Với tầm quan trọng trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh”.. Mục tiêu nghiên cứu nhằm phá
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Sinh viên các trường đại học, cao đẳng là lực lượng lao động
trí thức trong tương lai gần của đất nước Lực lượng này đóng vai
trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại
hóa đất nước Trình độ phát triển thể chất của đối tựơng này không
chỉ là vấn đề nòi giống mà còn là vấn đề chăm lo bồi dưỡng một
lực lượng lao động quan trọng Vì vậy trong nhiều năm qua, chăm
lo chuẩn bị thể chất cho toàn dân nói chung và cho đối tượng này
nói riêng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và
Nhà nước ta
Để góp phần phát triển nguồn nhân lực quan trọng này,
chúng ta cần có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá về trí lực, tâm
lực và thể lực Do đó, tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên là
căn cứ quan trọng sẽ định hướng cho sinh viên trong việc rèn
luyện thể chất Hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa có một
hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên các trường đại
học và cao đẳng Từ đó, việc xác định các nội dung và xây dựng
tiêu chuẩn đánh giá một cách khoa học phù hợp với tình hình thực
tế ở Thành phố Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết Với
tầm quan trọng trên chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Mục tiêu nghiên cứu nhằm phát hiện và cung cấp những
thông tin về thực trạng thể chất đồng thời xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ
Chí Minh
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài giải quyết hai nội dung sau:
Nội dung 1: Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên (19 –
22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung 2: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Khái niệm thể chất
Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P: “Thể chất là thuật ngữ chỉ
chất lượng của cơ thể con người Đó là những đặc trưng về hình
thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng
giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo qui luật sinh học Thể
chất được hình thành và phát triển đo bẩm sinh di truyền và những
điều kiện sống tác động” Các tác giả cho rằng: thể chất bao gồm
hình thái (thể hình), chức năng và năng lực vận động
Hình thái là cấu trúc, hình dáng bên ngoài của cơ thể Trong
Thể dục thể thao có khoảng 50 chỉ số hình thái được nghiên cứu
(những chỉ số hình thái thông dụng như: chiều cao đứng, chiều cao
ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đùi, vòng bụng, vòng cánh tay…)
Chức năng là khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan
trong cơ thể: thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, vận động …
Năng lực vận động bao gồm thể lực và các kỹ năng vận
động cơ bản như đi, chạy, nhảy…
Các yếu tố xác định thể chất của sinh viên TP HCM
Yếu tố hình thái: Hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được
xác định bởi trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân
trắc và tỷ lệ của những chỉ số đó
Yếu tố chức năng sinh lý:
Các yếu tố chức năng sinh lý qui định khả năng hoạt động thể lực của cơ thể Nguyễn Ngọc Cừ cho rằng: “ .khả năng hoạt động thể lực là biểu hiện tập trung của năng lực hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể con người, phản ánh khả năng thích nghi của các cơ quan trong cơ thể với lượng vận động”
Yếu tố chức năng vận động:
Chức năng vận động được thực hiện bởi sự điều khiển hoạt động của nhiều cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể Mức độ đạt được trong hoạt động vận động phụ thuộc vào cấu tạo và chức năng cũng như sự hoàn thiện của chúng Chức năng vận động được biểu hiện qua năng lực vận động và các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động (khéo léo)
Trang 3CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
2.1.3 Phương pháp kiểm tra chức năng
- Test Công năng tim
2.1.4 Phương pháp nhân trắc học
- Chiều cao đứng (cm)
- Cân nặng (kg)
- Chỉ số BMI
2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm
- Đứng dẻo gập thân (cm)
- Chạy 30m tốc độ cao (giây)
- Bật xa tại chỗ (cm)
- Chạy con thoi 4 x 10m (giây)
- Chạy tùy sức 5 phút (tính quảng đường, m)
- Nằm sấp chống đẩy 30 giây (lần)
2.1.6 Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh
viên
Chúng tôi xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất sinh viên
Thành phố Hồ Chí Minh Trường theo thang điểm C (thang điểm 10) và chia làm 5 mức Tốt, Khá, Trung bình, Yếu, Kém
2.1.7 Phương pháp toán thống kê
2.2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
+ Khách thể nghiên cứu: 13.292 sinh viên 19 – 22 tuổi đang học tập tại các trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh và được chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: Các trường Sư phạm, Y – Dược và Xã hội nhân văn Nhóm 2: Các trường kinh tế và khoa học tự nhiên
Nhóm 3: Các trường kỹ thuật
Trang 4CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nội dung 1: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỂ CHẤT CỦA
SINH VIÊN (19 – 22 TUỔI) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1.1 Xác định các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên (19 – 22
tuổi) tại Thành phố Hồ Chí Minh
Để xác định các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên tại
Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiến hành các bước sau:
- Bước 1: Thống kê các chỉ tiêu đã được sử dụng để đánh
giá thể chất sinh viên của các tác giả cả trong và ngoài nước, căn
cứ vào đặc điểm thể chất, điều kiện cơ sở vật chất và tình hình
thực tế giáo dục thể chất cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh
đề tài tổng hợp được các chỉ tiêu sau:
• Về hình thái: 14 chỉ tiêu
• Về thể lực: 22 chỉ tiêu
• Về chức năng: 5 chỉ tiêu
- Bước 2: Phỏng vấn hai lần các chuyên gia, giảng viên trực
tiếp giảng dạy, nhà quản lý nhằm xác định các chỉ tiêu về hình
thái, thể lực và chức năng đánh giá thể chất cho sinh viên tại
Thành phố Hồ Chí Minh
Qua kết quả phỏng vấn chọn các chỉ tiêu có tổng điểm > 75% tổng điểm ở cả hai lần phỏng vấn (lần 1 = 202.5 điểm, lần 2 =
165 điểm)
Qua 2 bước trên, đề tài chọn các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh là:
• Về hình thái: Chiều cao đứng (cm), Cân nặng (kg), Chỉ số BMI
• Về chức năng: Test công năng tim (HW)
• Về thể lực: Chạy 30m tốc độ cao (giây), Bật xa tại chỗ (cm), Nằm sấp chống đẩy trong 30 giây (lần), Đứng dẻo gập thân (cm), Chạy con thoi 4 x 10m (giây), Chạy 5 phút tùy sức (m)
Trang 53.1.2 Đánh giá thực trạng thể chất sinh viên (19 – 22 tuổi) tại
Thành phố Hồ Chí Minh
3.1.2.1 So sánh thực trạng thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại
TP Hồ Chí Minh với HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính
Qua so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất
sinh viên TP Hồ Chí Minh với HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính
chúng tôi có kết luận sau: Thực trạng thể chất sinh viên TP Hồ
Chí Minh tốt hơn HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính ở hầu hết các
lứa tuổi về chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chức năng tim,
sức mạnh chân, khéo léo, độ dẻo và sức bền chung; tương đương
các chỉ tiêu ở nam (độ dẻo – 19 tuổi, chiều cao đứng – 20 tuổi và
cân nặng – 21 và 22 tuổi), nữ (sức bền – 19 tuổi, cân nặng – 20
tuổi và chiều cao đứng – 22 tuổi); kém hơn ở các chỉ tiêu ở nam
(chiều cao đứng – 19 tuổi, độ dẻo – 20 tuổi, sức bền chung – 19 và
20 tuổi, BMI và chức năng tim – 21 và 22 tuổi), nữ (độ dẻo – 19
tuổi, BMI – 19, 21 và 22 tuổi, chức năng tim – 21 và 22 tuổi, cân
nặng và khéo léo 10m – 22 tuổi)
3.1.2.2 So sánh thực trạng thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại
TP Hồ Chí Minh giữa các lứa tuổi với nhau
Tổng hợp kết quả so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa các lứa tuổi với nhau theo giới tính được trình bày tại bảng 3.23
Kết quả so sánh ở bảng 3.23 cho thấy: giữa giá trị trung bình của các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên giữa các lứa tuổi với nhau là có sự khác biệt, tuy nhiên sự khác biệt giữa các chỉ tiêu là không cao ở nam sinh viên là 55% (27.5% tốt hơn, 27.5% kém hơn) và ở nữ sinh viên là 65% (32.5% tốt hơn, 32.5% kém hơn) Ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì sự khác biệt cũng khác nhau như: sự khác biệt giữa của nam sinh viên lứa tuổi 21 và 22 là 30% (10% tốt hơn, 20% là kém hơn); trong khi đó sự khác biệt của nữ sinh viên lứa tuổi 21 và 22 là 80% (trong đó 50% tốt hơn, 30% kém hơn) Ở các lứa tuổi thì nữ sinh viên 20, 21 và 22 tuổi có sự khác biệt cao là 70%, ngược lại nam sinh viên ở các lứa tuổi 20, 21 và 22 có sự khác biệt thấp là 53.23% Từ những kết quả trên chúng tôi kết luận rằng thể chất sinh viên TP HCM ở các lứa tuổi, giới tính khác nhau là khác nhau Đây cũng chính là cơ sở để trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên TP HCM phải quan tâm đến lứa tuổi và giới tính cho phù hợp
Trang 63.1.2.3 So sánh thực trạng thể chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại
TP Hồ Chí Minh giữa các nhóm với nhau
Tổng hợp kết quả so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh
giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh giữa các nhóm với nhau
theo từng lứa tuổi, giới tính được trình bày tại bảng 3.30
Kết quả so sánh ở bảng 3.30 cho thấy: giữa giá trị trung bình
của các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên giữa các nhóm với nhau
theo từng lứa tuổi, giới tính là có sự khác biệt, tuy nhiên sự khác biệt
giữa các chỉ tiêu là không cao ở nam sinh viên là 64.2% (32.1% tốt
hơn, 32.1% kém hơn) và ở nữ sinh viên là 57.5% (28.75% tốt hơn,
28.75% kém hơn) Ở mỗi nhóm khác nhau thì sự khác biệt cũng
khác nhau như: ở nam (nhóm I = 61.25%, nhóm II = 58.75% và
nhóm III = 72.5%); ở nữ (nhóm I = 55%, nhóm II = 62.5% và nhóm
III = 55%) Ở từng lứa tuổi thì sự khác biệt giữa nữ sinh viên 20 tuổi
nhóm II và nhóm III là 100% (cao nhất), trong khi đó sự khác biệt
giữa nữ sinh viên 22 tuổi nhóm II và nhóm III là 30% (thấp nhất)
Từ những kết quả trên chúng tôi kết luận rằng thể chất sinh viên TP
Hồ Chí Minh ở các nhóm theo từng lứa tuổi, giới tính khác nhau là
khác nhau Đây cũng chính là cơ sở để trong quá trình xây dựng tiêu
chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên TP Hồ Chí Minh phải quan
tâm đến nhóm theo từng lứa tuổi và giới tính cho phù hợp
3.1.2.4 Thực trạng trình độ thể chất của sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP Hồ Chí Minh so sánh với các đối tượng khác
v Về mặt hình thái
Tổng hợp số liệu nghiên cứu về hình thái của người Việt Nam qua các giai đoạn của các tác giả trong nước được trình bày tại bảng 3.37 và 3.38
Bảng 3.37: Chiều cao của người Việt Nam qua các giai đoạn
TT Năm – Tài liệu Nam (cm) (cm) Nữ
1 1975 – Hằng số sinh học Việt Nam 159 149
2 1983 – Lê Gia Khải, Bùi Thụ 160.7 150.3
3 1986 – Atlat nhân trắc học người Việt Nam 161.2 151.6
4 2001 – Hằng số sinh học Việt Nam (20 tuổi) 165.14 153.88
5 2008 – Sinh viên TP Hồ Chí Minh 165.8 155.3
Bảng 3.38: Cân nặng của người Việt Nam qua các giai đoạn
TT Năm – Tài liệu Nam (kg) (kg) Nữ
1 1975 – Hằng số sinh học Việt Nam 45 43
2 1986 – Atlat nhân trắc học người Việt Nam 47 42.6
3 2001 – Hằng số sinh học Việt Nam (20 tuổi) 53.16 45.77
4 2008 – Sinh viên TP Hồ Chí Minh 53.97 45.8
Trang 7- Về chỉ số BMI : giá trị trung bình chỉ số BMI của sinh viên
TP Hồ Chí Minh là X = 19.63 (nam) và X = 18.97 (nữ) theo
phân loại của tổ chức Y tế thế giới thì chỉ số BMI của sinh viên
TP Hồ Chí Minh xếp loại bình thường
- So sánh hình thái (chiều cao, cân nặng) sinh viên TP Hồ
Chí Minh với thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) – 1995
Bảng 3.39: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái của sinh
viên TP HCM với thanh niên Quảng Tây (Trung Quốc) - 1995
Nam 165.8 167.66 -1.86 24.2 < 0.05
1 Chiều cao đứng (cm)
Nữ 155.3 156.62 -1.32 14.5 < 0.05 Nam 53.97 54.93 -0.96 10.4 < 0.05
2 Cân nặng (kg)
Nữ 45.8 48.93 -3.13 35.3 < 0.05
v Về mặt chức năng
Giá trị trung bình chỉ tiêu công năng tim (HW) của sinh viên
TP Hồ Chí Minh là X = 12.32 (nam) và X = 12.77 (nữ) theo
bảng phân loại của Ruffier thì chỉ tiêu công năng tim của sinh viên
TP Hồ Chí Minh xếp loại kém
v Về mặt thể lực Bảng 3.40: So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP Hồ Chí Minh với thanh niên Singapore – 19 tuổi
Nam 228.1 232 -3.9 13.85 <0.05
1 Bật xa tại chỗ (cm)
Nữ 171.2 174 -2.8 10.79 <0.05 Nam 10.24 10.4 -0.16 12.16 <0.05
2 Chạy con thoi 4 x10m (giây)
Nữ 12.09 11.6 0.49 33.56 <0.05
Bảng 3.41: So sánh giá trị trung bình một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên TP Hồ Chí Minh với thanh niên Nhật Bản 20 – 24 tuổi
Nam 228.1 230 -1.9 6.75 <0.05
1 Bật xa tại chỗ (cm)
Nữ 171.2 175 -3.8 14.64 <0.05 Nam 907.9 1180 -272.1 155.4 <0.05
2 Chạy 5’ tùy sức (m)
Nữ 735.5 970 -234.5 141.7 <0.05
Trang 83.2 Nội dung 2: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN
ĐÁNH GIÁ THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN (19 – 22 TUỔI) TẠI
TP HỒ CHÍ MINH
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo thang điểm
Để thuận tiện cho việc xác định mức độ thành tích đối với
từng chỉ tiêu, nhằm giúp cho việc đánh giá trình độ chi tiết, cụ thể
hơn, cũng như so sánh thể chất giữa các sinh viên với nhau theo hệ
thống điểm thang độ C Trình độ thể chất được đánh giá 10 mức
(từ điểm 1 cho đến điểm 10)
Qua thang điểm C được trình bày ở chương 2, đề tài tiến
hành tính các thang điểm đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí
Minh cho từng lứa tuổi trong từng nhóm, thang điểm theo từng
nhóm và thang điểm tổng thể sinh viên từ 19 – 22 tuổi, 02 giới tính
thể hiện ở các bảng 3.42, 3.43, 3.44, 3.45, 3.46, 3.47, 3.48 và 3.49
3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo phân loại
Để thuận tiện cho việc lượng hoá các chỉ tiêu khác nhau trong quá trình đánh giá, phân loại thể chất cho sinh viên, đề tài tiến hành xây dựng tiêu chuẩn phân loại tiêu chuẩn từng chỉ tiêu, theo từng lứa tuổi và trong từng nhóm
Căn cứ vào các tiêu chuẩn chúng tôi phân loại tiêu chuẩn đánh giá từng chỉ tiêu thành 5 mức theo qui ước như sau:
- Xếp loại Tốt từ 9 đến 10 điểm
- Xếp loại Khá từ 7 đến dưới 9 điểm
- Xếp loại Trung bình từ 5 đến dưới 7 điểm
- Xếp loại Yếu từ 3 đến dưới 5 điểm
- Xếp loại Kém từ 0 đến dưới 3 điểm
Từ qui ước trên, căn cứ vào bảng điểm 3.42, 3.43, 3.44, 3.45, 3.46, 3.47, 3.48 và 3.49 ta có bảng phân loại đánh giá thể chất sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh theo từng lứa tuổi, theo từng nhóm và sinh viên 19 – 22 tuổi, hai giới tính nam và nữ được trình bày ở bảng bảng 3.50, 3.51, 3.52, 3.53, 3.54, 3.55, 3.56 và 3.57
Trang 93.2.3 So sánh các thang điểm, thang phân loại đánh giá thể chất
sinh viên TP Hồ Chí Minh
Kết quả mục 3.2.1 và 3.2.2 ta thấy, đề tài đã xây dựng được
32 thang điểm, tiêu chuẩn phân loại đánh giá thể chất sinh viên
TP Hồ Chí Minh theo từng lứa tuổi, trong từng nhóm và theo giới
tính Nhằm mục đích đơn giản hóa các thang điểm, tiêu chuẩn
phân loại trên; đề tài tiến hành so sánh giữa các thang điểm, tiêu
chuẩn của từng lứa tuổi trong từng nhóm với nhau theo phương
pháp 2
χ (khi bình phương) so sánh nhiều tỷ lệ quan sát thu được
kết quả được trình bày tại phụ lục 15, 16, 17, 18, 19, 20 và bảng
3.58 như sau:
Bảng 3.58: Kết quả so sánh các thang điểm đánh giá
thể chất sinh viên theo từng nhóm
Thể chất sinh viên χtinh2 χbang2 P
Nam 18.92 26.296 > 0.05
Nhóm 1
Nam 14.56 26.296 > 0.05
Nhóm 2
Nam 10.57 26.296 > 0.05
Nhóm 3
nữ 21.35 26.296 > 0.05
Kết quả ở bảng 3.58 cho thấy, tất cả các chỉ số
2
tinh
χ <χbang2 ở ngưỡng xác xuất P > 0.05, qua đó kết luận không có sự khác biệt giữa các thang điểm đánh giá thể chất sinh viên trong từng nhóm Từ đó, đề tài đề nghị sử dụng thống nhất thang điểm và phân loại đánh giá thể chất sinh viên cho từng nhóm là thang điểm I, II, III ở bảng 3.48 và 3.49; bảng phân loại I,
II, III ở bảng 3.56 và 3.57
3.2.7 Kiểm định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại TP Hồ Chí Minh
Để kiểm định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể chất cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra thể chất sinh viên tại 10 trường Đại học, Cao đẳng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Bước 2: Tính điểm tất cả các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên Thành phố theo giới tính, theo từng nhóm, từng yếu tố cho 10 trường trên
Bước 3: So sánh sự khác biệt kết quả xếp loại thể chất sinh viên Thành phố theo giới tính, theo từng yếu tố, từng nhóm giữa
Trang 10hai lần kiểm tra theo phương pháp χ 2 (khi bình phương) so sánh
hai tỷ lệ quan sát theo công thức được trình bày ở chương 2
Bước 4: Quyết định và kết luận
Kết quả được trình bày tại phụ lục 23, 24, bảng 3.61 và 3.62
Kết quả tại bảng 3.61 và 3.62 cho thấy, ở tất cả các kết quả
qua 2 lần lần kiểm tra của các yếu tố đánh giá thể chất sinh viên TP
Hồ Chí Minh đều có 2
χ tính < 2
χ bảng (= 3.84) ở ngưỡng xác xuất P > 0.05 nên sự khác biệt hai tỷ lệ quan sát không có ý nghĩa
thống kê ở ngưỡng xác suất P > 0.0.5 Hay nói cách khác, thang
điểm thang điểm đánh giá thể chất mà đề tài xây dựng có đủ độ tin
cậy để để đánh giá thể chất cho sinh viên (19 – 22 tuổi) tại TP Hồ
Chí Minh
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho những kết luận sau:
1 Đã xác định được các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên
TP Hồ Chí Minh là:
• Về hình thái: Chiều cao đứng (cm), Cân nặng (kg), Chỉ số BMI
• Về chức năng: Test công năng tim (HW)
• Về thể lực: Chạy 30m tốc độ cao (giây), Bật xa tại chỗ (cm), Nằm sấp chống đẩy trong 30 giây (lần), Đứng dẻo gập thân (cm), Chạy con thoi 4 x 10m (giây), Chạy 5 phút tùy sức (m) Qua so sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên TP Hồ Chí Minh với HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính chúng tôi có kết luận sau: Thực trạng thể chất sinh viên TP Hồ
Chí Minh tốt hơn HSSHVN cùng độ tuổi và giới tính ở hầu hết các
lứa tuổi về chiều cao đứng, cân nặng, chỉ số BMI, chức năng tim,
sức mạnh chân, khéo léo, độ dẻo và sức bền chung; tương đương
các chỉ tiêu ở nam (độ dẻo – 19 tuổi, chiều cao đứng – 20 tuổi và cân nặng – 21 và 22 tuổi), nữ (sức bền – 19 tuổi, cân nặng – 20
tuổi và chiều cao đứng – 22 tuổi); kém hơn ở các chỉ tiêu ở nam
(chiều cao đứng – 19 tuổi, độ dẻo – 20 tuổi, sức bền chung – 19 và