1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

147 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức của thanh niên huyện Cần Giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Sở Khoa Học Và Công Nghệ Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo nghiệm thu
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (12)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước (16)
    • 2.1. Liên hợp quốc (LHQ) và các nước với BĐKH (16)
    • 2.2. Châu Á – Thái Bình Dương với BĐKH (19)
    • 2.3. Việt Nam với BĐKH (21)
    • 2.4. Thành phố Hồ Chí Minh với biến đổi khí hậu (26)
    • 2.5. Cần Giờ với biến đổi khí hậu (31)
    • 2.6. Vai trò của rừng trong hạn chế tác động của BĐKH (40)
    • 2.7. Nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu (43)
    • 2.8. Nhận thức của người dân nói chung và thanh niên nói riêng về vai trò của rừng trong hạn chế tác động của BĐKH (46)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (50)
    • 3.1. M c tiêu chung (50)
    • 3.2. M c tiêu c th (50)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (50)
  • 5. Đối tƣợng hách thể nghiên cứu và ph m vi nghiên cứu (51)
    • 5.1. Đối tượng nghiên cứu (51)
    • 5.2. Khách th nghiên cứu (51)
    • 5.3. Phạm vi nghiên cứu (51)
  • 6. Phương pháp và thu t nghiên cứu (51)
  • 7. ngh a ý u n và ý ngh a thực tiễn (57)
    • 7.1. ngh a l luận (57)
    • 7.2. ngh a th c ti n (58)
  • 8. H n ch của đề tài (58)
  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ L LUẬN (60)
    • 1.1. Cách ti p c n và ý thuy t ứng dụng (60)
    • 1.2. Thao tác hoá các hái niệm (0)
    • 1.3. Giả thuy t nghiên cứu (70)
  • CHƯƠNG II: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN VÀ M U NGHIÊN CỨU (72)
    • 2.1. Tổng quan địa àn nghiên cứu (72)
    • 2.2. Tổng quan về m u nghiên cứu (85)
  • CHƯƠNG III: NHẬN THỨC CỦA THANH NIÊN HUYỆN CẦN GIỜ VỀ VAI TRÕ CỦA RỪNG PHÕNG HỘ TRONG VIỆC HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG (94)
    • 3.1. Nh n thức về i n đổi hí h u và tình hình i n đổi hí h u t i Cần Giờ (94)
    • 3.2. Nh n thức về rừng phòng hộ và vai trò của rừng phòng hộ trong việc h n (107)
    • 3.3. Nh n thức về công tác chăm sóc ảo vệ và phát triển rừng phòng hộ (119)
    • 3.4. Nh n thức về các chương trình hành động nhằm ảo vệ và phát triển rừng phòng hộ nhằm ứng phó với i n đổi hí h u (124)
  • CHƯƠNG IV: D ÁN NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO THANH NIÊN HUYỆN CẦN GIỜ VỀ VAI TRÕ CỦA RỪNG PHÕNG HỘ TRONG VIỆC HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG 120 4.1. Thông tin chung về dự án (131)
    • 4.2. Bối cảnh x y dựng dự án (131)
    • 4.3. Đối tượng hưởng ợi của dự án (132)
    • 4.4. Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của dự án (132)
    • 4.5. Ho t động của dự án (133)
    • 4.6. Tác động của dự án (134)
    • 4.7. Tính ền v ng và rủi ro của dự án (135)
    • 4.8. Bảng mô tả tổng hợp về dự án (136)
    • 4.9. Dự tr inh phí thực hiện dự án (138)
    • 1. K t u n (142)
    • 2. Ki n nghị (144)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (146)

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

Liên hợp quốc (LHQ) và các nước với BĐKH

Trước những thách thức lớn về khí hậu, các nước trong LHQ đã thống nhất cần có một Công ước quốc tế về khí hậu để đối phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (UNFCCC) được chấp nhận vào ngày 9/5/1992 tại New York Đây là hiệp ước quốc tế về môi trường được thông qua tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển ở Rio de Janeiro từ 3-14/6/1992, với mục tiêu ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển nhằm ngăn chặn sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu UNFCCC có hiệu lực từ 21/3/1994 và đến tháng 5/2011 đã có 195 bên tham gia, gặp mặt hàng năm từ năm 1995 tại hội nghị các bên (COP) để đánh giá tiến trình đối phó với BĐKH.

7 Bộ Tài nguyên & Môi trường - Tổng cục Môi trường (2009), http://vea.gov.vn/vn/hoptacquocte/conguoc/Pages/conguocbiendoikhihauUN1992.aspx

8 The United Nations Framework Convention on Climate Change (2005), http://vi.wikipedia.org

Hiệp định Kyoto đã thiết lập các nghĩa vụ pháp lý cho các quốc gia phát triển trong việc giảm thiểu khí thải nhà kính Theo nghiên cứu của tác giả Quang Nguyên, nghiên cứu sinh tại đại học, tình hình thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu của các bên tham gia cần được xem xét kỹ lưỡng.

Bài viết “Ứng phó với BĐKH qua các kỳ COP” tại Victoria, Wellington, New Zealand nêu rõ sự khác biệt trong quan điểm và cách tiếp cận của các nước, nguyên nhân chính dẫn đến những khoảng cách khó san lấp Hiện nay, trong các cuộc thương thảo về biến đổi khí hậu, thế giới được chia thành ba nhóm: Nhóm 1 - Châu Âu (đại diện bởi Đức, Pháp, Anh); Nhóm 2 - Mỹ cùng các nước lớn đang phát triển (như Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Brazil) gọi tắt là BASIC; Nhóm 3 - các thành viên còn lại, trong đó có Việt Nam Sự khác biệt rõ rệt nhất giữa Mỹ, Trung Quốc và Châu Âu được thể hiện qua các quan điểm và chiến lược khác nhau trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Chính phủ Mỹ đã phản đối mạnh mẽ các yêu cầu từ hội nghị Berlin và tuyên bố sẽ không ký vào bất kỳ văn bản nào liên quan đến Công ước 1992, trừ khi các nước đang phát triển cũng cam kết giảm phát thải khí nhà kính trong cùng khoảng thời gian Trong 10 năm sau cuộc thương thảo tại Kyoto (1997), lượng phát thải khí nhà kính của Mỹ chỉ tăng 0.2% mỗi năm, trong khi tổng lượng phát thải toàn cầu tăng 2.8% mỗi năm Mỹ cho rằng sự gia tăng phát thải khí nhà kính toàn cầu chủ yếu do các nước như Trung Quốc gây ra, chứ không phải do sự vắng mặt của họ trong việc ký kết Nghị định thư Trong khi đó, Mỹ đã thể hiện vai trò lãnh đạo trong việc tìm kiếm nguồn tài chính cho biến đổi khí hậu, kêu gọi mở rộng và tăng cường các quỹ quốc tế Tại Hiệp ước Copenhagen (COP-15 năm 2009), thế giới đã ghi nhận cam kết hỗ trợ 100 tỷ USD từ các nước phát triển.

Vào năm 2020, Mỹ và các nước phát triển đã áp dụng một cách tiếp cận khác biệt so với Châu Âu trong việc giảm thải khí nhà kính Mỹ sẵn sàng cung cấp hỗ trợ tài chính nhưng không muốn bị ràng buộc bởi các văn bản pháp lý quốc tế cho đến khi Trung Quốc đồng ý chia sẻ trách nhiệm liên quan đến vấn đề này.

9 Bộ Tài nguyên và Môi trường, http://www.noccop.org.vn/modules.php?name=Airvariable_Intro

Trung Quốc đã giữ quan điểm rằng biến đổi khí hậu chủ yếu do các nước phát triển gây ra và họ phải chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề này, đặc biệt là từ COP-17 năm 2011 ở Durban, Nam Phi Trong suốt hai thập kỷ trước đó, quốc gia này khẳng định rằng các nước phát triển cần tài trợ cho các nỗ lực chống lại tình trạng ấm lên toàn cầu mà họ đã góp phần gây ra Tuy nhiên, thực tế trong 10 năm đầu thế kỷ này cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với vấn đề khí hậu.

Tính đến năm 2021, Trung Quốc đã phát thải lượng CO2 cao hơn bất kỳ quốc gia phát triển nào trong toàn bộ thế kỷ 20, chỉ sau Mỹ và Đức Tuy nhiên, nước này đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu khí nhà kính, như đạt mục tiêu giảm 20% năng lượng tiêu thụ trên mỗi đơn vị GDP từ năm 2006-2010 và tăng 15% năng lượng tái tạo trong tổng cung cấp điện vào năm 2020 Trung Quốc hiện cũng nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về sản xuất điện gió, cho thấy sự sẵn sàng hợp tác với cộng đồng quốc tế, mặc dù không muốn ký kết các văn bản pháp lý chính thức.

Châu Âu đã nỗ lực trong việc đối phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) trong hơn hai thập kỷ qua, đưa vấn đề này vào trung tâm chính sách ngoại giao Khối đã thuyết phục thế giới ủng hộ cơ chế đối thoại đa phương nhằm giảm phát thải với thời gian biểu và ràng buộc pháp lý, đảm bảo sự giám sát từ cộng đồng quốc tế Châu Âu tin rằng đây là phương pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu tác động của BĐKH Đại diện của khối như Đức, Pháp, và Anh đã thực hiện những thay đổi lớn về giảm phát thải và kinh tế carbon thấp, vượt trội hơn nhiều nước phát triển khác Cơ chế trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính (ETS) của Châu Âu cũng được ghi nhận và ủng hộ mạnh mẽ trên toàn cầu.

Hội nghị COP-17 năm 2011 tại Nam Phi đã mở ra cơ hội lịch sử cho các bên trong việc thương thảo về biến đổi khí hậu, với mục tiêu đạt được thỏa thuận chung vào năm 2015 Quyết định này nhằm tìm kiếm sự đồng thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời kéo dài Nghị định thư Kyoto thêm 5 năm (2015-2020) để được sự chấp nhận từ nhóm BASIC Tuy nhiên, sự trì hoãn trong việc thống nhất giữa các thành viên đã tạo ra khoảng trống thời gian, khiến trái đất tiếp tục nóng lên một cách không kiểm soát.

2015 sẽ chỉ diễn ra nếu tất cả các thành viên đàm phán BĐKH có những hành động cụ thể của riêng mình ( 10 ).

Châu Á – Thái Bình Dương với BĐKH

Vào ngày 8-9/2/2014, một hội thảo về “Môi trường và công tác quản lý lưu vực sông” đã diễn ra tại Bangkok, Thái Lan, với mục tiêu nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu cho các nước châu Á Sự kiện này được khởi xướng bởi Trường đại học Yamanashi, Nhật Bản, và đã dẫn đến việc hình thành mạng lưới Trung tâm nghiên cứu quốc tế về môi trường lưu vực sông (ICRE-Net) Nhiều trường đại học tại Hà Nội và TP.HCM cùng các viện nghiên cứu về môi trường và thời tiết của Việt Nam đã tham gia vào mạng lưới này Theo Phó Giáo sư Hiroshi Ishidaira từ Trường đại học Yamanashi, mục tiêu của mạng lưới và hội thảo là chia sẻ kinh nghiệm và ý tưởng mới liên quan đến môi trường và quản lý lưu vực sông.

Hội thảo đã thu hút hơn 45 đại biểu là các chuyên gia nghiên cứu về môi trường, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên Tại sự kiện, 19 đề tài đã được trình bày, trong đó đoàn Việt Nam đóng góp 5 đề tài liên quan đến khí hậu, tài nguyên nước, xử lý nước ô nhiễm và chăm sóc sức khỏe, nhận được sự quan tâm đặc biệt Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng từ trường Đại học Khoa học đã tham gia tích cực trong các thảo luận.

Tại hội thảo, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giới thiệu các dự án nghiên cứu hiện tại và thế mạnh của trường nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác trong nghiên cứu Nhiều đề tài nghiên cứu như ứng phó với lũ lụt ở miền Trung và biến đổi khí hậu đã được áp dụng tại Việt Nam Các đề tài này được thảo luận và tham khảo ý kiến từ các nhà khoa học quốc tế để thúc đẩy hợp tác và cải thiện khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

10 Quang Nguyen (2013), Ứng phó với biến đổi khí hậu qua các kỳ COP: Ít tương đồng, nhiều khác biệt, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid6&CategoryIDB&Newsi79

Tiến sĩ Đào Nguyên Khôi từ Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã trình bày nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) lên tài nguyên nước tại khu vực Tây Nguyên, nhấn mạnh tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô ảnh hưởng đến tưới tiêu và tích trữ nước Ông hy vọng nghiên cứu sẽ cung cấp những đề xuất hữu ích cho các dự án tương lai, giúp các nhà quản lý có biện pháp phù hợp Để ứng phó với BĐKH và nước biển dâng ở Đông Nam Á, dự án “Cải thiện sức chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu vùng ven biển Đông Nam Á” (BCR) đã được triển khai từ năm 2011 đến 2014, nhằm tăng cường khả năng của chính quyền và người dân địa phương trong việc lập kế hoạch và thích ứng với các hiểm họa khí hậu Dự án tập trung vào 8 tỉnh ven biển từ TP.HCM đến Bangkok, với Bến Tre và Sóc Trăng là những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Sau hai năm thực hiện, dự án đã xác định các hành động tốt nhất của người dân địa phương và tạo cơ hội cho các cộng đồng ven biển học hỏi lẫn nhau, đồng thời phát triển mạng lưới chia sẻ kiến thức qua các chuyến tham quan và diễn đàn thường niên.

Hội nghị Y tế công cộng khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 4, diễn ra tại Nha Trang vào ngày 21-22/11/2013, tập trung vào chủ đề “Biến đổi khí hậu và sức khỏe quần thể” Các báo cáo và thảo luận sôi nổi đã phản ánh những thách thức và cơ hội liên quan đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe cộng đồng trong khu vực.

Việt Nam đã tham gia Hội thảo ứng phó với biến đổi khí hậu vào năm 2014, thể hiện cam kết của đất nước trong việc đối phó với những thách thức từ biến đổi khí hậu Sự kiện này không chỉ tập trung vào việc chia sẻ kinh nghiệm mà còn nhằm tìm kiếm các giải pháp hiệu quả để ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu đang gia tăng.

Hội nghị đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra phức tạp và gây ra nhiều nguy cơ cho sức khỏe và cuộc sống con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội và môi trường Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các can thiệp nhằm phòng chống BĐKH là cần thiết và cần được thực hiện ngay, dựa trên các nghiên cứu khoa học đáng tin cậy Việc nghiên cứu và chia sẻ thông tin, cung cấp bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách là rất quan trọng Chúng ta, những người sống tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, cần đoàn kết hành động để giảm thiểu tác động của BĐKH.

Việt Nam với BĐKH

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu (BĐKH), với những hậu quả như thiên tai, dịch bệnh và thời tiết thất thường Những trải nghiệm đau thương này đã gây ra mất mát về con người và tài sản Đặc biệt, BĐKH đe dọa đến sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực, tạo ra nguy cơ lớn cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo và các mục tiêu thiên niên kỷ.

Việt Nam nhận thức rõ ràng về tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với sự phát triển bền vững, vì vậy đã tham gia và phê chuẩn Công ước khung của LHQ về BĐKH từ tháng 11/1994 và Nghị định thư Kyoto vào tháng 9/2002 Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thiện các văn bản pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng chống thiên tai và ứng phó với BĐKH Vào tháng 12/2008, Thủ tướng đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu”, tiếp theo là “Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu” vào tháng 12/2011, với mục tiêu phát huy năng lực toàn quốc để thực hiện các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo đảm an toàn cho người dân và tài sản, hướng tới phát triển bền vững và tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH.

Việt Nam đang nỗ lực phát triển nền kinh tế carbon thấp nhằm bảo vệ chất lượng cuộc sống và đảm bảo an ninh quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, cùng với sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế, đất nước đã đạt được những thành công ban đầu trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Báo cáo "Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao cho Việt Nam" cập nhật năm 2012 được công bố bởi Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, cùng với Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, vào ngày 17/4 tại Hà Nội Phiên bản này bổ sung dữ liệu và kiến thức mới về hệ thống khí hậu, cùng với các phương pháp tính toán hiện đại Kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam được chia thành ba loại: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B), và kịch bản phát thải cao (A2, A1FI).

Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, nếu mực nước biển dâng 1m, khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, hơn 2,5% diện tích các tỉnh ven biển Miền Trung, cùng với trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh sẽ có nguy cơ bị ngập Gần 35% dân số Đồng bằng sông Cửu Long, hơn 9% dân số Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển Miền Trung, và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp Đồng thời, trên 4% hệ thống đường sắt, hơn 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam cũng sẽ bị tác động.

Bộ Tài nguyên Môi trường đã xây dựng ba kịch bản phát thải cho biến đổi khí hậu và nước biển dâng, bao gồm kịch bản thấp, trung bình và cao Đặc biệt, các kịch bản này tập trung vào bảy khu vực ven biển của Việt Nam, với bản đồ nguy cơ ngập tương ứng cho Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, cùng 15 tỉnh ven biển Miền Trung từ Thanh Hóa đến Bà Rịa - Vũng Tàu ở tỷ lệ 1:10.000 Ngoài ra, khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá với tỷ lệ 1:5.000 Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến nghị việc áp dụng các kịch bản này trong công tác quản lý và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) đã ban hành Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 Trong việc đánh giá tác động của nước biển dâng và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu, cần xem xét và lựa chọn các giải pháp phù hợp cho từng ngành, lĩnh vực và địa phương Các tiêu chí cần được xem xét bao gồm tính đặc thù của từng ngành, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, tính bền vững, khả thi, cũng như khả năng lồng ghép với các chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển hiện có.

Tác giả Nguyễn Thành Vinh và Nguyễn Hữu Tới trong bài viết “Tác động của biến đổi khí hậu đến quy hoạch các vùng dân cư và các công trình ven biển Việt Nam” đã chỉ ra rằng, trong một đánh giá tổng thể trước đây, khả năng bị huỷ hoại do mực nước biển dâng là một vấn đề nghiêm trọng cần được xem xét kỹ lưỡng.

Việt Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và Cần Giờ, được xếp hạng là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH), với dự báo tổn thất lên tới 20% sản lượng lúa nếu không có biện pháp thích hợp BĐKH gây ra những thay đổi lớn trong cơ cấu mùa, chế độ mưa và gia tăng thiên tai, đồng thời làm thay đổi lưu lượng nước biển dâng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tỉnh ven biển Để giảm thiểu tác hại của BĐKH, cần thực hiện các giải pháp như nâng cấp hệ thống đê biển, tôn cao đất và nhà ở, chăm sóc bãi biển và xây dựng bản đồ ngập lụt Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của BĐKH đến đời sống người dân và những biện pháp cần thiết, bao gồm việc trồng rừng phòng hộ.

Tác giả Nguyễn Đăng Ngãi trong bài viết “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu lên hệ sinh thái rạn san hô vùng biển ven bờ Việt Nam” đã chỉ ra rằng bão và nhiệt độ nước biển tăng cao là những yếu tố tác động mạnh nhất đến các rạn san hô tại Việt Nam Ngoài ra, nước biển dâng và hiện tượng ngọt hóa do mưa nhiều cũng có ảnh hưởng nhưng ở mức độ thấp hơn Đặc biệt, các rạn san hô ở khu vực phía Nam chịu tác động của biến đổi khí hậu nhiều hơn so với các rạn ở khu vực khác.

Báo cáo của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, cùng với Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, đã công bố kịch bản biến đổi khí hậu và tình hình nước biển dâng cao cho Việt Nam vào năm 2012.

Bài viết của Nguyễn Thành Vinh và Nguyễn Hữu Tới, "Tác động của biến đổi khí hậu đến quy hoạch các vùng dân cư và các công trình ven biển Việt Nam," đăng trong tạp chí Người xây dựng số 12/2010, đề cập đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với mỹ quan bờ biển và sự phát triển kinh tế, du lịch tại khu vực phía Bắc Việt Nam Nghiên cứu cung cấp những phương pháp luận và kết quả nghiên cứu giá trị, là tư liệu tham khảo quý báu cho các nhà nghiên cứu và người làm đề tài liên quan.

Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là những người nghèo sống ở vùng dễ bị tổn thương Tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu đến sức khỏe con người thể hiện qua sự thay đổi trong mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường, dẫn đến biến đổi sinh lý và khả năng thích nghi Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng nguy cơ bùng phát các bệnh truyền nhiễm như cúm A/H1N1, sốt rét và dịch tả, do sự phát triển của vi khuẩn và côn trùng mang bệnh Hoạt động của con người, như săn bắn trái phép và phát thải khí nhà kính, đã làm suy giảm hệ sinh thái và góp phần vào sự ấm lên toàn cầu, đồng thời phá hủy tầng ozon, gây ra các bệnh liên quan đến da và mắt.

Hội thảo Quốc tế về “Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng”

(CBA) lần thứ 6 do tổ chức IIED, Chương trình phát triển LHQ (UNDP) và Bộ Nông

17 Th.S Nguyễn Đăng Ngãi, Nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu lên hệ sinh thái rạn san hô vùng biển ven bờ Việt Nam

Hội thảo do Phạm Xuân Ninh (2012) tổ chức nhằm chia sẻ kiến thức cộng đồng về quy hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu (CBA) từ các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam Mục tiêu là nắm bắt và tích hợp các bài học kinh nghiệm tốt nhất vào các chương trình phát triển quốc gia và quốc tế, nhằm nâng cao năng lực và cải thiện sinh kế cho các nhóm dễ bị tổn thương Thông tin và bài học kinh nghiệm sẽ được phổ biến qua các kênh truyền thông hàng ngày và một bản tóm tắt hội nghị ngay lập tức.

Cũng đề cập về vấn đề này, trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu

Vào năm 2011, một trong những mục tiêu chiến lược quan trọng là xây dựng cộng đồng có khả năng ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu (BĐKH) Mục tiêu này bao gồm việc tăng cường năng lực và sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động ứng phó với BĐKH, chú trọng vào kinh nghiệm địa phương và vai trò của chính quyền cũng như tổ chức quần chúng Cần xây dựng và nhân rộng các mô hình sinh kế theo hướng các-bon thấp, thay đổi hành vi và lối sống thân thiện với khí hậu để giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời phát huy kiến thức bản địa trong việc ứng phó với BĐKH Hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng cần được nâng cấp để ứng phó hiệu quả với BĐKH, bao gồm cải tạo cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa trang thiết bị và nâng cao năng lực cán bộ y tế Cuối cùng, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, công chức và xã hội về BĐKH, đồng thời xây dựng các phương pháp tiếp cận thông tin và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền về tác động của BĐKH.

Thành phố Hồ Chí Minh với biến đổi khí hậu

Theo nghiên cứu của OECD, TP HCM nằm trong top 10 thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là nông nghiệp và nông dân Quá trình đô thị hóa nhanh chóng và sự hình thành các đô thị mới ở Đông Nam Bộ đã gia tăng áp lực lên không gian hiện hữu, dẫn đến sự thu hẹp của đất nông nghiệp và không gian xanh, cũng như xâm lấn hệ thống kênh rạch tự nhiên Hệ thống kênh rạch và thảm cây xanh bị tổn hại, làm gia tăng tình trạng ngập lụt trong mùa mưa và triều cường Biến đổi khí hậu còn gây ra mực nước biển dâng cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khu vực sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản do tình trạng ngập mặn.

Quá trình đô thị hóa đã dẫn đến việc giảm diện tích đất lâm nghiệp, đồng thời mực nước biển dâng và sạt lở đất do dịch chuyển dòng chảy gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng Tình trạng suy thoái tài nguyên đất và chất lượng nguồn nước mặt ngày càng gia tăng, kéo theo sự phức tạp trong diễn biến các loại dịch bệnh Điều này làm tăng nguy cơ đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, dễ dẫn đến bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng đến cả ba hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng ngập phèn.

“Tam nông” đang phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu nghiêm trọng, đặc biệt là sự xâm nhập mặn do nước biển dâng Tình hình này ảnh hưởng mạnh đến hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ và rừng ngập phèn Bình Chánh, dẫn đến nguy cơ giảm diện tích và chất lượng rừng Biến đổi khí hậu không chỉ đe dọa sản xuất nông nghiệp mà còn làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ra những thách thức lớn cho đời sống người dân tại khu vực này.

TP.HCM có hai vùng sản xuất nuôi trồng thủy sản: vùng nước ngọt chủ yếu tại huyện Củ Chi và Bình Chánh, và vùng nước mặn, nước lợ tại Nhà Bè và Cần Giờ Sự gia tăng của nước biển dâng và xâm nhập mặn sẽ làm giảm diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt và ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sinh thái Biến đổi khí hậu gây ra thời gian khô hạn kéo dài, làm suy giảm số lượng thủy sản tự nhiên và gia tăng dịch bệnh An toàn của các hồ chứa và hệ thống đê biển cũng bị đe dọa, với nguy cơ tràn và vỡ đê ngay cả khi không có bão lớn Sự biến đổi dòng chảy do triều cường và mưa lũ sẽ ảnh hưởng đến an toàn của các công trình thủy lợi, trong khi nước biển dâng và hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ tác động lớn đến các hệ thống tưới tiêu và cống thoát nước.

Do tác động của nước biển dâng và xâm nhập mặn, cơ sở hạ tầng nông thôn đô thị, đặc biệt ở các khu vực đất thấp ven sông rạch, đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, làm tăng nguy cơ ngập úng và vỡ đê bao Tại Cần Giờ, với 23km bờ biển, nghề làm muối cung cấp việc làm cho hàng trăm lao động với sản lượng hàng năm từ 70.000 - 100.000 tấn Tuy nhiên, diện tích và cơ sở hạ tầng sản xuất muối đang đối mặt với nguy cơ do ngập mặn và mưa bão lớn, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng muối.

Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến cuộc sống của cư dân huyện Cần Giờ, đặc biệt là những người sống ven biển Tài liệu này sẽ hỗ trợ cho việc nghiên cứu thực trạng, từ đó nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là thanh niên, trong việc thực hiện các giải pháp đối phó với BĐKH và những ảnh hưởng của nó.

Các hoạt động của con người trong những thập kỷ qua đã làm gia tăng đáng kể các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến hiện tượng trái đất nóng lên và gây ra nhiều thay đổi bất lợi cho môi trường Nếu không có hành động kịp thời để giảm thiểu và thích nghi, hậu quả sẽ rất thảm khốc Biến đổi khí hậu thể hiện qua sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, mưa bão bất thường, hạn hán cực đoan, và mực nước biển dâng cao, gây ngập lụt và xâm nhập mặn vào nội đồng Theo nghiên cứu của Ủy ban Liên Quốc gia về BĐKH (IPCC) và các quan trắc tại TP.HCM, khu vực này đã ghi nhận những dấu hiệu rõ rệt của biến đổi khí hậu và thiên tai bất thường Những vấn đề này được tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đề cập trong bài viết "Tác động của biến đổi khí hậu tới thiên tai và giải pháp ứng phó cho khu vực thành phố Hồ Chí Minh".

Theo phân tích tài liệu thực đo nhiệt độ từ năm 1980 đến 2007 tại trạm Biên Hòa, khu vực gần Tp.HCM, nhiệt độ trung bình năm đã tăng 0.8°C, đặc biệt từ năm 1992 đến nay Tình trạng mưa cực đoan gia tăng với cường độ mạnh hơn, trong khi tổng lượng mưa không thay đổi, dẫn đến hạn hán và ngập lụt nghiêm trọng hơn Nguy cơ xảy ra sự cố vỡ đập hồ chứa trên thượng nguồn có thể khiến Tp.HCM bị tàn phá bởi hàng tỷ m³ nước Mực nước triều tăng cao là nguyên nhân chính làm gia tăng tình trạng ngập úng trong thành phố, cản trở phát triển kinh tế xã hội Nhiều khu vực bị ngập vào những ngày triều cường, hàng trăm cống thoát nước nằm dưới mực triều, làm giảm khả năng thoát nước Khi triều lớn gặp mưa kéo dài, thành phố gần như tê liệt, nhiều đường phố ngập sâu và kéo theo ô nhiễm nghiêm trọng Trong đợt lũ năm 2000, khoảng 130 ngàn ha đất tại Tp.HCM bị ngập, chủ yếu ở các huyện Cần Giờ, Bình Chánh, Nhà Bè và Củ Chi.

Tôi không biết!

Mực nước biển dâng cao tại Quận 7 không chỉ làm tăng tình trạng ngập úng mà còn ảnh hưởng đến lưu lượng và vận tốc dòng chảy trên các sông kênh, dẫn đến hiện tượng xói lở và bồi lắng khó kiểm soát Sự thay đổi ranh giới mặn ở Tp.HCM cũng gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân Qua việc phân tích logic cùng số liệu và biểu đồ minh họa, tác giả đã cung cấp cái nhìn tổng quát về tác động của biến đổi khí hậu đối với Tp.HCM, đặc biệt là khu vực Cần Giờ.

Tác giả Lương Văn Việt trong bài viết “Sự phát triển đô thị và xu thế biến đổi khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh” cho rằng TP.HCM, với dân số trên 6 triệu người, có mật độ dân số cao và tốc độ phát triển đô thị nhanh chóng Sự phát triển này đã làm thay đổi đặc tính mặt đệm, gây ra biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến cấu trúc các trường khí tượng, điển hình là hiệu ứng đảo nhiệt đô thị Kiến trúc hiện tại của thành phố còn nhiều bất cập như thiếu diện tích cây xanh, tỷ lệ sử dụng đất xây dựng lớn và góc mở đường phố nhỏ, dẫn đến tác động xấu đến chất lượng môi trường không khí Những thay đổi rõ nét nhất trong tốc độ đô thị hóa TP.HCM là sự gia tăng dân số và tỷ lệ sử dụng đất xây dựng.

Tốc độ tăng tỷ lệ sử dụng đất xây dựng tại Tp.HCM giai đoạn 1989-2002 đạt 1.84%/năm, trong khi giai đoạn 1997-2004 là 3.63%/năm, dẫn đến việc giảm diện tích cây xanh tương ứng Mỗi năm, Tp.HCM thải ra 40.200 tấn SO2, 61.000 tấn CO2, 70.000 tấn aldehyt, 27,5 tấn chì và lượng lớn bụi công nghiệp, gây ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu (BĐKH) Do đó, bên cạnh việc trồng rừng ngập mặn và nâng cao nhận thức cộng đồng, các kế hoạch phát triển đô thị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động của BĐKH.

TP Hồ Chí Minh, với vai trò là đô thị lớn và quan trọng của Việt Nam, đang phải đối mặt với áp lực từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Sự gia tăng diện tích đất đô thị và bê tông hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc gia tăng nhiệt độ bề mặt, với hiện tượng đảo nhiệt đô thị rõ rệt Nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh Landsat 8 đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2016-2020, khu vực có nhiệt độ bề mặt từ 30-40°C đã tăng lên 354,90 ha, trong khi khu vực có nhiệt độ từ 20-30°C lại giảm 800 ha Những biến động này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đặt ra thách thức lớn cho việc quản lý và quy hoạch phát triển đô thị bền vững.

%E1%BB%8B_v%C3%A0_xu_th%E1%BA%BF_bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_kh%C3%AD_ h%E1%BA%ADu_t%E1%BA%A1i_th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh

Môi trường sống dễ chịu của thành phố đã thu hút nhiều công ty đa quốc gia và nhân tài, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh giữa các thành phố gia tăng Sự an toàn và dễ chịu là yếu tố quan trọng trong thế kỷ 21, khi các hiểm họa tự nhiên do biến đổi khí hậu ảnh hưởng lớn đến các thành phố ven biển Thành phố thành công trong tương lai sẽ là những nơi có khả năng thích ứng tốt với biến đổi và xây dựng nền kinh tế sôi động Để đối phó với thách thức của biến đổi khí hậu, cần có hành động chiến lược liên tục và sự hỗ trợ từ cộng đồng Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được điều này và đã hợp tác với các chuyên gia quốc tế để phát triển Chiến lược Thích ứng với Khí hậu Năm 2009, TP.HCM đã ký thỏa thuận hợp tác với Thành phố Rotterdam về quản lý nước và thích ứng với biến đổi khí hậu, với sự hỗ trợ từ Chương trình Nước Toàn cầu của Hà Lan.

Thành phố Hồ Chí Minh đang trải qua sự phát triển nhanh chóng với tăng trưởng dân số và sự hiện diện của nhiều tổ chức văn hóa - xã hội, tuy nhiên, sự gia tăng mật độ đô thị cũng dẫn đến áp lực lên không gian xanh và hệ thống nước tự nhiên Quá trình đô thị hóa đã gây ra tổn hại cho các hệ thống nước và thảm thực vật, làm gia tăng tình trạng ngập lụt do lượng mưa và dòng chảy sông cao Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và sụt lún đất đang trở thành những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tương lai của thành phố, với cường độ và tần suất lũ lụt ngày càng tăng Dự báo cho thấy, lượng mưa sẽ giảm trong mùa khô và tăng trong mùa mưa, nhiệt độ trung bình có thể tăng 1 độ C đến năm 2050 và 2,6 độ C đến năm 2100, trong khi mực nước biển có thể tăng 30cm vào năm 2050 và 65-100cm vào năm 2100, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế và chất lượng cuộc sống của cư dân.

Cần Giờ với biến đổi khí hậu

Năm 2011, Nguyễn Kỳ Phùng và Lê Văn Tâm thực hiện đề tài nghiên cứu

Xây dựng mô hình tính toán các thông số ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu là cần thiết để phục vụ quy hoạch sử dụng đất, giao thông, tài nguyên nước và hạ tầng cơ sở cho thành phố.

Mức độ xâm nhập mặn tại Tp.HCM, đặc biệt là huyện Cần Giờ, đang ở mức báo động khi gần như toàn bộ diện tích nơi đây phải chịu ảnh hưởng kéo dài của độ mặn 4‰, vượt mức cho phép cho nước nông nghiệp Sự gia tăng độ mặn này sẽ gây ra những tác động nghiêm trọng đến nguồn cung cấp nước ngọt cho toàn thành phố.

Theo quy hoạch đất, mực nước biển dự kiến sẽ dâng từ 8 đến 13 cm vào năm 2020, chưa gây ra nhiều ảnh hưởng Tuy nhiên, từ năm 2030 trở đi, tình trạng ngập lụt sẽ gia tăng, ảnh hưởng đáng kể đến khu vực.

Bình Chánh là quận huyện bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, với dự báo đến năm 2070, nhiều diện tích sẽ bị chìm dưới nước biển, bao gồm 610ha đất nông nghiệp, 190ha khu dân cư nội thành, 247ha khu dân cư mới, 93ha cơ sở hạ tầng và 124ha công viên cây xanh Tình trạng ngập lụt sẽ gia tăng, với khoảng 1.022km đường bị ảnh hưởng vào năm 2030 và 1.500km vào năm 2070 Quốc lộ 1A, 22 và tỉnh lộ 50 sẽ gặp khó khăn do hệ thống đê bao không đủ khả năng bảo vệ Các phương tiện giao thông như đường sắt, đường một ray và tàu điện ngầm cũng sẽ bị tác động bởi tình trạng ngập lụt, đặc biệt là khu công nghiệp Lê Minh Xuân, nơi dự kiến sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ kịch bản ngập lụt trong tương lai.

Đến năm 2070, diện tích khu công nghiệp tại Tp.HCM bị ngập sẽ tăng lên 390ha, chiếm 34% tổng diện tích, ảnh hưởng nặng nề đến các khu như Phong Phú, Phú Hữu và khu công nghệ cao Lượng mưa trung bình dự kiến sẽ tăng từ 1.857mm năm 2020 lên 2.200mm vào năm 2070, trong khi nhiệt độ trung bình có thể tăng từ 27,6oC hiện tại lên 32,83oC vào năm 2100 Sự gia tăng này sẽ tạo ra nhiều thách thức cho cuộc sống người dân và hoạt động sản xuất tại thành phố Những thông tin này là cơ sở quan trọng để đánh giá tác động đến quá trình sản xuất muối tại Tp.HCM, bên cạnh các nghiên cứu khác như báo cáo của IPCC về kịch bản phát thải khí nhà kính và kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Cần Giờ.

Dự án “Cải thiện sức chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu vùng ven biển Đông Nam Á khu vực rừng dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ, giai đoạn 2011-2014” được Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế hỗ trợ, đã nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và tìm kiếm giải pháp ứng phó Các tiểu dự án trong khuôn khổ này đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ rừng ngập mặn Cần Giờ và nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương.

Giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tại huyện Cần Giờ, TP.HCM là một vấn đề cấp bách Cần Giờ, với 50% diện tích là rừng ngập mặn, đã tổ chức hội thảo tổng kết dự án "Cải thiện sức chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu" từ 2011 đến 2014 Dự án đã giúp bảo vệ rừng ngập mặn và nâng cao thu nhập cho người dân thông qua các mô hình sản xuất bền vững Tuy nhiên, hoạt động xâm phạm rừng vẫn diễn ra, cho thấy cần tăng cường quản lý và nâng cao nhận thức cộng đồng để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Các tiểu dự án tại Cần Giờ tập trung vào việc thiết lập mô hình nhóm hộ tham gia quản lý bảo vệ rừng ngập mặn và xây dựng lực lượng tuyên truyền viên nhằm nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho cộng đồng ven biển Đặc biệt, dự án cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình thông qua mô hình sản xuất dưới tán rừng đã giúp tăng thu nhập và củng cố trách nhiệm bảo vệ rừng Rừng ngập mặn Cần Giờ được coi là khu dự trữ sinh quyển quan trọng, đóng vai trò là vùng đệm chống chịu với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hoạt động xâm phạm như đánh bắt cá và chặt cây vẫn diễn ra, gây khó khăn cho công tác bảo vệ Dù ban quản lý rừng đã phối hợp với người dân, nhưng do thiếu thẩm quyền và năng lực, hiệu quả bảo vệ rừng chưa cao Các hoạt động dự án đã góp phần nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cho cộng đồng và hỗ trợ bảo vệ rừng ngập mặn sau khi dự án kết thúc.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Văn Tâm, Đặng Đồng Nguyên, Lê Thị Hòa Bình chỉ ra rằng rừng ngập mặn Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện môi trường sinh thái và cung cấp không khí sạch cho TP.HCM Để đối phó với tình trạng ngập úng trong nội ô TP.HCM, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều giải pháp, bao gồm xây dựng 12 cống ngăn triều kết hợp với hệ thống đê bao khép kín, cũng như một hệ thống đê biển nối dài từ Gò Công đến Vũng Tàu Bên cạnh đó, vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng cũng được xem là một yếu tố quan trọng cần được giải quyết Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã đưa ra ba kịch bản ứng phó với mực nước dâng tương ứng là 30cm, 50cm và 70cm, và nếu được phê duyệt, các công trình chống ngập này sẽ được xây dựng trong tương lai.

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tâm, Đặng Đồng Nguyên và Lê Thị Hòa Bình tập trung vào tác động của các công trình chống ngập hạ du Đồng Nai – Sài Gòn đối với rừng ngập mặn Cần Giờ Các yếu tố như địa hình, mực nước, độ mặn và độ sâu ngập được xem xét để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến rừng ngập mặn Nghiên cứu xác định phương án công trình nào có tác động tiêu cực nhất và đề xuất các giải pháp dựa trên ba phương pháp: khảo cứu và kế thừa số liệu, mô hình toán, và đánh giá đa tiêu chí (MCA) Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp tư liệu quý giá cho việc tìm hiểu vai trò của rừng ngập mặn trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tại Cần Giờ.

Nghề làm muối tại huyện Cần Giờ, TP.HCM, có truyền thống lâu đời, gắn liền với nguồn nước biển và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như khí hậu và thời tiết Với chiều dài bờ biển 23 km, diện tích sản xuất muối trung bình hàng năm đạt khoảng 1.500 ha, Cần Giờ đứng thứ 4 cả nước về quy mô sản xuất muối (sau Bạc Liêu, Ninh Thuận, Bến Tre) Nghề này không chỉ giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương mà còn đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện và cả nước Các xã sản xuất muối như Lý Nhơn, Thạnh An, Cần Thạnh và Long Hoà, trong đó xã Lý Nhơn được Ủy ban nhân dân thành phố chọn để phát triển.

Làng nghề này được xác định là một trong bốn làng nghề trọng điểm của thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 2988/2003/QĐ-UBND ngày 04 tháng 8 năm 2003 Đồng thời, đây cũng là một trong những làng nghề được bảo tồn theo Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề tại thành phố, theo Quyết định số 3861/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân thành phố.

26 Bùi Văn My (2014), Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất muối tại huyện Cần Giờ Tp.HCM

Nghề làm muối tại huyện Cần Giờ, đặc biệt là làng nghề muối xã Lý Nhơn, sản xuất từ 90 đến 100 ngàn tấn muối mỗi năm, đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và ổn định xã hội Nghề muối không chỉ cung cấp lượng muối lớn cho TP HCM và cả nước mà còn hướng tới xuất khẩu, khai thác lợi thế vùng ven biển Cần Giờ Chính vì vậy, trong những năm qua, nghề muối tại huyện Cần Giờ đã nhận được sự quan tâm và hỗ trợ từ chính quyền Trung ương và Thành phố.

Phương pháp sản xuất muối truyền thống hiện nay gặp rủi ro lớn do thời tiết thất thường, với giá thành muối đất trung bình cao hơn muối bạt trong giai đoạn 2011 – 2013 Điều này cho thấy quy trình sản xuất muối bạt có lợi thế hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), tuy nhiên, quy trình này vẫn chưa được nghiên cứu và hoàn thiện Mặc dù vấn đề BĐKH đã được đề cập trong nhiều báo cáo và nghiên cứu, nhưng chưa có công trình cụ thể nào cho ngành sản xuất muối, đặc biệt tại huyện Cần Giờ Hậu quả của BĐKH đối với mục tiêu xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững là nghiêm trọng và lâu dài Việc thích ứng với BĐKH trong sản xuất muối tại huyện Cần Giờ không chỉ là thách thức mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho nghiên cứu khoa học và thực tiễn Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn rõ nét về tác động của BĐKH đối với đời sống người dân tại huyện Cần Giờ.

Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, còn được biết đến là rừng Sác, là một hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài động thực vật trên cạn và thủy sinh, nằm trong vùng châu thổ của các sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Trước chiến tranh, Cần Giờ thuộc tỉnh Đồng Nai và đã nổi tiếng với khu rừng ngập mặn phong phú Rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích hơn 40.000 ha, với các loài cây chịu mặn và chịu lợ, có chiều cao trung bình trên 20m và đường kính từ 25-40cm, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cho hệ sinh thái.

Vai trò của rừng trong hạn chế tác động của BĐKH

ThS Phạm Minh Thoa và tác giả Phạm Mạnh Cường trong bài viết “Tác động của biến đổi khí hậu đối với lâm nghiệp và đề xuất một số hoạt động giảm thiểu và thích ứng” nhấn mạnh rằng rừng là yếu tố thiết yếu của môi trường tự nhiên, đóng góp quan trọng vào phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và an ninh quốc phòng Rừng không chỉ cung cấp sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng mà còn bảo vệ môi trường sống, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý cảnh quan bền vững và tạo việc làm, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo Trong quá trình xây dựng đất nước, rừng giữ vai trò là vành đai phòng hộ, nguồn tài nguyên chính trong lâm nghiệp, công cụ chống ô nhiễm và bảo vệ môi sinh, đồng thời là nguồn sinh thủy thiết yếu cho sản xuất và đời sống, đặc biệt trong việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Tài nguyên rừng ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, với 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ, trong đó có 30% là loài đặc hữu.

Việt Nam sở hữu 224 loài thú, 838 loài chim và 258 loài bò sát, với hệ sinh thái rừng đa dạng bao gồm nhiều kiểu rừng, đầm lầy và sông suối, tạo môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú trên toàn cầu Quốc gia này là quê hương của 3% các loài hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, đứng trong top những nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới và được ưu tiên bảo tồn toàn cầu Tính đến tháng 12 năm 2006, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã đạt được 1,64 triệu ha, cùng với việc khoanh nuôi tái sinh và trồng bổ sung 1,04 ha, tạo việc làm cho 470.874 hộ gia đình.

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến lâm nghiệp, và để đối phó với vấn đề này, cần thực hiện các hoạt động giảm thiểu và thích ứng hiệu quả Trong hội thảo "Xây dựng Kế hoạch phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, ứng phó và giảm nhẹ tác động do biến đổi khí hậu" diễn ra tại Đồ Sơn vào ngày 14-15/8/2008, các chuyên gia như ThS Phạm Minh Thoa và TS Phạm Mạnh Cường đã đưa ra những đề xuất quan trọng nhằm bảo vệ tài nguyên rừng và nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái trước các tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.

Độ che phủ rừng ở Việt Nam đã giảm mạnh từ 43,7% (14,3 triệu ha) vào năm 1943 xuống còn 28% (9,3 triệu ha) vào năm 1993 Tuy nhiên, nhờ vào những nỗ lực bảo tồn, đến ngày 31/12/2007, độ che phủ rừng đã tăng lên 38,2% (12,87 triệu ha), bao gồm 10,28 triệu ha rừng tự nhiên và 2,55 triệu ha rừng trồng (Bộ NN và PTNT, 2008) Hiện nay, diện tích rừng bình quân trên đầu người ở Việt Nam đạt 0,15 ha/người, mặc dù diện tích rừng đã có sự gia tăng

Từ năm 2007, trữ lượng và chất lượng rừng tại Việt Nam đã giảm đáng kể, với chỉ 9% rừng tự nhiên được phân loại là rừng giàu Rừng tự nhiên hiện chủ yếu còn ở các vùng núi cao và địa hình hiểm trở Đa dạng sinh học và các chức năng dịch vụ môi trường của rừng đang bị đe dọa, với nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng Mất rừng đã làm gia tăng 15% phát thải khí nhà kính toàn cầu, trong đó Việt Nam ước tính phát thải 19,38 triệu tấn CO2 do suy thoái rừng Nghiên cứu cho thấy, độ ẩm đất ở những vùng không có cây che phủ chỉ bằng 1/3 so với nơi có rừng, và nhiệt độ có thể lên tới 50-60°C vào mùa hè Hàng triệu ha đất trống đã bị mất rừng, dẫn đến suy giảm khả năng sản xuất nông lâm nghiệp và gia tăng nguy cơ xói mòn, rửa trôi Những nguy cơ này càng làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng, như được nêu trong cuốn sách “Biến đổi khí hậu và Redd” của tác giả Vũ Thị Hiền và Lương Thị Trường Thiên tai, đặc biệt là bão, lũ lụt và hạn hán, đang gia tăng về tần suất và cường độ, gây tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và các lĩnh vực kinh tế - xã hội như nông nghiệp, tài nguyên nước, quản lý vùng ven biển, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, du lịch, và ảnh hưởng đặc biệt đến sức khỏe con người.

Bài viết chỉ ra rằng, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, Việt Nam sẽ mất 12% đất đai cư trú của 23% dân số Biến đổi khí hậu (BĐKH) cũng làm gia tăng tần suất và mức độ tàn phá của các trận bão Hơn nữa, sự tăng nhiệt độ và biến đổi lượng mưa sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp và nguồn nước.

Nước biển dâng ảnh hưởng đến diện tích rừng ngập mặn, làm thay đổi ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh và thứ sinh, đồng thời gia tăng nguy cơ tuyệt chủng của các loài động vật, thực vật và nguồn gen quý hiếm Hiện tượng này cũng làm tăng nguy cơ cháy rừng và tạo điều kiện cho dịch bệnh lây lan mạnh mẽ và rộng rãi hơn.

Rừng có vai trò quan trọng trong việc chống chọi và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng Chúng không chỉ hỗ trợ đa dạng sinh học và điều tiết nguồn nước, mà còn ngăn chặn xói mòn đất Rừng là bể chứa, hấp thụ và lưu trữ CO2, với carbon được lưu giữ trong cây, sinh khối trên mặt đất, rễ, thảm tươi, gỗ chết, thảm mục và đất Trên toàn thế giới, rừng chứa khoảng 283 Gt carbon trong sinh khối sống, 38 Gt trong gỗ chết và 317 Gt trong đất và thảm mục Tổng trữ lượng carbon của rừng vào năm 2005 là rất đáng kể, khẳng định vai trò thiết yếu của rừng trong việc bảo vệ môi trường.

Rừng trên bề mặt trái đất hấp thụ khoảng 2,4 Gt carbon mỗi năm, trong đó rừng ngập mặn và rừng tràm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất nông nghiệp và khu dân cư khỏi bão và xói mòn Những loại rừng này không chỉ giúp thúc đẩy quá trình bồi tụ ven biển mà còn hạn chế phát thải khí carbon từ than bùn Vì vậy, rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn và rừng tràm ven biển, có vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ con người trước tác hại của biến đổi khí hậu, đồng thời là bể chứa, hấp thụ và lưu giữ carbon.

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước đang phát triển, đặc biệt là các cộng đồng sống trong và gần rừng Để giảm thiểu tình trạng mất rừng và suy thoái rừng, các giải pháp tích cực như REDD (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng) cần được triển khai Chủ biên Vũ Thị Hiền và Lương Thị Trường đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc huy động sự tham gia của cộng đồng trong nỗ lực này.

Nghiên cứu cho thấy mất rừng, suy thoái rừng và sử dụng đất nông nghiệp là những nguồn phát thải khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra tại các nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam Một giải pháp quan trọng được đề xuất là REDD, nhằm giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc giảm mất rừng và suy thoái rừng Ngoài REDD, REDD+ cũng đang được triển khai, tập trung vào bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường dự trữ carbon từ rừng và quản lý rừng bền vững Các hoạt động như phục hồi, trồng mới và tái sinh rừng đều góp phần vào việc tăng cường hấp thụ và lưu trữ carbon, điều này đang được Ban quản lý rừng ngập mặn Cần Giờ thực hiện hiệu quả.

Nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu

Nghiên cứu của Đặng Đình Thắng năm 2013 về "Nhận thức về biến đổi khí hậu và đánh giá của người dân cho chính sách giảm thiểu tác động" tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, nhằm khám phá nhận thức của cư dân đô thị về biến đổi khí hậu và đo lường giá sẵn lòng trả (WTP) cho các chính sách giảm thiểu nhằm ứng phó với ba kịch bản tăng nhiệt độ đến năm 2100 Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) và đã thực hiện phỏng vấn 400 hộ gia đình, với 399 hộ gia đình có số liệu sử dụng được Kết quả cho thấy, người dân Việt Nam quan tâm nhất đến các vấn đề như giao thông và giáo dục, trong khi đó, người dân châu Âu lại xem biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề quan trọng mà cả thế giới đang đối mặt.

Năm 2009, vấn đề nóng lên toàn cầu đã thu hút sự chú ý lớn từ người dân TP HCM, với 59.90% đánh giá mức độ nghiêm trọng Phần lớn người phúc đáp (82.46%) nhận thức rằng nóng lên toàn cầu là sự gia tăng nhiệt độ trung bình của Trái Đất, và 76.19% cho rằng nguyên nhân chính đến từ hoạt động của con người Đáng chú ý, 71.18% tin rằng nhân loại có khả năng ngăn chặn hiện tượng này Thông tin về nóng lên toàn cầu chủ yếu được tiếp cận qua truyền hình và đài phát thanh (84.96%) và báo chí (69.67%), trong khi nguồn thông tin từ các tổ chức xã hội và chính quyền địa phương còn hạn chế Khoảng 58.15% người phúc đáp cho rằng nóng lên toàn cầu gây thiệt hại nhiều cho gia đình họ, với sức khỏe là loại thiệt hại phổ biến nhất (81.20%) Để ứng phó, người dân TP HCM chủ yếu lựa chọn trồng cây xanh (63.41%), sử dụng điều hòa (55.14%), thay đổi cấu trúc nhà ở (24.12%), và di chuyển đến nơi có khí hậu dễ chịu hơn (13.03%) Hơn nữa, khoảng 50.88% người phúc đáp biết về Luật Bảo vệ môi trường (2005), cho thấy nhận thức về biến đổi khí hậu đang dần được nâng cao thông qua các nguồn thông tin truyền thông.

Nghiên cứu “Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố

Nghiên cứu “Hồ Chí Minh – Giai đoạn 2001 – 2011” của tác giả Phạm Gia Trân và cộng sự nhằm nhận diện mối liên hệ giữa tình trạng bệnh tật với ngập nước và nhiệt độ tăng trong cộng đồng dân cư Nhóm nghiên cứu khuyến nghị thiết kế chính sách y tế dự phòng cho các bệnh tật liên quan đến ngập nước và nhiệt độ tăng Sử dụng phương pháp định lượng và định tính, nghiên cứu phân tích nhận thức của người dân về tình trạng ngập nước, mối liên hệ giữa ngập nước và bệnh tật, tình hình sức khỏe hộ gia đình, và hành vi ứng phó Dữ liệu được thu thập từ 800 hộ gia đình tại 6 quận huyện đại diện cho các khu vực trung tâm, ven và ngoại thành Kết quả cho thấy ngập nước và nhiệt độ tăng tại TP.HCM là hệ quả của đô thị hóa quá tải và biến đổi khí hậu, với xu hướng gia tăng trong tương lai Điều kiện kinh tế-xã hội và vệ sinh kém tại các khu vực ven và ngoại thành làm gia tăng rủi ro sức khỏe Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về mức độ tổn thương do ngập nước và nhiệt độ giữa nội thành và ngoại thành, với đa số dân cư chưa hiểu biết về biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến Tp Hồ Chí Minh, với ngập nước và nhiệt độ cao làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh như sốt xuất huyết, bệnh da, tay chân miệng và tiêu chảy Mùa mưa được cho là thời điểm có tỷ lệ bệnh tật cao nhất, trong khi bệnh hô hấp phổ biến hơn vào cả hai mùa Trẻ em và người cao tuổi là nhóm dễ bị tổn thương nhất Hộ nghèo có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với hộ không nghèo, và người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận điều trị do viện phí cao và chất lượng phục vụ kém Mặc dù đã có thông tin về các biện pháp phòng ngừa bệnh tật, người dân vẫn chưa chủ động thực hiện do tâm lý chủ quan Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, cải thiện điều kiện sống và tăng cường công tác y tế dự phòng cho cộng đồng nghèo.

Nhận thức của người dân nói chung và thanh niên nói riêng về vai trò của rừng trong hạn chế tác động của BĐKH

Giáo dục nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ là giải pháp bền vững nhằm giải quyết sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng ngập mặn hiện nay Tập huấn nội dung cơ bản về hệ sinh thái rừng ngập mặn cho phụ nữ là cách hiệu quả để nâng cao nhận thức của họ Nhóm tác giả Phạm Văn Ngọt, Quách Văn Toàn Em, Thạch Thị Domres đã chia sẻ những nội dung này trong bài viết “Giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.”

Rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò quan trọng về kinh tế - xã hội và sinh thái - môi trường Tuy nhiên, tình trạng phá rừng để phát triển các hoạt động như nuôi trồng thủy sản đang gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng.

Diện tích và chất lượng rừng ngập mặn (RNM) ở Việt Nam đang giảm sút do nhiều yếu tố như đô thị hóa, khai thác quá mức và chuyển đổi đất đai Do đó, việc giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của hệ sinh thái RNM cho người dân ven biển, đặc biệt là phụ nữ, là rất quan trọng Phụ nữ, với vai trò là vợ và mẹ, có khả năng tác động tích cực đến các thành viên trong gia đình, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ và phát triển hệ sinh thái RNM ven biển.

Nghiên cứu tập trung vào giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng ngập mặn và đa dạng sinh học cho phụ nữ từ 20 tuổi trở lên tại 6 xã ven biển huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Số lượng phụ nữ được khảo sát tại các xã gồm: Vĩnh Hải (80 người), Lạc Hòa (79 người), Vĩnh Châu (82 người), Vĩnh Phước (81 người), Vĩnh Tân (84 người) và Lai Hòa (74 người) Các tác giả đã thiết lập phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn trực tiếp trước khi tổ chức buổi tập huấn, trong đó giới thiệu rõ mục đích của chương trình đào tạo.

Trong buổi tập huấn, quy trình diễn ra bao gồm: làm phiếu điều tra lần 1 cho những người không biết chữ (30 phút/người), xem phim về RNM (30 phút), giải lao và xem mẫu hình chụp sinh vật RNM (20 phút), giáo dục về RNM theo nội dung đã biên soạn (30 phút), làm phiếu điều tra lần 2 cho những người không biết chữ (30 phút), và tổng kết tập huấn (5 phút) Để xử lý số liệu, chúng tôi sử dụng toán thống kê và phần mềm Excel 2003 cùng Stagraphic Sgplus 3.0.

Tập huấn đã nâng cao nhận thức về rừng ngập mặn (RNM) cho hầu hết phụ nữ tham gia, chủ yếu là dân tộc Khmer với trình độ học vấn thấp và cuộc sống khó khăn Sự tham gia nhiệt tình của họ đã giúp tỷ lệ nhận thức đúng về RNM sau tập huấn đạt trên 90% Mặc dù thời gian tập huấn ngắn, nhưng nhận thức của phụ nữ ở các xã không có sự chênh lệch lớn, cho thấy sự thay đổi tích cực trong việc hiểu vai trò của RNM đối với cuộc sống Nghiên cứu khuyến nghị chính quyền địa phương nên đầu tư nhiều hơn vào giáo dục về RNM cho phụ nữ và cư dân ven biển, đặc biệt là hỗ trợ trẻ em Khmer để giảm tỷ lệ bỏ học Cần chú trọng chăm sóc và bảo vệ RNM, tạo sinh kế cho cư dân ven biển để giảm phụ thuộc vào RNM Hội phụ nữ địa phương cũng nên lồng ghép các hoạt động giáo dục về RNM trong sinh hoạt định kỳ để nâng cao nhận thức cho phụ nữ Bài viết này là tài liệu quý giá cho việc tổ chức các khóa tập huấn cho thanh niên, nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của RNM trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế cho các vùng ven biển Việt Nam, đặc biệt là Hải Phòng Nghiên cứu của Đoàn Đình Tam và Đinh Thanh Giang tại Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng nhấn mạnh rằng việc trồng và quản lý rừng ngập mặn không chỉ giúp phòng chống thiên tai mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về quản lý tài nguyên Bên cạnh các yếu tố kỹ thuật và tài chính, nhận thức của người dân về tài nguyên rừng ngập mặn và các chính sách địa phương là rất quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp quản lý hiệu quả Nghiên cứu sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn và thu thập dữ liệu từ các hộ dân địa phương, từ đó đánh giá quan điểm và nhận thức của họ về rừng ngập mặn.

Nghiên cứu của Đoàn Đình Tam và Đinh Thanh Giang chỉ ra rằng rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về quản lý và sử dụng tài nguyên ven biển tại Bàng La, Đồ Sơn và Đại Hợp, Kiến Thụy, Hải Phòng Các ý kiến cho thấy lợi ích nổi bật của rừng ngập mặn bao gồm bảo vệ đê điều và cải thiện chất lượng không khí (87%), tăng nguồn lợi thủy hải sản (52%) và làm đẹp cảnh quan (36,5%) Người dân nhận thấy rừng giúp giảm tác hại từ sóng và gió, đặc biệt sau các cơn bão, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt thủy hải sản Tuy nhiên, họ cũng cho rằng lợi ích này đối với khu vực nội địa là nhỏ hơn Việc quản lý rừng theo hướng cộng đồng từ năm 2005 được đánh giá là hiệu quả, với hiện tượng chặt phá rừng hầu như không còn Mặc dù vậy, vẫn tồn tại một số vấn đề như đánh bắt hủy diệt và phân hóa giàu nghèo Đề xuất cho tương lai bao gồm hỗ trợ vốn sản xuất, kỹ thuật và quy hoạch sử dụng đất phù hợp với nguyện vọng của người dân, cùng với công tác tuyên truyền sâu rộng để nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ rừng ngập mặn.

Nghiên cứu đã tổng hợp các tác phẩm của nhiều tác giả, cung cấp cái nhìn tổng quát về thực trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) và ảnh hưởng của nó đến đời sống con người, đặc biệt là ở Việt Nam và TP.HCM Đề tài nhấn mạnh vai trò quan trọng của rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn và rừng tràm, trong việc chống chịu và giảm thiểu tác động của BĐKH.

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng là những vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu Những tài liệu này cung cấp thông tin quý giá cho nhóm nghiên cứu, giúp họ học hỏi và áp dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tƣợng hách thể nghiên cứu và ph m vi nghiên cứu

ngh a ý u n và ý ngh a thực tiễn

CƠ SỞ L LUẬN

TỔNG QUAN ĐỊA BÀN VÀ M U NGHIÊN CỨU

NHẬN THỨC CỦA THANH NIÊN HUYỆN CẦN GIỜ VỀ VAI TRÕ CỦA RỪNG PHÕNG HỘ TRONG VIỆC HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG

D ÁN NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO THANH NIÊN HUYỆN CẦN GIỜ VỀ VAI TRÕ CỦA RỪNG PHÕNG HỘ TRONG VIỆC HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG 120 4.1 Thông tin chung về dự án

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2008), “Phát triển du lịch sinh thái tại khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái tại khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Anh
Năm: 2008
2. Mai Thị Vân Anh (2012), Bảo vệ tài nguyên nước trong điều kiện biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh An Giang, Sở Tài Nguyên và Môi trường An Giang, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ tài nguyên nước trong điều kiện biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh An Giang
Tác giả: Mai Thị Vân Anh
Nhà XB: Sở Tài Nguyên và Môi trường An Giang
Năm: 2012
5. Huỳnh Thị Minh Hằng (2004), Nghiên cứu tổng hợp Vùng cửa sông Hệ thống sông Đồng Nai phục vụ công tác quy hoạch khai thác vùng theo mục tiêu phát triển bền vững, Đề tài trọng điểm quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổng hợp Vùng cửa sông Hệ thống sông Đồng Nai phục vụ công tác quy hoạch khai thác vùng theo mục tiêu phát triển bền vững
Tác giả: Huỳnh Thị Minh Hằng
Nhà XB: Đề tài trọng điểm quốc gia
Năm: 2004
7. Ngô Huyền (tổng hợp), Bernard O’Callaghan (2008), “Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách”, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách
Tác giả: Ngô Huyền, Bernard O’Callaghan
Nhà XB: Đà Nẵng
Năm: 2008
8. Trần Công Khánh (1981), “Thực hành hình thái và giải phẫu thực vật”, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội, trang 19 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành hình thái và giải phẫu thực vật
Tác giả: Trần Công Khánh
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội
Năm: 1981
11. Bùi Văn My (2014),“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất muối tại huyện Cần Giờ Tp.HCM” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất muối tại huyện Cần Giờ Tp.HCM
Tác giả: Bùi Văn My
Năm: 2014
15. Nguyễn Văn Tâm, Đặng Đồng Nguyên, Lê Thị Hòa Bình, Nghiên cứu tác động tới rừng ngập mặn Cần Giờ từ các công trình chống ngập hạ du Đồng Nai – Sài Gòn, 16. Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2013. ISBN 978-604-82-0066-4, http://hoithaokhcn.wru.edu.vn/Portals/7/6-04.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2013
Tác giả: Nguyễn Văn Tâm, Đặng Đồng Nguyên, Lê Thị Hòa Bình
Năm: 2013
18. Phan Văn Tân (2015), Khái luận thích ứng và giảm nh biến đổi khí hậu, http://danida.vnu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái luận thích ứng và giảm nh biến đổi khí hậu
Tác giả: Phan Văn Tân
Năm: 2015
19. Trung tâm kỹ thuật môi trường Sóc Trăng, Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và đề xuất biện pháp ứng phó, Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và đề xuất biện pháp ứng phó
Tác giả: Trung tâm kỹ thuật môi trường Sóc Trăng
Nhà XB: Sóc Trăng
20. Lương Văn Việt, Sự phát triển đô thị và xu thế biến đổi khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh, Tuyển tập Báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10, Vi ện KH KTTV & MT, http://www.academia.edu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển đô thị và xu thế biến đổi khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lương Văn Việt
Nhà XB: Viện KH KTTV & MT
21. Nguyễn Thành Vinh và Nguyễn Hữu Tới (2010), Tác động của biến đổi khí hậu đến quy hoạch các vùng dân cư và các công trình ven biển Việt Nam, Người xây dựng, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu đến quy hoạch các vùng dân cư và các công trình ven biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Hữu Tới
Nhà XB: Người xây dựng
Năm: 2010
3. Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tới huyện Cần Giờ, http://tuoitre.vn/tin/can-biet/20141217/giam-thieu-tac-dong-cua-bien-doi-khi-hau-den-can-gio/686397.html Link
4. Nguyễn Văn Chiến, Tam nông với tình trạng biến đổi khí hậu, http://www.sggp.org.vn/biendoikhihau/2014/6/351625/ Link
6. Nguyễn Mạnh Hùng, Tác động của biến đổi khí hậu tới thiên tai và giải pháp ứng phó cho khu vực thành phố Hồ Chí Minh, http://www.wrd.gov.vn Link
12. Quang Nguyen (2013), Ứng phó với biến đổi khí hậu qua các kỳ COP: Ít tương đồng, nhiều khác biệt, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=4213.Phạm Xuân Ninh (2012), Biến đổi khí hậu và sức khỏe, http://Vusta.vn/Hoahocngaynay.com Link
14. Thanh Phong (2013), Bến Tre ứng phó với biến đổi khí hậu, http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-vn/72/45/45/107984/Ben-Tre-ung-pho-bien-doi-khi-hau-.aspx Link
9. Lê Nguyễn Đoan Khôi (2011), Nhận thức của cộng đồng về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và các giải pháp ứng phó, Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 67 Khác
10. Lê Đào Trúc Linh, “Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên rừng ngập mặn Cần Giờ” Khác
17. Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành (2013), Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 29, Số 2 (2013) 42-55 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Giới tính và địa  àn cƣ tr  của thanh niên tham gia  hảo sát - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 2.1 Giới tính và địa àn cƣ tr của thanh niên tham gia hảo sát (Trang 85)
Bảng 2.2: Nghề nghiệp và trình độ học vấn của thanh niên tham gia  hảo sát - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 2.2 Nghề nghiệp và trình độ học vấn của thanh niên tham gia hảo sát (Trang 88)
Bảng 3.1: Nh n thức về các hiện tƣợng thiên nhiên  à hệ  ụy của  i n đổi  hí h u - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 3.1 Nh n thức về các hiện tƣợng thiên nhiên à hệ ụy của i n đổi hí h u (Trang 101)
Bảng 3.2: Nh n thức về nh ng h u quả do  i n đổi  hí h u g y ra - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 3.2 Nh n thức về nh ng h u quả do i n đổi hí h u g y ra (Trang 102)
Bảng 3.3: Nh n thức về ph n  o i rừng phòng hộ - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 3.3 Nh n thức về ph n o i rừng phòng hộ (Trang 110)
Bảng 3.4: Nh n thức về ph n  o i rừng phòng hộ Cần Giờ - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 3.4 Nh n thức về ph n o i rừng phòng hộ Cần Giờ (Trang 111)
Bảng 3.6: Nh n thức về ảnh hưởng của đắp đ p nuôi tôm đ n rừng ng p - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 3.6 Nh n thức về ảnh hưởng của đắp đ p nuôi tôm đ n rừng ng p (Trang 122)
Bảng 3.8: Các  iện pháp để  ảo vệ rừng phòng hộ - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Bảng 3.8 Các iện pháp để ảo vệ rừng phòng hộ (Trang 127)
4.8. Bảng mô tả tổng hợp về dự án - Nhận thức của thanh niên huyện cần giờ về vai trò của rừng phòng hộ trong việc hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
4.8. Bảng mô tả tổng hợp về dự án (Trang 136)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w