
thống dân tộc và nhân loại” (Vũ Khiêu, Nxb.Khoa học xã hội HN
1993) Những công trình ấy khẳng định các giá trị đạo đức truyền thống trong
đó Hồ Chí Minh vừa được xem là tấm gương mẫu mực cho các giá trị đạo đức truyền thống của đân tộc, vừa có những giá trị phố biến mang tính nhân loại.
Trang 7- Đề tài “Tệ tham những và những giải pháp phòng chống” (do Bà Hồ
thị Thiện, nguyên Giám đốc Trường Đáng Nguyễn văn Cừ làm Chủ nhiệm)
đã bước đầu nêu lên được những biểu hiện tình trạng tham những của cán bộ,
đẳng viên ở Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên nhân và giải pháp để phòng
- Để tài “Xây dựng Đảng bộ thành phố Hỗ Chí Minh trong cơ chế thi
trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa do Ô Lê Tâm Dũng làm chủ nhiệm
để tài (Nxb.TP.Hồ Chí Minh, 2003) đã nêu những tác động của cơ chế thị
trường đối với việc xây dựng Đẳng về chính trị- tư tưởng và tổ chức- cán bộ
trong đó có nêu rõ một số những tác động tiều cực, những biểu hiện suy thoái
về đạo đức lối sống của đắng viên, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng nêu trên từ đó để xuất những giải pháp xây dựng Đảng hộ thành phố
Nước ngòat
Các nhà khoa học Trung quốc đã bàn về đạo đức trong kinh tế thị trường khá sớm, trên nhiều khía cạnh, có mặt rất sâu sắc có nhiều ý kiến khác nhau,
thậm chí đối lập nhau ("Những vấn để đạo đức trong điều kiện kinh tế thị
trường” Viện Thông tin Khoa học xã hội, HN, 1996) Gần đây một số thco xu
hướng các nhà khoa học âu Mỹ đề cập nhiều đến vấn để đạo đức trong sắn
xuất kinh doanh
Đã có một số công trình khoa học, một số bài viết bàn về đạo đức cách mạng, về phẩm chất lối sống của cán bộ, đắng viên nhưng chỉ trên bình diện
giới thiệu , bình phẩm hay định hướng rèn luyện nhưng trong thực tế chưa có
công trình nào nghiên cứu sâu sắc và cụ thể về sự suy thóai đạo đức lối sống.
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lý luận chung về đạo đúc
1 1 Khái niệm đạo đức
Ngay từ khi mới xuất hiện, con người không thể tránh khỏi một qui luật
tất yếu là họ phải có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau để cùng sinh tổn
và phát triển Từ những quan hệ ban đầu rất đơn giản giữa người và người,
mỗi cá nhân đòi hỏi phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xứ và phải điểu chỉnh
thái độ, hành vi của mình nhằm đầm bảo cho đời sống của các cá nhân và của
cộng đồng diễn ra một cách tốt đẹp
Chuẩn mực của ý thức đạo đức được hình thành như là kết quả nhất định trong lịch sử ý chí tập thể của con người , tạo thành một hệ thống những qui tắc và sự đánh giá được chuẩn hóa nhằm hướng dẫn hành động của con người
Trên bình diện xã hội học, có định nghĩa nều rằng : Đạo đức là toàn bộ
những qui tắc , chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con
người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên hoặc đạo đức là
hệ thống những qui tắc , chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa
con người với con người , giữa con người với cộng đồng và với bản thân mình Tổng hợp các mặt nêu trên, đạo đức học đã đưa ra một định nghĩa day
đứ cho rằng: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội cơ bản , phản ánh
những nguyên tắc , chuẩn mực xã hội, nhờ có nó con người tự giác điều
chủnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con
người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa
cá nhân và xã hội
Trang 91.2 Bản chất và biểu biện của đạo đúc xã hội
1.2.1 Bản chất của đạo đức
Trong xã hội có giai cấp dù là văn minh như hiện nay, nội dung và hình thức của đạo đức phát triển nhưng chưa thật nhân đạo, chưa thật hoàn thiện
Sự hoàn thiện của nội dung đạo đức (thật sự nhân đạo) chỉ có thể đạt được khi
con người chiến thắng được tình trạng đối kháng giai cấp Điều đó chỉ có thể
bất đầu có được bằng đạo đức cộng sản trong xã hội cộng sản mã giải đoan đầu là xã hội chú nghĩa Sự hoàn thiện đạo đức được bất đầu từ đạo đức của
giai cấp công nhân “với nhiều nhân tố hứa hẹn để dẫn tới một kiểu đạo đức
thật sự có tính thÂn nhân đạo”
- Đạo đức nầy sinh do nhu câu xã hội Ý thức đạo đức được hình thành để
điểu chỉnh mối quan bệ giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với xã hội và điều chỉnh hoạt động của con người nói chung
- Đạo đức xã hội “phản ánh điểu kiện sinh hoạt vật chất xã hội, là sản
phẩm của tình hình kinh tế” (C.Mác) Cho đù ở thời đại nào thì ý thức đạo đức
đều bị qui định bổi những điều kiện đời sống vật chất cửa xã hội Nội dung của đạo đức xã hội là do hoạt động thực tiễn và tổn tại xã hội quyết định Vì
vậy F.Enghen đã từng khẳng định: “Chung qui lại thì mọi học thuyết đạo đức
từ trước đến nay đều là sắn phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ”
- Ý thức đạo đức không vĩnh cứu, bất biến mà “điều kiện đời sống vật
chất của xã hội thế nào thì ý thức đạo đức của con người như vậy Ý thức đạo
đức bao giờ cũng tương ứng với điểu kiện của đời sống vật chất, là sự biểu
hiện cửa đời sống vật chất và cùng thay đổi với nó ”.
Trang 10- Giai cấp thống trị buộc mọi thành viên trong xã hội phải thừa nhận tính
hợp pháp lợi ích của nó, và vì vậy nó buộc mọi thành viên xã hội phải tuân
thủ những chuẩn mực đạo đức tối thiểu của nó
- Giai cấp thống trị điều khiển toàn bộ quá trình sẩn xuất tỉnh thần của xã
hội, trong đó có sản xuất các giá trị đạo đức phù hợp với lợi ích của nó
- Giai cấp thống trị nắm khâu tuyên truyền làm cho đạo đức cửa nó thành
cái phổ biến trong xã hội Từ đó, nó được củng cố thành thói quen, phong tục
tập quán Vì vậy nó có sức sống dai dẳng trong tâm lý xã hội và cá nhân
1.2.2 Biểu hiện của đạo đức xã hội
Ý thức đạo đức xã hội hiện nay thường được biểu hiện ở 2 cấp độ: cấp độ
thực tiễn đỡi thường và cấp độ lý luận Cấp độ lý luận - lý tưởng của ý thức đạo đức thường được gọi là luân lý Ý thức luân lý tách ra từ ý thức đạo đức trực tiếp khi tư duy chính trị và tư duy pháp quyển đã hình thành tức là khi
nhà nước ra đời Nếu các phong tục đạo đức thực tế có thể thay đối trong lịch
sứ thì những mệnh lệnh luân lý những phạm trù luân lý tổn tại như là tống thể
những chân lý cụ thể, không thể tranh cãi
Trong thực tế, đạo đức cửa mội xã hội thường được biểu hiện ở các
nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức Đó là một hệ thống các mệnh lệnh, các điều cấm đoán hoặc khuyến khích một hình thức hành ví nào đó mà con người cân
phải tuân theo, Nó vạch ra giới hạn được phép hay không được phép của hành
vi đạo đức Nó được dùng để đánh giá các hành vi cá nhân về mặt đạo đức: người có đạo đức là người hãnh động trong giới hạn của các chuẩn mực và
được xã hội đồng tình tôn trọng, khuyến khích Người không có đạo đức là
người có hành động vượt ra ngoài giới hạn, sẽ bị xã hội lên án, coi thường,
Trang 11thậm chí phẩn nộ Có thể coi nguyên tấc và chuẩn mực đạo đức là những luật
lệ không thành văn, là đòi hỏi cửa xã hội đối với hành vi con người
Tuy nhiên việc tuân theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức khác với việc tuân thủ luật pháp Trong đạo đức việc hành động theo các nguyên tắc,
các chuẩn mực là do sự tự nguyện, nói cách khác “các chuẩn mực đạo đức
phần ánh tính tất yếu đạo đức mà không có các sắc luật đặc biệt để hợp pháp
hóa sự hoạt động của nó”
1.3 Đạo đức cá nhân và những biểu liện
1.3.1 Cấu trúc đạo đúc cá nhân
Thông qua hoạt động thực tiền và quá trình tham gia vào các mối quan
hệ xã hội mà mỗi cá nhân dần đà lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức xã hội,
biến các chuẩn mực đạo đức ấy thành những hiểu biết về đạo đức của riêng
mình, tạo ra những nhận thức đạo đức của mỗi cá nhân Khi những chuẩn mực đạo đức đã được nhận thức tổ ra phù hợp với nhu cầu của cá nhân thì những rung động, cầm xúc đạo đức bắt đầu xuất hiện Những cắm xúc đạo đức nhất
thời, thoáng qua được lặp đi, lặp lại, được cũng cố nhiều lần trong cuộc sống dưới nhiều hình thức và mức độ tác động khác nhau cuối cùng sẽ dẫn đến
những tình cầm đạo đức sâu đậm và bên vững
Tình cắm đạo đức là yếu tố căn bẩn cửa ý thức đạo đức cá nhân Niềm tin
đạo đức và các nguyên tắc hoạt động của cá nhân chỉ có thể hình thành trong
điều kiện được thể hiện bằng cẩm xúc, nếu không thế thì các khái niệm đạo
đức, các phạm trù luân lý, những tri thức thu được bằng lý tính về thiện và ác chỉ được nhân thức ở mức độ ghi nhận thông tún mà không thể làm cơ sở để chuyển hóa thành động cơ của hành vị cá nhân
Trang 12Tình cảm nghĩa vụ nẩy sinh trong quá trình con người thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với người khác, với gia đình, với xã hội Đó là thái độ cảm xúc của cá nhân đối với việc hoàn thành hay không hoàn thành nghĩa vụ của mình Nó biểu hiện thành các trạng thái tâm lý như âu lo, vui mừng khi
nhận và hoàn thành nghĩa vụ.biết xấu hổ buổn bã khi không làm tròn bổn
phận Có tình cầm nghĩa vụ con người sẽ tự giác hành động, làm theo lẽ phải,
ý thức được cái nên làm, cần làm hoặc phải làm cho hợp với đạo đức, danh dự Lương tâm là sự tự ý thức về đạo đức của con người, có chức năng tự đánh giá hành vi của chính mình theo quan điểm ý nghĩa xã hội của hành vi
và giám sát hành vi ấy Khi hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, con người cắm thấy lương tâm thanh thần Ngược lại, khi con người có hành vị
vi phạm chuẩn mực đạo đức, lương tâm sẽ bị đầy vỏ, cắn rứt không yên
Thực tế, con người có thể thuộc lòng những chuẩn mực đạo đức nhưng họ
vẫn gây ra cái ác, vẫn có hành động vô đạo đức Có hiếu biết về đạo đức
không có nghĩa là con người sẽ cư xử và hành động hợp đạo đức Nhận thức đạo đức là điểu kiện cần nhưng chưa đứ của hành vi đạo đức.Để thực hiện một
hành vi đạo đức, ngoài yếu tố trí tuệ ra còn cần phải có tình cầm đạo đức Những hành vi đạo đức được thực hiện nhiều lần ở cá nhân nào đó theo
thời gian trong những hoàn cảnh nhất định, sẽ tạo nên những thói quen đạo
đức bên vững ở cá nhân đó Một thói quen đạo đức được cũng cố đi, cũng cố
lại sau cùng sẽ hình thành một nét tính cách, một phẩm chất đạo đức khó biến
mất, ổn định ở mỗi cá nhân Việc hình thành các thói quen và các phẩm chất
đạo đức cá nhân không phải nhanh chóng mà mang tính lâu đài bên bỉ, khó
Trang 13khăn, đặc biệt là khi phải xóa đi một thói quen, một phẩm chất đạo đức không
phù hợp với xã hội Chống xa hoa lãng phí, hình thành thói quen tiết kiệm:
chống tật xẩ rác bừa bãi, xây dựng thói quen bảo vệ môi trường đang là việc
lầm còn nhiều khó khăn đáng phẩ¡ quan tâm ở xã hội Việt Nam ngày nay
Trên thực tế muốn ngăn chặn biệu quả, không để các hành vi phản dao
đức xảy ra, người ta thường áp dụng đồng thời các biện pháp:
- Làm cho cá nhân không đám có hành động bất lương thông qua sức mạnh phê phán của búa rìu dư luận thậm chí của hệ thống pháp luật
- Làm cho cá nhân không thể có điểu kiện thực hiện các hành động không hợp đạo đức, thông qua các qui định chặt chẽ, chủ động kiểm tra gất
gao đến mức có muốn lầm bậy cũng không xong
- Lầm cho cá nhân tự mình ngăn cấm những hành vị vô đạo đức, tự cảnh giới xa lánh không rơi vào những việc làm sai trái đạo đức thông qua giáo dục đạo đức, làm cho dẫu nghèo nhưng vẫn sạch
- Lâm cho cá nhân không cần thực hiện những việc phần luân lý mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của mình bằng cách nổ lực không ngừng nâng cao đời
sống mọi mặt cửa cá nhân, không để ban cing dé nay sinh dao tac
1.3.2 Những dấu hiệu của đạo đức cả nhân
Đạo đức cá nhân được xem như một hệ thống các nét tính cách, phẩm
chất đạo đức, thường tập rung thành 2 nhóm:
- Nhóm tính cách, phẩm chất đạo đức liên quan chủ yếu đến vấn để thế
giới quan, đến các phẩm chất tư tưởng chính trị của cá nhân, biểu hiện ở hành
vi, thái độ và quan điểm của cá nhân đối với thế giới hiện thực muôn màu
muôn về Chủ yếu nhất là ở quan điểm lập trường chính trị, giai cấp, ở thái độ