Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu tiếp cận và ứng dụng quan điểm cũng như các giải pháp tiên tiến trong lĩnh vực thoát nước đang được triển khai có hiệu quả trên thế giới vào Vi
Trang 1TP HỒ CHÍ MINH CƠNG NGHỆ VIỆT NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CƠNG NGHỆ VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Tên đề tài:
Nghiên cứu ứng dụng Kỹ thuật sinh thái
(ecological engineering) xây dựng hệ thống tiêu thốt nước đơ thị bền vững (SUDS), gĩp phần phịng chống
ngập úng, lún sụt và ơ nhiễm ở TP Hồ Chí Minh
Hãy quý từng giọt mưa! TP HỒ CHÍ MINH Tháng 11 năm 2007
.
Trang 2SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Tên đề tài:
Nghiên cứu ứng dụng Kỹ thuật sinh thái
(ecological engineering) xây dựng hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững (SUDS), góp phần phòng chống
ngập úng, lún sụt và ô nhiễm ở TP Hồ Chí Minh.
CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN CHỦ TRÌ
(Ký tên/đóng dấu xác nhận) (Ký tên/đóng dấu xác nhận )
TP HỒ CHÍ MINH Tháng 11 năm 2007
.
Trang 3TÓM TẮT
Ngập đô thị đã được các nhà lãnh đạo cao nhất của TP.HCM tại hội nghị tháng 8 năm
2007 đánh giá là một trong số các vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách đồng thời là chiến lược lâu dài có ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế-xã hội của thành phố và đang được đặc biệt quan tâm Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu tiếp cận và ứng dụng quan điểm cũng như các giải pháp tiên tiến trong lĩnh vực thoát nước đang được triển khai có hiệu quả trên thế giới vào Việt Nam, nhằm góp phần chống ngập do mưa và rộng hơn là xây dựng Chiến lược Tiêu thoát nước đô thị bền vững ở TP Hồ Chí Minh
Nguyên nhân gây ngập ở địa bàn nghiên cứu được xác định là do quá trình đô thị hóa đã làm mất đi các trũng chứa nước tự nhiên, đặc biệt là sự thu hẹp thảm phủ thấm nước và thay vào đó bằng các bề mặt không thấm nước Trong bối cảnh giá trị cường độ mưa ngày càng cao, nhưng thời gian mưa ngắn, sự thay đổi nêu trên làm suy giảm dòng chảy cơ bản, rút ngắn thời gian tập trung nước mưa, gia tăng lưu lượng đỉnh lũ làm cho hệ thống thoát không thể nào tải kịp lưu lượng nước mưa đã trở nên bất bình thường đó Do vậy, để giảm ngập cần tập trung vào tính toán, thiết kế các giải pháp phân tán và lưu giữ tạm thời để làm giảm dòng chảy đỉnh của nước mưa
Các dự án, chương trình hành động thoát nước chống ngập ở hiện tại và trong tương lai
đã đúng đắn khi lựa chọn giải pháp truyền thống là mở rộng, tăng cường hệ thống cống, kênh dẫn để thu gom và thải nhanh nước mưa vào nơi tiếp nhận Tuy nhiên, sự lựa chọn này mâu thuẫn gay gắt với năng lực đầu tư tài chính và tổ chức thực hiện vì không thể theo kịp với tốc độ đô thị hóa và biến đổi quá nhanh của điều kiện tự nhiên Do vậy, tình trạng ngập vẫn ngày một trầm trọng
Để góp phần giải quyết vấn đề cấp bách nêu trên, “Hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững – Sustainable Urban Drainage System (SUDS)” lần đầu tiên được đề tài tiếp cận và truyền bá vào Việt Nam Trên quan điểm coi nước mưa là tài nguyên vô cùng quý giá, các giải pháp Kỹ thuật sinh thái (EE)/SUDS sẽ đồng thời đạt đến các mục tiêu: i) phòng chống ngập úng, lún sụt cơ sở hạ tầng, ii) bổ cập nguồn nước ngầm, iii) giảm thiểu ô nhiễm môi trường và iv) xanh hóa đô thị
Bên cạnh việc giới thiệu hệ thống các giải pháp KTST để giảm ngập cho khu vực công viên HVT ở 3 cấp độ: Tại nguồn, Trên mặt bằng và Trên toàn khu vực, đề tài thực hiện nghiên cứu điển hình (case study) 3 giải pháp KTST, bao gồm: Chắn lọc sinh học, Mương thấm lọc thực vật và Hồ sinh thái Tất cả đã được mô tả về cấu trúc, xác định chức năng, tính toán thiết kế khái niệm (conceptual design) và hướng dẫn vận hành, bảo dưỡng theo quy trình của quốc tế
Theo tính toán, chỉ riêng giải pháp hồ sinh thái trong công viên đã có thể xử lý toàn bộ mước mưa chảy tràn trên tiểu lưu vực có diện tích hơn 25ha để khắc phục tình trạng ngập
ở điểm ngập HVT và nhờ vậy mà có thể không cần phải đầu tư mở rộng và xây mới cụm cống thoát nước mưa như đã quy hoạch thoát nước cho khu vực này
Một số nội dung nghiên cứu mới khác cũng đã được triển khai, như giới thiệu ứng dụng công cụ đánh giá và lựa chọn giải pháp kiểm soát thích hợp (SUDS Treatment Train Asessment Tool) gọi tắt là STTAT trong lựa chọn các giải pháp SUDS thích hợp cho các
dự án xây dựng mới hoặc chỉnh trang và phân tích tương đối chi tiết mối quan hệ giữa Mưa và Ô nhiễm phân tán với cảnh báo rằng đây là những vấn đề rất hệ trọng trong quản
lý môi trường đô thị nhưng còn chưa được quan tâm đầy đủ
W Ò X
.
Trang 4SUMMARY
As determined by the city’s leaders at a conference in August, 2007, urban flooding was considered as an important, urgent and strategic problem among urban problems of Ho Chi Minh City (HCMC) influencing social-economic development The objective of this study is to apply advanced knowledge and measures in the field of urban drainage into Viet Nam in order to prevent the urban flooding, in particular, and set up a sustainable strategy for urban drainage in HCMC, in general
It was recognized that the reason for the flooding in the studied area are the uncontrolled urbanization which fades out wetlands for regulating and containing temporarily rainwater, and especially, the replace of natural surface by man-made and solid surface through which the rainwater can not penetrate In a situation that rainfall intensity increases but rainfall duration decreases, decreased base flow, time of concentration decreased, flow velocity increased and peak volume increased All these lead to the overloading of drainage system Therefore, to decrease the max flow of rainwater, measures for distribution and temporarily containing rainwater have to be set up
Present and future plans for flooding prevention have conventionally selected a solution that the drainage system has to be enlarged to collect and discharge quickly rainwater into receiving waters However, while the urbanization and natural surface are always changing quickly this selection is normally not affordable and feasible Consequently, the flooding problem becomes more and more serious
To make a contribution to the solution of flooding problem the “Sustainable Urban Drainage System (SUDS)” technique was applied into Viet Nam by this study With a concept that the rainwater is a precious natural resource the Ecological Engineering/SUDS measure was carried out to get 3 objectives at the same time: i) flooding and infrastructure subsiding prevention, ii) underground water support, iii) environment pollution minimization, and iv) urban green area development
In addition to the introduction of ecological engineering measures for flooding prevention
in Hoang Van Thu Park area at 3 levels: source control, site control, and regional control, the study carried out three case studies of 3 measures: bioretention, bio-retention swal and ecological west pond Their structure, function, and calculation based on conceptual design are described Also, their operation and maintenance are given
According to the assessment of the study, only the ecological pond in the park can help to tackle the flooding problem in the studied area with a surface area of 25 ha As a result, no need for investment of a new drainage system in the area is recognized
Some new aspects related to the study, such as SUDS Treatment Train Assessment Tool (STTAT), were also undertaken This tool can support the selection of suitable SUDS measures for urban new construction or upgrading projects It also can help analyzing the relation between the rain and non-source pollution which should be taken into account for environment management
W Ò X
.
Trang 5MỤC LỤC
T rang
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Mục tiêu: 1
2 Nội dung: 1
2.1 Tiếp cận cơ sở khoa học và phương pháp luận của KTST: 1
2.2 Ứng dụng các tri thức và phương pháp KTST 1
2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc lập luận cứ KHKT và KT-XH 2
2.4 Nghiên cứu khả năng ứng dụng những KTST thích hợp: 2
2.5 Lập luận cứ KHKT cho hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững 2
2.6 Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn: 2
3 Sản phẩm của đề tài: 2
3.1 Báo cáo nghiệm thu trong đó phản ảnh đầy đủ các nội đã được đăng ký 2
3.2 Xây dựng tiềm lực triển khai vào thực tiển thoát nước ở TP.Hồ chí Minh 2
PHẦN II: NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN 4
Chương 1 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Địa điểm nghiên cứu: 4
1.1.1 Khu vực công viên HVT: 5
1.1.2 Khu vực công viên Gia Định: 6
1.2 Phương pháp nghiên cứu: 6
1.2.1 Quan điểm tiếp cận của đề tài: 6
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: 6
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 8
2.1 Khí hậu: 8
2.2 Mưa: 8
2.2.1 Quá trình mưa và một số giá trị định lượng về mưa: 8
2.2.2 Các đặc trưng chế độ mưa: 9
2.2.3 Tính toán lượng mưa thiết kế: 10
2.2.4 Quá trình thấm và hình thành dòng chảy: 10
2.3 Địa hình, địa mạo: 11
Chương 3: KINH TẾ-XH VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN 13
3.2 Tầm nhìn, mục tiêu, chiến lược quy hoạch đô thị: 13
3.2.1 Tầm nhìn quy hoạch đô thị: 13
3.2.2 Mục tiêu phát triển: 14
3.2.3 Chiến lược phát triển: 14
3.3 Một số đặc trưng về cơ cấu kinh tế xã hội của thành phố: 14
3.3.1 Nghiên cứu về dân số: 15
3.3.2 Giá trị GDP: 15
3.4 Quan điểm quy hoạch đô thị: 15
3.4.1 Xác định những vấn đề quy hoạch đô thị: 15
3.4.2 Đề xuất quy hoạch thiết kế đô thị 16
3.4.3 Kiến nghị cho phát triển bền vững: 18
3.4.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng: 19
.
Trang 6Chương 4: CHIẾN LƯỢC VÀ DỰ ÁN THOÁT NƯỚC Ở TP.HCM 21
4.1 Vắn tắt về thoát nước ở Việt Nam: 21
4.2 Thoát nước đô thị TP.Hồ Chí Minh: 21
4.2.1 Về dự án thoát nước TP.Hồ Chí Minh: 21
4.2.2 Phân vùng thoát nước: 23
4.2.3 Tóm tắt hệ thống thoát nước của TP.Hồ Chí Minh: 24
4.2.4 Giải pháp quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước mưa đô thị 29
4.2.5 Giải pháp mục tiêu do Sở GTCC đề xuất: 31
4.2.6 Phương hướng chỉ đạo về quy hoạch thoát nước đô thị TP.HCM 33
4.2.7 Nhận định chung về vấn đề thoát nước: 34
Chương 5: TIẾP CẬN HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ BỀN VỮNG 36
5.1 Khái niệm và triết lý về SUDS - SUDS: 36
5.1.1 SUDS là tư duy mới về tiêu thoát nước đô thị: 36
5.1.2 Mục tiêu của SUDS 37
5.2 Ngập đô thị do mưa từ góc nhìn của SUDS: 38
5.3 Mưa và ô nhiễm phân tán: 40
5.3.1 Kiểm soát nguồn ô nhiễm phân tán: 40
5.3.2 Vai trò vận chuyển ô nhiễm phân tán của nước mưa đô thị: 41
5.4 Các giải pháp KTST (EE) trong SUDS: 43
5.4.1 Các quan điểm trong chiến lược thoát nước: 43
5.4.2 Các giải pháp SUDS trong tiến trình quản lý nước mưa: 44
5.4.3 Các cấp độ kiểm soát của giải pháp SUDS: 45
5.4.4 Các giải pháp kỹ thuật ứng dụng cho từng cấp độ: 45
5.4.5 Tính thích hợp và hiệu quả của các giải pháp SUDS: 47
5.4.6 Khả năng xử lý ô nhiễm của các giải pháp: 48
5.5 Các công cụ trong thiết lập SUDS: 49
5.5.1 Quy hoạch mặt bằng: 50
5.5.2 Nhóm giải pháp công trình: 50
5.5.3 Nhóm giải pháp phi công trình: 50
PHẦN III: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SUDS VÀO VIỆT NAM 54
Chương 6: ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG KTST CHO KHU VỰC CV HVT 54
6.1 Giải pháp quản lý nước mưa ngay từ cộng đồng (good housekeeping): 54
6.2 Giải pháp kiểm soát nước mưa ngay tại nguồn (Source control): 54
6.3 Giải pháp kiểm soát trên mặt bằng (Site control): 55
6.4 Giải pháp kiểm soát cho toàn khu vực (Regional control): 58
Chương 7: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH 4 GIẢI PHÁP KTST/SUDS 59
7.1 Lựa chọn phương pháp và số liệu tính toán – thiết kế: 59
7.1.1 Lựa chọn phương pháp: 59
7.1.2 Lựa chọn dữ liệu tính toán, thiết kế: 59
7.1.3 Phân tích hiện trạng mặt bằng và lựa chọn giải pháp SUDS: 60
7.2 Tính toán thiết kế các giải pháp của SUDS: 60
7.2.1 Tính toán, thiết kế giải pháp kiểm soát trên mặt bằng : 60
.
Trang 77.2.1.1 Các bước tính toán, thiết kế: 60
Bước 1 Tính toán các thông số cơ bản của lưu vực hứng nước 61
Bước 2 Tính toán các thông số cơ bản phục vụ cho thiết kế SUDS: 61
Bước 3 Tính toán các cấu trúc xử lý cho từng giải pháp SUDS .61
7.2.1.1 Áp dụng các bước nêu trên cho khu vực bãi đổ xe SVĐ QK7: 61
Bước 1: Tính toán các thông số cơ bản của lưu vực hứng nước 61
Bước 2: Tính toán các thông số cơ bản phục vụ cho thiết kế SUDS: 62
Bước 3: Tính toán, thiết kế cấu trúc kỹ thuật từng giải pháp KTST: 66
7.2.2 Thiết kế giải pháp kiểm soát vùng cho khu vực CV HVT 72
7.2.2.1 Nguyên tắc thiết kế hồ sinh thái: 72
7.2.2.2 Các bước thiết kế và vận hành hồ sinh thái cảnh quan: 73
7.2.2.3 Áp dụng các bước nêu trên cho khu vực CV HVT: 73
Bước 1: Thu thập dữ liệu lưu vực nghiên cứu: 73
Bước 2: Thiết kế sơ bộ hồ sinh thái: 79
Bước 3: Thiết kế cảnh quan và thực vật ngập nước 81
Bước 4: Quản lý chất lượng môi trường nước trong hồ: 83
Bước 5: Phương pháp kiểm tra và bảo dưỡng hồ định kỳ: 88
Chương 8: LỰA CHỌN, XÁC ĐỊNH GIẢI PHÁP SUDS CHO DỰ ÁN MỚI 90 8.1 Công cụ STTAT đánh giá và lựa chọn giải pháp SUDS: 90
8.2 Các sơ đồ đánh giá và lưa chọn: 91
8.3 Áp dụng công cụ STTAT cho dự án công viên Gia Định 94
8.4 Áp dụng công cụ STTAT để lựa chọn các giải pháp SUDS: 95
8.4.1 Tính toán tổng mức độ tác động: 95
8.4.2 Lựa chọn phương án xây dựng hệ thống các giải pháp SUDS: 95
PHẦN IV : NHẬN XÉT CHUNG VÀ KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 97
1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ THOÁT NƯỚC CHO KHU VỰC CV.HVT 97
1.1 Về mục tiêu: 97
1.2 Về thoát nước xóa ngập ở khu vực công viên HVT: 98
2 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
2.1 Kết luận: 99
2.2 Kiến nghị: 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
.
Trang 8CÁC TỪ VIẾT TẮT
BMPs Kỹ thuật quản lý tôi ưu
KTST Kỹ Thuật Sinh Thái
M-POWER Chương trình Nước và Môi trường Mê Công
SUDS Hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững
TSS Tổng chất rắn lơ lững
USDA Cục Nông nghiệp Mỹ
USEPA Cục Môi trường Mỹ
BẢNG CHUYỂN ĐỔI ĐƠN VỊ TỪ HỆ ANH SANG HỆ MÉT (METRIC)
Acre (ac.) Hectare (ha) x 0,405 Square mile (mi2) Square kilometer (km2) x 2,59 Cubic feet per second (ft3/s) Cubic meters per second (m3/s) x 0,0283 Inch (in) Millimeter (mm) x 25,4 Feet per second (ft/s) Meters per second (m/s) x 0,3048 Acre – foot (Ac.-ft) Cubic meter (m3) x 1233,489 Cubic foot (ft3) Cubic meter (m3) x 0,0283
.
Trang 9DANH MỤC BẢNG
T rang
Bảng 2.1: Các đặc trưng chế độ mưa 9
Bảng 2.2: Lượng mưa theo thời đoạn dựa trên quan hệ mưa ngày 10
Bảng 3.1: Đánh giá chất lượng các dịch vụ đô thị hiện nay 19
Bảng 4.1: Các hệ thống kênh rạch chính của TP.Hồ Chí Minh 26
Bảng 5.1: Thông số đặc trưng chất lượng nước kênh rạch Tp.HCM (quý 2/2007) 41 Bảng 5.2: Nồng độ ô nhiễm của nước mưa chảy tràn 42
Bảng 5.3: Các giải pháp Kỹ thuật sinh thái và khả năng ứng dụng 47
Bảng 5.4: Diện tích lưu vực và loại đất thích hợp áp dụng cho các giải pháp 48
Bảng 5.5: Tiềm năng xử lý ô nhiễm của các kỹ thuật sinh thái 49
Bảng 7.1: So sánh lượng mưa thiết kế ở Tp.HCM với Maryland & Georgia, Mỹ 60
Bảng 7.2: Phân nhóm đất theo hiện trạng lớp phủ 62
Bảng 7.3: Hệ số CN của mặt bằng DA1 62
Bảng 7.4: Hệ số CN mặt bằng DA2 64
Bảng 7.5: Hệ số bổ cập của các nhóm đất đá 65
Bảng 7.6: Tổng các yêu cầu về thể tích xử lý, bổ cập cho mặt bằng bãi đỗ xe 66
Bảng 7.7: Hiện trạng ngập khu vực CV HVT 2005-2006 76
Bảng 7.8: Thể tích chứa theo cao trình của hồ 80
Bảng 7.9: Danh sách thực vật được lựa chọn để trồng vào hồ 83
Bảng 7.10: Kết quả phân tích nước mưa chảy tràn khu vực CV HVT & Gia Định.85 Bảng 7.11: Kết quả phân tích các chỉ tiêu hóa học nước hồ HVT 86
Bảng 7.12: So sánh DO đo được và DO bão hòa theo nhiệt độ nước trong hồ 87
Bảng 7.13: Các chỉ số dinh dưỡng của nước trong hồ HVT 87
Bảng 7.14: Các hoạt động chủ yếu trong kiểm tra, bảo dưỡng hồ 88
.
Trang 10DANH MỤC HÌNH
T rang
Hình 1.1: Lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè .5
Hình 1.2: Khu vực công viên HVT 6
Hình1.3: Khu vực công viên Gia Định .6
Hình 1.4: Sơ đồ quá trình phân tích mặt bằng 8
Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng và cao trình khu vực công viên HVT 12
Hình 2.2: Bản đồ hiện trạng và cao trình khu vực công viên Gia Định 13
Hình 4.1: Bản đồ phân vùng thoát nước TP.Hồ Chí Minh 24
Hình 4.2: Bản đồ hệ thống thoát nước TP.HCM 26
Hình 4.3: Phân vùng ngập do các tác động của mưa và thủy triều 28
Hình 4.4: Tiến độ thực hiện cải tạo hệ thống thoát nước mưa 34
Hình 5.1: Triết lý của Hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững - SUDS 37
Hình 5.2: Các mục tiêu chính của giải pháp SUDS 37
Hình 5.3: Biến đổi gia tăng đỉnh lũ sau đô thị hóa .39
Hình 5.4: Đô thị hóa làm tăng dòng chảy tràn trên bề mặt 39
Hình 5.5: SUDS phục hồi dòng chảy trở về gần với trạng thái trước đô thị hóa 40
Hình 5.6: Vai trò của các loại nguồn thải phân tán gây ô nhiễm 43
Hình 5.7 Sơ đồ khối của các cấp độ của các giải pháp kiểm soát .45
Hình 5.8: Công cụ xây dựng SUDS 49
Hình 6.1: Sơ đồ cấu trúc mặt bằng thấm 55
Hình 6.2 Dòng chảy tràn trên 2 loại mặt thấm truyền thống và theo SUDS .56
Hình 6.3: Sơ đồ cấu trúc hệ thống hố cây thấm lọc trồng theo hè phố 57
Hình 6.4: Cống hở đẫn nước mưa - Kênh thực vật chắn lọc nước mưa 57
Hình 6.5/6: Dải phân cách “lồi” ở đường Trường Sơn - và “lõm” tại Thái Lan 57
Hình 6.7: Cảnh quan mặt hồ có thể tương tự trong tương lai 58
Hình 7.1 : Hiện trạng mặt bằng bãi đổ xe sân vận động QK7 62
Hình 7.2/3: Dải thực vật dọc theo hàng rào SVĐ QK7 và mặt cắt minh họa 66
Hình 7.4: Hoa viên trong bãi đỗ xe trở thành chắn lọc sinh học 69
Hình 7.5: A)Mặt cắt của chắn lọc sinh học được dùng minh họa cho thiết kế 72
B) Bố trí thực vật trong chắn lọc sinh học 72
Hình 7.6: Phạm vi lưu vực gom nước tới điểm ngập CV HVT 74
Hình 7.7: Khu vực tập trung nước và vùng bị ngập .77
Hình 7.8: Sơ đồ cải tạo hệ thống cống thoát nước khu vực CV HVT 78
Hình 7.9: Sơ đồ mặt cắt hồ sinh thái 80
Hình 7.10: Phương án thoát nước cấp bách khỏi hồ 81
Hình 7.11: Sơ đồ mặt cắt của hồ sinh thái với các phương án thiết kế thực vật 82
Hình 7.12: Vị trí các điểm thu mẫu nước mưa chảy tràn 84
Hình 7.13: Vị trí thu mẫu nước thủy vực tiếp nhận – hồ HVT 86
Hình 8.1: Bản đồ mặt bằng tổng thể quy hoạch chỉnh trang công viên Gia Định 91
Hình 8.2/3: Nhiều vùng trũng trong CV và cống hộp Nhật Bản đang thi công 96
.
Trang 11DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH
Đơn vị công tác
Trách nhiệm
3 Đỗ Thị Bích Lộc CN Quản lý Môi trường Viện SHNĐ Thư ký
14 NguyễnThanh Thủy KS Địa chất công trình Cty Đo đạc Địa
CHUYÊN GIA TƯ VẤN
1 Jean Lacoursiere PGS TS Kỹ thuật sinh thái Đại học Kristianstad,
Thụy Điển
Hồ học
Đại học Kristianstad, Thụy Điển
3 Nguyễn Thành Tín Chuyên gia Chất lượng nước Viện SHNĐ
sinh thái Đại học, North Carolina, Mỹ
Dundee, Anh
.
Trang 12PHẦN I : MỞ ĐẦU
Tên đề tài: Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật sinh thái (ecological engineering) xây
dựng hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững (SUDS) góp phần phòng chống ngập úng, lún sụt và ô nhiễm ở TP.Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS.Đoàn Cảnh, NCVCC
Cơ quan chủ trì: Viện Sinh học nhiệt đới
Thời gian thực hiện đề tài: 18 tháng và được chấp thuận gia hạn thêm 4 tháng Kinh phí được duyệt: 265 triệu đồng
Kinh phí đã cấp: Theo TB số : TB-SKHCN ngày / / và
Theo TB số : TB-SKHCN ngày / /
1 Mục tiêu:
Mục tiêu lâu dài: Triển khai đề tài này là nhằm làm cho khái niệm “Hệ thống tiêu
thoát nước đô thị bền vững- SUDS” với triết lý coi nước mưa là tài nguyên vô cùng
quý giá, có vai trò to lớn đối với môi trường và cuộc sống nhưng rất hữu hạn sẽ
được tiếp cận có hệ thống và triển khai vào Việt Nam Các giải pháp kỹ thuật sinh
thái không những không thoát nhanh nước mưa như truyền thống trước nay, ngược
lại, sẽ làm chậm dòng nước mưa mà không gây ngập, để có thể sử dụng chúng vào các mục tiêu bổ cập cho nước ngầm, giảm thiểu tác hại của nguồn ô nhiễm phân tán
và xanh hóa đô thị, nhất là giảm thiểu quá trình nóng dần lên quá nhanh do quá trình bêtông hóa và do các hoạt động gây ô nhiễm nhiệt khác, bảo vệ môi trường hướng đến mục tiêu xây dựng TP Hồ Chí Minh trở thành đô thị sinh thái
Mục tiêu (Theo đề cương đã duyệt): “Đề xuất mô hình khái niệm (conceptual
model) ứng dụng Kỹ thuật sinh thái (KTST) và đưa ra luận cứ khoa học - kỹ thuật -
kinh tế - xã hội cho việc hình thành Hệ thống tiêu thoát nước bền vững (SUDS) tại một vùng tiêu biểu thường xuyên bị ngập do mưa, góp phần phòng chống ngập úng, lún sụt cơ sở hạ tầng, bổ cập nguồn nước ngầm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và xanh hóa đô thị TP Hồ Chí Minh”
2 Nội dung: (Theo đề cương đã duyệt)
2.1 Tiếp cận cơ sở khoa học và phương pháp luận của Kỹ thuật sinh thái:
- Tổng quan tình hình và kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước
- Hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu và lựa chọn các phương pháp thích
hợp cho nghiên cứu, triển khai và đánh giá trong điều kiện ở Việt Nam
- Tiếp cận các phương pháp tính toán, mô hình hóa phục vụ xử lý số liệu và
kiểm tra, đánh giá kết quả và giải các bài toán thiết kế các đơn nguyên trong triển khai KTST vào thực tiển
2.2 Ứng dụng các tri thức và phương pháp kỹ thuật sinh thái trong đánh giá hệ
thống tiêu thoát nước trong đô thị tùy thuộc vào mức độ đô thị hóa và hiện đại hóa của khu vực nghiên cứu:
- Đô thị hóa dưới 30%
- Đô thị hóa khoảng 50%
- Đô thị hóa trên 60%
.
Trang 132.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc lập luận cứ khoa học, kỹ thuật và kinh tế-
xã hội ứng dụng kỹ thuật sinh thái vào việc xây dựng SUDS ở địa bàn tiêu biểu cho
mức độ đô thị hóa trên 60% nhưng sẽ có quy hoạch chỉnh trang, bao gồm:
- Khảo sát đặc trưng địa hình, địa mạo:
- Khảo sát cơ sở hạ tầng xây dựng, đặc biệt quan tâm hệ thống thoát nước
2.4 Nghiên cứu khả năng ứng dụng những KTST thích hợp:
- Xác định khả năng ứng dụng của các giải pháp kỹ thuật sinh thái,
- Xem xét những vấn đề kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu có liên quan ở hiện tại và trong tương lai
2.5 Lập luận cứ khoa học - kỹ thuật cho hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững
- Phân tích tổng hợp các cơ sở dữ liệu,
- Quy họach mặt bằng khu vực nghiên cứu
- Tính toán và đề xuất các phương án kỹ thuật khả thi dưới dạng thiết kế khái
niệm (conceptual design – conceptual model)
- Hình thành sản phẩm của đề tài
2.6 Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn:
- Xây dựng lực lượng chuyên môn đa ngành đủ sức chủ trì dự án,
- Phối hợp với các trường Đại học của Thụy Điển, Anh, Mỹ nhằm tổ chức lực lượng tham gia thực hiện và tư vấn đề tài này và để đào tạo một cách có hệ thống với nhiều hình thức khác nhau: Đại học, Sau đại học và các khóa tập huấn, hội thảo chuyên đề và v.v…
3 Sản phẩm của đề tài:
3.1 Báo cáo nghiệm thu trong đó phản ảnh đầy đủ các nội đã được đăng ký Đây
là nghiên cứu hoàn toàn mới ở Việt Nam và theo đó, kết quả nghiên cứu bao gồm các nội dung sau:
• Phân tích nguyên nhân ngập đô thị do mưa ở vùng có cao trình cao hơn mức ngập triều cao nhất theo quan điểm mới – quan điểm tiêu thoát nước đô thị bền vững - đã là cơ sở khoa học và thực tiển góp phần hoàn chỉnh chiến lược thoát nước
ở TP.HCM và kiến nghị một số bổ sung và điều chỉnh cần thiết trong tư duy và giải pháp thực hiện chống ngập đô thị với tinh thần coi nước mưa là tài nguyên quý giá
• Phương pháp luận và phương pháp tính toán thiết kế 3 giải pháp kỹ thuật sinh thái cơ bản và thông dụng nhất, tuy còn là mô hình khái niệm, nhưng có thể được xem là các tư vấn thiết kế cho các giải pháp giảm ngập, trong đó có kết quả tính toán cho hồ cảnh quan trong công viên Hoàng Văn Thụ đã được xem là tài liệu
.
Trang 14tư vấn cho dự án chống ngập tại điểm ngập khu vực công viên Hoàng Văn Thụ đang được triển khai
• Ngoài các giải pháp công trình cụ thể nêu trên, các sản phẩm phi công trình
là rất đáng được ghi nhận Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận hướng nghiên cứu này, coi đây là một trong những giải pháp trong hệ thống giải pháp chống ngập có tính khả thi cao Do vậy, đã chỉ đạo các Sở GTCC và Sở Xây dựng nghiên cứu, đánh giá và nếu tốt thì triển khai vào việc xây dựng tiêu chí cấp phép xây dựng
3.2 Xây dựng tiềm lực tiếp tục triển khai nghiên cứu vào thực tiển thoát nước giảm ngập ở TP.Hồ chí Minh:
• Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được trình bày tại nhiều hội thảo khoa học, lớp tập huấn trong nước và quốc tế nhằm quảng bá lĩnh vực nghiên cứu này rộng rãi trong cộng đồng và qua đó nhận được sự đánh giá và hợp tác, hổ trợ Hoạt động của
đề tài đã ghi tên Việt Nam vào mạng lưới nghiên cứu tiêu thoát nước bền vững quốc
tế SUDSNet từ năm 2006 và góp phần đưa Viện Sinh học nhiệt đới trở thành thành viên của Chương trình M-POWER trong lĩnh vực quản lý ngập đô thị ở Châu Á
• Đã hình thành nhóm nghiên cứu về tiêu thoát nước đô thị bền vững, trong đó
có người thực hiện chính của đề tài, KS Dương Văn Trực, đã nhận được 3 chứng chỉ chuyên ngành: 1) Lý thuyết về SUDS theo chương tình online của Đại họcNorth Carolina, Mỹ 2) Thiết kế các giải pháp SUDS theo chương tình online của Đại học Abertay Dundee, Anh và 3) Chứng chỉ thực hành thiết kế SUDS nhận từ khóa đào tạo trực tiếp tại Trung tâm Nghiên cứu Kỹ thuật sông và Thoát nước đô thị
- REDAC, Malaysia
• Nội dung nghiên cứu triển khai theo hướng này đang được tiếp tục duy trì trong hoạt động sắp tới của “Ban điều phối Nghiên cứu Đề án quy hoạch tổng thể tiêu thoát nước TP.Hồ Chí Minh” trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố; nhằm thực hiện sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố triển khai các giải pháp KTST thông dụng như: vỉa hè thấm, hồ sinh thái điều tiết, chống sang lấp kênh rạch, sử dụng hợp lý nguồn nước mưa, v.v…góp phần vào chương trình chống ngập đô thị và bảo vệ môi trường TP.HCM
.
Trang 15PHẦN II : NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN
Chương 1 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Địa điểm nghiên cứu:
Về nguyên tắc, việc tiêu thoát nước được thực hiện theo từng lưu vực hoặc tiểu lưu vực, trong trường hợp này chúng tôi đã chọn lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè (Hình 1.1.), địa bàn đã có nhiều thông tin cơ sở về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đang triển khai dự án thoát nước lớn đưới tên gọi “Dự án Vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè” (sau đây gọi tắt là Dự án NL-TN) với suất đầu tư hàng trăm triệu USD làm địa điểm nghiên cứu
Hình 1.1: Lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè cùng các lưu vực thoát nước chính khác
Theo Dự án NL-TN, lưu vực dự án có diện tích 33,2 km2 và có số dân 989.676 người Số dân trong tương lai được dự tính là 1.073.000 người vào năm 2015 Nước thải từ hệ thống thoát nước mưa đổ vào kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè hầu như không qua một giải pháp xử lý nào Chất lượng nước tại Nhiêu Lộc-Thị Nghè với BOD5
trong khoảng 100-250 mg/l (số liệu từ dự án, cho nên cần được cập nhật thêm) Bên cạnh sự xuống cấp môi trường, việc ngập lụt trong lưu vực này đang là một vấn nạn
Qua mô phỏng dòng chảy với chu kỳ 2 năm thực hiện trong nghiên cứu nêu trên đã
cho thấy là: một phần ba lưu lượng nước mưa không tham gia trong dòng chảy
thoát nước mưa mà lại gây ra việc ngập lụt trên các phố phường
.
Trang 16Trong lưu vực có những khu vực bị ngập do ảnh hưởng của triều Tuy nhiên, trong
bước khởi đầu, đề tài giới hạn các nghiên cứu của mình trong khu vực bị ngập chỉ
do mưa, là nơi có cao trình lớn hơn 2m so với mực nước biển, không chịu ảnh
hưởng trực tiếp của thủy triều và của nước mưa từ thượng nguồn đổ về Đồng thời,
để kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng vào thực tiển, địa điểm nghiên cứu được xác định còn là vùng ngập tiêu biểu đang cần sớm được giải quyết, và trong tương lai gần sẽ được chỉnh trang, có nghĩa sẽ có cơ hội để áp dụng kết quả nghiên cứu của đề tài, các khu vực sau đây đã được xác định:
1.1.1 Khu vực công viên Hoàng Văn Thụ: Là địa điểm nghiên cứu chính, bao
gồm khu vực từ cổng Bộ Tư Lệnh Quân Khu 7 đến góc ngã ba Phổ Quang - Phan Đình Giót là một trong những điểm ngập của thành phố (Hình 1.2) Khu vực này tương đối trũng, địa thế tại đây thấp hơn xung quanh 0,4m và bị thắt cổ chai Do đó một lượng nước lớn từ các đường Phan Đình Giót, Phổ Quang và một phần đường Hoàng Văn Thụ đổ về đây, trong khi cống thoát nước hiện hữu là quá nhỏ không thể tải hết lượng nước này, nên đã gây ngập Giải quyết điểm ngập này mang tính cấp bách vì khu vực này là cửa ngỏ trên con đường huyết mạch nối liền sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố
Hình 1.2: Khu vực công viên Hoàng Văn Thụ
Hình1.3: Khu vực công viên Gia Định
.
Trang 171.1.2 Khu vực công viên Gia Định: Vùng đất có cao trình trên 4m, mật độ xây dựng còn tương đối thấp với thảm thực vật dạng công viên có địa hình nhấp nhô, nhiều vùng trũng chứa rác và nuớc và có khả năng trở thành ao hồ lưu giữ nước khi mưa và có cảnh quan đẹp Trong khi ngay bên cạnh, cách khoảng trên dưới 100m là điểm ngập Nguyễn Thái Sơn - Bạch Đằng cũ khá nghiêm trọng và cũng là cửa ngõ
từ sân bay vào thành phố rất cần được xóa bỏ (Hình 1.3)
1.2 Phương pháp nghiên cứu:
1.2.1 Quan điểm tiếp cận của đề tài:
• Thoát nước đô thị là thu gom nước mưa, các loại nước thải chuyển tới vùng nhận nước Trong đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn trong việc thoát nước mưa giảm ngập ở vùng có cao trình lớn hơn 2m so với mực nước biển Trong mối quan hệ với thoát nước có 3 vấn đề cần lưu ý: i) mưa đô thị, ii) mặt bằng đô thị bao gồm mặt đệm (lớp phủ), địa hình, địa mạo, đất xây dựng, thảm thực vật, v.v… và iii) vùng nhận nước Trong 3 vấn đề trên đề tài quan tâm nhiều đến mặt bằng đô thị, vấn đề 2, coi chúng là hệ sinh thái với cấu trúc nếu được thiết kế tối ưu sẽ có vai trò đáng kể trong chức năng quản lý tiêu thoát nước đô thị
• Chống ngập và giải quyết các vấn nạn môi trường đô thị có liên quan đến nước mưa khác, trong đó có vấn đề ô nhiễm, có thể thực thi trên cơ sở xây dựng Hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững (SUDS),
• Triết lý của tiêu thoát nước bền vững là phải xem nước mưa là tài nguyên quý giá nhưng hữu hạn và có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ sinh thái đô thị và với môi trường sống, đặc biệt không làm ô nhiễm và xấu đi các thủy vực tiếp nhận,
• Hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững là đa mục tiêu, bao gồm: phòng chống ngập, bổ cập cho nước ngầm, xử lý ô nhiễm môi trường và xanh hóa đô thị
• Thay đổi quan điểm thoát nhanh nước mưa bằng các giải pháp thoát chậm,
bên cạnh kỹ thuật thoát nước cứng truyền thống, cần tiếp cận kỹ thuật tiêu thoát
nước mềm - Kỹ thuật sinh thái,
• Bên cạnh giải pháp công trình rất coi trọng giải pháp phi công trình
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Kỹ thuật sinh thái (KTST) được ứng dụng trong thiết lập và vận hành SUDS nên
còn được gọi là kỹ thuật SUDS (trong báo cáo này, 2 từ chuyên môn trên xin được
coi như đồng nghĩa) đã được thể nghiệm thành công ở nhiều nước phát triển, đặc
biệt trong các nghiên cứu thực nghiệm nhiều năm đang được tiến hành tại khu vực lân cận với nước ta Đề tài này là nghiên cứu đa ngành, do vậy nhiều kỹ thuật nghiên cứu chuyên ngành sẽ được áp dụng trong phân tích mặt bằng (Hình 1.4.)
Đề tài sẽ thực hiện các khảo sát và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội theo những phương pháp được Nhà nước và các chuyên ngành chấp nhận và theo các tiêu chuẩn Nhà nước; nghiêm chỉnh tuân thủ các quy chuẩn của các Chuyên ngành có liên quan Những kỹ thuật sẽ được sử dụng có liên quan đến:
• Phương pháp thu thập và quan trắc số liệu Khí tượng thủy văn, tính các thông số về mưa (sử dụng số liệu chuyên ngành)
.
Trang 18Địa mạo Đất
Thủy văn Thực vật & nơi sống
Hiện trạng sử dụng đất
Phân vùng
Đánh giá
Thiết kế sử dụng
Hình 1.4: Sơ đồ quá trình phân tích mặt bằng
• Phương pháp thu thập, đo đạt, khảo sát Địa hình, Địa mạo, xử lý ảnh viễn thám lập bản đồ tỷ lệ1/2.000 (sử dụng số liệu chuyên ngành)
• Phương pháp khảo sát đánh giá hệ thống cấp thoát nước (sử dụng số liệu chuyên ngành)
• Phương pháp khảo sát, đánh giá quy họach, bố trí không gian lãnh thổ,
• Phương pháp khảo sát, quan trắc, đánh giá về chất lượng Môi trường nước,
• Ứng dụng công nghệ GIS trong xử lý số liệu và trình diển, thể hiện kết quả dưới dạng kỹ thuật số,
• Ứng dụng các phương pháp và mô hình tính toán đã có dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia đầu ngành từ các Đại học, Viện và Trung tâm nghiên cứu ở Anh,
Mỹ, Thụy Điển, Malaysia và từ các cơ sở khoa học khác; lựa chọn các mô hình tính toán phù hợp hơn với các điều kiện của Việt Nam trong đánh giá hiện trạng, dự báo
và đề xuất các giải pháp kỹ thuật và thiết kế kiến trúc không gian
• Ứng dụng phương pháp đánh giá nhanh và bằng phương pháp chuyên gia để
có thông tin về Kinh tế - Xã hội phục vụ cho các nội dung nghiên cứu và tính toán của đề tài
• Thực hiện thiết kế khái niệm một số giải pháp KTST cho mục tiêu giảm ngập
và tiêu thoát nước bền vững theo các quy trình và các bước tiến hành đã được các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng
Thuyết minh chi tiết về các phương pháp nghiên cứu và thiết kế sẽ được viết chi tiết hơn trong các phần trình bày kết quả nghiên cứu và thiết kế có liên quan trong báo cáo nghiệm thu này
.
Trang 19Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1 Khí hậu: Vùng nghiên cứu nói riêng và cả khu vực TP Hồ Chí Minh nói
chung nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bị khống chế cũng tức là chịu sự chi phối của các hệ thống thời tiết trong khu vực nhiệt đới và các nhiễu động do các hệ gió mùa gây nên Khí hậu có đặc điểm là nhiệt độ tương đối ổn định và đồng nhất, độ
ẩm cao, và lượng mưa lớn, xấp xỉ 2.000mm/năm Việc quan trắc khí tượng đã được thực hiện bởi trạm Tân Sơn Nhất từ năm 1915 Những thông số chung về khí hậu
Nhiệt độ không khí: Theo số liệu quan trắc khí tượng hàng tháng, từ năm 1976 đến
năm 1977 ở trạm Tân Sơn Nhất, nhiệt độ trung bình hàng năm là 270 C, thay đổi theo mùa khoảng 5–70 C quanh mức trung bình
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí rất cao vào các tháng mùa mưa lên đến mức
độ bão hòa 100% Vào các tháng khô, độ ẩm giảm Độ ẩm tương đối là 77,2 %
Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi hàng năm tương đối lớn: 1.399 mm; lượng bốc hơi
lớn trong các tháng mùa khô, bình quân trong các tháng nắng: 5-6 mm/ngày (vào tháng 3, 4)
2.2 Mưa:
Mưa là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngập đô thị và mưa rào nhiệt đới được xem là đặc trưng của mưa TP.Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu này chúng tôi rất quan tâm đến chế độ thủy văn, nhưng do hạn chế về điều kiện thực hiện nên chủ yếu là thừa kế cơ sở dữ liệu hiện có và xử lý chúng đáp ứng các mục tiêu của đề tài Thêm vào đó, những nghiên cứu về thủy văn đô thị ở Việt Nam hãy còn rất ít [Nguyễn Quang Cầu] và chưa hệ thống, còn dở dang Mưa và các đặc trưng của mưa hay nói một cách tổng quát, thủy văn đô thị là số liệu đầu vào quan trọng của đề tài này
2.2.1 Quá trình mưa và một số giá trị định lượng về mưa:
Mưa rào đô thị biến đổi một cách mạnh mẽ theo không gian và thời gian Kết quả tổng hợp của Nguyễn Quang Cầu cho thấy:
• Chênh lệch giữa lượng mưa max tháng với trung bình tháng của tháng 9 là lớn nhất (107mm) Chênh lệch cũng rơi vào nhóm tháng 8,9 và 10 Đây cũng là 3 tháng có lượng mưa lớn thường gây ngập nghiêm trọng tại TP.HCM, với chênh lệch lượng mưa trung bình là 96mm
• Lượng mưa năm của phần lớn các trạm trong khu vực trong giai đoạn 1977 –
2003 đều lớn hơn so với giai đoạn 1977 – 1998 Điều này nói lên lượng mưa trong thời kỳ gần đây có xu thế tăng lên đồng bộ
• Hình thành một tâm mưa ở trung tâm thành phố
.
Trang 20Những đặc điểm nêu trên đã được đặc biệt lưu ý khi tính toán các đặc trưng mưa
thiết kế Khi mưa xảy ra quá trình trữ nước và các quá trình dòng chảy Biểu đồ quá
trình dòng chảy hay là đường quá trình lưu lượng bao gồm đường quá trình lưu
lượng năm và đường quá trình của một trận mưa rào
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.929mm, trong đó khoảng 93% (1.788mm)
xảy ra suốt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa tháng lớn nhất là
308mm xảy ra vào tháng 8 Chỉ khoảng 7% (141mm) của lượng mưa năm xảy ra
trong suốt mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Lưu ý rằng lượng mưa trung bình
tháng trong năm tại các vùng trong thành phố là không giống nhau Nhìn chung,
mùa mưa đến sớm ở phía Đông sông Sài Gòn và chậm dần xuống phía Tây, đến
cuối mùa mưa (tháng 12) ở Thủ Đức hầu như không mưa, trong khi Bình Chánh lại
có mưa lớn
Trong những năm gần đây, tổng lượng mưa không tăng, nhưng số trận mưa có vũ
lượng lớn (trên 60mm) xuất hiện nhiều hơn trước đây Số trận mưa trên 40mm, tăng
dần từ 15 trận vào năm 2001 lên 24 trận vào 2004, trong đó, số trận trên 60mm
chiếm 50% vào 2003 và tăng lên 70% vào năm 2005
Theo Nguyễn Minh Giám (2006), những năm gần đây lượng mưa và nhiệt độ tại
khu vực nội thành có khuynh hướng tăng lên, như trong 6 tháng đầu năm 2006 tổng
lượng mưa gần gấp đôi giá trị trung bình nhiều năm (cao nhất khu vực Nam Bộ)
Lượng mưa gây ngập đô thị càng ngày càng nhỏ dần đi, chỉ cần khoảng 20mm/giờ
cũng gây ra ngập và tạo thành dòng chảy đô thị hình thành từ mưa Cũng như trước
đây giá trị lượng mưa này khá lớn, nhưng nay do sự giảm đáng kể lượng nước thấm,
tăng dòng chảy mặt và do đó làm tăng độ sâu ngập, thời gian ngập và tầng suất ngập
ứng với mỗi trận mưa
2.2.2 Các đặc trưng chế độ mưa: Tài liệu về lượng mưa tối đa hàng năm của trạm
Tân Sơn Nhất dùng để tính toán cho nghiên cứu này được tham khảo từ kết quả
nghiên cứu của Phan Văn Hoặc (2.000) và từ Đài khí tượng thủy văn miền Nam
(Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Các đặc trưng chế độ mưa
2 Lượng mưa lớn nhất năm 2718
3 Lượng mưa nhỏ nhất năm 1553
4 Số ngày mưa trung bình năm 154
7 Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất 3
8 Lượng mưa cực đại 177
9 Lượng mưa tháng cưc đại 603
(Số liệu từ trạm Tân Sơn Nhất)
.
Trang 21Kết quả nghiên cứu đặc trưng mưa ở TP.Hồ Chí Minh (Trương Văn Hiếu, 2006) cho thấy giá trị cường độ mưa khá cao, nhưng thời gian mưa ngắn, tạo nên dòng chảy thiết kế lớn, nhưng duy trì trong thời gian ngắn,với cường độ mưa cực đại tại thời gian đầu của trận mưađã làm cho dòng chảy thiết kế của hệ thống thoát trở nên lạc hậu so với nhu cầu thoát nước
2.2.3 Tính toán lượng mưa thiết kế: Lượng mưa thiết kế đã được sắp xếp và tính toán theo phương pháp dùng hàm phân bố Gumbel Kết quả tính toán được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.2: Lượng mưa theo thời đoạn dựa trên quan hệ mưa ngày
Thời
đoạn
2.2.4 Quá trình thấm và hình thành dòng chảy: Để quản lý nước mưa không thể
bỏ qua quá trình thấm Đó là quá trình nước trên mặt đất thâm nhập vào trong đất
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ thấm Sự biến đổi mạnh mẽ của tính chất đất trong không gian và thời gian mỗi khi có sự thay đổi về lượng ẩm đã làm cho
quá trình thấm trở nên rất phức tạp
Quá trình phát triển, đô thị hóa dẫn đến thay thế lớp phủ thấm nước bằng các lớp bề mặt không thấm nước, làm mất đi vai trò tiếp nhận, trì hoãn, thấm lọc và lưu giữ nước mưa, làm mất đi cơ hội xử lý chất ô nhiễm nhờ quá trình tự làm sạch của các lớp phủ thực vật trong tự nhiên và trong đất; kế đến là làm mất đi lớp đất đá bề mặt
có chức năng lưu giữ nước không chỉ làm gia tăng lượng trầm tích rữa trôi vào trong thủy vực mà còn làm mất đi tính ổn định của lớp đất đá bên dưới
Sự gia tăng của các công trình xây dựng, đường giao thông, bãi đỗ xe và các lớp bề mặt không thấm nước làm tăng dòng chảy tràn bề mặt cả về lưu lượng lẫn vận tốc đưa đến làm thay đổi hình dạng và địa hình của dòng chảy Đó là nguyên nhân của việc gia tăng mức độ ngập úng từ 2 đến 5 lần so với giai đoạn chưa phát triển Việc tạo nên vận tốc dòng chảy lớn, thời gian tập trung nước mưa ngắn dẫn đến xói lỡ trầm tích, tăng mức độ và tần suất ngập úng, giảm khả năng bổ cập cho nước ngầm
.
Trang 22Các quá trình nêu trên có quan hệ trực tiếp đến quá trình ngập đô thị, bao gồm sự gia tăng của tổng lượng dòng chảy và lưu lượng đỉnh lũ như mô tả ở trên Sự thay đổi dòng chảy trong khu vực đô thị chủ yếu do các nguyên nhân: i) Thể tích nước mưa cung cấp cho dòng chảy tăng lên do sự gia tăng của các bề mặt không thấm nước như mái nhà, mặt đường, sân bãi để xe,… làm giảm thiểu lượng thấm và ii) sự thay đổi có hiệu quả về mặt thủy lực của công trình dẫn nước làm tăng vận tốc dòng chảy và tăng lưu lượng đỉnh lũ
Ở một khía cạnh khác, sự thay đổi địa hình dòng chảy là sự mở rộng dòng chảy và sạt lỡ còn làm mất đi hệ đệm ven thủy vực Sự xói mòn trầm tích ở đáy dòng chảy
dẫn đến tích tụ các trầm tích, đất đá vào thủy vực tiếp nhận và cuối cùng là góp phần làm tăng mức độ ngập úng
2.3 Địa hình, địa mạo:
Theo nghiên cứu và đo đạc của Công ty Đo đạc địa chính và Công trình tiến hành trên tỉ lệ 1: 2000, khu vực công viên Hoàng Văn Thụ có cao độ địa hình từ 4,5m – 10m Tầng đất trong khu vực dự án (từ 2m – 10m) chủ yếu là sét pha cát, sỏi, sạn Trong đó thành phần sét chiếm khoảng 40 phần trăm
Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng và cao trình khu vực công viên Hoàng Văn Thụ
.
Trang 23Hình 2.2: Bản đồ hiện trạng và cao trình khu vực công viên Gia Định
Mặc dầu cũng là vùng ngập sâu và thường xuyên khi có mưa lớn, nhưng lại là vùng
có cao trình từ 6 đến 10m (xem hình 2.2)
.
Trang 24Chương 3: KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH
Đề tài này đã được tiến hành đồng thời với quá trình hoàn chỉnh chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của Thành phố đến năm 2020 và thực hiện Dự án “Nghiên cứu
điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP.HCM đến năm 2025” Do vậy, mục tiêu
cũng như nội dung nghiên cứu của đề tài đã được điều chỉnh để đáp ứng nhiều hơn cho các tầm nhìn chiến lược và quy hoạch phát triển nêu trên
Triển vọng phát triển – những sứ mệnh của TP.HCM đối với khu vực sau khi Việt Nam gia nhập WTO: TP.HCM được thiên nhiên ưu đãi một vị trí địa lý hết
sức thuận lợi Tuy nhiên, lợi thế này vẫn chưa được quan tâm khai thác Trong nền
kinh tế toàn cầu, không biên giới sẽ sớm hình thành “các đơn vị kinh tế vùng” chứ
không còn là các quốc gia riêng lẻ như trong các khái niệm cũ về phát triển kinh tế
xã hội – sẽ cạnh tranh và hợp tác cùng phát triển Công trình “Nghiên cứu điều
chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP.HCM đến năm 2025”, do Viện quy hoạch Xây
dựng và nhà tư vấn Nikken Sekkei – Nhật Bản thực hiện đã dự báo sứ mệnh và thách thức mà TP.HCM phải gánh vác là rất nặng nề Theo đó, TP.HCM sẽ đóng vai trò ở 3 cấp độ tương ứng với tầm 3 khu vực như sau:
1) Trung tâm thương mại xuyên Á sẽ giữ vai trò là bệ phóng, là chất xúc tác hay
là nơi trung chuyển cho các hoạt động thương mại, giao lưu văn hóa giữa các nước Đông Á với các nước Đông Nam Á và xa hơn nữa là với Ấn Độ, New Zealand và
Úc
2) Trung tâm phát triển của bán đảo Đông Dương sẽ phải đảm đương vai trò
đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước còn lại của bán đảo Đông Dương, hình thành các hành lang duyên hải phát triển đa ngành Hà Nội – Đà Nẵng – TP.HCM và TP.HCM – PhnomPênh – Bangkok
3) Trung tâm của vùng toàn cầu Hồ Chí Minh, là trục phát triển phía Đông của
hành lang bán đảo Đông Dương, đảm trách vai trò tăng tốc quá trình phát triển toàn vùng kinh tế với TP.HCM là trung tâm, bao gồm Đồng bằng sông Cữu Long và vùng Đông Nam Bộ (đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam), vốn đang dần trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu
3.2 Tầm nhìn, mục tiêu, chiến lược quy hoạch đô thị:
3.2.1 Tầm nhìn quy hoạch đô thị: Tầm nhìn là nhân tố có tính quyết định của phát triển Việc nhất trí với tầm nhìn “ Khôi phục vị thế Hòn ngọc Viễn Đông – Xây
dựng TP HCM thành siêu đô thị văn hóa - TP HCM sẽ phát triển thành trung tâm
công nghiệp dịch vụ tiên tiến của khu vực Đông Nam Á, là siêu đô thị chức năng hiện đại với thiết kế đô thị phát huy truyền thống lịch sử văn hóa trên cơ sở vận dụng điều kiện tự nhiên đặc thù của thành phố” là nhận thức có vẻ cũ, nhưng thực
chất là hoàn toàn mới Nó được thai nghén từ suy nghĩ nhằm tránh những gì không
1 Các thông tin sẽ được cung cấp trong chuyên đề này chủ yếu thừa kế từ kết quả của Báo cáo cuối cùng dự
án “Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP.HCM đến năm 2025” (sau đây được gọi là “Dự án
điều chỉnh quy hoạch xây dựng đến 2025”), do Viện Quy hoạch Xây dựng TP.HCM và nhà tư vấn Nikken
Sekkei – Nhật Bản thực hiện, tháng 4 năm 2007.
.
Trang 25hoàn thiện của các đô thị đã rất nổi tiếng như Thượng Hải, Singapore và nghiên cứu thừa kế những truyền thống của TP.HCM Do vậy, cần quan tâm đặc biệt đến tôn
tạo nét văn hóa đã làm nên “Hòn ngọc Viễn Đông” trong mắt quốc tế trước đây
3.2.2 Mục tiêu phát triển: Để thực hiện tầm nhìn tương lai TP.HCM cần đạt tới
các mục tiêu phát triển sau:
1) Xây dựng TP.HCM thành trung tâm công nghiệp, văn hóa của vùng đô thị
TP.HCM, bán đảo Đông Dương và Khu vực Châu Á
2) Xây dựng đô thị 10 triệu dân đóng vai trò là trung tâm công nghiệp tiên tiến
của khu vực
3) Kiểm soát có hiệu quả sự mở rộng đô thị trên cơ sở xem xét tiềm lực đất đai,
tác động môi trường và hiệu quả đầu tư; xây dựng môi trường và cảnh quan hấp dẫn cho lao động và cho du khách từ khắp nơi trên thế giới
4) Cải tạo phát triển khu dân cư giải quyết tình trạng dân số tăng nhanh, đô thị
hóa nhanh chóng và sự thay đổi lối sống của người dân thành phố
5) Nâng cao tính khả thi của đề án quy hoạch chung xây dựng đô thị
3.2.3 Chiến lược phát triển: Nhằm thực hiện những mục tiêu phát triển trên, cần
đề ra chiến lược, phương hướng thực hiện và hành động cụ thể như sau:
1) Xây dựng trung tâm công nghệ tiên tiến của khu vực, hợp nhất với các đô thị
trong vùng đô thị HCM bằng cách xây dựng môi trường sống và làm việc hấp dẫn
2) Thiết lập “khu vực khuyến khích đô thị hóa” và “khu vực đô thị hóa có kiểm
soát” trên cơ sở xem xét điều kiện đất đai và tiềm lực phát triển (Khu vực đô thị có kiểm soát chủ yếu nằm ở khu vực đất xấu nhưng quan trọng đối với việc thoát nước,
ở đó các hoạt động phát triển đô thị được kiểm soát nghiêm ngặt)
3) Xây dựng cấu trúc siêu đô thị chức năng bằng cách thành lập các đô thị mới
và xác định vị trí chiến lược của các KCN/KCX dựa trên mạng lưới giao thông chức năng
4) Xây dựng môi trường sống và làm việc hấp dẫn với cảnh quan đẹp trên cơ sở
vận dụng truyền thống văn hóa lịch sử và điều kiện tự nhiên của thành phố
5) Phát triển khu dân cư có loại hình nhà ở hợp lý và môi trường sống tốt kết
hợp mạng lưới giao thông và dịch vụ đô thị khác
6) Lập quy hoạch chung xây dựng dựa trên các cơ chế khuyến khích và kiểm
soát phát triển đô thị
3.3 Một số đặc trưng về cơ cấu kinh tế xã hội của thành phố:
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội sẽ tạo tiền đề cho quy hoạch xây dựng đô thị Thế nhưng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của TP.HCM đến năm 2020 vẫn đang trong giai đoạn hoàn tất, do đó phải dựa trên Dự thảo của kế hoạch kinh tế xã hội Bản chất của quy hoạch không phải là dự đoán tương lai mà là vạch ra tấm nhìn chiến lược cho tương lai dựa trên việc thu thập, biên tập hợp lý những thông tin, dữ liệu tin cậy Trong nội dung này chúng tôi xin được dừng lại ở những vấn đề kinh tế
xã hội có liên quan trực tiếp đến thiết kế kiến trúc đô thị, trong đó có vấn đề quy
hoạch thoát nước, cụ thể là vấn đề i) dân số và ii) định hướng quy hoạch đô thị , hai
vấn đề này liên quan trực tiếp đến quy hoạch sử dụng đất (Ngô Hoàng Văn, 2006),
mà không dừng lại ở các nội dung thường được đề cập khác
.
Trang 26
3.3.1 Nghiên cứu về dân số: Ngiên cứu về dân số và quy hoạch đô thị TP.HCM
phải lưu ý đến nhận xét ít ngờ tới sau đây “TP.HCM có cấu trúc mất cân đối hiếm
thấy trên thế giới khi có đến hơn 90% cư dân tập trung tại khu vực đô thị hóa với một diện tích chỉ khoảng 7% diện tích toàn thành phố” [19]
1) Dự báo dân số: Năm 2000, dân số TP.Hồ Chí Minh chiếm khoảng 27,5%
tổng dân số đô thị của cả nước Có 3 khả năng về tỷ lệ này đến năm 2025: i) Giảm còn 22,5% thì dân thành phố ước đạt 9,0 triệu người; ii) Tăng lên 32,5 – 13,0 triệu người và iii) Giữ nguyên – 11,0 triệu người Con số giao động giữa 9,0 đến 11,0 triệu có thể xem là dự đoán khả thi nhất và khi đó tỷ lệ tăng dân số trong thời đoạn
2006 - 2025 sẽ nằm trong khoảng 2,4% Nghiên cứu trên cho thấy, xét hiện trạng các quốc gia Châu Á khác, ước đoán tỷ lệ tăng dân số 2,4% ở TP.HCM đến năm
2025 có thể xem là không cao và hợp lý
2) Mật độ dân số khống chế: Tăng trưởng dân số cần được khống chế bằng diện
tích địa lý, mặc dù tỷ lệ tăng dân số dự kiến là hợp lý Mật độ dân số ở TP.HCM đến năm 2025 theo ước tính là 48 người/ha và 72 người/ha nếu không tính huyện Cần Giờ Như vậy là khá thấp so với các thành phố châu Á khác
3) Nghiên cứu cơ bản về phân bố dân số: Kết quả nghiên cứu đã phân TP.HCM
thành 6 phân vùng dân số với quá trình đô thị hóa khác nhau và dự báo về khả năng biến động về mật dộ dân số Theo kết quả này, khu vực nghiên cứu của đề tài nằm trong phân vùng C, gồm các quận 8, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú (nội thành hiện hữu) có mật độ dân số năm 2025 sẽ là 180 – 240 người/ha
Xét xu hướng tăng dân số hiện tại và cấu trúc đô thị thành phố trong tương lai, dự báo phân vùng C sẽ tăng dân số với tốc độ đều đặn và mật độ dân số ở mức 230 –
280 người/ha (209 người/ha vào năm 2005)
3.3.2 Giá trị GDP: Chưa có số liệu dự báo chính thức về GDP của Thành phố đến
năm 2025 Do đó, việc dự báo được thực hiện với sự tham khảo hế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 2006 – 2010 của Bộ hoạch Đầu tư Tỷ lệ tăng GDP trung bình từ năm 2006 tới năm 2025 của TP.HCM dự kiến đạt 9,5% Theo đó, giai đoạn
từ 2006 – 2010 là 11,5% và giai đoạn từ 2011 - 2025 là 8,7% Các giá trị GDP phản ảnh sự chuyển đổi cơ cấu mạnh mẽ của nến kinh tế Tp.HCM theo hướng các ngành dịch vụ cao cấp như tài chính, v.v
3.4 Quan điểm quy hoạch đô thị:
3.4.1 Xác định những vấn đề quy hoạch đô thị: Dựa trên phân tích hiện trạng đô
thị và đánh giá những chủ trương chính sách liên quan của nhà nước, năm vấn đề quy hoạch đô thị đối với Tp.HCM được xác định như sau:
1) Các khu vực có điều kiện đất tốt rất hữu hạn: Phần lớn đất đai của TP.HCM
là những vùng trũng thấp; hơn 50% diện tích đất thành phố có cao trình từ 2m trở xuống so với mực nước biển Đặc biệt, phần đất phía Nam và phía Đông là vùng trũng ngập rất nhạy cảm về mặt sinh thái Dự báo diện tích vùng trũng ngập sẽ tăng lên do sự ấn dần của trái đất Hơn nữa, việc phát triển đô thị ở vùng trũng thấp sẽ
.
Trang 27gây tác động tiêu cực đối với các khu vực xung quanh, như tình trạng ngập thường xuyên do mặt nước bị thu hẹp và sông rạch bị sang lấp
2) Vai trò và chức năng mới của TP.HCM sau khi tái cơ cấu kinh tế gia nhập WTO và AFTA: Chuyển động đó sẽ ảnh hưởng mạnh đến vị trí của các ngành công
nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và sự tăng trưởng của thương mại dịch vụ Do đó, cần biến đổi cấu trúc đô thị và tình hình sử dụng đất thích nghi với những điều kiện kinh
tế xã hội mới
3) Cấu trúc đô thị và cảnh quan tương lai thích hợp với siêu đô thị với dân số
10 triệu người: Dự báo TP.HCM sẽ trở thành siêu đô thị với dân số khoảng 10 triệu
người vào năm 2025 Do vậy, cần nghiên cứu cấu trúc đô thị thích hợp với tình hình trên Ngoài ra, để TP.HCM trở thành trung tâm quan trọng của khu vực Đông Nam
Á thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới, cần tái thiết, tôn tạo cảnh quan đô thị hấp dẫn trên cơ sở xem xét các đặc điểm của thành phố Cấu trúc đô thị phải gìn giữ môi trường thiên nhiên ở những vùng nhạy cảm
4) Chính sách đô thị nhằm thay đổi lối sống người dân trong tương lai: Điều
kiện kinh tế xã hội thay đổi theo chiều hướng ngày một nâng cao sẽ tiếp tục đuợc duy trì và kéo theo sự tăng những nhu cầu mới Do vậy, chính sách quy hoạch đô thị
là phải làm thế nào để đáp ứng những vấn đề này
5) Tính bất khả thi của hệ thống khuyến khích và kiểm soát phát triển đô thị:
Hiện nay hệ thống quy hoạch và phát triển đô thị của Việt Nam hoạt động thiếu hiệu quả và chưa hợp lý Do vậy, để nâng cao tính khả thi của quy hoạch chung xây dựng, cần nghiên cứu và đề xuất một hệ thống khuyến khích và kiểm soát phát triển
đô thị hiệu quả có thể hoạt động tốt trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
3.4.2 Đề xuất quy hoạch thiết kế đô thị
1) Quan điểm thiết kế đô thị cơ bản: Theo quan điểm thiết kế đô thị cơ bản,
thành phố được chia thành 2 nhóm khu vực: Nhóm có điều kiện đất tốt (gồm những khu vực có cao trình 2m so với mực nước biển), cấu tạo bởi các lớp đất có độ nén vừa, có khả năng chịu tải cao (trầm tích Pleistocene), và nhóm có điều kiện đất xấu (những khu vực có cao trình thấp hơn 2m so với mực nước biển), cấu tạo bởi lớp đất xốp, khả năng chịu tải thấp (trầm tich Holocene) Từ đó có 2 quan điểm quy hoạch thiết kế đô thị tương ứng với 2 nhóm điều kiện trên
2) “Vành đai sinh thái”: Địa bàn nghiên cứu nằm trong vùng thiết kế cho khu
vực đất tốt Trong thiết kế đô thị cho nhóm có điều kiện đất tốt, các nhà tư vấn đề
xuất khái niệm “Vành đai sinh thái” Vành đai sinh thái về cơ bản bao gồm các
khoảng không gian trống với nhiều cây xanh và mặt nước sẽ được phát triển chủ yếu ở các khu đô thị phát triển mới theo từng giai đoạn, có thể mở rộng ra các khu vực xung quanh và sau đó là toàn địa bàn thành phố
Vành đai sinh thái là nơi thực hiện nhiều chức năng đô thị đa dạng trong môi trường thiên nhiên xanh, sạch, mang lại lối sống mới cho người dân xung quanh Do vậy, các công trình công cộng như công trình văn hóa và vui chơi, giải trí không gây ô nhiễm môi trường sẽ được phép xây dựng
Ngoài ra, các vành đai sinh thái, tuỳ thuộc vào cấu trúc, đồng thời còn có chức năng chứa nước trong trường hợp mưa ngập Nghĩa là khi khu vực này bị mưa lớn gây
.
Trang 28ngập thì toàn bộ khu vực bao gồm không những hồ sinh thái mà còn cả mảng cây xanh sẽ có chức năng là hồ chứa lưu nước tạm thời
Với ý nghĩa nêu trên có thể dễ dàng nhận thấy rằng nghiên cứu của đề tài do chúng tôi thực hiện sẽ là những bước chuẩn bị cho việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật sinh thái cụ thể vào thiết kế các vành đai sinh thái; trong đó có thiết kế hệ thống hồ điều tiết sinh thái và thiết kế các mảng xanh thực hiện chức năng lưu giữ nước và thanh lọc chất ô nhiễm nhằm đưa năng lực tự làm sạch và điều tiết nước của hệ tự nhiên tham gia vào việc giảm thiểu tình trạng ngập úng và ô nhiễm môi tường
3) Không gian xanh: Quan điểm quy hoạch mới coi không gian xanh và mạng
lưới cây xanh quy mô lớn là những yếu tố thiết kế đô thị quan trọng Quy hoạch
chung không gian xanh ở TP.HCM bao gồm:
- Khu vực bảo tồn thiên nhiên: Ngoài Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ có thể
mở rộng khu rừng bảo tồn rộng lớn ở Bình Chánh và ở một số địa bàn khác, vì ở thành phố có rất nhiểu khu nhạy cảm về sinh thái,
- Mạng lưới cây xanh dọc sông rạch: đặc biệt ở các sông lớn chảy qua thành
phố như sông Sai Gòn và sông Bến Cát,… Đây là thiết kế có vai trò đặc biệt quan trọng trong cảnh quan và bảo vệ môi trường các lưu vực,
- Mạng lưới cây xanh dọc xa lộ liên vùng: Các tuyến giao thông liên vùng sẽ
đảm nhận lưu lượng vận chuyển rất lớn, do đó cần thiết lập vùng đệm cây xanh nhằm đảm bảo chất lượng môi trường ở các khu vực đọc đường,
- Không gian xanh ơ khu vực đô thị có kiểm soát: Đa số các khu vực này đều
nằm trong vùng nhạy cảm về sinh thái Do vậy, môi trường thiên nhiên hiện hữu cần được bảo vệ càng nhiều càng tốt,
- Không gian xanh trong khu vực phát triển theo cụm: Đây là nơi rất nhạy cảm
về mặt sinh thái Do vậy, khi phát triển khu vực này, ngoài việc duy trì diện tích mặt nước, không gian xanh hiện hữu như rừng đước bên trong và bên ngoài khu vực phát triển cần được bảo vệ càng nhiều càng tốt nhằm làm giảm tác động môi trường đối với các vùng xung quanh
4) Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (UHI): Đảo nhiệt đô thị là một khu đại đô thị nóng
lên một cách bất thường hơn so với các vùng xung quanh Hiệu ứng này có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hạnh phúc cư dân, làm gia tăng nguồn năng lượng cung cấp cho máy điều hòa, quạt máy và tủ lạnh hoặc làm thay đổi hệ khí tượng địa phương, chẳng hạn như sự thay đổi cấu trúc gió, sự phát triển của
mây và sương mù, sấm sét và mưa
Nguyên nhân của Đảo nhiệt đô thị là do thiếu hụt thảm thực vật và các vực nước, sự thay đổi tính chất nhiệt của chất bề mặt, thiếu hụt sự bốc hơi nước, sự sản sinh nhiệt bởi các hoạt động của con người, bao gồm sự vận hành xe cộ, máy điều hòa, các
ngành công nghiệp, và v.v…
Cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, vào các năm cuối hiện nay, trung tâm nóng ở vùng Đông Nam Bộ đã chuyển từ Đồng Xoài (Bình Phước) về TP.HCM Phải chăng đó là hậu quả của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị?
.
Trang 29Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến mối tương quan ngược giữa mảng xanh và nhiệt
độ bề mặt đô thị, vùng có mảng xanh thấp thì nhiệt độ bề mặt sẽ cao Nghiên cứu theo hướng này đã được tiến hành ở TP.HCM qua phân tích ảnh viễn thám cũng đi đến kết luận tương tự [Trần Thanh Vân, 2006]
Ở Tokyo, nhiệt độ hàng năm tăng dần kể từ năm 1910 và khoảng năm 1950 sự gia tăng càng trở nên đáng kể Vận tốc gió tối đa bắt đầu giảm từ năm 1960 khi mật độ xây dựng gia tăng đột ngột Vì thế, thời điểm gia tăng nhiệt độ đô thị xảy ra đồng nhất với thời điểm giảm vận tốc gió [18, 20]
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm tăng cường chức năng môi trường của mảng xanh, ngoài chức năng thẫm mỹ cảnh quan của còn làm cho chúng đảm nhận thêm nhiều chức năng khác, trước hết là đưa chúng tham gia vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường qua việc đưa chúng vào các giải pháp kỹ thuật sinh thái chuyên dụng
3.4.3 Kiến nghị cho phát triển bền vững:
1) Những vấn đề mang tính nguyên tắc: Sự thoái hóa môi trường đô thị là kết
quả chủ yếu của họat động phát triển Việc lặp đi lặp lại các biện pháp đơn lẻ đối với các tác động tiêu cực thì sớm hay muộn cũng sẽ bộc lộ hạn chế của nó Đây là
lý do tại sao phải đạt được sự bền vững của cả môi trường và kinh tế-xã hội
Cấu trúc đô thị hay cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường Sự điều chỉnh kết cấu hạ tầng thích hợp là giải pháp môi trường có hiệu quả lâu bền hơn hết Các vấn đề môi trường có thể được tiếp cận từ các quan điểm tích cực làm tăng thêm hay làm giàu đời sống con người,
Cách tiếp cận về “thành phố cộng sinh môi trường” như hiện nay đang thực hiện sẽ
là hiện thực khi thành phố có cấu trúc đô thị có thể giảm thiểu tác động môi trường,
kế đến, thiết lập được cơ sở hạ tầng và có các dự án đáp ứng yêu cầu của môi trường cũng như đóng góp vào sự phát triển của nó và quản lý thành phố không chỉ bằng luật lệ và quy định về môi trường, mà còn các khích lệ người dân tạo ra một môi trường hấp dẫn
2) Cấu trúc và quy hoạch sử dụng đất hợp lý: Như ở phần đầu của chương này
đã đề cập, TP.HCM có cấu trúc đô thị tập trung không bình thường Do vậy, một trong những nội dung quan trọng trong quy hoạch điều chỉnh xây dựng đô thị là
trung thành với khái niệm “Thành phố đa trung tâm gần gũi với môi trường tự
nhiên” Để thực thi khái niệm này cần tuân thủ nghiêm túc các chiến lược sau đây:
- Xây dựng thành phố với cấu trúc đa trung tâm, liên kết với nhau về mặt môi
trường: Hạn chế hiệu ứng đảo nhiệt, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, giảm lượng khí thải CO2;
- Kiến tạo thành phố với các vành đai môi trường sinh thái: Bảo tồn hệ sinh
thái bằng thiết lập mạng lưới cây xanh liên tục; tạo cảnh quan đô thị tiện nghi; nâng hiệu quả môi trường bằng cách tăng diện tích mảng xanh và bảo đảm hành lang đối
.
Trang 30lưu không khí; nâng cao khả năng phòng chống thảm họa như ngập đô thị bằng cách
xây dựng các hồ điều tiết nước mưa;
- Phát triển hạ tầng chiến lược: Xây dựng hệ thống thoát nước bền vững; thiết
lập vỉa hè có cây xanh nhằm giảm tác động môi trường; thiết lập hệ thống giao
thông công cộng theo hành lang phát triển;
- Hướng dẫn giúp hòa hợp với môi trường tự nhiên: Quy hoạch xây dựng các
công trình hòa hợp với tự nhiên, tôn trọng các nguyên tắc sinh thái;
- Ứng dụng hệ thống quản lý môi trường: Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế
môi trường; áp dụng các khu vực do người dân quản lý; ứng dụng công nghệ GIS;
3.4.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng: Đề tài sử dụng kết quả phỏng vấn hộ
gia đình từ Dự án Mục tiêu của cuộc khảo sát phỏng vấn hộ gia đình là nhằm nắm
bắt được ý kiến, nhận định của người dân thành phố liên quan đến các vấn đề hiện
tại của thành phố, viễn cảnh về lối sống của họ trong thời gian tới và hình dung của
họ về hình ảnh thành phố trong tương lai
Cuộc khảo sát được tiến hành trên 2.000 hộ gia đình thuộc 50 phường của 10 quận
huyện Người được phỏng vấn thuộc nhiều thành phần dân cư với nhiều trình độ và
hoàn cảnh sống khác nhau, do vậy có thể được xem là tiêu biểu cho mọi tầng lớp cư
dân thành phố
1) Kết quả khảo sát phỏng vấn hộ gia đình: Kết quả được trình bày ở bảng
(3.1.) cho thấy, chất lượng dịch vụ cấp điện được đánh giá cao nhất, với 64,9% số
người trả lời là “rất tốt” hoặc là “tốt”
Bảng 3.1: Đánh giá chất lượng các dịch vụ đô thị hiện nay
Đánh giá (%)
Điểm trung bình
Nguồn: Khảo sát phỏng vấn hộ gia đình Nikken Sekkei, 2006
Trái lại chất lượng dịch vụ về thoát nước và kiểm soát úng ngập được đa số đánh
giá là kém và rất kém, nhất là ở các quận Tân Bình, Bình Thạnh và các quận ven đô
như Thủ Đức, Củ Chi, Bình Chánh Tiếp theo là dịch vụ cây xanh có đánh giá thấp
ở nhiều nơi và thấp nhất là ở quận 10 Điều đó khẳng định việc những người thực
hiện đề tài đã chọn địa bàn nghiên cứu này là vùng giáp ranh của 2 quận Tân Bình
.
Trang 31và Bình Thạnh là hợp lý, nếu xét về tính cấp thiết nhằm giải quyết vấn đề úng ngập
và môi trường Kết quả khảo sát sẽ được sử dụng cho điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch cơ sở hạ tầng trong đó có vấn đề thoát nước chống ngập trong tương lai
2) Một số giải pháp định hướng: Nhiều vấn đế có liên quan với nội dung tìm
kiếm các giải pháp giảm ngập Tuy nhiên trong phạm vi đề tài cần lưu ý 2 vấn đề liên quan đến thoát nước mưa đó là: Cải tạo kênh rạch đòi hỏi khoản kinh phí lớn nên cần nghiên cứu trên cơ sở cắt giảm chi phí Giải pháp được lựa chọn là cải tạo kênh rạch kết hợp xây hồ điều tiết lũ lụt hoặc hồ điếu tiết tại chỗ kết hợp với chức năng giải trí, và giải pháp này nên có quy chế buộc các chủ đầu tư đưa vào mọi dự
án phát triển đô thị
Trong lập kế hoạch cải tạo kênh rạch hoặc hồ điều tiết giảm ngập, điều quan trọng
là phải nghiên cứu vấn đề môi trường và xây dựng không gian tiện ích công cộng như xây bờ kênh hài hòa với hệ sinh thái Quan trọng là phải xem mạng lưới kênh
rạch là cấu thành của “mảng xanh đô thị” và là vô giá của TP.HCM Quy hoạch
thoát nước và quy hoạch mảng xanh có ý nghĩa to lớn trong quản lý môi trường đô thị, chúng cần được gắn với nhau trong mục tiêu giảm thiểu ngập úng, khống chế hiệu ứng đảo nhiệt và quản lý tác động của nguồn ô nhiễm phân tán đối vối các thủy vực
Như vậy, để thực hiện “thành phố cộng sinh môi trường” cần thiết phải giải quyết
các vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau bao gồm sử dụng đất thích hợp, xây dựng
cơ sở hạ tầng, thiết lập hướng dẫn có sự tham gia của công dân và nghiên cứu phát triển kỹ thuật Tuy khác nhau về cơ sở pháp lý và các cơ quan có thẩm quyền có
liên quan, nhưng ba loại quy hoạch, bao gồm Quy hoạch kinh tế xã hội, Quy hoạch
xây dựng đô thị và Quy hoạch sử dụng đất đều nhằm vào mục tiêu chung là phát
triển mở rộng đô thị Chính sách môi trường bao quát các vấn đề này nên được thi hành một cách hiệu quả bằng cách hệ thống hóa chúng với một chương trình hành động thực tiển, trong đó thoát nước đô thị bền vững nhằm chống ngập và giải quyết các vấn đề ô nhiễm là hành động cấp bách ở TP.HCM
.
Trang 32Chương 4: CHIẾN LƯỢC VÀ DỰ ÁN THOÁT NƯỚC Ở TP.HỒ CHÍ MINH
4.1 Vắn tắt về thoát nước ở Việt Nam: Các công trình thoát nước và vệ sinh môi
trường là một trong các hệ thống cơ sở hạ tầng hết sức quan trọng nhằm giảm thiểu những mặt tiêu cực do quá trình đô thị hóa gây ra và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống Thoát nước là ngành khoa học phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên và mang tính xã hội hóa sâu sắc Để cho các giải pháp công trình hoạt động
có hiệu quả đòi hỏi vừa phải tiếp cận kịp thời những tiến bộ kỹ thuật, những công nghệ mới của thế giới, vừa phải thành thạo trong thực hành, biết gắn lý thuyết với thực tiển của đất nước
Ở Việt Nam, đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước có thể chia làm 2 thời kỳ chính: thời kỳ từ 1945 trở về trước và thời kỳ từ 1975 đến nay; còn từ 1945 đến 1975 là thời kỳ làm chiến tranh nên việc xây dựng hạng mục này tuy là có nhưng khối lượng rất nhỏ (Trần Văn Mô, 2002) Tuy nhiên ở mổi miền Nam, Bắc cũng đã tiếp cận với quan điểm và giải pháp tiêu thoát nước phổ biến thời bấy giờ trên thế giới
Ở miền Bắc tiếp cận chủ yếu với tiến bộ khoa học trong lĩnh vực này từ Liên Xô cũ,
đã có nơi xây dựng hệ thống tách rời nước mưa và nước thải Những phần đạt mục tiêu và những gì chưa đạt đều chưa được đánh giá Nhưng nhìn chung các công trình thoát nước đô thị chưa có điều kiện phát triển, thêm vào đó, ở cả 2 miến đất nước chúng còn bị tàn phá do chiến tranh
Sau chiến tranh, công cuộc xây dựng được triển khai trên khắp mọi nơi, tuy nhiên chưa có những chuyển biến về chất một cách đáng kể; tình hình ngập nước khi mưa,
hệ thống tiêu thoát nước vẫn đang còn bất cập, chưa đáp ứng cho nhu cầu phát triển nhanh của các trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa từ trung ương đến địa phương
Đề tài xin được phép không đi sâu thêm về vấn đề của cả nước
4.2 Thoát nước đô thị TP.Hồ Chí Minh:
4.2.1 Về dự án thoát nước TP.Hồ Chí Minh: Văn bản chính thức có giá trị và
quan trọng nhất đề cập đến Hệ thống thoát nước mưa và nước thải Đô thị Tp Hồ
Chí Minh là Quyết định 752/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
“Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”
ký ngày 19 tháng 6 năm 2001 Cho đến hiện nay, Quy hoạch tổng thể này đang là văn bản pháp lý chính thức làm cơ sở cho UBND thành phố chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành có chức năng quản lý đầu tư cải tạo và phát triển đô thị nói chung và xây dựng hệ thống thoát nước thống nhất trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và về nguyên tắc sẽ được thực hiện đến năm 2020 Đồng thời, văn bản này còn là cơ sở hướng dẫn triển khai đầu tư của các Dự án cụ thể nhằm từng bước cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước, cải thiện môi trường nước của thành phố
Từ 1992, nghị quyết 01/BCT của Bộ Chính trị (khóa V) đã xác định: “TP Hồ Chí
Minh là một trung tâm kinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước
ta Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội”
.
Trang 33Tại quyết định số 123/ QĐ -TTg ngày 10 tháng 07 năm 1998 về việc phê duyệt
“Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” của Thủ
tướng Chính phủ một lần nữa đã “xác định vị trí, vai trò đặc biệt của thành phố trong mối quan hệ với vùng trọng điểm phía Nam, với cả nước và quốc tế, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợp tốt giữa xây dựng, phát triển với bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữa cải tạo với xây dựng mới, để khắc phục những bất hợp lý của thành phố do lịch sử để lại, nhằm xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đô thị vừa hiện đại vừa có bản sắc dân tộc, là một trung tâm kinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của cả nước, có vị trí chính trị quan trọng của nước ta ở phía Nam, với cả nước trong khu vực và quốc tế ”,…
Liên quan đến thoát nước, nghị quyết đã viết: ”… Cải tạo, xây dựng hệ thống thoát nước mưa, trong đó tại khu vực nội thành cũ vẫn sử dụng hệ thống cống chung thoát nước mưa, nước bẩn; tại khu xây dựng mới sử dụng hệ thống cống kín thoát nước mưa, nước bẩn riêng, kết hợp sử dụng hệ thống thoát nước hở gồm các sông, kênh rạch, hồ chứa nước hiện có; cải tạo, xây dựng mới hệ thống hồ điều hòa, kết hợp với việc tạo cảnh quan và cân bằng đào đắp cục bộ nền xây dựng đô thị và các khu công nghiệp; xây dựng các đường ven sông, rạch tại các khu vực nội thành, kết hợp với việc xây kè và bó vỉa, trồng cây xanh”,…
Và về định hướng thoát nước bẩn và vệ sinh đô thị: “…Cải thiện từng bước tình hình ô nhiễm trên các kênh rạch bằng các giải pháp xử lý cục bộ các chất thải; cải tạo và nâng cao năng lực thoát nước của các kênh rạch để tự làm sạch; tăng cường giải pháp xử lý cục bộ nước thải ở cả 2 khu vực nội thành cũ và nội thành mới; tại khu vực nội thành cũ xây dựng hệ thống công trình cơ bản, các tuyến cống bao để tách đại bộ phận nước thải đến nơi xử lý; tại các khu vực nội thành mới xây dựng hệ thống riêng thoát nước bẩn “,…
Sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số của thành phố thúc đẩy tăng nhanh tốc độ đô thị hóa, trong khi đó cơ sở hạ tầng đã phát triển không tương xứng, trong đó có hệ thống thoát nước mưa và nước thải Lượng mưa lớn, bị ảnh hưởng trực tiếp của chế
độ thủy triều, do đó không những ở những nơi có cao độ mặt đất thấp thường bị ngập, mà ở vùng cao cũng tồn tại cả trăm điểm ngập
Một cách chi tiết hơn, hệ thống thoát nước mưa và nước thải của thành phố ngay từ khi mới hình thành, được thiết kế là hệ thống cống chung, đã được chính quyền thời Pháp xây dựng từ những năm 1870 và được các chính quyền thời chế độ cũ cải tạo
từ thập niên 1950 đến năm 1975 Các công trình thoát nước này chỉ được thiết kế cho quy mô 1,5 triệu dân, phần lớn đã xuống cấp; nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp thải trực tiếp vào các nguồn nước sông, kênh, rạch, ao hồ mà không có nhà máy xử lý nước bẩn Chất lượng nước của các thủy vực ngày càng xấu đi đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường vệ sinh của dân cư
Từ sau 1975 đến nay, Tốc độ đô thị hóa cao, nội thị TP.HCM từ 35km2 đã tăng lên 140km2, trong khi đó hệ thống thoát nước đã không theo kịp tốc độ đô thị hóa, bên
.
Trang 34cạnh đó là đã sai lầm trong việc kéo dài và ghép nối tuỳ tiện hệ thống thoát nước mới vào hệ thống cũ Sự việc này vừa là tiền đề vừa là nguyên nhân chính đưa đến tình trạng dẫn nước từ vùng cao về gây ngập cho vùng trung tâm và hạ du Kết quả làm cho mức độ ngập, thời gian ngập và diện ngập ngày càng nghiêm trọng hơn Lãnh đạo các cấp của thành phố đã hết sức cố gắng tập trung nỗ lực cùng với nhân dân duy trì, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và hệ thống thoát nước, vệ sinh môi trường đô thị nói riêng, nhưng do khó khăn về vốn đầu tư, về năng lực quản lý và một số trở ngại khách quan,… kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế phát triển của Thành phố
Những năm gần đây, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Á Châu và các Nhà tài trợ quốc tế trong quan hệ song phương, hoặc đa phương khác đang lập kế hoạch hoặc đang thực hiện các Dự án riêng cho từng lưu vực để cải tạo môi trường nước ở
thành phố HCM…, tất cả đều hướng tới quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước
TP Hồ Chí Minh một cách hệ thống và toàn diện hơn
4.2.2 Phân vùng thoát nước: Vùng thoát nước được nghiên cứu có diện tích
khoảng 650 km2 với tọa độ địa lý 10o40' đến 10o55' vĩ độ Bắc và từ 106o35' đến
106o55' kinh độ Đông, bao gồm khu vực nội thành hiện hữu và vùng phụ cận nằm trong vùng Đông Bắc của đồng bằng Mêkông và có cao độ mặt đất khoảng từ +0,5 đến +30 m so với mực nước biển trung bình, độ dốc địa hình của khu vực nói chung
từ Bắc-Đông Bắc đến Tây-Tây Nam Theo báo cáo về hệ thống thoát nước của TP
Hồ Chí Minh do JICA soạn thảo, có thể lấy sông Sài Gòn làm ranh phân thành 2 vùng thoát nước chính là (Hình 4.1)
- Vùng phía bờ Tây của sông Sài Gòn và nối tiếp với sông Nhà Bè,
- Vùng phía bờ Đông của sông Sài Gòn
Hình 4.1: Bản đồ phân vùng thoát nước TP.Hồ Chí Minh
.
Trang 35Cùng với quá trình đô thị hóa ở hiện tại cũng như trong tương lai, một cách chi tiết hơn, hệ thống thoát nước mưa hiện hữu có thể được phân thành 6 vùng thoát nước:
(1) Vùng thoát nước mưa trung tâm thành phố (vùng C): Vùng này gồm toàn bộ
trung tâm thành phố và các kênh chính trong vùng là Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Tân Hoá-Lò Gốm, Tàu Hũ-Bến Nghé và Đôi-Tẻ Hệ thống mạng lưới cống chung được xây dựng từ những năm 1870 (thời thuộc Pháp), gồm tuyến cống chính dài 93km và các tuyến cống cấp hai dài trên 930km Những tuyến cống này xả nước mưa và nước thải vào các kênh trên qua 93 miệng xả Cuối cùng, những kênh này xả ra sông Sài Gòn
(2) Vùng thoát nước mưa phía Bắc thành phố (vùng N): Đây là khu vực ngoại
thành phía Bắc với các kênh chính là Tham Lương-Bến Cát, Đại Hàn, Bến Đá-Bà Hồng Trong vùng này chỉ có quận Gò Vấp là có cống thoát nước dọc bờ phải kênh Tham Lương-Bến Cát, các khu vực khác vẫn chưa có hệ thống cống Nước mưa được thu từ cống, rãnh và rạch xả trực tiếp vào các kênh chính nói trên và thoát ra
sông Sài Gòn
(3) Vùng thoát nước mưa phía Tây thành phố (vùng W): Đây là vùng đất thấp
dọc rạch Chùa-Nước Lên Các kênh chính trong vùng là Rạch Chùa-Nước Lên, sông Bến Lức và Cần Giuộc Vùng này chưa có hệ thống cống thoát nước, ngoại trừ một số tuyến cống được lắp đặt cho các khu đô thị mới ở Bình Chánh Nước mưa và nước thải theo các rãnh, rạch thoát ra sông Bến Lức và Cần Giuộc, sau cùng chảy ra
sông Nhà Bè
(4) Vùng thoát nước mưa phía Nam thành phố (vùng S): Các kênh chính trong
vùng là rạch Bà Lào, Xóm Củi, Ông Lớn, Cây Khô, rạch Đĩa, sông Mương Chuối Đây là vùng đất thấp với hệ thống kênh rạch dày đặc và chủ yếu là đất nông nghiệp Trong những năm gần đây, vùng này có một số dự án phát triển kinh tế do nước ngoài đầu tư Nước mưa và nước thải theo các kênh rạch nhỏ thoát ra các kênh trên
và cuối cùng chảy ra sông Nhà Bè
(5) Vùng thoát nước mưa Đông Bắc thành phố (vùng NE): Các kênh rạch chính
là Gò Dưa, Nhum, Cầu, và Gò Công Vùng này chủ yếu là đất nông nghiệp và đôi khi bị ngập do nước sông Sài Gòn khi triều cao tràn vào vì không đủ hệ thống đê bao dọc sông
(6) Vùng thoát nước mưa Đông Nam thành phố (vùng SE): Vùng này có mạng
lưới kênh rạch dày đặc và các kênh chính Rạch Chiếc, Ông Hồng, Kiêu, Ông Nhiêu, Trau Trảu và sông Tắc Vùng này chủ yếu là đất nông nghiệp và một số khu dân cư vừa được phát triển gần đây Khu vực này không có tuyến cống thoát nước nhưng
có mạng lưới kênh rạch rất dày đặc Nước mưa và nước thải theo các mương rãnh thoát ra các kênh rạch nói trên rồi chảy ra sông Sài Gòn và Đồng Nai
4.2.3 Tóm tắt hệ thống thoát nước của TP.Hồ Chí Minh 2 :
• Hệ thống cống thoát nước: Hệ thống thoát nước do Công ty thoát nước đô
thị (TNĐT) quản lý có chiều dài tổng cộng khoảng 777 km cống cấp 2 và cấp 3 Có 39.000 hầm ga các loại và 412 cửa xả Ngoài ra còn có hệ thống cống cấp 4 do Quận, Huyện quản lý dài khoảng 420 km Đa số trong chúng được xây dựng trên 40
2 Dẫn liệu chủ yếu được khai thác từ Chương trình phát triển hệ thống thoát nước trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh năm 2001 – 2005: (Nguyễn Văn Quốc, Trưởng phòng QLCTN Sở Giao thông Công chánh TP.Hồ Chí
.
Trang 36năm, trong đó có 60 km cống vòm được xây dựng từ những năm 1870 cho nên đến
nay đã xuống cấp trầm trọng
Ngoài các Quận trung tâm như Quận 1,3 và 5 có mạng lưới cống tương đối đầy đủ,
ở các khu vực còn lại, việc xây dựng hệ thống cống từ trước đến nay không theo qui hoạch thống nhất, có tính chất tự phát, chắp vá theo sự phát triển của các khu dân cư mới nên không đảm bảo được yêu cầu thoát nước Mặt khác, sự hình thành các khu dân cư đô thị mới làm giảm diện tích mặt phủ tự nhiên tạo sự quá tải cho hệ thống cống hiện hữu
Hệ thống cống thoát nước chính ở thành phố Hồ Chí Minh là hệ thống chung, thu tất cả các loại nước thải sinh hoạt dân dụng, công nghiệp, bệnh viện và nước mưa Chất lượng cống cũng như mật độ rất không đều Khu vực nội thành còn khỏang 30% diện tích không có cống thoát nước Các khu vực ven nôi thành, các quận mới
và ngoại thành hầu như không có cống hoặc có nhưng mật độ rất thấp, nước thải ngấm trực tiếp vào lòng đất, chảy tràn lan gây ô nhiễm môi trường
Hình 4.2: Bản đồ hệ thống thoát nước TP.HCM Thời gian gần đây, trong quá trình phát triển, Thành phố đã có một số khu dân cư-công nghiệp tập trung đã xây dựng hệ thống cống riêng cho nước mưa và nước thải
và có hệ thống xử lý nước thải cục bộ Tuy nhiên về tổng thể, hệ thống xử lý nước
thải chung của thành phố chưa có nên toàn bộ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải y tế và nước mưa đều chảy qua cống để ra kênh rạch gây ô nhiễm trầm trọng đối với môi trường Sông Sài Gòn, Nhà Bè và một số sông khác trở
thành nơi tiếp nhận nguồn nước được thoát mà hầu như chưa được xử lý của cả thành phố
• Mạng lưới kênh rạch: TP Hồ Chí Minh có trên 1.200 km sông rạch có thể
dùng để giao thông thủy, trong đó ngành đường biển quản lý khoảng 140 km, Trung
.
Trang 37ương quản lý 200 km đường sông, còn lại 700 km do Khu Đường Sông quản lý,
trong đó có khoảng 57 km phục vụ cho công tác thoát nước nội thành Toàn thành
phố có hệ thống kênh thoát nước với tổng chiều dài lớn hơn 310km Các hệ thống
chính được tóm tắt dưới đây:
Bảng 4.1: Các hệ thống kênh rạch chính của TP.Hồ Chí Minh
Vùng
Chiều dài (km)
Diện tích lưu vực
2 Tàu Hũ - Bến Nghé -Đôi Tẻ Trung tâm 12,2 13,6 61,73 4, 5, 6, 7, 8, 11, và Bình Chánh
3 Nhiêu Lộc - Thị Nghè Trung tâm 31,7 9,40 1,3,10, Phú Nhuận, Tân Bình, Gò Vấp
TânBình,BìnhChánh
6 R.Tân - R.Cá Cam -R.Roi-Tom-M Chuối Phía Nam 34,5 11,92 7 và Nhà Bè
Theo điều tra, các tuyến kênh rạch trong nội thành đã bị lấn chiếm rất nghiêm trọng
Có khoảng trên 30.000 căn hộ xây cất lấn chiếm kênh rạch Thời gian qua, Thành phố đã quyết tâm và dồn nhiều kinh phí, công sức để thực hiện thành công chương trình giải tỏa chỉnh trang kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè Tuy nhiên, tình trạng nhà lấn chiếm kênh rạch đang được giải quyết trong nội thành thì nay lại đang phát triển ở ngoại thành và các Quận mới được thành lập Kênh rạch ngày càng bị mất dần do
đô thị hoá gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết thoát nước (Vùng ven, ngoại thành thi nhau xuống rạch xây nhà - SGGP: cập nhật ngày 12/4/2007)
Một số chi lưu đảm nhận nhiệm vụ là mạng lưới thoát nước cấp 1 như rạch Xuyên Tâm, rạch Cầu Sơn, rạch Văn Thánh, rạch Bàu Trâu, kênh Nước Đen,… hiện đã bị lấn chiếm, san lấp và bồi lắng đến mức không còn tiếp nhận được nước mưa và nước thải Ngoài ra, do công tác quản lý đô thị chưa tốt và ý thức người dân chưa cao, sông rạch của thành phố còn gánh chịu nhiều loại chất thải, ước tính có khoảng
100 tấn rác đã được đổ xuống kênh rạch hàng ngày vừa làm cản trở dòng chảy, vừa gây ô nhiễm và mất mỹ quan đô thị
• Lưu vực thoát nước: Nội thành Thành phố rộng hơn 14.000 ha, trong đó bao
gồm các lưu lực thoát nước chính như sau:
- Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè dài 31,7km, lưu vực 3.320 ha
- Kênh Tân Hoá – Ông Buông - Lò Gốm dài 7,7 km, lưu vực 1.500 ha
- Kênh Tàu Hũ-Bến Nghé, Kinh Đôi-Tẻ dài 25,8 km, lưu vực 3.065 ha
- Kênh Tham Lương – Bến Cát - dài 32,95 km, lưu vực 3.000 ha
• Tình trạng ngập: Mỗi năm TP HCM chịu nhiều trận ngập nghiêm trọng
không chỉ trong mùa mưa (tháng 6 đến tháng 11) mà còn trong mùa triều cao (tháng
.
Trang 389 đến tháng 01 năm sau) Có nhiều nguyên nhân phức tạp gây ra ngập được phân thành ba loại chính Trước hết, ngập do nước triều của các sông rạch chung quanh lên cao Suốt trong mùa triều cao, loại ngập này thường xuyên xảy ra ở các khu vực đất thấp kể cả các khu dự kiến phát triển trong tương lai Thứ hai là loại ngập ở các vùng đất cao do mưa lớn mà lại không đủ hệ thống thoát nước Trận ngập tiêu biểu cho loại này là trận ngập vào ngày 28/7/1994 (tần suất 5 năm, lượng mưa ngày 162,2mm) đã ảnh hưởng khu trung tâm thành phố Sau cùng là ngập do sự kết hợp hai nguyên nhân trên Trận ngập tiêu biểu cho loại này là trận ngập vào tháng 11 năm 1996, kéo dài một tháng từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 11 đặc biệt ở vùng phía Tây và phía Nam thành phố
Hình 4.3: Phân vùng ngập do các tác động của mưa và thủy triều
Diện tích ngập vào khoảng 34,61km2 diện tích xây dựng (20% diện tích khu vực) và 230,3km2 diện tích nông nghiệp (56% diện tích khu vực) Trên địa bàn thành phố còn tồn tại trên dưới 100 điểm ngập úng khi mưa và do triều cường Con số thống
.
Trang 39kê này luôn thay đổi, một số điểm đã được xóa, nhưng một số điểm mới xuất hiện
Cứ sau một cơn mưa không nhất thiết là quá lớn, thì hôm sau trên một số tờ báo đã
có đăng tin về tình trạng ngâp
Dân cư trong các khu vực ngập đã gặp nhiều trở ngại trong việc lưu thông, sinh hoạt Đồng thời, do cống chung chứa cả nước thải nên tình trạng ngập cũng gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân
• Nguyên nhân gây ngập: Có nhiều nguyên nhân gây ngập, tuy nhiên, theo
báo cáo mới nhất do Sở Giao thống Công chính tổng hợp có thể được tóm tắt như
sau:
- Nguyên nhân khách quan: Do điều kiện tự nhiên, ngập xảy ra do Mưa, Triều
và sự kết hợp giữa Mưa và Triều Những vùng ngập theo các nuyên khác nhau được thể hiện trên bản đồ (xem hình 4.3) Mưa ở Thành phố đặc trưng bởi mưa tập trung thành từng trận với cường độ mưa cực đại tại thời gian đầu của trận mưa Trong những năm gần đây, tổng lượng mưa không tăng, nhưng số trận mưa có vũ lượng lớn (trên 60mm) xuất hiện nhiều hơn trước
Ảnh hưởng của thủy triều thường xảy ra đối với khu vực có cao độ mặt đất thấp (<+1,4m) và hệ thống kênh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, mực nước luôn biến động theo không gian và thời gian rất phức tạp Trong khi đó, thành phố còn nhiều khu vực có cao độ mặt đất thấp hơn mực nước triều cường
Hệ thống thoát nước lâu năm đã quá cũ, còn thiếu về mật độ và về tiết diện hư hỏng
nhiều ở hệ thống cống vồm cũ
Chịu ảnh hưởng từ các lưu vực thượng nguồn dồn về lưu lượng nước lớn và nhiễm
bẩn trầm trọng
Tình trạng bồi lắng và lún sụt tự nhiên
Tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng quá nhanh gây nên tình trạng ách tắt việc thi công
cơ sở hạ tầng thoát nước
Vấn đề ngập luôn được quan tâm tối đa và xem xét trong mối quan hệ cường độ mưa – mực nước kênh – điểm ngập và xác định nguyên nhân ngập đặc trưng từng lưu vực
Nghiên cứu gần đây nhất tại lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè cho thấy: Trong năm
2005 lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè bắt đầu triển khai thi công các hạng mục của dự
án nên việc thi công gây ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước đang vận hành là điều khó tránh khỏi Để đánh giá mức độ ngập trong năm 2005 có thể xem xét các tuyến đường có tần suất ngập nhiều như: Đinh Tiên Hoàng (5 lần), Xô Viết Nghệ Tỉnh (7 lần), Bạch Đằng – Tân Bình (11 lần), Công viên Hoàng Văn Thụ (6 lần), D2 (7 lần) Tổng hợp các số liệu quan trắc có thể đưa ra một số nhận xét sau:
.
Trang 401) Các trận mưa lớn gây ngập đa phần rơi vào thời điểm triều thấp nên chưa thấy rỏ sự ảnh hưởng của mực nước kênh đến mức độ ngập
2) Mức độ ngập và thời gian nước rút chịu ảnh hưởng lớn từ cường độ mưa và
vũ lượng
3) Phân tích trên cho thấy nguyên nhân ngập đặc trưng của các điểm ngập trên lưu vực chủ yếu là do cống không đủ kích thước để thóat nước cho lưu vực
- Nguyên nhân chủ quan: Quản lý đô thị chưa tốt Các tuyến kênh rạch trong
nội thành đã bị lấn chiếm, xả rác gây tắt ngẽn rất nghiêm trọng Có khoảng trên 30.000 căn hộ xây cất lấn chiếm kênh rạch Phát triển không theo quy hoạch làm tăng mặt bằng không thấm, nhiều hệ thống cống, cửa xả không còn khả năng nhận nước
Các dự án quan trọng nhằm giải quyết thoát nước còn đang ở giai đoạn khởi động Ngoài ra, do công tác quản lý đô thị chưa tốt và ý thức người dân chưa cao
Về quản lý của các cán bộ chuyên ngành còn yếu, thời gian dài đã buông lỏng công tác quản lý nên hệ thống cống và kênh rạch đã bị lấn chiếm nghiêm trọng Việc lập
và thực hiện các Dự án thoát nước còn chậm và kéo dài
Hàng năm nguồn ngân sách đầu tư cho ngành thoát nước có hạn nên các dự án mang tính cách giải quyết tạm thời, chắp vá, chưa đạt được tầm chiến lược lâu dài,
cá biệt có dự án trở thành lãng phí do chưa định hướng được tầm phát triển trong tương lai
Việc xây dựng các công trình đô thị còn nhiều chồng chéo giữa các cơ quan với nhau, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị xây dựng và quản lý hạ tầng
kỹ thuật như cấp nước, chiếu sáng, điện lực, điện thoại,… dẫn đến tình trạng lãng phí và mất nhiều thời gian khi cần phải sửa chữa sự cố của hệ thống thoát nước
Công tác duy tu thời gian qua được thanh toán theo khối lượng bùn nạo vét mà không căn cứ vào kết quả giải quyết ngập nên chưa đạt được hiệu quả mong muốn Việc nạo vét được thực hiện chủ yếu bằng thủ công, ít có cải tiến và không phát huy, sử dụng hết công suất thiết bị xe máy hiện có
4.2.4 Giải pháp quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước mưa đô thị
• Các giải pháp theo vùng: Dự án thoát nước đô thị đến năm 2020 đã tách
riêng một phần quan trọng để nói về thoát nước mưa Căn cứ tình hình đô thị hóa nhanh chóng và tình trạng ngập của mỗi vùng, đề nghị áp dụng giải pháp thoát nước thống nhất bao gồm biện pháp xây dựng hệ thống thoát nước và không xây dựmg hệ thống thoát nước, triệt để tận dụng điều kiện thoát nước tự nhiên Cơ sở cơ bản để chọn lựa các giải pháp hoàn chỉnh cho từng vùng như sau:
- Đối với khu đô thị hiện hữu: Nước mưa phải được tiêu thoát nhanh chóng
bằng các biện pháp xây dựng công trình thoát nước để giảm các thiệt hại do ngập úng
.