1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm

11 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thể Dục Thể Thao Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Thể dục thể thao
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 123,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tầm quan trọng trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh”.. Mục tiêu nghiên cứu nhằm phá

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Sinh viên các trường đại học, cao đẳng là lực lượng lao động

trí thức trong tương lai gần của đất nước Lực lượng này đóng vai

trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại

hóa đất nước Trình độ phát triển thể chất của đối tựơng này không

chỉ là vấn đề nòi giống mà còn là vấn đề chăm lo bồi dưỡng một

lực lượng lao động quan trọng Vì vậy trong nhiều năm qua, chăm

lo chuẩn bị thể chất cho toàn dân nói chung và cho đối tượng này

nói riêng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và

Nhà nước ta

Để góp phần phát triển nguồn nhân lực quan trọng này,

chúng ta cần có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá về trí lực, tâm

lực và thể lực Do đó, tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên là

căn cứ quan trọng sẽ định hướng cho sinh viên trong việc rèn

luyện thể chất Hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa có một

hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên các trường đại

học và cao đẳng Từ đó, việc xác định các nội dung và xây dựng

tiêu chuẩn đánh giá một cách khoa học phù hợp với tình hình thực

tế ở Thành phố Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết Với

tầm quan trọng trên chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh”

Mục tiêu nghiên cứu nhằm phát hiện và cung cấp những

thông tin về thực trạng thể chất đồng thời xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ

Chí Minh

Để thực hiện mục tiêu trên đề tài giải quyết hai nội dung sau:

Nội dung 1: Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên (19 –

22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung 2: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Khái niệm thể chất

Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Thể chất là thuật ngữ chỉ

chất lượng của cơ thể con người Đó là những đặc trưng về hình

thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng

giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo qui luật sinh học Thể

chất được hình thành và phát triển đo bẩm sinh di truyền và những

điều kiện sống tác động” Các tác giả cho rằng: thể chất bao gồm

hình thái (thể hình), chức năng và năng lực vận động

Hình thái là cấu trúc, hình dáng bên ngoài của cơ thể Trong

Thể dục thể thao có khoảng 50 chỉ số hình thái được nghiên cứu

(những chỉ số hình thái thông dụng như: chiều cao đứng, chiều cao

ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đùi, vòng bụng, vòng cánh tay…)

Chức năng là khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan

trong cơ thể: thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, vận động …

Năng lực vận động bao gồm thể lực và các kỹ năng vận

động cơ bản như đi, chạy, nhảy…

Các yếu tố xác định thể chất của sinh viên TP HCM

Yếu tố hình thái: Hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được

xác định bởi trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân

trắc và tỷ lệ của những chỉ số đó

Yếu tố chức năng sinh lý:

Các yếu tố chức năng sinh lý qui định khả năng hoạt động thể lực của cơ thể Nguyễn Ngọc Cừ cho rằng: “ .khả năng hoạt động thể lực là biểu hiện tập trung của năng lực hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể con người, phản ánh khả năng thích nghi của các cơ quan trong cơ thể với lượng vận động”

Yếu tố chức năng vận động:

Chức năng vận động được thực hiện bởi sự điều khiển hoạt động của nhiều cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể Mức độ đạt được trong hoạt động vận động phụ thuộc vào cấu tạo và chức năng cũng như sự hoàn thiện của chúng Chức năng vận động được biểu hiện qua năng lực vận động và các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động (khéo léo)

Trang 3

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm

2.1.3 Phương pháp kiểm tra chức năng

- Test Công năng tim

2.1.4 Phương pháp nhân trắc học

- Chiều cao đứng (cm)

- Cân nặng (kg)

- Chỉ số BMI

2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

- Đứng dẻo gập thân (cm)

- Chạy 30m tốc độ cao (giây)

- Bật xa tại chỗ (cm)

- Chạy con thoi 4 x 10m (giây)

- Chạy tùy sức 5 phút (tính quảng đường, m)

- Nằm sấp chống đẩy 30 giây (lần)

2.1.6 Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh

viên

Chúng tôi xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên

Thành phố Hồ Chí Minh Trường theo thang điểm C (thang điểm 10) và chia làm 5 mức Tốt, Khá, Trung bình, Yếu, Kém

2.1.7 Phương pháp toán thống kê

2.2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

+ Khách thể nghiên cứu: 13.292 sinh viên 19 – 22 tuổi đang học tập tại các trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn Thành

phố Hồ Chí Minh và được chia làm 3 nhóm:

Nhóm 1: Các trường Sư phạm, Y – Dược và Xã hội nhân văn Nhóm 2: Các trường kinh tế và khoa học tự nhiên

Nhóm 3: Các trường kỹ thuật

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nội dung 1: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỂ CHẤT CỦA

SINH VIÊN (19 – 22 TUỔI) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1.1 Xác định các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên (19 – 22

tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Để xác định các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên tại

Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiến hành các bước sau:

- Bước 1: Thống kê các chỉ tiêu đã được sử dụng để đánh

giá thể chất sinh viên của các tác giả cả trong và ngoài nước, căn

cứ vào đặc điểm thể chất, điều kiện cơ sở vật chất và tình hình

thực tế giáo dục thể chất cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh

đề tài tổng hợp được các chỉ tiêu sau:

Về hình thái: 14 chỉ tiêu

Về thể lực: 22 chỉ tiêu

Về chức năng: 5 chỉ tiêu

- Bước 2: Phỏng vấn hai lần các chuyên gia, giảng viên trực

tiếp giảng dạy, nhà quản lý nhằm xác định các chỉ tiêu về hình

thái, thể lực và chức năng đánh giá thể chất cho sinh viên tại

Thành phố Hồ Chí Minh

Qua kết quả phỏng vấn chọn các chỉ tiêu có tổng điểm > 75% tổng điểm ở cả hai lần phỏng vấn (lần 1 = 202.5 điểm, lần 2 =

165 điểm)

Qua 2 bước trên, đề tài chọn các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh là:

• Về hình thái: Chiều cao đứng (cm), Cân nặng (kg), Chỉ số BMI

• Về chức năng: Test công năng tim (HW)

• Về thể lực: Chạy 30m tốc độ cao (giây), Bật xa tại chỗ (cm), Nằm sấp chống đẩy trong 30 giây (lần), Đứng dẻo gập thân (cm), Chạy con thoi 4 x 10m (giây), Chạy 5 phút tùy sức (m)

Trang 5

3.1.2 Đánh giá thực trạng thể chất sinh viên (19 – 22 tuổi) tại

Thành phố Hồ Chí Minh

3.1.2.1 So sánh thực trạng thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại

TP Hồ Chí Minh với HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính

Qua so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất

sinh viên TP Hồ Chí Minh với HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính

chúng tôi có kết luận sau: Thực trạng thể chất sinh viên TP Hồ

Chí Minh tốt hơn HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính ở hầu hết các

lứa tuổi về chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chức năng tim,

sức mạnh chân, khéo léo, độ dẻo và sức bền chung; tương đương

các chỉ tiêu ở nam (độ dẻo – 19 tuổi, chiều cao đứng – 20 tuổi và

cân nặng – 21 và 22 tuổi), nữ (sức bền – 19 tuổi, cân nặng – 20

tuổi và chiều cao đứng – 22 tuổi); kém hơn ở các chỉ tiêu ở nam

(chiều cao đứng – 19 tuổi, độ dẻo – 20 tuổi, sức bền chung – 19 và

20 tuổi, BMI và chức năng tim – 21 và 22 tuổi), nữ (độ dẻo – 19

tuổi, BMI – 19, 21 và 22 tuổi, chức năng tim – 21 và 22 tuổi, cân

nặng và khéo léo 10m – 22 tuổi)

3.1.2.2 So sánh thực trạng thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại

TP Hồ Chí Minh giữa các lứa tuổi với nhau

Tổng hợp kết quả so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa các lứa tuổi với nhau theo giới tính được trình bày tại bảng 3.23

Kết quả so sánh ở bảng 3.23 cho thấy: giữa giá trị trung bình của các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên giữa các lứa tuổi với nhau là có sự khác biệt, tuy nhiên sự khác biệt giữa các chỉ tiêu là không cao ở nam sinh viên là 55% (27.5% tốt hơn, 27.5% kém hơn) và ở nữ sinh viên là 65% (32.5% tốt hơn, 32.5% kém hơn) Ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì sự khác biệt cũng khác nhau như: sự khác biệt giữa của nam sinh viên lứa tuổi 21 và 22 là 30% (10% tốt hơn, 20% là kém hơn); trong khi đó sự khác biệt của nữ sinh viên lứa tuổi 21 và 22 là 80% (trong đó 50% tốt hơn, 30% kém hơn) Ở các lứa tuổi thì nữ sinh viên 20, 21 và 22 tuổi có sự khác biệt cao là 70%, ngược lại nam sinh viên ở các lứa tuổi 20, 21 và 22 có sự khác biệt thấp là 53.23% Từ những kết quả trên chúng tôi kết luận rằng thể chất sinh viên TP HCM ở các lứa tuổi, giới tính khác nhau là khác nhau Đây cũng chính là cơ sở để trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên TP HCM phải quan tâm đến lứa tuổi và giới tính cho phù hợp

Trang 6

3.1.2.3 So sánh thực trạng thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại

TP Hồ Chí Minh giữa các nhóm với nhau

Tổng hợp kết quả so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh

giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa các nhóm với nhau

theo từng lứa tuổi, giới tính được trình bày tại bảng 3.30

Kết quả so sánh ở bảng 3.30 cho thấy: giữa giá trị trung bình

của các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên giữa các nhóm với nhau

theo từng lứa tuổi, giới tính là có sự khác biệt, tuy nhiên sự khác biệt

giữa các chỉ tiêu là không cao ở nam sinh viên là 64.2% (32.1% tốt

hơn, 32.1% kém hơn) và ở nữ sinh viên là 57.5% (28.75% tốt hơn,

28.75% kém hơn) Ở mỗi nhóm khác nhau thì sự khác biệt cũng

khác nhau như: ở nam (nhóm I = 61.25%, nhóm II = 58.75% và

nhóm III = 72.5%); ở nữ (nhóm I = 55%, nhóm II = 62.5% và nhóm

III = 55%) Ở từng lứa tuổi thì sự khác biệt giữa nữ sinh viên 20 tuổi

nhóm II và nhóm III là 100% (cao nhất), trong khi đó sự khác biệt

giữa nữ sinh viên 22 tuổi nhóm II và nhóm III là 30% (thấp nhất)

Từ những kết quả trên chúng tôi kết luận rằng thể chất sinh viên TP

Hồ Chí Minh ở các nhóm theo từng lứa tuổi, giới tính khác nhau là

khác nhau Đây cũng chính là cơ sở để trong quá trình xây dựng tiêu

chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên TP Hồ Chí Minh phải quan

tâm đến nhóm theo từng lứa tuổi và giới tính cho phù hợp

3.1.2.4 Thực trạng trình độ thể chất của sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh so sánh với các đối tượng khác

v Về mặt hình thái

Tổng hợp số liệu nghiên cứu về hình thái của người Việt Nam qua các giai đoạn của các tác giả trong nước được trình bày tại bảng 3.37 và 3.38

Bảng 3.37: Chiều cao của người Việt Nam qua các giai đoạn

TT Năm – Tài liệu Nam (cm) (cm) Nữ

1 1975 – Hằng số sinh học Việt Nam 159 149

2 1983 – Lê Gia Khải, Bùi Thụ 160.7 150.3

3 1986 – Atlat nhân trắc học người Việt Nam 161.2 151.6

4 2001 – Hằng số sinh học Việt Nam (20 tuổi) 165.14 153.88

5 2008 – Sinh viên TP Hồ Chí Minh 165.8 155.3

Bảng 3.38: Cân nặng của người Việt Nam qua các giai đoạn

TT Năm – Tài liệu Nam (kg) (kg) Nữ

1 1975 – Hằng số sinh học Việt Nam 45 43

2 1986 – Atlat nhân trắc học người Việt Nam 47 42.6

3 2001 – Hằng số sinh học Việt Nam (20 tuổi) 53.16 45.77

4 2008 – Sinh viên TP Hồ Chí Minh 53.97 45.8

Trang 7

- Về chỉ số BMI : giá trị trung bình chỉ số BMI của sinh viên

TP Hồ Chí Minh là X = 19.63 (nam) và X = 18.97 (nữ) theo

phân loại của tổ chức Y tế thế giới thì chỉ số BMI của sinh viên

TP Hồ Chí Minh xếp loại bình thường

- So sánh hình thái (chiều cao, cân nặng) sinh viên TP Hồ

Chí Minh với thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) – 1995

Bảng 3.39: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái của sinh

viên TP HCM với thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) - 1995

Nam 165.8 167.66 -1.86 24.2 < 0.05

1 Chiều cao đứng (cm)

Nữ 155.3 156.62 -1.32 14.5 < 0.05 Nam 53.97 54.93 -0.96 10.4 < 0.05

2 Cân nặng (kg)

Nữ 45.8 48.93 -3.13 35.3 < 0.05

v Về mặt chức năng

Giá trị trung bình chỉ tiêu công năng tim (HW) của sinh viên

TP Hồ Chí Minh là X = 12.32 (nam) và X = 12.77 (nữ) theo

bảng phân loại của Ruffier thì chỉ tiêu công năng tim của sinh viên

TP Hồ Chí Minh xếp loại kém

v Về mặt thể lực Bảng 3.40: So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP Hồ Chí Minh với thanh niên Singapore – 19 tuổi

Nam 228.1 232 -3.9 13.85 <0.05

1 Bật xa tại chỗ (cm)

Nữ 171.2 174 -2.8 10.79 <0.05 Nam 10.24 10.4 -0.16 12.16 <0.05

2 Chạy con thoi 4 x10m (giây)

Nữ 12.09 11.6 0.49 33.56 <0.05

Bảng 3.41: So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP Hồ Chí Minh với thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi

Nam 228.1 230 -1.9 6.75 <0.05

1 Bật xa tại chỗ (cm)

Nữ 171.2 175 -3.8 14.64 <0.05 Nam 907.9 1180 -272.1 155.4 <0.05

2 Chạy 5’ tùy sức (m)

Nữ 735.5 970 -234.5 141.7 <0.05

Trang 8

3.2 Nội dung 2: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN

ĐÁNH GIÁ THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN (19 – 22 TUỔI) TẠI

TP HỒ CHÍ MINH

3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo thang điểm

Để thuận tiện cho việc xác định mức độ thành tích đối với

từng chỉ tiêu, nhằm giúp cho việc đánh giá trình độ chi tiết, cụ thể

hơn, cũng như so sánh thể chất giữa các sinh viên với nhau theo hệ

thống điểm thang độ C Trình độ thể chất được đánh giá 10 mức

(từ điểm 1 cho đến điểm 10)

Qua thang điểm C được trình bày ở chương 2, đề tài tiến

hành tính các thang điểm đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí

Minh cho từng lứa tuổi trong từng nhóm, thang điểm theo từng

nhóm và thang điểm tổng thể sinh viên từ 19 – 22 tuổi, 02 giới tính

thể hiện ở các bảng 3.42, 3.43, 3.44, 3.45, 3.46, 3.47, 3.48 và 3.49

3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo phân loại

Để thuận tiện cho việc lượng hoá các chỉ tiêu khác nhau trong quá trình đánh giá, phân loại thể chất cho sinh viên, đề tài tiến hành xây dựng tiêu chuẩn phân loại tiêu chuẩn từng chỉ tiêu, theo từng lứa tuổi và trong từng nhóm

Căn cứ vào các tiêu chuẩn chúng tôi phân loại tiêu chuẩn đánh giá từng chỉ tiêu thành 5 mức theo qui ước như sau:

- Xếp loại Tốt từ 9 đến 10 điểm

- Xếp loại Khá từ 7 đến dưới 9 điểm

- Xếp loại Trung bình từ 5 đến dưới 7 điểm

- Xếp loại Yếu từ 3 đến dưới 5 điểm

- Xếp loại Kém từ 0 đến dưới 3 điểm

Từ qui ước trên, căn cứ vào bảng điểm 3.42, 3.43, 3.44, 3.45, 3.46, 3.47, 3.48 và 3.49 ta có bảng phân loại đánh giá thể chất sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh theo từng lứa tuổi, theo từng nhóm và sinh viên 19 – 22 tuổi, hai giới tính nam và nữ được trình bày ở bảng bảng 3.50, 3.51, 3.52, 3.53, 3.54, 3.55, 3.56 và 3.57

Trang 9

3.2.3 So sánh các thang điểm, thang phân loại đánh giá thể chất

sinh viên TP Hồ Chí Minh

Kết quả mục 3.2.1 và 3.2.2 ta thấy, đề tài đã xây dựng được

32 thang điểm, tiêu chuẩn phân loại đánh giá thể chất sinh viên

TP Hồ Chí Minh theo từng lứa tuổi, trong từng nhóm và theo giới

tính Nhằm mục đích đơn giản hóa các thang điểm, tiêu chuẩn

phân loại trên; đề tài tiến hành so sánh giữa các thang điểm, tiêu

chuẩn của từng lứa tuổi trong từng nhóm với nhau theo phương

pháp 2

χ (khi bình phương) so sánh nhiều tỷ lệ quan sát thu được

kết quả được trình bày tại phụ lục 15, 16, 17, 18, 19, 20 và bảng

3.58 như sau:

Bảng 3.58: Kết quả so sánh các thang điểm đánh giá

thể chất sinh viên theo từng nhóm

Thể chất sinh viên χtinh2 χbang2 P

Nam 18.92 26.296 > 0.05

Nhóm 1

Nam 14.56 26.296 > 0.05

Nhóm 2

Nam 10.57 26.296 > 0.05

Nhóm 3

nữ 21.35 26.296 > 0.05

Kết quả ở bảng 3.58 cho thấy, tất cả các chỉ số

2

tinh

χ <χbang2 ở ngưỡng xác xuất P > 0.05, qua đó kết luận không có sự khác biệt giữa các thang điểm đánh giá thể chất sinh viên trong từng nhóm Từ đó, đề tài đề nghị sử dụng thống nhất thang điểm và phân loại đánh giá thể chất sinh viên cho từng nhóm là thang điểm I, II, III ở bảng 3.48 và 3.49; bảng phân loại I,

II, III ở bảng 3.56 và 3.57

3.2.7 Kiểm định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại TP Hồ Chí Minh

Để kiểm định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Kiểm tra thể chất sinh viên tại 10 trường Đại học, Cao đẳng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Bước 2: Tính điểm tất cả các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên Thành phố theo giới tính, theo từng nhóm, từng yếu tố cho 10 trường trên

Bước 3: So sánh sự khác biệt kết quả xếp loại thể chất sinh viên Thành phố theo giới tính, theo từng yếu tố, từng nhóm giữa

Trang 10

hai lần kiểm tra theo phương pháp χ 2 (khi bình phương) so sánh

hai tỷ lệ quan sát theo công thức được trình bày ở chương 2

Bước 4: Quyết định và kết luận

Kết quả được trình bày tại phụ lục 23, 24, bảng 3.61 và 3.62

Kết quả tại bảng 3.61 và 3.62 cho thấy, ở tất cả các kết quả

qua 2 lần lần kiểm tra của các yếu tố đánh giá thể chất sinh viên TP

Hồ Chí Minh đều có 2

χ tính < 2

χ bảng (= 3.84) ở ngưỡng xác xuất P > 0.05 nên sự khác biệt hai tỷ lệ quan sát không có ý nghĩa

thống kê ở ngưỡng xác suất P > 0.0.5 Hay nói cách khác, thang

điểm thang điểm đánh giá thể chất mà đề tài xây dựng có đủ độ tin

cậy để để đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại TP Hồ

Chí Minh

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho những kết luận sau:

1 Đã xác định được các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên

TP Hồ Chí Minh là:

• Về hình thái: Chiều cao đứng (cm), Cân nặng (kg), Chỉ số BMI

• Về chức năng: Test công năng tim (HW)

• Về thể lực: Chạy 30m tốc độ cao (giây), Bật xa tại chỗ (cm), Nằm sấp chống đẩy trong 30 giây (lần), Đứng dẻo gập thân (cm), Chạy con thoi 4 x 10m (giây), Chạy 5 phút tùy sức (m) Qua so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh với HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính chúng tôi có kết luận sau: Thực trạng thể chất sinh viên TP Hồ

Chí Minh tốt hơn HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính ở hầu hết các

lứa tuổi về chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chức năng tim,

sức mạnh chân, khéo léo, độ dẻo và sức bền chung; tương đương

các chỉ tiêu ở nam (độ dẻo – 19 tuổi, chiều cao đứng – 20 tuổi và cân nặng – 21 và 22 tuổi), nữ (sức bền – 19 tuổi, cân nặng – 20

tuổi và chiều cao đứng – 22 tuổi); kém hơn ở các chỉ tiêu ở nam

(chiều cao đứng – 19 tuổi, độ dẻo – 20 tuổi, sức bền chung – 19 và

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.37: Chiều cao của người Việt Nam qua các giai đoạn - Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm
Bảng 3.37 Chiều cao của người Việt Nam qua các giai đoạn (Trang 6)
Bảng 3.38: Cân nặng của người Việt Nam qua các giai đoạn - Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm
Bảng 3.38 Cân nặng của người Việt Nam qua các giai đoạn (Trang 6)
Bảng 3.40: So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của  sinh viên TP. Hồ Chí Minh với thanh niên Singapore – 19 tuổi - Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm
Bảng 3.40 So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP. Hồ Chí Minh với thanh niên Singapore – 19 tuổi (Trang 7)
Bảng 3.39: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái của sinh - Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm
Bảng 3.39 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái của sinh (Trang 7)
Bảng 3.41: So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của  sinh viên TP. Hồ Chí Minh với thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi - Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm
Bảng 3.41 So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP. Hồ Chí Minh với thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi (Trang 7)
Bảng 3.58: Kết quả so sánh các thang điểm đánh giá - Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 22 tuổi tại tp hcm
Bảng 3.58 Kết quả so sánh các thang điểm đánh giá (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w