1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp

148 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa (Symphysodon spp.)
Tác giả CN. Phạm Thị Thanh Thúy, TS. Phan Đình Pháp, CN. Nguyễn Thị Loan, CN. Huỳnh Thanh Vân, CN. Lê Thiên Hoàng Ân
Trường học Sở Khoa Học Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Vài nét về nghề cá cảnh (15)
    • 1.1.1. Tiềm năng (15)
    • 1.1.2. Hướng phát triển (16)
  • 1.2 Đặc điểm sinh học của cá dĩa (Symphysodon spp.) (18)
    • 1.2.1 Phân loại (18)
    • 1.2.2 Phân bố - Sinh thái (20)
    • 1.2.3 Môi trường sống (20)
    • 1.2.4 Hình thái cấu tạo (21)
      • 1.2.4.1 Hình thái bên ngoài (21)
      • 1.2.4.2 Cấu tạo ống tiêu hóa (21)
      • 1.2.4.3 Hình dạng bộ máy sinh dục (21)
    • 1.2.5 Dinh dưỡng (22)
      • 1.2.5.1. Tính ăn của cá Dĩa (22)
      • 1.2.5.2. Chuyển biến tính ăn (22)
    • 1.2.6 Tăng trưởng (23)
    • 1.2.7 Sinh sản (23)
  • 1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cá dĩa (24)
    • 1.3.1 Nhu cầu protein (25)
    • 1.3.2 Nhu cầu lipide (25)
    • 1.3.3 Nhu cầu carbohydrat (26)
    • 1.3.4 Nhu cầu vitamin (26)
    • 1.3.5 Nhu cầu khoáng (26)
    • 1.3.6 Nhu cầu năng lượng (26)
  • 1.4 Nhóm nguyên liệu sử dụng trong chế biến thức ăn của cá dĩa (27)
    • 1.4.1 Nhóm thực liệu cơ bản (27)
      • 1.4.1.1 Thực liệu cung cấp protein động vật (27)
      • 1.4.1.2 Thực liệu cung cấp protein thực vật (28)
      • 1.4.1.3 Thực liệu cung cấp lipid (29)
      • 1.4.1.4 Thực liệu cung cấp carbonhydrat (0)
      • 1.4.1.5 Thực liệu cung cấp vitamin (29)
      • 1.4.1.6 Thực liệu cung cấp khoáng (29)
    • 1.4.2 Nhóm chất bỗ sung (0)
      • 1.4.2.1 Enzyme (30)
      • 1.4.2.2 Premix vitamin – khoáng (30)
      • 1.4.2.3 Nhóm chất bảo quản (31)
      • 1.4.2.4 Chất kết dính (31)
      • 1.4.2.5 Chất dẫn dụ (31)
  • 1.5. Cơ sở nghiên cứu và sử dụng kích dục tố kích thích chin và rụng trứng trong sinh sản nhân tạo các loài cá (31)
    • 1.5.1. Vai trò của hormon đối với quá trình chín và rụng trứng cá (31)
      • 1.5.1.1 Vai trò của hormon đối với sự tạo noãn hoàng (31)
      • 1.5.1.2 Hormon điều khiển sự kết nạp chất noãn hoàng (Vg) vào noãn bào (31)
      • 1.5.1.3 Sự thành thục chín và rụng trứng (32)
    • 1.5.2. Cơ sở sử dụng kích dục tố trong sinh sản nhân tạo cá (0)
  • Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (14)
    • 2.1 Đối tương nghiên cứu (36)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (36)
    • 2.3 Vật liệu, hóa chất, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu (36)
      • 2.3.1 Vật liệu, hóa chất (36)
      • 2.3.2 Dụng cụ, thiết bị (37)
    • 2.4 Nội dung nghiên cứu (37)
    • 2.5 Phương pháp nghiên cứu (37)
      • 2.5.1 Phương pháp thí nghiệm (37)
        • 2.5.1.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất cá dĩa (Symphysodon ssp.) ở Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận (37)
        • 2.5.1.2 Nội dung 2: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu qu ả sản xuất cá dĩa (38)
    • 2. Thí nghiệm 2: Thí nghiệm về thức ăn cho cá giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi (41)
    • 3. Thí nghiệm 3: TN về thức ăn giai đoạn cá sinh sản và thành thục 8-12 tháng (44)
    • 4. Thí nghiệm 4: Thí nghiệm về hormon trong sản xuất giống (47)
    • 5. Thí nghiệm 5: Thí nghiệm so sánh một số kỹ thuật trong quy trình sản xuất giống.34 (48)
      • 2.5.1.3 Một số phương pháp sử dụng chung cho các thí nghiệm (52)
    • 1. Chăm sóc cá và ghi nhận kết quả thí nghiệm (52)
    • 2. Phương bố trí thí nghiệm và xử lý số liệu (52)
    • 3. Phương pháp xây dựng công thức thức ăn (53)
  • Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (35)
    • 3.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất cá dĩa (Symphysodon spp.) ở Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận (55)
      • 3.1.1 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ cá dĩa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (55)
        • 3.1.1.1 Qui mô sản xuất của các cơ sở sản xuất cá dĩa (55)
        • 3.1.1.2. Kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh của các cơ sở (57)
        • 3.1.1.3. Lực lượng lao động và trình độ chuyên môn của các cơ sở nuôi cá dĩa (58)
    • 1. Lực lượng lao động (58)
    • 2. Trình độ chuyên môn của các cơ sở nuôi cá dĩa (59)
      • 3.1.1.4 Chủng loạ i cá dĩ a trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (tự sản xuất, nh ập nội mới) (59)
    • 1. Chủng loại cá dĩa đang được nuôi (59)
    • 2. Giá trị con giống và tiềm năng phát triển cá dĩa (61)
      • 3.1.1.5 Thị trường của các hộ sản xuất cá dĩa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (65)
    • 1. Thị trường của các hộ sản xuất cá dĩa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (65)
    • 2. Sản phẩm cá giống cung cấp cho thị trường (66)
      • 3.1.1.6 Hiệu quả kinh tế (66)
      • 3.1.2.1 Kỹ thuật nuôi dưỡng, sản xuất giống (67)
      • 3.1.2.2 Sử dụng nguồn nước, biện pháp xử lý (69)
      • 3.1.2.3 Loại thức ăn và liều lượng đang sử dụng (70)
      • 3.2 N ỘI DUNG 2: Nghiên c ứu biện pháp kỹ thuật nhằ m nâng cao hiệu quả sản xuất cá dĩa (75)
        • 3.2.1 Thí nghiệm 1: Thí nghiệm thức ăn thay nhớt cá bố mẹ cho cá 6 – 15 ngày tuổi (75)
        • 3.2.2 Thí nghiệm 2: Thí nghiệm về thức ăn cho cá giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi (0)
          • 3.2.2.1 Ảnh hưởng thức`ăn lên tỷ lệ sống của cá hương (0)
          • 3.2.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ tăng trưởng của cá hương (0)
          • 3.2.2.3 Sự hấp dẫn thức ăn của cá thí nghiệm (80)
          • 3.2.2.4 Sự phát sinh bệnh cá (81)
        • 3.2.3 Thí nghiệm 3: Giai đoạn cá sinh sản và tái thành thục 8 – 12 tháng sau khi nở (82)
          • 3.2.3.1. Kết quả nuôi vỗ cá dĩa 8 – 12 tháng (82)
    • 1. Tốc độ tăng trưởng cá dĩa 8 – 12 tháng (0)
    • 2. Thời gian thành thục của cá dĩa giai đoạn 8 – 12 tháng (83)
    • 3. Số cặp cá bắt cặp ở giai đoạn thành thục (83)
      • 3.2.3.2 Kết quả về sức sinh sản của cá dĩa giai đoạn 8 – 12 tháng (83)
    • 1. Sức sinh sản thực tế (84)
    • 2. Tỉ lệ trứng nở (84)
    • 3. Chu kỳ tái phát dục (85)
      • 3.2.4 Thí nghiệm 4: Thí nghiệm về hormon trong sản xuất giống (0)
      • 3.2.5 Thí nghiệm 5: Thí nghiệm so sánh một số kỹ thuật trong quy trình sản xuất giống (89)
        • 3.2.5.1 Thí nghiệm kỹ thuật ép cá (89)
        • 3.2.5.2 Thí nghiệm các phương pháp ấp trứng (89)
        • 3.2.5.3 Thí nghiệm thời gian tách bầy và tái phát dục của cá bố mẹ (90)
    • 1. Thời gian tách bầy đến tỷ lệ sống của cá con (0)
    • 2. Ảnh hưởng của thời gian tách bầy cá con đến thời gian tái phát dục của cá bố mẹ (91)
  • Chương 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................. 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO (54)

Nội dung

Vài nét về nghề cá cảnh

Tiềm năng

Kinh doanh cá cảnh hiện nay mang lại lợi nhuận lớn, với giá bán cá cảnh cao gấp từ 1 đến 100 lần so với cá thịt Có khoảng 1.600 loài cá được giao dịch và hơn 100 quốc gia tham gia xuất khẩu, trong đó 11 quốc gia chiếm 75% kim ngạch xuất khẩu Singapore là quốc gia dẫn đầu với kim ngạch xuất khẩu cá cảnh hàng năm đạt 300 triệu USD, trong khi các nước láng giềng như Malaysia, Indonesia và Thái Lan có kim ngạch khoảng 200 triệu USD/năm Tổng giá trị bán lẻ cá và các vật phẩm trang trí cho hệ thống nuôi cá ước tính đạt 3 tỷ USD vào giữa thập niên 1990, và đến năm 2000, chi phí nhập khẩu cá cảnh và sinh vật cảnh đã vượt 50 tỷ USD.

Từ năm 2001, hoạt động xuất khẩu cá cảnh tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 10 triệu USD vào năm 2004, tăng từ 5 triệu USD năm 2002 Theo Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hầu hết các loài cá cảnh trên thế giới hiện đã có mặt tại Việt Nam.

Việt Nam có 100 loài cá cảnh, và người nuôi cá cảnh có mặt ở khắp các tỉnh thành Các trung tâm nuôi cá cảnh lớn nhất bao gồm Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Nẵng và Vũng Tàu, trong đó TP.Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu.

Phong trào nuôi cá cảnh tại Tp Hồ Chí Minh đang phát triển mạnh mẽ, với sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Cá cảnh mang thương hiệu Việt Nam đã có mặt tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ ở Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ như Anh, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Canada, Mỹ, Brazil, Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản Liên minh Châu Âu là thị trường nhập khẩu cá cảnh lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu Các loại cá xuất khẩu bao gồm cá Dĩa, bảy màu, chép Nhật, thủy tinh, nóc beo, cánh buồm, hồng kim, trong đó cá Dĩa và bảy màu là hai loài được ưa chuộng nhất Trong thời điểm thị trường hút hàng, cá Dĩa không đủ để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Theo báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2004, Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất khẩu 3.372.000 con cá cảnh, trong đó có 67.772 con cá dĩa, chỉ tính riêng trong 9 tháng đầu năm.

Năm 2005, Việt Nam đã xuất khẩu 2.125.000 con cá cảnh, trong đó có 54.412 con cá dĩa Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm sản xuất và xuất nhập khẩu cá cảnh với hơn 500 hộ sản xuất, đạt sản lượng trên 20 triệu con cá cảnh mỗi năm, trong đó khoảng 20-25% được xuất khẩu Hiện nay, nhiều trang trại sản xuất cá cảnh với quy mô khác nhau tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố.

Câu lạc bộ Cá cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đã được nâng cấp thành hiệp hội, đồng thời hình thành Làng Cá cảnh đầu tiên tại Củ Chi Do đó, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để tìm ra giải pháp và định hướng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế và tiềm năng trong việc nuôi cá cảnh xuất khẩu, đặc biệt là nguồn nước và khí hậu lý tưởng cho sự phát triển của các loài cá cảnh nhiệt đới Nước ta cung cấp nguồn cá cảnh giá rẻ, khỏe mạnh và đẹp mắt, đồng thời nằm trong số ba khu vực có cảnh đẹp nhất thế giới (Nam Mỹ, Châu Phi và Đông Nam Á) Bên cạnh đó, Việt Nam có đa dạng các loại cá cảnh phù hợp với nhiều môi trường nước khác nhau (mặn, lợ, ngọt) và các điều kiện thời tiết (nóng, lạnh) Đặc biệt, Thành phố Hồ Chí Minh còn có lợi thế về nguồn thức ăn cho cá cảnh nhờ vào hệ thống kênh rạch phong phú.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 500 hộ nuôi cá cảnh, chủ yếu tập trung tại quận 8, quận 7 và các huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi Theo Hội cá cảnh Thành phố, sản lượng cá cảnh hàng năm có thể đạt từ 35 đến 40 triệu con, phục vụ cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Trong đó, kim ngạch xuất khẩu cá cảnh hàng năm đạt trên 5 triệu USD, cho thấy tiềm năng còn rất lớn Thành phố phấn đấu nâng kim ngạch xuất khẩu cá cảnh lên 50 triệu USD vào năm 2010.

Hướng phát triển

Từ năm 2000, phong trào chơi cá cảnh tại TP Hồ Chí Minh đã phát triển mạnh mẽ, với nhiều chợ chuyên buôn bán cá cảnh lớn như Chợ Lưu Xuân Tín ở quận 5 và Chợ Nguyễn Thông ở quận 3, cùng hơn 120 cửa hàng cá cảnh rải rác khắp các quận huyện Hiện nay, thành phố có hơn 500 hộ nuôi cá cảnh, nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi với nhiều sông rạch, ao hồ Các loại cá đẹp nổi tiếng như cá dĩa, bảy màu, cá xiêm, và chép Nhật được thị trường nước ngoài, đặc biệt là châu Âu, châu Mỹ và Nhật Bản ưa chuộng Ngoài ra, TP Hồ Chí Minh còn có nhiều nghệ nhân nuôi cá tay nghề cao và giá thức ăn sống cho cá rẻ hơn so với nhiều nước trong khu vực.

Trong những năm qua, nghề nuôi cá cảnh tại TP.HCM chưa phát triển mạnh do phần lớn các hộ nuôi còn mang tính tự phát và quy mô gia đình Thiếu quy hoạch, định hướng rõ rệt, cũng như vốn đầu tư và kỹ thuật nhân giống còn thấp đã ảnh hưởng đến ngành này Đặc biệt, đầu ra của cá cảnh phụ thuộc hoàn toàn vào việc người nuôi tự tìm kiếm khách hàng, dẫn đến việc thu mua chủ yếu theo phương thức thu gom, mua đứt bán đoạn, từ đó hạn chế sự phát triển nghề nuôi cá cảnh theo quy mô công nghiệp.

Sở NN và PTNT TPHCM, cùng với Hội cá cảnh và Hợp tác xã nông nghiệp Hà Quang, đang triển khai dự án xây dựng khu làng nghề cá cảnh 20 ha tại xã Trung An, huyện Củ Chi, nhằm sản xuất và cung cấp con giống, cũng như hỗ trợ xuất khẩu Ngành Nông nghiệp và Hội cá cảnh cũng đề xuất Nhà nước có chính sách khuyến khích nghề nuôi cá, tổ chức liên kết giữa các hộ nuôi để chia sẻ kinh nghiệm và kỹ thuật, thành lập trung tâm tư vấn hỗ trợ người chăn nuôi, cùng với việc xây dựng trang web quảng bá sản phẩm.

Phong trào nuôi và xuất khẩu cá cảnh tại TP Hồ Chí Minh đã có sự phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây Năm 2005, thành phố sản xuất hơn 34,4 triệu con cá cảnh, mang lại doanh thu trên 12,8 tỷ đồng và xuất khẩu đạt hơn 5 triệu USD Hiện nay, các ngành chức năng như Nông nghiệp, Hội cá cảnh, các trường Đại học và các hộ chăn nuôi cá cảnh đang nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp nhằm khắc phục tình trạng xuất khẩu manh múm.

Bộ thủy sản (trước đây) và UBND TP.Hồ Chí Minh đã đề ra chỉ tiêu đến năm

Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu cá cảnh của TP.Hồ Chí Minh đạt 10 triệu USD Tuy nhiên, hiện tại, người nuôi cá vẫn gặp khó khăn do không chủ động được nguồn giống, thường phải nhập khẩu cá giống từ nước ngoài với mức thuế suất cao lên tới 30%.

Sở NN-PTNT TP.Hồ Chí Minh hiện đang phối hợp với các Viện nghiên cứu và trường Đại học trên địa bàn để thực hiện nghiên cứu, nhằm mục đích chủ động cung cấp giống cá cảnh chất lượng cho người dân.

UBND TP.Hồ Chí Minh đang triển khai xây dựng Trung tâm nhân giống cá cảnh rộng hơn 20 ha tại xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động nuôi và kinh doanh cá cảnh HTX Nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Hà Quang cùng Câu lạc bộ cá cảnh sẽ thực hiện dự án này Đồng thời, UBND Thành Phố đã phê duyệt dự án xuất khẩu hoa kiểng và cá cảnh đến năm 2010 với tổng trị giá 14,2 tỉ đồng, xác định xuất khẩu cá cảnh là mũi nhọn kinh tế của ngành thủy sản Trong thời gian tới, người nuôi cá tại TP sẽ được hỗ trợ lãi suất vay vốn và miễn thuế nhập khẩu cá giống, tạo động lực lớn cho phong trào nuôi cá cảnh tại TP.Hồ Chí Minh và cả nước.

Đặc điểm sinh học của cá dĩa (Symphysodon spp.)

Phân loại

Theo Schultz, L.P.1996; trích bởi Wattley J.1985

Họ Cichlidae Giống: Symphysodon Loài: Symphysodon discus (Heckel, 1840);

S aequifasciatus (Pellegrin, 1904) Loài phụ: S discus discus (Heckel, 1840);

Cá dĩa hiện nay trên thị trường rất đa dạng và phong phú nhờ sự xuất hiện của nhiều loài tạp lai khác nhau Kể từ thập niên 50 của thế kỷ trước, cá dĩa đã được nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ.

10 năm sau đó được nuôi đại trà ở nhiều quốc gia trên thế giới như Hongkong, Đài Loan, Trung quốc, Singapore, Úc, Đức, Nhật, Việt Nam …

Một số loài cá dĩa (Symphysodon spp) lai

Phân bố - Sinh thái

Cá dĩa (Symphysodon spp.), thuộc họ Cichlidae, có nguồn gốc từ Brazil, đặc biệt là khu vực thượng lưu và trung lưu sông Amazon Chúng ưa thích môi trường sống dưới bóng râm, thường ẩn nấp dưới thân cây hoặc hốc đá Điều kiện nước lý tưởng cho cá dĩa bao gồm pH 6,6, độ cứng 25 ppm, sắt 1,7 ppm, độ kiềm 20 ppm và lượng clorua 30 ppm (Wattley, 1985).

Môi trường sống

Cá dĩa rất nhạy cảm với điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ, và chúng thích sống ở nơi yên tĩnh Qua quá trình thuần hóa, cá dĩa đã thích nghi tốt hơn với môi trường sống của mình.

- Nguồn nước trong, sạch, mềm, giàu ôxy, ánh sáng nhẹ Nếu thiếu ánh sáng sáng cá bắt mồi yếu, màu sắc nhợt nhạt

- pH hơi acid (5,5 - 7), tối ưu trong khoảng 6,5 - 6,7, nếu pH > 7 cá tiết nhiều nhớt, nhợt nhạt

- Nhiệt độ tối ưu 27 - 30 0 C, nếu nhiệt độ > 34 0 C hoặc thấp hơn 24 0 C, cá có phản ứng sậm màu toàn thân, bơi lờ đờ, chìm xuống đáy bể, ăn kém

- Ngưỡng H 2 S gây độc cho cá: 1 mg/L

- Ngưỡng CO2 gây ảnh hưởng đến cá: 50mg/L

Hình 1 : Sơ đồ giới hạn pH thích hợp cho Cá dĩa

Hình thái cấu tạo

Cá dĩa có hình dạng tròn, dẹp ngang với đầu ngắn và mắt lớn Miệng nhỏ, lỗ mũi nằm hai bên đầu, và các tia vây phát triển đa dạng Vây đầu cứng, trong khi vây sau mềm mại, vây lưng và vây hậu môn đối xứng, cùng với vây bụng có hai tia dài và vây ngực, vây đuôi với tia vi mềm Cá dĩa nổi bật với khả năng biến đổi gen cao và màu sắc hài hòa, sự biến đổi này phụ thuộc vào quá trình tăng trưởng, nguồn thức ăn, môi trường sống và sự lai tạo giữa các loài.

Cá dĩa có các sọc sậm chạy dài từ trên phần lưng xuống dưới vi bụng, các vây có màu xanh nước biển phần đuôi gần như không màu

1.2.4.2 Cấu tạo ống tiêu hóa

Cá Dĩa, theo nghiên cứu của Võ Ngọc Cẩm (1983), có chỉ số Li/Ls (chiều dài ruột/chiều dài toàn thân) nhỏ, dao động từ 1,4 đến 1,5 Hệ tiêu hóa của cá Dĩa bao gồm một dạ dày phát triển với cấu trúc đặc biệt, có dạng phân nhánh và vách dày.

1.2.4.3 Hình dạng bộ máy sinh dục c Cá đực: Gai sinh dục ngắn, chia thành hai thùy nhọn và hơi cong về phía sau d Cá cái: Gai sinh dục lồi ra khoảng 3 mm dạng tù, thẳng

Dinh dưỡng

Cá Dĩa là loài cá ăn động vật, chủ yếu tiêu thụ các loại thức ăn có nguồn gốc từ động vật như Moina, Daphnia, trùng chỉ (Turbifex), lăng quăng và tim bò xay nhuyễn Đặc biệt, cá Dĩa rất thích ăn mồi sống linh động, điều này giúp chúng phát triển khỏe mạnh và duy trì sự năng động.

- Giai đoạn cá mới nở đến 3 ngày tuổi: Cá con dinh dưỡng bằng noãn hoàng

- Giai đoạn 4 - 14 ngày tuổi sau khi nở: Dinh dưỡng bằng chất nhờn trên cơ thể bố mẹ

- Giai đoạn từ ngày 14 đến khi tách bầy ( 20 - 21 ngày sau khi nở ), vừa dinh dưỡng bằng chất nhờn vừa dinh dưỡng bằng mồi động như moina, artemia

- Sau khi tách bầy đến 30 ngày tuổi: Dinh dưỡng bằng thức ăn ngoài, chủ yếu moina

- Từ 1 tháng tuổi trở đi, cá ăn moina, lăng quăng, trùng chỉ, tim bò xay nhuyễn…

Trong giai đoạn từ khi cá mới nở đến 3 ngày tuổi, cá con sống nhờ vào chất dự trữ trong túi noãn hoàng Từ 4 đến 14 ngày tuổi, cá con bám trên mình cá bố mẹ và dinh dưỡng từ chất nhầy tiết ra Bắt đầu từ ngày thứ 12, cá con có thể ăn thêm một số thức ăn nhỏ như Artemia, moina, và daphnia Đến ngày 20, cá tiếp tục ăn những loại thức ăn này và có thể tiêu thụ thức ăn nhỏ giống như cá trưởng thành Khi đạt 30 ngày tuổi, cá có thể ăn như cá trưởng thành, với thức ăn chủ yếu là thịt, bao gồm các loại động vật giáp xác nhỏ và cá con trong tự nhiên.

Nghiên cứu thực nghiệm tại Trại nuôi cá dĩa Phượng, xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, Tp HCM đã chỉ ra mối tương quan giữa chiều dài thân, trọng lượng toàn thân và thời gian nuôi bằng thức ăn là trùn chỉ và tim bò Dữ liệu này được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.

Bảng 1.1: Biến thiên chiều dài và trọng lượng của cá dĩa theo thời gian nuôi

Thời gian nuôi 14 ngày tuổi 30 ngày tuổi 12 tháng

Hình 2: Hình dạng bộ máy sinh dục cá dĩa đực

Hình 3: Hình dạng bộ máy sinh dục cá dĩa cái

Thức ăn Nhớt cá bố mẹ Bo bo Tim bò, trùn chỉ Chiều dài thân (cm) 1,4 - 1,6 2,0 - 2,3 11,5 - 13 Trọng lượng thân (g) 0,05 - 0,08 0,18 - 0,21 63 - 80

Tăng trưởng

Cá con mới nở có kích thước khoảng 3mm, màu xám đen và trong suốt ở vi và đuôi Trong giai đoạn này, cá chưa thể bơi lội mà vẫn bám chặt vào giá thể.

- Giai đoạn 2 (giai đoạn ăn chất nhờn trên mình cá bố mẹ): một tuần lễ đầu cá chủ yếu phát triển chiều dài sau đó phát triển chiều cao

Trong giai đoạn 3, sau khi tách khỏi bố mẹ, cá phát triển nhanh chóng về chiều dài và chiều cao, hình dáng trở nên tròn và gần giống cá trưởng thành Mặc dù chưa xuất hiện màu sắc rõ rệt, nhưng các sọc đứng trên cơ thể cá lại rất nổi bật.

Giai đoạn 4, khi cá đạt 3 tháng tuổi, màu sắc đã trở nên rõ ràng Đến 5-6 tháng tuổi, cá thể hiện màu sắc sặc sỡ Nếu được nuôi và chăm sóc tốt, đến tháng thứ 10, cá có khả năng bắt cặp sinh sản.

Sinh sản

Cá dĩa thường đạt độ thành thục khi 12 tháng tuổi, nhưng nếu được nuôi dưỡng tốt, chúng có thể bắt cặp và sinh sản từ khoảng 9 đến 10 tháng Mỗi lần đẻ, cá dĩa trung bình sản xuất khoảng 200 trứng, có thể lên đến 400 – 500 trứng trong điều kiện nuôi dưỡng tốt Việc phân biệt cá đực và cá cái trước khi chúng thành thục khá khó khăn, nhưng có thể dựa vào một số đặc điểm nhất định để phân biệt.

Cá đực có đặc điểm nổi bật với đầu to và múp, cùng dáng điệu năng động Các vi của cá đực thường vươn rộng và dài hơn so với cá cái Khi tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn 3, gai sinh dục sẽ lồi ra, có hình dạng ngắn và được chia thành các phần rõ ràng.

2 thùy nhọn và hơi cong về phía sau

- Cá cái: Đầu thuôn Khi động đực dáng mềm mại hơn cá đực Gai sinh dục lồi ra khoảng 3 mm, dạng tù và thẳng

Cá dĩa có khả năng sinh sản quanh năm, nhưng chủ yếu diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10 Sau 7-10 ngày, cá dĩa thành thục tự tìm cặp Trước khi đẻ, cá có biểu hiện rung mình, đứng yên và ít bắt mồi Quá trình đẻ trứng kéo dài từ 1-1,5 giờ, với trứng được đẻ dọc theo giá thể và cá đực tiết tinh trùng để thụ tinh Cá bố mẹ sử dụng vây ngực để quạt nước và phun oxy cho trứng, đồng thời loại bỏ trứng hư Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển màu trắng xám và sẽ nở trong 55-57 giờ ở 30°C, hoặc 65-67 giờ ở 26-28°C Nếu có sự thay đổi đột ngột về điều kiện sinh thái, cá bố mẹ có thể ăn trứng, với tỷ lệ nở khoảng 60-90%.

Cá mới nở không thể bơi lội ngay lập tức, mà bám vào giá thể để hấp thu dinh dưỡng từ noãn hoàng Cá bố mẹ sẽ ngậm con và di chuyển đến vị trí sạch trên giá thể, luôn ở bên cạnh để chăm sóc và bảo vệ con Khoảng 3 – 4 ngày sau khi nở, cá con bắt đầu bơi tự do và thường bám trên cơ thể cá bố mẹ, sống bằng cách ăn chất nhờn trên mình cá bố mẹ.

Nhu cầu dinh dưỡng của cá dĩa

Nhu cầu protein

Protein là yếu tố quan trọng trong dinh dưỡng cá dĩa, được cấu tạo từ các acid amin, trong đó có mười loại acid amin thiết yếu Protein động vật chứa nhiều acid amin thiết yếu hơn protein thực vật, bao gồm arginine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine Thịt và cá cung cấp đầy đủ các acid amin thiết yếu, đảm bảo dinh dưỡng cân bằng cho cá dĩa Protein từ trứng là nguồn tuyệt vời cho các axit amin thiết yếu, và lòng đỏ trứng gà có thể được sử dụng làm thức ăn cho cá dĩa bột Cá ăn thịt cần 35-45% protein trong khẩu phần, trong khi cá dĩa mới nở cần ít nhất 50% protein Nhớt cá dĩa bố mẹ chứa protein, đặc biệt là phenylalanine, và nhớt cá trưởng thành chứa nhiều acid amin như alanine, aspartic, glycine, proline, serine và leucine, cùng với các acid amin thiết yếu như isoleucine và lysine.

Nhu cầu lipide

Chất béo đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng của cá dĩa, không chỉ cung cấp năng lượng dự trữ mà còn cấu tạo nên màng tế bào, giúp hấp thụ vitamin và sản xuất hormone Cá dĩa cần các acid béo thiết yếu như omega 6 từ động vật máu nóng và omega 3 từ động vật máu lạnh Thiếu hụt các acid béo này có thể dẫn đến cá chậm lớn, vây bị hư hỏng và giảm khả năng đề kháng Nguồn cung cấp acid béo quan trọng cho cá dĩa chủ yếu đến từ cá và chất béo từ loài giáp xác (Al Johnson, 1995).

Nhu cầu carbohydrat

Carbohydrate không phải là thành phần chính trong dinh dưỡng của cá dĩa, mà chủ yếu đến từ đường và tinh bột, lấy nguồn gốc từ rau, quả và ngũ cốc (Al Johnson, 1995).

Nhu cầu vitamin

Vitamin là yếu tố thiết yếu trong dinh dưỡng của cá dĩa, đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất enzyme và các yếu tố tăng trưởng Đặc biệt, vitamin A và D là cần thiết cho sức khỏe của cá dĩa Các nguồn vitamin phong phú bao gồm gan, trứng, mầm lúa mì, đậu hà lan, rau xanh và loài giáp xác, phù hợp để bổ sung dinh dưỡng cho cá dĩa (Al Johnson, 1995).

Nhu cầu khoáng

Khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng của cá dĩa, cần thiết cho sự hình thành mô cơ, xương và sụn Nhiều khoáng chất được hấp thụ từ nước, trong đó calcium và phosphorus là hai khoáng chất thiết yếu nhất Khả năng hấp thụ calcium của cá dĩa phụ thuộc vào tỷ lệ phosphorus phù hợp, với tỷ lệ khuyến nghị là 1:2 (Al Johnson, 1995).

Nhu cầu năng lượng

Protein, chất béo và carbohydrate là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, trong đó chất béo chứa gấp đôi lượng calori so với protein và carbohydrate Mỗi ngày, cá cần cung cấp từ 3% đến 5% năng lượng so với trọng lượng cơ thể Cá dĩa, là động vật máu lạnh, cần ít năng lượng vì chúng không tiêu tốn năng lượng để giữ ấm, và tất cả điều kiện sống của chúng đều phụ thuộc vào môi trường nước (Al Johnson, 1995).

Nhóm nguyên liệu sử dụng trong chế biến thức ăn của cá dĩa

Nhóm thực liệu cơ bản

1.4.1.1 Thực liệu cung cấp protein động vật a Con mẻ là một loại thức ăn sống nuôi dễ nhất Con mẻ thuộc ngành nematodes Con mẻ có kích thước 0,5 -1,5 mm., màu trắng và chuyển động liên tục Do hình dáng và kích thước của chúng nhỏ nên thích hợp làm thức ăn cho cá con Con mẻ có thể sống trong nước khoảng 12 giờ hoặc hơn nữa Con mẻ sinh sản hữu tính và có khả năng sinh sản từ 10 - 40 cá thể trong vòng 1 - 1,5 ngày, trung bình là 20 – 25 cá thể Con mẻ thành thục và có khả năng sinh sản trong vòng 3 ngày Kích thước của chúng tăng gấp 3 lần trong ngày đầu tiên và tăng gấp 6 lần trong vòng 3 ngày tiếp theo b Luân trùng (Rotifer) là những zooplankton có kích cỡ nhỏ từ 0,04 – 0,1 mm, thường thấy trong nước ngọt gồm các giống luân trùng Brachionus, Karetella,

Brachionus là giống sinh vật sống trong nước lợ và nước biển, trong đó Brachionus plicalitis có hai nhóm kích thước khác nhau và có khả năng trinh sản, tạo ra quần thể toàn con cái với chu kỳ phát triển nhanh, thường được nuôi trong các trại sản xuất giống cá biển để ương nuôi ấu trùng Trùn chỉ (Tubifex) là giun sống ở đáy sông, hồ, có nhiều loài nhưng khó phân biệt do sự thay đổi cơ quan sinh sản và đặc điểm bên ngoài theo độ mặn của môi trường Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ bao gồm 50-60% protein, 10% béo, 2% chất xơ, 4% độ ẩm, 0.1% photpho và 0.1% tro Artemia, giáp xác bậc thấp thuộc họ Artemiidae, sống trong môi trường nước biển và chứa đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho ấu trùng Artemia được phân loại thành hai nhóm dựa trên thành phần acid béo không bão hòa nhiều nối đôi (PUFA) và phân bố địa lý, trong đó "nhóm nước ngọt" giàu acid béo 18:3n-3.

“nhóm nước biển” giàu acid béo 20: 5n-3 Các loài cá nước ngọt sử dụng hai nhóm

Artemia không có sự khác biệt về tăng trưởng và tỷ lệ sống, tuy nhiên, một số loài cá biển sử dụng Artemia nước ngọt lại có tỷ lệ sống rất thấp so với nhóm nước biển Bên cạnh đó, tim bò và tôm là nguồn cung cấp protein động vật quan trọng, với hàm lượng protein của tim bò là 15% và của tôm lên đến 90%.

1.4.1.2 Thực liệu cung cấp protein thực vật a Tảo Spirulina là một loài tảo xanh giàu protein và chứa 7 vitamin thiết yếu như: A1, B1, B2, B6, B12, C và E Nó chứa beta-carotene, sắc tố, và khoáng chất Nó chứa tất cả các acid béo cần thiết và 8 amino acid cần cho sự hình thành dinh dưỡng Spirulina là một trong những thức ăn bỗ sung protein thực vật cho cá

Bảng 1.3: Giá trị dinh dưỡng của một số thực liệu cung cấp protein

Thành phần dinh dưỡng (% vật chất khô)

(Nguồn: Dinh dưỡng và thức ăn Thủy sản – Lê Thanh Hùng, 2000; Hepher, 1988;

Bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam)

1.4.1.3 Thực liệu cung cấp lipid

Lipid động - thực vật là nguồn năng lượng và cung cấp acid béo không no (PUFA và HUFA) thiết yếu cho động thủy sản Trong chế biến thức ăn thủy sản, lipide thường đã có sẵn, vì vậy chỉ cần bổ sung thêm khoảng 2-3% trong công thức thức ăn.

1.4.1.4 Thực liệu cung cấp hydrat carbon

Khả năng sử dụng nguồn hydrat carbon trong thức ăn cho động vật thủy sản phụ thuộc vào từng loại đối tượng nuôi Đối với các loài ăn thịt, lượng tinh bột trong khẩu phần ăn không nên vượt quá 20%.

1.4.1.5 Thực liệu cung cấp vitamin

Trong thời kỳ sinh sản, thủy sản cần một lượng lớn vitamin A, E và C để phát triển khỏe mạnh Vitamin C không chỉ giúp giảm stress cho cá trong quá trình đánh bắt và vận chuyển mà còn tăng cường khả năng kháng bệnh khi được bổ sung vào thức ăn cùng với vitamin E, B6, axit pantothenic và cholin.

1.4.1.6 Thực liệu cung cấp khoáng

Hiện tại, có bốn nguyên tố đa lượng (Ca, P, K, Mg) và 7 nguyên tố vi lượng (Fe, Zm,

Cu, Mn, I, Co, Se) giữ một vai trò sinh lý cần thiết cho sự dinh dưỡng của cá (Hùng, 2000)

Nhóm chất bỗ sung

Chất bổ sung là những chất được sử dụng trong thực phẩm với hàm lượng thấp (< 1%), thường không chứa hoặc có hàm lượng protein thô và năng lượng không đáng kể Chúng chủ yếu hỗ trợ quá trình trao đổi chất của động vật, cải thiện chất lượng thức ăn và tăng cường các chức năng đặc biệt theo nhu cầu của nhà sản xuất thức ăn và người chăn nuôi.

Do thành phần và chức năng đa dạng nên chất bỗ sung được chia thành cá nhóm sau:

Nhóm ảnh hưởng đến dinh dưỡng và sinh trưởng trong chăn nuôi bao gồm các chất hỗ trợ như thyroxin và GH, có tác động trực tiếp lên tế bào đích, giúp tăng khối lượng cơ thể nhanh chóng Tuy nhiên, việc sử dụng các hoormon nhân tạo này hiện vẫn tồn tại nhiều vấn đề, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng sản phẩm thủy sản.

Các chất bổ sung không chỉ tác động trực tiếp lên cơ quan sinh trưởng mà còn tăng cường khả năng tiêu hóa và sử dụng dưỡng chất của động vật Điều này giúp giảm thiểu sự thất thoát dưỡng chất trong quá trình trao đổi chất, từ đó nâng cao hiệu quả dinh dưỡng cho thú.

Trong nhóm chất hỗ trợ dinh dưỡng và sinh trưởng, có nhiều sản phẩm đa dạng như enzyme tiêu hóa, kháng sinh, chất trợ sinh, acid hữu cơ, premix và hormone.

1.4.2.1 Enzyme: phân giải tinh bột và các chất khác thường sử dụng như chất xúc tác quá trình tiêu hóa, làm tăng hệ số hấp thu thức ăn, giảm tối đa lượng thức ăn thừa

Sản phẩm premix có thể được phân loại thành premix vitamin, premix khoáng, hoặc premix vitamin-khoáng, tùy thuộc vào thành phần phối trộn Những sản phẩm này rất thuận lợi cho việc phối trộn thức ăn.

Các khoáng chất và vitamin được tổng hợp hóa học và bổ sung vào thức ăn với tỷ lệ từ 0,5% đến 2%, tùy thuộc vào loại premix, nhằm đảm bảo thức ăn cung cấp đầy đủ các vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự sinh trưởng.

Ngoài ra, nhóm chất hỗ trợ dinh dưỡng và sinh trưởng còn có chất kháng sinh và chất trợ sinh (probiotic)

1.4.2.3 Nhóm chất bảo quản Để ngăn ngừa sự phát triển nấm các chất phụ gia sau được thêm vào thức ăn: Potassium sorbate (2000ppm) chỉ có tác dụng ngăn cản sự phát triển nấm chứ không tác dụng diệt nấm Polypropylene glycol (1,2-propanediol:1000ppm) có tác dụng ngăn cản và giết nấm trong thức ăn

1.4.2.4 Chất kết dính Để gia tăng độ kết dính của thức ăn, trong chế biến thức ăn cho các đối tượng thủy sản, ngoài tinh bột có trong thực liệu còn sử dụng một số chất kết dính

Trong sản xuất thức ăn thủy sản, một số chất kết dính phổ biến bao gồm agar (1-2%), aginat, tinh bột (10-25%), cellulose – CMC (1-3%) và bentonite Hiện nay, nhiều nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản đã lựa chọn sử dụng sunny Binder làm chất kết dính chính.

Chất dẫn dụ là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả sử dụng thức ăn cho động vật thủy sản, đặc biệt là tôm Hàm lượng chất dinh dưỡng trong thức ăn có thể thay đổi tùy thuộc vào từng loài, dao động từ 1-5%.

Cơ sở nghiên cứu và sử dụng kích dục tố kích thích chin và rụng trứng trong sinh sản nhân tạo các loài cá

Cơ sở sử dụng kích dục tố trong sinh sản nhân tạo cá

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tương nghiên cứu

Cá dĩa (Symphysodon spp.) trải qua ba giai đoạn sinh trưởng: cá bột, cá hương và cá thành thục Các thí nghiệm về thức ăn cho cá bố mẹ đã được thực hiện, bao gồm giai đoạn cá bột (từ 6-15 ngày tuổi sau khi bám mình mẹ) và giai đoạn cá hương (15-30 ngày tuổi sau khi bám mình mẹ) Ngoài ra, một số kỹ thuật trong quy trình sản xuất giống cũng đã được so sánh tại các cơ sở sản xuất cá cảnh ở Quận Bình Chánh và Quận 12.

Cá dĩa được nuôi từ cá 2 tháng tuổi mua từ các trại nuôi làm cá hậu bị Sau khi nuôi đến 7 tháng tuổi, cá sẽ được sử dụng để thực hiện thí nghiệm về thức ăn giai đoạn cá sinh sản và tái thành thục từ 8-12 tháng tuổi, cũng như thí nghiệm về chất kích thích sinh sản trong sản xuất giống.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian: từ tháng 6/2006 - tháng 12/2008

2.2.2 Địa điểm: Các thí nghiệm thức ăn thay nhớt cá bố mẹ: giai đoạn cá bột (từ 6-15 ngày tuổi sau khi bám mình mẹ), giai đoạn cá hương (15 - 30 ngày tuổi sau khi bám mình mẹ) và thí nghiệm về hormon trong sản xuất giống được bố trí được thực hiện tại

Cơ sở sản xuất cá dĩa Hoàng Thiên Sơn - quận Bình Chánh

Các thí nghiệm về thức ăn cho cá sinh sản và tái thành thục ở độ tuổi 8-12 tháng đã được thực hiện tại Cơ sở sản xuất cá dĩa Thạch Trần Vân Hà, tọa lạc tại 168/KP1, Phường Thạnh Xuân, quận 12, TP.HCM Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng so sánh một số kỹ thuật trong quy trình sản xuất giống nuôi trong bể kính.

Các phân tích đánh giá mẫu thí nghiệm được tiến hành ở Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II

Vật liệu, hóa chất, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu

- Nước giếng qua xử lý đạt pH = 6,2 – 7,0; t 0 = 26–30 0 C; NH 4 + : 0.2; NO 3 - < 0.3, dH: 5-8

- Nhóm hóa chất sử dụng trong thí nghiệm kích thích sinh sản: HCG (Human Chorionic Gonadotropine), LH - RH - a (LutenizingHormone - Releasing hormone analog), Motilium, nước muối sinh lý (9%)

- Nhóm nguyên liệu làm thức ăn thử nghiệm: con mẻ, luân trùng (Rotifer), artemia, tim bò, tảo spirulina, premix, tôm, trùn chỉ, bo bo

Nhóm hóa chất khử trùng và kiểm tra môi trường bao gồm KMnO4, Methylen blue, muối, bộ hóa chất kiểm tra độ pH, bộ hóa chất kiểm tra nồng độ oxy, và bộ hóa chất kiểm tra nồng độ NH3 Các hóa chất này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng môi trường và an toàn vệ sinh.

Nhóm dụng cụ cân, đo: thước đo kỹ thuật, cân điện tử, cân phân tích, cân đồng hồ Nhóm dụng cụ quan sát: kính lúp, máy ảnh

Nhóm dụng cụ, thiết bị sử dụng trong thí nghiệm kích thích sinh sản: vợt, chậu, kiêm tiêm 3ml, cối, chày, cốc thủy tinh

Nhóm dụng cụ, thiết bị dùng để phối chế thức ăn: máy xay thịt, tủ lạnh để bảo quản thức ăn

Để nuôi cá thử nghiệm hiệu quả, cần chuẩn bị một số dụng cụ và thiết bị như bể kính với kích thước 150 x 50 x 50 cm, 120 x 50 x 50 cm hoặc 80 x 50 x 50 cm Ngoài ra, các thiết bị cần thiết bao gồm cây sưởi, nhiệt kế, máy đo pH, hệ thống sục không khí, vợt cá và dụng cụ siphon đáy.

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề tài, các thí nghiệm được tiến hành với cá nội dung sau:

- Điều tra hiện trạng sản xuất cá dĩa (Symphysodon spp.) ở Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận

- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cá dĩa

- Xây dựng mô hình trình diễn cá dĩa

Phương pháp nghiên cứu

2.5.1.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất cá dĩa (Symphysodon spp.) ở Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận a Mục tiêu: Khảo sát hiện trạng sản xuất và tiêu thụ cá dĩa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá trình độ kỹ thuật đang áp dụng b Thời gian thực hiện: từ 8/2006 đến 10/2006 c Địa điểm thực hiện: các trại, cơ sở sản xuất, cửa hàng kinh doanh cá dĩa trên địa bàn quận 5, 8, 9, 12, Bình Thạnh, Gò Vấp, Thủ Đức d Chỉ tiêu khảo sát:

* Tình hình s ả n xu ấ t và th ị tr ườ ng tiêu th ụ cá d ĩ a trên đị a bàn TP H ồ Chí Minh

- Qui mô sản xuất của các cơ sở sản xuất cá dĩa

- Kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh của các cơ sở sản xuất cá dĩa

- Lực lượng lao động và trình độ chuyên môn của các cơ sở nuôi cá dĩa

- Chủng loại cá dĩa trên địa bàn thành phố (tự sản xuất, mới nhập nội)

- Thị trường tiêu thụ cá dĩa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

* Đ ánh giá trình độ k ỹ thu ậ t đ ang áp d ụ ng trong s ả n xu ấ t cá d ĩ a trên đị a bàn TP H ồ Chí Minh

- Kỹ thuật sản xuất giống và chọn giống

- Biện pháp xử lý nguồn nước

- Loại thức ăn e Phương pháp thu thập số liệu

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp dựa trên mẫu phiếu điều tra và thực hiện quan sát thực tế về tình hình sản xuất và kinh doanh của cơ sở Sau đó, tổng hợp và phân loại thông tin theo yêu cầu, đồng thời phân tích kết quả thu được.

Để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành điều tra và thu thập thông tin từ cả nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Cụ thể, các số liệu được lấy từ các cơ quan chức năng như Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tp Hồ Chí Minh, Hội cá cảnh Tp Hồ Chí Minh, Trung tâm Khuyến nông Tp Hồ Chí Minh, và Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tp Hồ Chí Minh Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo các tài liệu từ sách báo, tạp chí và internet để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin.

2.5.1.2 Nội dung 2: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cá dĩa

1 Thí nghiệm 1: Thí nghiệm thức ăn thay nhớt cá bố mẹ cho cá 6 – 15 ngày tuổi a Mục tiêu: Xây dựng chế độ dinh dưỡng thích hợp có thể thay thế nhớt cá bố mẹ, nhằm chủ động việc nuôi cá mới nở, làm cơ sở tách bầy sớm, để rút ngắn thời gian tái phát dục của cá bố mẹ quý hiếm Góp phần sản xuất nhanh số lượng cá con theo yêu cầu thị trường b Thời gian thực hiện: từ 17/10/2008 đến ngày 11/11/2008 c Địa điểm thực hiện: Trại nuôi cá dĩa Phượng, xã Vĩnh Lộc, H.Bình Chánh, Tp HCM d Đối tượng thí nghiệm: Sử dụng 3 cặp cá dĩa bố mẹ mang con từ 120 – 130 con Cá con 5 ngày tuổi (được tính kể từ ngày cá bắt đầu bám mình bố mẹ) từ mỗi cặp cá dĩa (Symphysodon spp.) bố mẹ Tổ cá dĩa được chọn trong thí nghiệm có từ 120 con Số cá con trên được phân thành 4 nhóm, mỗi nhóm là 30 con Trong đó, nhóm 1 dùng để bố trí thí nghiệm cá bố mẹ nuôi tự nhiên; nhóm 2 bố trí thí nghiệm với thức ăn là luân trùng (Rotifer) và artemia; nhóm 3 thí nghiệm với thức ăn là con mẻ Do số cá trong cùng một tổ không có sự khác biệt nên chúng tôi sử dụng số cá còn lại 30 con để tiến hành cân, đo lấy số liệu đầu vào như chiều dài và trọng lượng Hằng ngày quan sát cá con ăn bằng kính lúp và đếm số lượng cá để theo dõi tỷ lệ sống và số ngày sống theo độ tuổi của cá từ 6 ngày tuổi đến 15 ngày tuổi e Chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ sống của cá con từ 6 ngày tuổi đến 15 ngày tuổi (%)

- Số ngày sống của cá con từ 6 ngày tuổi đến 15 ngày tuổi (ngày) f Bố trí thí nghiệm

Bảng 2.1: Thức ăn tự nhiên trong thí nghiệm

Thức ăn Đối chứng NT 1 NT 2

* Phương pháp chuẩn bị thức ăn cho cá

Luân trùng (Rotifer) được mua từ trường Đại học Cần Thơ và được kiểm tra trên kính hiển vi để xác định mật độ Trước khi cho cá ăn, cần đảm bảo mật độ luân trùng đạt từ 4 đến 5 con/ml nước.

Con mẻ được làm từ 500g cơm nguội, 250g cháo loãng và cho 250 g mẻ giống

Cho cơm ấm vào hũ thủy tinh sạch, trộn đều với đũa và đậy nắp thông khí, để khoảng một tuần cho cơm lên men, tạo vị chua Khi cơm mẻ quá loãng, thêm cơm nguội vào để mẻ sinh sôi nhanh hơn Mẻ sẽ bám lên thành hũ, dùng tay phết một ít vào cốc thủy tinh chứa nước để rửa bớt chất chua, sau đó dùng mẻ cho cá ăn với tỷ lệ 4 – 5 con/ml.

Trứng Artemia được ấp trong nước muối 15‰ trong 18h nở thành ấu trùng, sau đó sử dụng cho cá ăn với mật độ 4 – 5 con/ml

* Phương pháp đếm mật độ thức ăn bổ sung cho cá dĩa 6 – 15 ngày tuổi

Chúng tôi sử dụng đĩa petri nhựa 30 cm với ô 1 cm làm buồng đếm, thực hiện đếm trực tiếp trên kính hiển vi bằng dung dịch lugol để cố định mẫu Phương pháp đếm bao gồm việc hút 1 ml mẫu từ thức ăn chuẩn bị cho cá và cố định bằng lugol, sau đó đếm số lượng cá thể trong 1 ml mẫu để tính toán mật độ luân trùng, arterimia và con mẻ trong thức ăn.

* Điều kiện thí nghiệm và phương pháp chăm sóc

Cá thí nghiệm được đặt trong bể kính có kích thước 50cm x 50cm x 45cm, với thể tích nước 80 lít Bể được sục khí vừa phải và duy trì nhiệt độ nước từ 27 đến 28 độ C, sử dụng nước giếng.

Thay nước cho cá mỗi ngày một lần bằng cách rút khoảng 1/3 nước trong bể sau khi cho cá ăn 30 phút Đối với NT1 (luân trùng và artemia), cá từ 6 - 9 ngày tuổi được cho ăn luân trùng 1 lần/ngày, trong khi cá từ 10 - 15 ngày tuổi ăn artemia 1 lần/ngày Đối với NT2 (con mẻ), cá từ 6 - 15 ngày tuổi cũng được cho ăn con mẻ 1 lần/ngày.

* Phương pháp theo dõi chỉ tiêu

Số lượng cá đầu ra (con)

Số lượng cá đầu vào (con)

Để đánh giá sự tăng trưởng của cá, cần xác định trọng lượng và chiều dài của chúng tại các giai đoạn khác nhau Cụ thể, trọng lượng cá có thể được đo bằng cân phân tích tại hai thời điểm là 6 ngày tuổi và 15 ngày tuổi Ngoài ra, chiều dài cá cũng được đo bằng giấy kẻ ô ly và thước đo, với điểm đo từ mút mõm đến cuối vây đuôi, giúp đánh giá sự phát triển toàn diện của cá.

Kiểm tra chiều dài và trọng lượng của cá 6 ngày tuổi bằng cách bắt 30 con để cân nặng và đo chiều dài Từ kết quả này, có thể tính toán chiều dài và trọng lượng trung bình của mỗi cá thể.

Kiểm tra chiều dài và trọng lượng của cá 15 ngày tuổi là bước quan trọng trong nghiên cứu Khi cá đạt 15 ngày tuổi, cần cân trọng lượng và đo chiều dài toàn bộ cá trong từng nghiệm thức Sau đó, tính toán chiều dài và trọng lượng trung bình của cá ở mỗi nghiệm thức để đánh giá sự phát triển của chúng.

- Sự tăng trưởng về chiều dài (mm) = L2 - L1

L1: Chiều dài cá 6 ngày tuổi (mm)

L2: Chiều dài cá 15 ngày tuổi (mm)

- Sự tăng trưởng về trọng lượng (mg) = W2 - W1

W1: Trọng lượng cá 6 ngày tuổi (mg)

W2: Trọng lượng cá 15 ngày tuổi (mg)

- Sự hấp dẫn thức ăn: Quan sát hoạt động bắt mồi của cá dựa vào thời gian cá tiến hành bắt mồi nhanh hay chậm

- Bệnh cá: Dựa vào việc quan sát hoạt động, màu sắc của cá và tài liệu bệnh cá để chẩn đoán bệnh cá.

Thí nghiệm 2: Thí nghiệm về thức ăn cho cá giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định công thức thức ăn tối ưu cho cá, nhằm nâng cao khả năng tăng trưởng Thời gian thực hiện từ ngày 18/10/2008 đến 18/11/2008 tại Trại nuôi cá dĩa Phượng, xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, TP HCM Đối tượng thí nghiệm bao gồm 390 con cá dĩa bột 14 ngày tuổi, được lấy từ 3 cặp cá dĩa Bông xanh 15 tháng tuổi có khả năng đẻ và nuôi con tốt Trong đó, 360 cá con được phân lô để tiến hành thí nghiệm, còn 30 con còn lại được sử dụng để cân đo và thu thập số liệu đầu vào Các chỉ tiêu theo dõi sẽ được thiết lập để đánh giá kết quả.

- Tỷ lệ sống từ 15 – 30 ngày tuổi (%)

- Sự tăng trưởng (trọng lượng, chiều dài thân)

- Sự hấp dẫn của thức ăn f Bố trí thí nghiệm

Bảng 2.2: Thành phần nguyên liệu thức ăn thí nghiệm

Thành phần Đối chứng NT1 NT2 NT 3

Bảng 2.3: Thành phần sinh hóa trong thức ăn thí nghiệm

Nghiệm thức III Độ ẩm (%) - - - 77,32

* Phương pháp chuẩn bị thức ăn cho cá

Bo bo (moina) sau khi mua về cần được rửa sạch bằng nước sạch và giữ trong chậu nước có đường kính lớn Việc này giúp bo bo kéo dài thời gian sống lên đến 1 ngày, và bạn có thể sử dụng vợt để vớt bo bo cho cá ăn.

Trùn chỉ sau khi mua về cần được ngâm khoảng 1 ngày để loại bỏ chất thải trong ruột, sau đó rửa sạch bằng nước và nước muối 1‰ Tiếp theo, giữ trùn chỉ trong thau nước lớn và thay nước sau 3 giờ Cuối cùng, dùng tay bắt trùn chỉ để cho cá ăn.

Trứng Artemia được ấp trong nước muối 15‰ trong 18h nở thành ấu trùng, sau đó sử dụng cho cá ăn với mật độ 4 – 5 con/ml

Để chế biến thức ăn cho cá, tim bò được lọc sạch gân và xay nhuyễn, sau đó trộn với các thành phần khác theo tỉ lệ đã định Hỗn hợp này được bảo quản trong tủ đông và cắt thành hình hạt lựu trước khi cho cá ăn.

* Điều kiện thí nghiệm và phương pháp chăm sóc

Cá thí nghiệm được nuôi trong bể kính có kích thước 50cm x 50cm x 45cm, với thể tích nước 80 lít Hệ thống sục khí hoạt động vừa phải và nhiệt độ nước duy trì trong khoảng 27 – 28 độ C, sử dụng nước giếng cho thí nghiệm.

Cho cá ăn 2lần\ngày vào buổi sáng 9h và buổi chiều 15 giờ, cho ăn vừa đủ hoặc hơi thiếu, không cho ăn thừa

Sau khi cho cá ăn khoảng 30 phút, cần tiến hành rút xiphông đáy để loại bỏ thức ăn thừa Đồng thời, thay 1/3 lượng nước trong bể cho cá mỗi ngày vào lúc 5 giờ chiều.

* Phương pháp theo dõi chỉ tiêu

Số lượng cá đầu ra (con)

Số lượng cá đầu vào (con)

Số lượng cá con nở ra (con)

Số lượng trứng thụ tinh (hạt)

Để theo dõi sự tăng trưởng của cá, cần sử dụng cân kỹ thuật để xác định trọng lượng của cá ở độ tuổi 14 ngày và 30 ngày Ngoài ra, chiều dài cá cũng cần được đo bằng giấy kẻ ôly và thước đo, với chiều dài được tính từ mút mõm đến cuối vây đuôi.

Kiểm tra chiều dài và trọng lượng của cá 14 ngày tuổi bằng cách bắt ngẫu nhiên 10 con mỗi lần lặp Sau đó, tiến hành cân trọng lượng và đo chiều dài để tính toán chiều dài và trọng lượng trung bình của mỗi cá thể.

Khi cá thí nghiệm đạt 30 ngày tuổi, cần thực hiện kiểm tra chiều dài và trọng lượng của cá ở mỗi nghiệm thức Quá trình này bao gồm việc cân trọng lượng và đo chiều dài toàn bộ cá trong mỗi nghiệm thức, sau đó tính toán chiều dài và trọng lượng trung bình của cá ở mỗi nghiệm thức để có được kết quả chính xác.

- Sự tăng trưởng về chiều dài (cm) = L2 - L1

L1: Chiều dài cá 14 ngày tuổi (cm)

L2: Chiều dài cá 30 ngày tuổi (cm)

- Sự tăng trưởng về trọng lượng (mg) = W2 - W1

W2: Trọng lượng cá 30 ngày tuổi (mg)

W1: Trọng lượng cá 14 ngày tuổi (mg)

- Sự hấp dẫn thức ăn: Quan sát hoạt động bắt mồi của cá dựa vào thời gian cá tiến hành bắt mồi nhanh hay chậm

Bệnh cá có thể được xác định dựa vào cảm quan và quan sát hoạt động cùng màu sắc của cá Ngoài ra, việc kết hợp với sổ tay các bệnh thường gặp trên cá dĩa của tác giả Nguyễn Ngọc Du năm 2008 cũng rất hữu ích trong quá trình chẩn đoán.

Thí nghiệm 3: TN về thức ăn giai đoạn cá sinh sản và thành thục 8-12 tháng

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định công thức thức ăn phù hợp cho cá dĩa nhằm giúp cá thành thục và tái phát dục tốt, tăng trưởng nhanh chóng và có màu sắc đẹp Thí nghiệm được thực hiện từ ngày 1/6/2007 đến ngày 1/10/2007 tại trại cá Thạch Trần Vân Hà, địa chỉ số 168/1 Khu phố I, P Thạnh Xuân, Q12 Đối tượng thí nghiệm là 90 con cá dĩa khỏe mạnh, linh hoạt, không có vết thương, phân sạch và ăn mồi nhanh, được nuôi từ hai tháng tuổi đến đầu bảy tháng tuổi Các chỉ tiêu theo dõi sẽ được thiết lập để đánh giá hiệu quả của công thức thức ăn.

- Sự tăng trưởng (chiều dài thân) (cm)

- Khả năng hấp dẫn thức ăn

- Thời gian thành thục và tái phái dục (ngày)

- Sức sinh sản thực tế (trứng/cá cái)

- Tỷ lệ trứng nở (%) f Bố trí thí nghiệm thức ăn

Bảng 2.4: Thành phần nguyên liệu thức ăn thí nghiệm

Thành phần Đối chứng NT1 NT2

Nghiệm thức 2: thịt bò xay nhuyễn hoặc tôm, tép xay nhuyễn thay đổi mỗi ngày

Bảng 2.5: Thành phần sinh hóa trong thức ăn thí nghiệm

Thành phần Đối chứng Nghiệm thức I Nghiệm thức II Độ ẩm (%) 73,54 74,87 73,64 72,82

Ở giai đoạn cá 7 tháng tuổi, việc phân biệt giới tính chưa thể thực hiện, vì vậy cá được bố trí ngẫu nhiên Tổng cộng có 90 con cá được chia thành 3 nhóm, tương ứng với 3 nghiệm thức ăn khác nhau Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, với 10 con cá cho mỗi nghiệm thức.

* Phương pháp bắt cặp cho cá sinh sản khi cá đến giai đoạn thành thục: khi thấy dấu hiệu cá bắt cặp tiến hành chuyển sang bể đẻ

* Phương pháp phân biệt cá đực, cá cái (theo Nguyễn Minh (16), Võ Văn Chi

Cá đực có đặc điểm nổi bật với đầu gù rộng và tròn, môi nhô ra, vây đuôi rộng và nhọn, cùng với vây bụng uốn cong Chúng thường hung hăng hơn cá cái Khi đến giai đoạn thành thục, gai sinh dục của cá đực lồi ra ngắn, chia thành hai thùy nhọn và hơi cong về phía sau, trong khi gai sinh dục của cá cái dài khoảng 3 mm, có hình dạng tù và thẳng.

* Phương pháp chăm sóc cá ở giai đoạn nuôi vỗ và sinh sản

- Chăm sóc giai đoạn nuôi vỗ: cho cá ăn ngày hai lần vào lúc 9g sáng và 3 giờ chiều Thay 100 % nước, 1 lần\ngày

- Chăm sóc cá đẻ khi cá đang ấp trứng: tiến hành rút xiphong đáy rút 1/5 nước trong bể và châm lại bằng mực nước cũ

- Chăm súc cỏ đẻ khi đang nuụi con: thay nước 1 lần\ngày khoảng ẳ lượng nước trong bể

* Phương pháp theo dõi chỉ tiêu

- Kiểm tra chiều dài cá 7 tháng tuổi: Bắt 10 con/lần lặp để đo chiều dài Từ đó, suy ra chiều dài và trọng lượng trung bình mỗi cá thể

Kiểm tra chiều dài cá trưởng thành là bước quan trọng trong nghiên cứu Đầu tiên, cần đo chiều dài toàn bộ cá trong mỗi nghiệm thức Sau đó, tính toán chiều dài trung bình của cá ở từng nghiệm thức để có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của chúng.

- Sự tăng trưởng về chiều dài (cm) = L2 - L1

L1: Chiều dài cá 7 tháng tuổi (cm)

L2: Chiều dài cá trưởng thành (cm)

- Sự hấp dẫn thức ăn: Quan sát hoạt động bắt mồi của cá dựa vào thời gian cá tiến hành bắt mồi nhanh hay chậm

- Xác định thời gian thành thục: là thời gian từ khi cá nở đến lần sinh sản đầu tiên

- Xác định thời gian tái phát dục của cá bố mẹ: thời gian này đựơc tính từ ngày đẻ trứng đợt trước đến ngày đẻ trứng đợt kế tiếp

Sức sinh sản thực tế của cá cái được xác định bằng cách chụp ảnh ổ trứng sau 30 phút khi cá đã đẻ trứng Hình ảnh này được quan sát qua kính lúp và sau đó xử lý bằng phần mềm Photoshop để chia thành các ô, từ đó dễ dàng đếm số lượng trứng trong ổ.

Tỷ lệ nở của trứng cá được xác định bằng cách đếm số lượng trứng hư sau 24 giờ kể từ khi cá đẻ Trứng hư không thụ tinh sẽ chuyển sang màu trắng đục, trong khi trứng thụ tinh có màu xám trong Sau khi cá nở, số lượng cá con được đếm và tỷ lệ nở được tính toán theo công thức cụ thể.

Số lượng cá con nở ra (con)

Số lượng trứng thụ tinh (hạt)

Thí nghiệm 4: Thí nghiệm về hormon trong sản xuất giống

Mục tiêu của thí nghiệm là tăng năng suất và chủ động trong sản xuất giống cá Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2008 tại Trại cá Phượng, xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, Tp HCM Đối tượng thí nghiệm là cá dĩa (Symphysodon spp.) 15 tháng tuổi, khỏe mạnh, không mang bệnh, đã qua sinh sản 3 lần và nuôi con tốt Các chỉ tiêu theo dõi sẽ được xác định trong quá trình thí nghiệm.

- Thời gian tái phát dục (ngày)

- Sức sinh sản thực tế (số trứng/cá cái)

- Tỷ lệ nở (%) f Bố trí thí nghiệm

Liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/2 liều cho cá cái Thực hiện phương pháp tiêm 1 lần Vị trí tiêm là gốc vây ngực

Bảng 2.6: Các loại chất kích thích sinh sản và liều lượng sử dụng

Nghiệm thức (NT) Loại chất kích thích sinh sản Liều lượng Đối chứng Cá sinh sản tự nhiên Không thực hiện

NT 1 HCG 1000 UI/kg cá cái

NT 2 HCG 2000 UI/kg cá cái

LH-RH-A 100 àg/kg cỏ cỏi

LH-RH-A 200 àg/kg cỏ cỏi

* Phương pháp pha thuốc sử dụng để tiêm cá

- HCG: Sử dụng 10 ml nước muối sinh lý 9% cho một ống HCG (10000 UI)

Lượng dung dịch đã pha tiêm cho cá tùy thuộc liều lượng HCG yêu cầu và trọng lượng cá bố mẹ

- LH-Rh-A: giã nhuyễn 1 viên domperidon (10 mg) pha với 2 ml nước muối sinh lý 9% (dung dịch 1) Dựng 3ml nước muối sinh lý 9% vào một ống LH-Rh-A (200 àg)

Để chuẩn bị dung dịch thuốc cần sử dụng, hãy sử dụng kiêm tiêm để hút 1ml dung dịch 1 và cho vào dung dịch 2 Lượng dung dịch đã pha tiêm cho cá sẽ phụ thuộc vào liều lượng LH-Rh-A yêu cầu và trọng lượng của cá bố mẹ.

- Thức ăn: Tim bò được sử dụng làm thức ăn cho cá trong thời gian này

- Cho ăn: Cho cá ăn 3 lần/ngày

Trước khi cỏ đẻ, hãy thay nước trong bể mỗi ngày Khi cỏ bắt đầu đẻ trứng, cần thay 1/5 lượng nước trong bể cho đến khi cá nở.

- Xác định thời gian tái phát dục của cá bố mẹ: thời gian này đựơc tính từ ngày đẻ trứng đợt trước đến ngày đẻ trứng đợt kế tiếp

Để xác định sức sinh sản thực tế của cá cái, sau khi cá đẻ trứng khoảng 30 phút, ta sử dụng máy ảnh để chụp lại hình ảnh của ổ trứng qua kính lúp Hình ảnh này sau đó được đưa vào máy vi tính và sử dụng phần mềm Photoshop để chia thành nhiều ô, từ đó dễ dàng đếm số lượng trứng trong ổ.

Tỷ lệ nở trứng cá được xác định bằng cách đếm số trứng hư sau 24 giờ đẻ, trong đó trứng không thụ tinh sẽ chuyển sang màu trắng đục, còn trứng thụ tinh có màu xám trong Sau khi cá con nở, số lượng cá con nở ra sẽ được ghi nhận và tỷ lệ nở sẽ được tính toán theo công thức cụ thể.

Số lượng cá con nở ra (con)

Số lượng trứng thụ tinh (hạt)

Thí nghiệm 5: Thí nghiệm so sánh một số kỹ thuật trong quy trình sản xuất giống.34

Thí nghiệm về kỹ thuật ép cá nhằm xác định phương pháp ép cá đẻ hiệu quả nhất cho sản xuất, được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2008 tại Trại cá Châu Tống, Q.12 Đối tượng thí nghiệm là 80 con cá dĩa Bông xanh 12 tháng tuổi, nuôi trong bốn bể kính kích thước 150 cm x 50 cm x 50 cm Qua quan sát, 8 cặp cá đã được chọn để bắt cặp tự nhiên, trong khi 14 con đực và 14 con cái được chọn ngẫu nhiên từ 64 con còn lại để tạo thành 14 cặp nhân tạo Kết quả cho thấy trong số 14 cặp nhân tạo, có 5 cặp cá biểu hiện dấu hiệu sinh sản.

Mười ba cặp cá đã được ghép đôi để sinh sản lần đầu nhằm xác định khả năng sinh sản Trong số đó, ba cặp cá đẻ và nuôi con tốt đã được chọn từ tám cặp cá tự nhiên và ba cặp cá trong năm cặp nhân tạo để tiến hành thí nghiệm Các chỉ tiêu sẽ được theo dõi trong quá trình này.

- Sức sinh sản thực tế (số trứng/cá cái)

- Tỷ lệ cá bố mẹ chấp nhận ấp trứng, nuôi con (%) f Bố trí thí nghiệm

Bảng 2.7: Cá bắt cặp tự nhiên và nhân tạo

Nghiệm thức Số lượng cặp cá (cặp)

NT1: Bắt cặp tự nhiên 3

NT2: Bắt cặp nhân tạo 3

* Điều kiện thí nghiệm và phương pháp chăm sóc

- Môi trường nước ổn định cho đặc điểm cá sinh sản ( pH = 6,0 - 6, 3, dH = 4, t 0 : 28 )

Dùng nhiệt kế để kiểm tra nhiệt độ, máy đo pH xác định pH trong bể nuôi và nguồn nước

- Thức ăn cho cá: Tim bò trộn men tiêu hóa, Premix

- Chăm sóc: Cho cá ăn 3 lần/ngày, thay nước 1/2 bể mỗi ngày, khi cá đẻ thì hút chất dơ ra khỏi bể và thay 1/5 nước

Để xác định dấu hiệu cá thành thục và chuẩn bị sinh sản, cần quan sát hàng ngày hoạt động của cá Khi cá có dấu hiệu bắt cặp, ve vãn, ít bắt mồi và thường đứng lại, thậm chí rung lên toàn thân, đó là thời điểm thích hợp để chuyển cá vào bể đẻ.

Để chuẩn bị bể đẻ cho cá, cần bố trí giá thể bằng gạch hình tam giác ở giữa hồ, cách mặt nước khoảng 15cm, tạo điều kiện thuận lợi cho cá sinh sản.

* Phương pháp theo dõi chỉ tiêu

Sức sinh sản thực tế của cá cái được xác định bằng cách chụp ảnh ổ trứng sau 30 phút khi cá đẻ trứng Hình ảnh này được quan sát qua kính lúp và sau đó được xử lý trên máy vi tính bằng phần mềm Photoshop để chia thành nhiều ô, giúp đếm chính xác số lượng trứng trong ổ.

Tỷ lệ nở của trứng cá được xác định bằng cách đếm số trứng hư sau 24 giờ kể từ khi cá đẻ Trứng hư, không được thụ tinh sẽ có màu trắng đục, trong khi trứng đã được thụ tinh sẽ có màu xám trong.

Sau khi cá nở đếm số lượng cá con nở ra và tỷ lệ nở được tính theo công thức

Số lượng cá con nở (con)

Số lượng trứng thụ tinh (hạt)

Tỷ lệ cá bố mẹ chấp nhận ấp trứng và nuôi con được xác định bằng cách theo dõi sự chăm sóc của cá bố mẹ đối với trứng và con non Nếu cá bố mẹ không ăn trứng và cũng không ăn con, thì cặp cá đó được coi là chấp nhận ấp trứng và nuôi con Công thức tính toán sẽ được áp dụng để xác định tỷ lệ này.

Số cặp cá bố mẹ chấp nhận ấp trứng

Tỷ lệ cá bố mẹ chấp nhận ấp trứng (%) = x 100

Số cặp cá bố mẹ tham gia đẻ trứng

Số cặp cá bố mẹ chấp nhận nuôi con

Tỷ lệ cá bố mẹ chấp nhận nuôi con (%) = x 100

Số cặp cá bố mẹ tham gia nuôi con

Mục tiêu của thí nghiệm là so sánh các phương pháp ấp trứng nhằm xác định phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất để áp dụng vào thực tiễn Thời gian thực hiện thí nghiệm diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2008 tại Trại cá Châu Tống, địa chỉ 168/1, tổ 1, khu phố 1, phường Thạnh Xuân, Q.12 Đối tượng thí nghiệm bao gồm 9 cặp cá dĩa bông xanh đã bắt cặp và sinh sản tốt Chỉ tiêu theo dõi chính là tỷ lệ nở (%) của trứng.

Bảng 2.8: Các phương pháp ấp trứng

Nghiệm thức Số lượng cặp cá (cặp) Đối chứng: Ấp trứng tự nhiên 3

NT1: Cách lưới giữa trứng với cá bố mẹ 3

NT2: Tách cá khỏi trứng sau khi đẻ, gửi cá vú 3

* Phương pháp ấp trứng tự nhiên: Sau khi cá bố mẹ đẻ xong để cá bố mẹ chăm sóc trứng

Phương pháp sử dụng lưới inox để bảo vệ trứng cá bố mẹ là một kỹ thuật hiệu quả Sau khi cá bố mẹ hoàn tất việc đẻ trứng, hãy đặt lưới lên ổ trứng với khoảng cách 1cm để cá bố mẹ vẫn có thể quạt nước, đảm bảo trứng nhận được oxy cần thiết cho sự phát triển.

Phương pháp ấp trứng hiệu quả là nuôi đồng thời một số cặp cá Bông xanh làm cá nuôi vú, vì chúng có khả năng chăm sóc con tốt và không ăn trứng hay cá con Sau khi cá đẻ, cần lấy giá thể chứa trứng chuyển sang bể cá nuôi vú, đồng thời loại bỏ trứng của cá nuôi vú để chúng chăm sóc trứng mới Quan trọng là cá nuôi vú và cá thí nghiệm phải đẻ cùng lúc hoặc cách nhau không quá một ngày.

* Phương pháp theo dõi chỉ tiêu

Tỷ lệ nở của trứng cá được xác định bằng cách đếm số trứng hư sau 24 giờ từ khi cá đẻ Những trứng không thụ tinh sẽ chuyển sang màu trắng đục, trong khi trứng thụ tinh có màu xám trong Sau khi cá con nở, số lượng cá con được đếm và tỷ lệ nở được tính theo công thức cụ thể.

Số lượng cá con nở (con)

Số lượng trứng thụ tinh (hạt)

Mục tiêu của thí nghiệm là xác định thời gian tách bầy hợp lý cho cá con nhằm nuôi dưỡng lại cá bố mẹ cho kỳ sinh sản tiếp theo, đồng thời rút ngắn thời gian tái phát dục của cá bố mẹ Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2008 tại Trại cá Châu Tống, địa chỉ 168/1, tổ 1, khu phố 1, phường Thạnh Xuân, Quận 12 Đối tượng thí nghiệm là cá Dĩa đang nuôi con, cụ thể là cá con từ 6 đến 30 ngày tuổi Các chỉ tiêu theo dõi sẽ được áp dụng trong quá trình nghiên cứu.

- Tỷ lệ sống của cá con 1 tháng tuổi (%)

- Thời gian tái phát dục của cá bố mẹ (tính từ ngày tách bầy) f Bố trí thí nghiệm

Bảng 2.9: Các phương pháp tách bầy

Nghiệm thức Số lượng cặp cá (cặp)

- Đối chứng: Tách bầy tự nhiên khi cá con không còn bám mình bố mẹ

- NT 1: Gởi nuôi vú (cá con được 1 ngày tuổi) 3

- NT 2: Tách bầy khi cá con được 1 tuần tuổi 3

- NT 3: Tách bầy khi cá con được 2 tuần tuổi 3

* Điều kiện thí nghiệm và phương pháp chăm sóc

- Thí nghiệm được bố trí trong phòng, sử dụng nguồn nước ngầm đã qua xử lý phù hợp với cá Dĩa bột ( pH: 6,3 - 6, 5; t 0 : 27 - 28 0 C )

Trong nghiên cứu, cá con ở lô đối chứng và NT1 được cho ăn trùn chỉ, trong khi NT2 được cho ăn luân trùng cho đến ngày thứ 10, sau đó chuyển sang ăn Artemia đến ngày 20 Lô NT3 được cho ăn Artemia đến ngày 20, rồi sau đó chuyển sang trùn chỉ.

+ Cho cá ăn: ngày cho ăn 3 lần vào lúc 8h, 11h, 16h

Trong hai ngày đầu sau khi tách bầy, không cần thay nước mà chỉ cần châm thêm nước để bù đắp lượng nước bị rút ra do xiphong đáy hút thức ăn và chất bẩn Những ngày tiếp theo, cần thực hiện việc thay nước định kỳ trong bể để duy trì môi trường sống cho cá.

Phương pháp xác định thời gian tái phát dục của cá bố mẹ được tính từ ngày đẻ trứng của đợt trước đến ngày đẻ trứng của đợt kế tiếp.

2.5.1.3 Một số phương pháp sử dụng chung cho các thí nghiệm

Chăm sóc cá và ghi nhận kết quả thí nghiệm

- Dùng nhiệt kế kiểm tra nhiệt độ, pH kế xác định pH trong bể nuôi hàng ngày vào buổi sáng và chiều tối

- Dùng các loại thuốc sát trùng và một số loại thuốc trị bệnh cho cá (KMn04, metronidazol, tetracycline, thuốc trị nấm trên cá…)

- Dùng cân kỹ thuật để xác định trọng lượng cá, giấy kẻ ôly, thước đo để xác định chiều dài cá.

Phương bố trí thí nghiệm và xử lý số liệu

Các phương pháp nghiên cứu thường quy được áp dụng cho thí nghiệm trong phòng, với thiết kế thí nghiệm theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) và lặp lại 3 lần Dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel và MSTATC.

Ngày đăng: 05/10/2023, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thị Cẩm Nhung (2007), Thực nghiệm sản xuất cá bảy màu (Poecilia reticulata) toàn đực, Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp.HCM, TPHCM, trang 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực nghiệm sản xuất cá bảy màu (Poecilia reticulata) toàn đực
Tác giả: Đặng Thị Cẩm Nhung
Năm: 2007
2. Bộ Thủy sản (1998), Các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành Thuỷ sản, Nguyễn Quốc Ân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành Thuỷ sản
Tác giả: Bộ Thủy sản
Năm: 1998
3. Dương Thanh Liêm và ctv (2002), Thức ăn và dinh dưỡng động vật, NXB Nông Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng động vật
Tác giả: Dương Thanh Liêm và ctv
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2002
4. Hồ Ngọc Hữu (1986), Sổ tay nuôi và sử dụng Artemia trong nuôi trồng thủy sản, NXB H Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nuôi và sử dụng Artemia trong nuôi trồng thủy sản
Tác giả: Hồ Ngọc Hữu
Nhà XB: NXB H Nội
Năm: 1986
5. Mai Thị Thu Hiền (2005), Ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến khả năng lên màu của cá cảnh, Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Thuỷ sản, Đại Học Nông Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến khả năng lên màu của cá cảnh
Tác giả: Mai Thị Thu Hiền
Năm: 2005
6. Mai Thị Thuý và Lim Sok Hour (1997), Những biện php kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất sản xuất giống cá dĩa, Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Thuỷ sản, Đại Học Nông Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện php kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất sản xuất giống cá dĩa
Tác giả: Mai Thị Thuý và Lim Sok Hour
Năm: 1997
7. Nguyễn Tường Anh (1999), Một số vấn đề về nội tiết học trong sinh sản cá, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nội tiết học trong sinh sản cá
Tác giả: Nguyễn Tường Anh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1999
8. Nguyễn Tường Anh (2005), Kỹ thuật sản xuất giống một số loài cá nuôi, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất giống một số loài cá nuôi
Tác giả: Nguyễn Tường Anh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2005
9. Liêu Đông (2005), Sản xuất thức ăn cho cá cảnh, NXB tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất thức ăn cho cá cảnh
Tác giả: Liêu Đông
Nhà XB: NXB tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2005
10. Lê Thanh Hùng (2000), Bài giảng tóm tắt dinh dưỡng và thức ăn thủy sản. Đại Học Nông Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tóm tắt dinh dưỡng và thức ăn thủy sản
Tác giả: Lê Thanh Hùng
Năm: 2000
11. Lê Hồng Phượng (1994), Bước đầu khảo st hiệu quả của một số loại thức ăn trong ương cá dĩa, Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Thuỷ sản, Đại Học Nông Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu khảo st hiệu quả của một số loại thức ăn trong ương cá dĩa
Tác giả: Lê Hồng Phượng
Năm: 1994
12. Võ Văn Chi (1993), Cá cảnh, NXB Khoa học Kỹ thuật Tp.HCM. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá cảnh
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật Tp.HCM. TIẾNG ANH
Năm: 1993
1. Al Johnson (1995), Article on Discus Fish Nutrition, The Discus Fish Care Handbook Sách, tạp chí
Tiêu đề: Article on Discus Fish Nutrition
Tác giả: Al Johnson
Năm: 1995
3. Burgess, W. (1991), The current status of discus systematics. TFH (July): 30-40. Degen, B. 1990. Discus: How To Breed Them. T.F.H. Publ., Neptune, NJ. Pp. 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The current status of discus systematics
Tác giả: Burgess, W
Nhà XB: TFH
Năm: 1991
4. Dieter Untergasser (1995), Dicus Health. T.F.H, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dicus Health
Tác giả: Dieter Untergasser
Năm: 1995
5. U. Erich frese (1991), Discus Health, General Curator, Sydney Aquarium 6. Keller, G., (1976), Discus. T.F.H. Publ., Neptune, NJ. Pp. 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Discus
Tác giả: G. Keller
Nhà XB: T.F.H. Publ.
Năm: 1976
7. Kullander, S. O. (1986), Cichlid Fishes of the Amazon River Drainage of Peru. Monograph, Swed Mus Nat Hist. Stockholm, Sweden. Pp. 431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cichlid Fishes of the Amazon River Drainage of Peru
Tác giả: Kullander, S. O
Năm: 1986
8. Jack Wattley (1972), Rising discus artifically, Tropical Fish Hobby Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rising discus artifically
Tác giả: Jack Wattley
Năm: 1972
9. Schultz, L. P. (1960), A review of the pompadour or discus fishes, genus Symphysodon of South America. TFH June:5-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of the pompadour or discus fishes, genus Symphysodon of South America
Tác giả: Schultz, L. P
Năm: 1960
10. Schulze, E. (1988), Discus Fish: The King of All Aquarium Fish. Discus Ltd., Bangkok, Thailand. Pp. 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Discus Fish: The King of All Aquarium Fish. Discus
Tác giả: Schulze, E
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5: Bể bạt Hình 4: Hồ kính - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 5 Bể bạt Hình 4: Hồ kính (Trang 56)
Bảng 3.5: Lực lượng lao động - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.5 Lực lượng lao động (Trang 58)
Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của lao động thuê mướn tại cơ sở sản xuất cá dĩa - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.7 Trình độ chuyên môn của lao động thuê mướn tại cơ sở sản xuất cá dĩa (Trang 59)
Hình 8: Dòng cá Bông - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 8 Dòng cá Bông (Trang 63)
Bảng 3.10: Tỷ lệ các hộ sản xuất cá  giống dòng thuần và dòng mới nhập nội - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.10 Tỷ lệ các hộ sản xuất cá giống dòng thuần và dòng mới nhập nội (Trang 65)
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế (Trang 67)
Bảng 3.15: Một số kỹ thuật áp dụng trong sản xuất giống - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.15 Một số kỹ thuật áp dụng trong sản xuất giống (Trang 68)
Bảng 3.17:  Nguồn nước các cơ sở sử dụng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.17 Nguồn nước các cơ sở sử dụng (Trang 70)
Hình 23: Chiều dài cá thí nghiệm thức ăn giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 23 Chiều dài cá thí nghiệm thức ăn giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi (Trang 80)
Hình 25: Tiêm chất kích thích sinh sản cho cá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 25 Tiêm chất kích thích sinh sản cho cá (Trang 88)
Bảng 3.36: Ảnh hưởng của thời gian tách bầy đến tỷ lệ sống của cá con - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Bảng 3.36 Ảnh hưởng của thời gian tách bầy đến tỷ lệ sống của cá con (Trang 90)
Hình 26: Thí nghiệm một số kỹ thuật sản xuất giống - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 26 Thí nghiệm một số kỹ thuật sản xuất giống (Trang 92)
Hình 1: Sơ đồ giới hạn pH thích hợp cho Cá dĩa - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 1 Sơ đồ giới hạn pH thích hợp cho Cá dĩa (Trang 103)
Hình 2: Hình dạng bộ máy - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
Hình 2 Hình dạng bộ máy (Trang 107)
Phụ lục 1: Hình ảnh - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bổ sung quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn nuôi cá dĩa symphysodon spp
h ụ lục 1: Hình ảnh (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm