1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf

199 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề làm trang phục cải lương tuồng cổ ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Ths. Nguyễn Thị Tâm Anh, Ths. Nguyễn Ngọc Sang, Ths. Nguyễn Duy Đoài, Hoàng Sơn Giang
Trường học Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo nghiệm thu
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 13,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (7)
  • 3. Câu hỏi nghiên cứu (7)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (8)
  • 5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (8)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (16)
  • 8. Bố cục đề tài (17)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (18)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan (18)
      • 1.1.1. Văn hóa và Nghệ thuật (18)
      • 1.1.2. Cải lương và Cải lương tuồng cổ (22)
      • 1.1.3. Trang phục và trang phục sân khấu (25)
      • 1.1.4. Nghề thủ công truyền thống (27)
    • 1.2. Khái quát về nghệ thuật sân khấu Cải lương ở Nam Bộ và phân loại Cải lương (29)
      • 1.2.2. Diễn trình lịch sử sân khấu Cải lương (0)
      • 1.2.3. Phân loại Cải lương (0)
      • 1.2.3. Đặc trưng của sân khấu Cải lương (37)
    • 1.3. Không gian văn hóa vùng Nam Bộ với sự phát triển của Cải lương tuồng cổ (39)
      • 1.3.1. Không gian văn hóa vùng Nam Bộ (41)
      • 1.3.2. Cải lương trong không gian văn hóa nghệ thuật Nam Bộ (46)
      • 1.3.3. Ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật Nam Bộ đến trang phục Cải lương tuồng cổ (48)
  • CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA NGHỀ LÀM TRANG PHỤC CẢI LƯƠNG TUỒNG CỔ (52)
    • 2.1. Lịch sử hình thành, phát triển nghề làm trang phục Cải lương (52)
      • 2.1.1. Lịch sử hình thành (52)
      • 2.1.2. Quá trình phát triển (55)
    • 2.2. Kỹ thuật chế tác trang phục Cải lương tuồng cổ (57)
      • 2.2.1. Nguyên liệu và cách làm (57)
      • 2.2.2. Quy trình chế tác (58)
      • 2.2.3. Sản phẩm (61)
    • 2.3. Đặc điểm trang phục Cải lương (65)
      • 2.3.1. Trang phục Cải lương tâm lý xã hội (0)
      • 2.3.2. Trang phục Cải lương tuồng cổ (0)
      • 2.3.3. Trang phục Cải lương hương xa (0)
    • 2.4. Giá trị của nghề làm trang phục Cải lương (73)
      • 2.4.1. Giá trị lịch sử (74)
      • 2.4.2. Giá trị văn hóa (75)
      • 2.4.3. Giá trị nghệ thuật (84)
      • 2.4.4. Giá trị kinh tế (91)
      • 2.4.5. Giá trị xã hội (92)
  • CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ LÀM (96)
    • 3.1. Thực trạng các cơ sở làm trang phục Cải lương tuồng cổ ở thành phố Hồ Chí Minh 9 4 1. Hoạt động của các cơ sở trang phục hiện nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9 5 2. Những thuận lợi và khó khăn (96)
    • 3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy nghề may trang phục Cải lương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1 0 7 1. Giải pháp cấp thiết (áp dụng phân tích SWOT) (109)
      • 3.2.2. Giải pháp về lâu dài (113)
    • 3.3. Giải pháp phát triển nghệ thuật sân khấu Cải lương (120)
  • KẾT LUẬN (130)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (133)

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO NGHIỆM THU (đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) NGHỀ LÀM TRANG PHỤC CẢI LƯƠNG TUỒNG CỔ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chủ n[.]

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề sau đây:

- Tìm hiểu đặc điểm sản phẩm và giá trị của nghề may trang phục Cải lương tuồng cổ ở thành phố Hồ Chí Minh

- Nhận định về hiện trạng của nghề làm trang phục Cải lương hiện nay

- Đề xuất ra các giải pháp bảo tồn và phát triển nghề.

Câu hỏi nghiên cứu

Sân khấu Cải lương đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển đặc sắc, phản ánh sự giao thoa văn hóa và nghệ thuật dân gian Ngôn ngữ sân khấu Cải lương được hình thành từ những điều kiện văn hóa, xã hội và lịch sử đặc thù, tạo nên một phong cách biểu diễn độc đáo Vai trò của ngôn ngữ mỹ thuật và phục trang trong Cải lương là vô cùng quan trọng, không chỉ làm nổi bật tính cách nhân vật mà còn góp phần tạo nên không khí và cảm xúc cho mỗi vở diễn.

Cải lương tuồng cổ là một thể loại nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, nổi bật với sự kết hợp giữa âm nhạc, diễn xuất và trang phục Trang phục trong vở cải lương tuồng cổ không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nhân vật và bối cảnh Sự lựa chọn trang phục phù hợp giúp khán giả dễ dàng nhận diện và hiểu rõ hơn về tính cách, tâm trạng của nhân vật, từ đó nâng cao trải nghiệm thưởng thức nghệ thuật Trang phục còn có tác động lớn đến nhận thức của người xem, tạo nên ấn tượng sâu sắc và góp phần làm nổi bật thông điệp của vở diễn.

Nghề làm trang phục Cải lương có được coi là nghề truyền thống hay không phụ thuộc vào các tiêu chí như lịch sử hình thành, sự phát triển và ảnh hưởng văn hóa Quá trình hình thành và phát triển nghề này gắn liền với sự phát triển của nghệ thuật Cải lương tại Việt Nam Hiện nay, thực trạng nghề làm trang phục Cải lương đang gặp nhiều thách thức, với số lượng nghệ nhân ngày càng giảm, điều này ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của trang phục truyền thống.

- Phương thức hoạt động, đào tạo nghề làm trang phục Cải lương tuồng cổ ra sao? Giải pháp bảo tồn và phát triển nghề?

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghệ thuật sân khấu Cải lương đã thu hút sự chú ý đặc biệt nhờ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nó Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu sâu sắc về nghệ thuật này từ nhiều góc độ khác nhau.

Trong giai đoạn trước năm 1975, cuốn Hồi ký 50 năm mê hát: Cải lương đã 50 tuổi (1968) của Vương Hồng Sển là một tài liệu quan trọng, ghi lại sự ra đời và nguồn gốc của nghệ thuật Cải lương Tác phẩm này cung cấp thông tin chi tiết về các vở tuồng, nghệ sĩ, bầu gánh và gánh hát đầu tiên, cũng như tình hình hoạt động của các gánh hát và cuộc đời của những nghệ sĩ tài danh thời bấy giờ Đây là nguồn tư liệu đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu Cải lương, từ những ngày đầu của việc “cải cách hát ca theo tiến bộ/lương truyền tuồng tích sánh văn minh.” Thêm vào đó, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam (1970) của Trần Văn Khải cũng góp phần làm phong phú thêm tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực này.

Cải lương có mối liên hệ chặt chẽ với hai loại hình nghệ thuật chính là Hát bội và Thoại kịch Tác giả phân tích các đặc điểm của sân khấu Cải lương thông qua lịch sử hình thành, văn học, âm nhạc và nhạc khí đặc trưng của nó, đồng thời so sánh với những đặc điểm nghệ thuật của Hát bội và Thoại kịch Đây là nguồn tư liệu quý giá cho việc hiểu rõ hơn về sự phát triển và đặc trưng của nghệ thuật Cải lương.

Nghiên cứu nghệ thuật sân khấu, đặc biệt là sân khấu Cải lương Nam Bộ, đã được Hoàng Như Mai phân tích trong cuốn “Sân khấu Cải lương” (1986) từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm bố cục, đề tài, cốt truyện, ca nhạc, diễn xuất và y phục - trang trí Sự tương tác giữa các yếu tố này tạo ra ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả của vở diễn, cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho việc định hình cách tiếp cận trong nghiên cứu Ngoài ra, năm 1989, Nghệ sĩ nhân dân Ba Vân đã đóng góp thêm vào lĩnh vực này với tác phẩm “Kể chuyện Cải lương”, do Lê Thị thực hiện.

Nghệ sĩ nhân dân Ba Vân, với hơn nửa thế kỷ gắn bó với sân khấu Cải lương, đã chia sẻ những trải nghiệm quý giá từ việc hợp tác và học hỏi cùng các nghệ sĩ hàng đầu Ông đã ghi lại chi tiết các giai đoạn phát triển của nghệ thuật Cải lương, đồng thời phân tích và đánh giá những điểm mạnh, điểm đẹp cũng như những hạn chế của loại hình nghệ thuật này Đặc biệt, ông tập trung vào việc phân tích các thể loại tuồng Cải lương và quá trình hình thành, sáng tạo của thể loại Cải lương cổ trang.

Tư liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về trang phục và nghề làm trang phục trong nghệ thuật Cải lương Tác giả Tuấn Giang, trong cuốn “Ca nhạc và sân khấu Cải lương” (1997), đã phân tích nghệ thuật sân khấu Cải lương từ góc độ lý luận và nhạc lý, nghiên cứu âm nhạc Cải lương trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 1910 - 1945 Ông đã theo dõi sự phát triển của ca nhạc tài tử Cải lương, hình thức carabộ, và sự hình thành của ca nhạc Cải lương, đồng thời đánh giá các khía cạnh phát triển của sân khấu Cải lương trong khoảng thời gian này Năm 2007, Nguyễn Thị Minh Ngọc và Đỗ Hương đã đưa ra một trăm câu hỏi về lĩnh vực này.

Sân khấu Cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua một lịch sử phát triển phong phú, phản ánh sâu sắc văn hóa vùng Nam Bộ Cuốn sách này khám phá những giai đoạn nổi bật, từ thời kỳ hoàng kim đến xu thế thoái trào của nghệ thuật Cải lương, mang đến cái nhìn chân thực và chi tiết về sự biến đổi của nghệ thuật này trong lòng Sài Gòn.

Người đọc có thể nhận diện xu hướng phát triển của nghệ thuật Cải lương, đồng thời các nhà nghiên cứu có thể đề xuất giải pháp khắc phục khó khăn hiện nay cho loại hình nghệ thuật này Năm 2010, công trình “Điều tra, phát huy nghệ thuật truyền thống thành phố Hồ Chí Minh: sân khấu Cải lương” do PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng chủ nhiệm đã được nghiệm thu với kết quả tích cực, khẳng định giá trị Cải lương như một bộ phận di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc và thể loại sân khấu truyền thống đặc trưng của vùng Nam Bộ Luận án Tiến sĩ của Võ Thị Yến (2013) đã hệ thống lại khái niệm và thuật ngữ liên quan đến Cải lương, phân tích tác động của các phương thức quản lý và đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nghệ thuật Cải lương Nam Bộ, từ đó tìm ra hướng phát triển nghề làm trang phục Cải lương dưới sự quản lý của Nhà nước Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu khác đóng góp vào lĩnh vực này.

Sân khấu hôm nay của Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam (1993) và nghiên cứu của Nguyễn Phan Thọ về thị hiếu người xem (1994) cùng với phân tích của Đỗ Dũng trong “Sân khấu Cải lương Nam Bộ” (2003) đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiến trình phát triển lịch sử sân khấu Cải lương từ năm 1918 đến 2000 Đặc biệt, vào năm 2016, nhà nghiên cứu Huỳnh Công Tín đã chủ biên cuốn sách Văn hóa, tiếp tục mở rộng và làm phong phú thêm kiến thức về lĩnh vực này.

Cải lương Nam Bộ, từ đờn ca tài tử đến sân khấu Cải lương, là chủ đề chính của cuốn sách do NXB Văn hóa - Văn nghệ xuất bản, dựa trên Hội thảo cùng tên Cuốn sách quy tụ nhiều nhà nghiên cứu và nghệ sĩ, cung cấp những bài viết sâu sắc về nghệ thuật Cải lương và đờn ca tài tử, là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Nhóm tư liệu này nghiên cứu trang phục sân khấu Cải lương, đặc biệt là trang phục Cải lương tuồng cổ, từ góc độ ngôn ngữ và các thành tố văn hóa Việt Nam Bản sắc văn hóa Việt Nam là một chủ đề được nhiều nhà văn hóa học quan tâm, với các tác phẩm nổi bật như “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Giáo sư Phan Ngọc, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Giáo sư Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, và các nghiên cứu của Giáo sư Trần Quốc Vượng.

Cơ sở văn hóa Việt Nam được thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu, trong đó có "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" của Giáo sư Trần Ngọc Thêm Ông nhấn mạnh rằng văn hóa bao gồm các giá trị do con người sáng tạo qua một quá trình lịch sử, tạo thành hệ thống chặt chẽ Điều này là nền tảng quý giá để nghiên cứu trang phục Cải lương tuồng cổ từ góc độ văn hóa học Giáo sư Thêm cũng phân tích ý nghĩa của việc mặc, cho rằng trang phục không chỉ phục vụ cho môi trường và làm đẹp mà còn mang ý nghĩa xã hội lớn, thể hiện địa vị và nghề nghiệp của người mặc Mặc dù tác giả chỉ đề cập đến trang phục đời thường, nhưng tác phẩm đã giúp định hình cách tiếp cận khoa học về trang phục sân khấu Đến nay, nghiên cứu về trang phục sân khấu, đặc biệt là trang phục Cải lương tuồng cổ, vẫn còn hạn chế Tác giả Đoàn Thị Tình trong "Những vấn đề trang phục sân khấu truyền thống (tuồng và chèo)" đã đề cập đến trang phục trên sân khấu, tập trung vào sự phát triển của trang phục người Việt trong tuồng và chèo.

Mười nguyên tắc trang phục trên sân khấu, bao gồm tính chân thực lịch sử, tính dân tộc, tính thẩm mỹ và tính hình tượng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh nghệ thuật Nghiên cứu về trang phục Cải lương, đặc biệt trong thể loại tuồng cổ, đã được phát triển từ các công trình trước đó Trong cuốn "Sân khấu Cải lương" (1986), tác giả Hoàng Như Mai phân tích các đặc điểm của sân khấu Cải lương qua bố cục, đề tài, cốt truyện, ca nhạc, diễn xuất và trang phục Ông nhấn mạnh rằng trong các vở diễn đề tài xã hội, diễn viên thường mặc trang phục giống như đời thực, trong khi ở các vở lịch sử dân tộc, trang phục được lựa chọn để phản ánh nguồn gốc của cốt truyện và nhân vật Tác giả Lê Long Vân cũng góp phần làm rõ thêm vai trò của trang phục trong nghệ thuật Cải lương qua cuốn sách "Kể chuyện Cải lương".

Vào những năm 1922 - 1923, các gánh hát đầu tiên đã khai thác thể loại tuồng Tàu, với diễn viên mặc giáp trụ, hóa trang theo kiểu Quan Công và Uất Trì Cung, cùng với nhạc cụ truyền thống như kèn đồng và trống Qua quá trình cải cách thành Cải lương, sân khấu Hát bội đã có sự thay đổi, với phông nền tranh sơn thủy và phục trang được mua từ Chợ Lớn, bao gồm áo mão, giáp bào và mũ mãng theo kiểu gánh hát Quảng Đông, tạo nên một phong cách hóa trang rực rỡ và ấn tượng.

Cải lương, theo tác phẩm “Nghệ thuật sân khấu Việt Nam” (1970), được coi là “lối diễn cho đủ hạng người xem” nhờ sự giản dị và dễ hiểu, cùng với cách sử dụng ánh sáng và màu sắc tươi đẹp trong trang phục Trang phục không chỉ là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên thành công cho vở Cải lương mà còn góp phần thu hút khán giả với sự lộng lẫy, đa dạng và sang trọng Nó còn phản ánh bản sắc văn hóa và lịch sử dân tộc, đặc biệt trong các vở Cải lương dã sử Việt Nam Tác giả Tuấn Giang trong “Nghệ thuật Cải lương” (2006) đã nghiên cứu Cải lương từ góc độ ngôn ngữ sân khấu, khám phá quá trình hình thành và phát triển cũng như những đặc điểm cơ bản của nó.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm đạt được kết quả tốt nhất Đầu tiên, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp các thành tựu từ văn hóa học, nhân học văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học và nghệ thuật học để nghiên cứu một nghề đặc thù, chủ yếu dựa trên nền tảng văn hóa học Tiếp theo, phương pháp phân tích - tổng hợp giúp chúng tôi khai thác tư liệu từ sách, báo và tạp chí về nghệ thuật sân khấu, cung cấp cái nhìn cơ bản về đối tượng nghiên cứu và các vấn đề liên quan Chúng tôi cũng tham khảo các cơ sở pháp lý của Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, như Luật Di sản năm 2002 và các nghị định liên quan Cuối cùng, phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm nghiên cứu thực địa và phỏng vấn sâu, cho phép chúng tôi thu thập thông tin cấp 1, phản ánh chân thực đối tượng nghiên cứu và tạo điều kiện cho việc so sánh, đối chiếu.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra tại các cơ sở làm trang phục Cải lương tuồng cổ ở thành phố Hồ Chí Minh để thu thập thông tin thực tế và cập nhật những dữ liệu mới cho công trình nghiên cứu Trong quá trình điền dã, chúng tôi ghi chép kết quả, ghi âm và ghi hình để làm cơ sở phân tích Phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn chuyên gia được áp dụng để tiếp xúc với các nghệ nhân may trang phục, nghệ sĩ biểu diễn, sáng tác, thiết kế sân khấu, cùng với các nhà quản lý có liên quan đến việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa trang phục Cải lương Biên bản phỏng vấn được ghi nhận và trình bày trong phần phụ lục Thêm vào đó, chúng tôi tổ chức các buổi tọa đàm và hội thảo để trao đổi ý kiến, từ đó tìm ra hướng ứng dụng phù hợp cho đề tài nghiên cứu.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam trong văn hóa văn nghệ, phân tích biến đổi phong cách thiết kế phục trang sân khấu, nhằm nâng cao hiểu biết về lý thuyết nghệ thuật và văn hóa Công trình cung cấp tài liệu tham khảo quý giá về giá trị văn hóa Việt Nam, đặc biệt làm nổi bật ý nghĩa của trang phục Cải lương tuồng cổ và nghề làm trang phục này, từ đó xây dựng nhận thức về văn hóa trang phục trong biểu diễn.

- Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh

- Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh

- Trường CĐ Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh

- Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh TP Hồ Chí Minh

- Trường ĐH Mở TP Hồ Chí Minh

Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trong Chương 1, chúng tôi trình bày các khái niệm và lý thuyết cơ bản liên quan đến văn hóa và nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật Cải lương và Cải lương tuồng cổ Chương này cũng đề cập đến trang phục truyền thống và nghề truyền thống, đồng thời khái quát lịch sử phát triển, phân loại và phân tích các đặc trưng của nghệ thuật Cải lương Để củng cố cơ sở lý luận, chúng tôi còn xem xét sự phát triển của nghệ thuật Cải lương trong không gian văn hóa Nam Bộ, từ đó làm rõ ảnh hưởng của văn hóa vùng đến trang phục Cải lương tuồng cổ.

Chương 2: QUÁ TRÌNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA NGHỀ LÀM TRANG PHỤC CẢI LƯƠNG TUỒNG CỔ

Chương 2 tập trung vào việc phân tích quy trình thiết kế trang phục, bao gồm trang phục đội và trang phục mặc, đồng thời tìm hiểu lịch sử nghề làm trang phục Cải lương tuồng cổ, từ quá trình hình thành đến phát triển Bên cạnh đó, chương cũng xem xét các đặc điểm của trang phục trong các thể loại Cải lương Phần trọng tâm của chương là phân tích giá trị của nghề làm trang phục Cải lương tuồng cổ.

Chương 3: HIỆN TRẠNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ LÀM TRANG PHỤC CẢI LƯƠNG TUỒNG CỔ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương 3 phân tích hiện trạng nghề làm trang phục Cải lương tuồng cổ, nêu rõ những thuận lợi và khó khăn mà các cơ sở sản xuất đang đối mặt Từ đó, chương này đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của trang phục thông qua phân tích ma trận SWOT, bao gồm điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Ngoài ra, chương 3 còn tập trung vào việc phát triển sân khấu Cải lương nói chung, dựa trên lý thuyết nghiên cứu của Văn hóa đại chúng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Văn hóa và Nghệ thuật

Văn hóa và Nghệ thuật đều là sản phẩm lao động sáng tạo của con người, giúp phân biệt các tộc người khác nhau Mặc dù mỗi tộc người có những nét văn hóa riêng biệt, nhưng vẫn tồn tại những thành tố văn hóa chung, tạo nên văn hóa toàn cầu Những thành tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền văn hóa của từng tộc người cũng như nền văn hóa nhân loại.

Văn hóa là một khái niệm đa dạng với nhiều định nghĩa khác nhau, thường được hiểu là sản phẩm mà con người tạo ra từ những ngày đầu lịch sử cho đến nay Mỗi định nghĩa về văn hóa đều phản ánh những sắc thái riêng trong cách nhìn nhận và đánh giá về nó.

Văn hóa là một khái niệm đa dạng, bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Đến nay, đã có hơn bốn trăm định nghĩa về văn hóa, cho thấy sự phong phú và phức tạp của nó.

Các nhà nghiên cứu có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, nhưng hầu hết đều đồng ý rằng văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người Nghệ thuật, một phần không thể tách rời của văn hóa, thể hiện sự sáng tạo và bản sắc của con người Nó không chỉ là sản phẩm của một cá nhân mà còn phản ánh đặc điểm và lịch sử văn hóa của một nhóm người hoặc cộng đồng nhất định.

Nghệ thuật là sản phẩm của sự sáng tạo và trí tưởng tượng của con người, phản ánh văn hóa và bản sắc dân tộc Theo Sir Edward Tylor (1832 - 1917), nghệ thuật không chỉ là hình thức biểu đạt mà còn là một yếu tố quan trọng trong văn hóa, thể hiện những giá trị và cảm xúc sâu sắc của con người.

1 Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam, cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa Thông Tin, Hà Nội, tr.114

Văn minh, theo nghĩa rộng nhất trong dân tộc học, là tổng thể phức tạp bao gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực hoặc tập tục khác mà con người tiếp thu như một thành viên của xã hội.

Văn hóa, theo định nghĩa của UNESCO, là một phức hệ bao gồm các đặc trưng tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm, phản ánh bản sắc của cộng đồng, gia đình, làng, vùng miền, quốc gia và xã hội Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn chương mà còn liên quan đến lối sống, quyền cơ bản của con người, hệ thống giá trị và truyền thống tín ngưỡng Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa được hiểu là hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo và tích lũy qua hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.

Thưởng thức nghệ thuật là nhu cầu cơ bản của con người, giúp chiêm ngưỡng cái đẹp và là một thành tố quan trọng của văn hóa Nghệ thuật không chỉ phản ánh chiều kích của cái đẹp mà còn gắn liền với văn hóa toàn cầu, thể hiện văn minh nhân loại Trong cộng đồng, nghệ thuật được xem như sự diễn đạt và sản phẩm của văn hóa, chứa đựng các giá trị và kinh nghiệm mỹ học từ hoạt động của con người Do đó, nghệ thuật không thể tách rời khỏi ngữ cảnh văn hóa, vì đối với mỗi tộc người, nó là một phần thiết yếu của bản sắc văn hóa.

Nghệ thuật đã xuất hiện trong xã hội loài người từ thời kỳ nguyên thủy, nhưng khái niệm về nghệ thuật vẫn chưa được thống nhất cho đến thế kỷ XVIII.

2 E.B Tylor (1871): Primitive Culture (Văn hóa Nguyên Thủy), John Murray, Albemarie Street,

3 Ngô Văn Lệ (2004): Tộc người và văn hóa tộc người, Nxb ĐH QG TP HCM, tr 314

4 Trần Ngọc Thêm (2004): Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP.HCM, tr 25

"Nghệ thuật" mang ý nghĩa rộng, thể hiện việc áp dụng có hệ thống các tri thức và kỹ năng nhằm đạt được kết quả mong muốn.

Trong tác phẩm “Thi Pháp”, Aristote cho rằng nghệ thuật là hành vi “bắt chước”, phản ánh bản chất con người thích bắt chước Sự bắt chước khéo léo không chỉ tạo ra sự thích thú mà còn dẫn đến tài năng và nghệ thuật Tuy nhiên, Aristote không xem sự bắt chước này là sao chép, mà nhấn mạnh rằng người nghệ sĩ luôn thêm bớt để nâng cao giá trị tác phẩm Việc thêm bớt này cần phải kết hợp với cách điệu và tiết tấu theo quy luật hài hòa.

Trong tác phẩm “What is Art?” do Almyer Maude dịch và phát hành bởi MacMillan năm 1960, Tolstoy định nghĩa nghệ thuật là hình thức biểu đạt cảm xúc cá nhân, giúp người nhận cảm nhận và trải nghiệm những cảm xúc tương tự Ông nhấn mạnh rằng để hiểu nghệ thuật đúng cách, cần từ bỏ quan niệm coi nghệ thuật là công cụ tạo ra khoái lạc hay cái đẹp, và không nên áp đặt tiêu chuẩn khách quan cho nghệ thuật Nghệ thuật là một phần thiết yếu trong cuộc sống con người và là phương thức giao tiếp giữa các cá nhân, không thuộc về một giai cấp nào trong xã hội.

Nghệ thuật, theo tác giả Lâm Vinh, được hiểu là một hình thức ý thức xã hội và hoạt động tinh thần của con người, tuân theo quy luật cái đẹp ở mức độ phát triển cao Nó phục vụ cho đời sống tinh thần phong phú của con người, đáp ứng nhu cầu và khát vọng vươn tới giá trị chân thiện mỹ Do đó, nghệ thuật là tài sản chung của tất cả mọi người, có chức năng tương tự như các lĩnh vực khác trong xã hội.

Nghệ thuật rất đa dạng, vì vậy việc phân loại là cần thiết để hiểu rõ hơn về nó Để thực hiện phân loại nghệ thuật, cần dựa trên những tiêu chuẩn nhất định.

5 Phan Thu Hiền (2006): Văn hóa học nghệ thuật như một chuyên ngành của văn hóa học, Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật, số 10 - tr 9

6 Đỗ Văn Khang (2004): Nghệ thuật học, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr 9

7 Lâm Vinh (2001): Nghệ thuật học, ĐH Sư Phạm TP HCM, tr 12

Các nhà Mỹ học và Triết học từ cổ đại đến nay đã nỗ lực xác định và phân loại nghệ thuật, nhưng do khái niệm Nghệ thuật quá rộng, chưa có phân loại nào tuyệt đối Nghiên cứu cho thấy nhiều công trình phân loại nghệ thuật, như Trần Ngọc Thêm chia thành ba loại: nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thanh sắc và nghệ thuật hình khối; còn Phan Thu Hiền phân chia thành nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật tạo hình Mặc dù tên gọi khác nhau, nội dung chung cho thấy có thể xem nghệ thuật được chia thành ba loại hình chính.

Khái quát về nghệ thuật sân khấu Cải lương ở Nam Bộ và phân loại Cải lương

1.2.1 Diễn trình lịch sử sân khấu Cải lương

 Sự ra đời của nghệ thuật Cải lương

Sân khấu Cải lương ra đời từ một quá trình lâu dài, kết hợp giữa kế thừa và tổng hợp, khởi nguồn từ diễn ca ra bộ và Đờn ca tài tử, tạo nên nền tảng âm nhạc cho loại hình nghệ thuật này Phong trào cải cách Hát bội và diễn tuồng pha Cải lương đã thúc đẩy sự giao thoa giữa các thể loại, làm phong phú nội dung, vũ đạo và âm nhạc Trong bối cảnh văn hóa xã hội, sân khấu phương Tây đã ảnh hưởng đến sự hình thành Cải lương thông qua kịch nói và opera, góp phần vào cấu trúc kịch bản và hình thức biểu diễn Thị hiếu nghệ thuật của khán giả đã dẫn đến sự ra đời của Cải lương, kết hợp giữa ca ra bộ, Hát bội và ảnh hưởng từ sân khấu phương Tây Sự ủng hộ từ công chúng, báo chí và nghệ sĩ đã tạo điều kiện cho Cải lương phát triển, với đề tài thường liên quan đến điển tích và các khía cạnh đời sống xã hội.

Năm 1917 có hai sự kiện quan trọng trong lịch sử “Cải lương” Ngày 28/3/1917 ông Lương Khắc Ninh, một công chức, có diễn thuyết ở Hội khuyến học

Nam Kỳ (Société d’Enseignement Mutuel de Cochinchine) về đề tài “Cải lương hí nghệ” Và ngày 11/9/1917 vở kịch “Vì nghĩa quên nhà” của Lê Quang Liêm và Hồ

Biểu Chánh là một vở hài kịch phương Tây được trình diễn tại rạp Eden Saigon và rạp Cô Tám (Chợ Lớn) vào ngày hôm sau Vở kịch đã gây ra nhiều tranh cãi giữa nhóm bảo tồn Hát bội và nhóm Hát bội cải tiến.

Tòa nhà Times Square, tọa lạc tại số 22-36 Nguyễn Huệ và 57-69F Đồng Khởi, là một biểu tượng hiện đại của Sài Gòn, với chiều cao gần 165m và 39 tầng Nằm giữa hai con phố sầm uất, tòa nhà không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về vị trí mà còn mang đến phong cách kiến trúc rực rỡ như đuôi công Hệ thống ánh sáng hiện đại làm bừng sáng Times Square vào ban đêm, tạo nên hình ảnh nổi bật và được mệnh danh là "trái tim" của Thành phố Hồ Chí Minh Tổng diện tích xây dựng khoảng 90.000m2, với 6 tầng bệ và 3 tầng hầm, Times Square thực sự là một đô thị thu nhỏ mang đẳng cấp quốc tế.

Sau khi Pháp đánh thắng Đức, chính phủ Pháp đã yêu cầu các tướng toàn quyền thuộc địa cho trí thức Việt Nam tổ chức buổi diễn văn nghệ quyên góp tiền giúp phục hồi kinh tế Toàn quyền Albert Pierre Sarraut đã cho phép nhóm trí thức Việt Nam như Hồ Biểu Chánh và Trương Duy Toản dựng vở Cải lương "Pháp – Việt nhứt gia" (Gia Long tẩu quốc) vào ngày 16/11/1918 tại nhà hát Catinat Đây là cơ hội để trí thức Việt Nam tạo dựng sân khấu Cải lương đầu tiên tại một nhà hát Tây, thể hiện tinh thần yêu nước và mở đường cho các tác phẩm Cải lương nổi tiếng như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, và Thái hậu Dương Vân Nga.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra thời điểm ra đời của Cải lương khác nhau:

Cải lương là một thuật ngữ du nhập vào Việt Nam thông qua các nhà báo và dịch giả, nhằm giới thiệu tư tưởng phương Tây, đặc biệt là triết học Chủ nghĩa Cải lương (Reformism) Thuật ngữ này đã xuất hiện trên nhiều tờ báo trước năm 1905, phản ánh sự ảnh hưởng của trào lưu triết học Cải lương trong xã hội Việt Nam.

Sân khấu Cải lương, theo tác giả Tuấn Giang, được thành lập bởi ban hát của Châu Văn Tú (hay còn gọi là Năm Tú) Vào ngày 25 tháng 11 năm 1918, ông Năm Tú đã treo biển hiệu Cải lương và trình diễn vở Kim Vân Kiều trong ba đêm liên tiếp.

Theo nghiên cứu của Vũ Đào, Lê Văn Chất và Trần Văn Khải, thuật ngữ "Cải lương" đã có nguồn gốc từ các phong trào cải cách văn hóa, nghệ thuật trước đó Vào khoảng năm 1920 - 1922, Trương Văn Thông từ Sa Đéc đã lên Sài Gòn và thành lập gánh hát mang tên “Gánh Cải lương Tân Thinh”, lấy hai từ đầu của hai câu liễn.

Bài viết "Cải cách hát ca theo tiến bộ, Lương truyền tuồng tích sánh văn minh" của Lê Hoài Nghĩa và Nguyễn Biểu Quốc đã mở ra một xu hướng mới trong nghệ thuật cải lương, dẫn đến sự ra đời của nhiều gánh hát khác mang tên "Cải lương".

Năm 1918, ông Năm Tú sáng lập "Ban hát cải lương Châu Văn Tú", đánh dấu một bước đột phá trong việc phát triển thương hiệu cải lương Ông cũng đặt ra quy định nghiêm ngặt, cấm các ban hát khác sử dụng tên "Cải lương", khẳng định rằng hai chữ "Cải lương" là phát minh độc quyền của ông.

29 Tuấn Giang (2006), Nghệ thuật Cải lương, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.50.

Hai câu thơ của Lê Hoài Nghĩa và Nguyễn Biểu Quốc thể hiện sự sáng tạo trong sân khấu Cải lương Ông Trương Duy Toản đã có công lớn khi soạn vở Kim Vân Kiều của Nguyễn Du, kế thừa những giá trị cao quý của văn học cổ điển Việt Nam Sự ra đời của sân khấu Cải lương đánh dấu sự hoàn thiện các hình thức sân khấu ở Nam Bộ, trước đây chỉ là những trò diễn ca ra bộ.

Khoảng ba thế kỷ trước, Nam Bộ là vùng đất hoang sơ với dân cư thưa thớt Dần dần, các lưu dân Việt đã tiến vào khai hoang và lập nghiệp trên mảnh đất màu mỡ này Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của họ đã được mang theo, giao thoa và phát triển trong bối cảnh mới, tạo nên những giá trị tinh thần phong phú, góp phần hình thành ca nhạc tài tử và sân khấu Cải lương.

Hệ thống âm nhạc Cải lương phát triển từ âm nhạc dân gian, qua Đờn ca tài tử và Ca ra bộ, với sự xuất hiện ở nhiều sân khấu khác nhau Năm 1917 đánh dấu sự chuyển mình của nghệ thuật này từ diễn xướng dân gian thành vở diễn Cải lương, trong đó Tứ đại oán là tác phẩm tiêu biểu Đến năm 1920, bản vọng cổ Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu ra đời, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho nghệ thuật Cải lương, tạo nền tảng cho ca nhạc Cải lương cho đến ngày nay.

Nghệ thuật sân khấu Cải lương ra đời từ những yếu tố ngẫu nhiên và lòng ái quốc, theo nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển Ông cho rằng, sự hình thành của Cải lương không chỉ là kết quả của sự tình cờ mà còn phản ánh tinh thần khát khao giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh mất nước Lòng yêu nước của những người sáng tạo ra Cải lương đã giúp họ tìm kiếm con đường để duy trì và phát triển tinh thần quốc gia.

Sân khấu Cải lương có nguồn gốc từ Mỹ Tho, nơi ghi nhận sự ra đời của các ban nhạc tài tử và ca ra bộ Các tư liệu lịch sử cho thấy, đêm diễn Cải lương đầu tiên cũng diễn ra tại Mỹ Tho, trong khi các khu vực khác chỉ phát triển sau này dưới ảnh hưởng của hình thức nghệ thuật này.

Có thể hệ thống sự ra đời nghệ thuật Cải lương theo sơ đồ sau:

30 Tuấn Giang (1997): Ca nhạc và sân khấu Cải lương, NXB Văn hóa Dân tộc Hà Nội, tr.45.

31 Vương Hồng Sển (1968): Hồi ký 50 năm mê hát: Cải lương đã 50 tuổi, Nhà in Phạm Quang Khai, Sài Gòn, tr.8.

Quá trình tiến triển từ nhạc tế lễ Nam Bộ đến Cải lương

 Quá trình phát triển của nghệ thuật Cải lương

Quá trình phát triển nghệ thuật Cải lương có những cách luận giải khác nhau:

Giai đoạn từ năm 1918 đến 1945 được coi là thời kỳ hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu Cải lương Nghệ thuật Cải lương ra đời và phát triển dưới ảnh hưởng mạnh mẽ từ các loại hình nghệ thuật như Hát bội (Tuồng), nghệ thuật Triều Châu, Quảng Đông - Trung Quốc, và sân khấu Pháp Theo tác giả Lê Duy Hạnh, Cải lương ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng quyết định từ hai dòng sân khấu: sân khấu truyền thống Việt Nam và sân khấu kịch hiện đại Pháp.

Không gian văn hóa vùng Nam Bộ với sự phát triển của Cải lương tuồng cổ

Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, không gian văn hóa được định nghĩa là một không gian địa lý cụ thể, nơi các hiện tượng văn hóa phát sinh, tồn tại và biến đổi, liên kết với nhau như một hệ thống Nó cũng thể hiện vị trí địa lý của một hiện tượng văn hóa hoặc một tập hợp các hiện tượng văn hóa trong mối quan hệ với các hiện tượng văn hóa khác.

Nền văn hóa Việt Nam, qua quá trình lịch sử phát triển, đã hình thành nhiều dạng thức văn hóa đa dạng, tạo nên diện mạo phong phú cho văn hóa quốc gia Các đặc tính của cộng đồng, cảnh quan môi trường và điều kiện kinh tế xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc và đặc trưng riêng của từng dạng thức văn hóa.

Trong một quốc gia, văn hóa thể hiện sự đa dạng qua nhiều hình thức khác nhau, có thể phân loại thành bốn nhóm chính: văn hóa cộng đồng, văn hóa cá nhân, văn hóa vùng - lãnh thổ và văn hóa sinh thái.

Văn hóa vùng, hay còn gọi là văn hóa địa phương, là một thực thể văn hóa được hình thành và tồn tại trong một không gian lãnh thổ cụ thể Nó thể hiện qua các đặc trưng văn hóa liên quan đến hoạt động sản xuất, cũng như các thói quen trong ăn uống, trang phục, cư trú và di chuyển.

46 Ngô Đức Thịnh (2006): “Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam”, NXB Khoa học Xã hội,

Các đặc trưng văn hóa của vùng được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài, phản ánh cách tổ chức xã hội cổ truyền, giao tiếp cộng đồng, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải trí và tâm lý cư dân Những yếu tố này giúp phân biệt văn hóa của vùng với các vùng khác, nhờ vào sự tương đồng trong điều kiện môi trường và trình độ phát triển xã hội của các dân tộc trong khu vực, cùng với mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết giữa họ.

Việt Nam có bảy vùng văn hóa đặc trưng, bao gồm: vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ, vùng văn hóa Bắc Trung Bộ, vùng văn hóa Nam Trung Bộ và vùng văn hóa Trường Sơn Mỗi vùng mang đến những nét văn hóa độc đáo, phản ánh sự đa dạng và phong phú của di sản văn hóa Việt Nam.

Văn hóa vùng Nam Bộ và Tây Nguyên đóng vai trò quan trọng trong việc xác định không gian văn hóa của trang phục Cải lương Việc hiểu biết sâu sắc về các truyền thống văn hóa địa phương là nền tảng thiết yếu cho sự phát triển bền vững của nghề làm trang phục Cải lương trong hiện tại và tương lai.

Nam Bộ, vùng địa văn hóa phía Nam Việt Nam, hiện bao gồm 17 tỉnh và hai thành phố lớn, được chia thành hai phân vùng chính.

Khu vực Đông Nam Bộ bao gồm năm tỉnh là Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Trong khi đó, vùng Tây Nam Bộ, hay còn gọi là đồng bằng sông Cửu Long, có mười hai tỉnh gồm Long An, Tiền Giang, Bến Tre, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.

Vùng đất Nam Bộ là nơi sinh sống của nhiều tộc người như Việt, Khmer, Hoa, Chăm, tạo ra sự giao lưu văn hóa phong phú Quá trình cộng cư này đã hình thành một diện mạo văn hóa đa dạng, phản ánh đặc trưng của từng dân tộc Hoàn cảnh tự nhiên và lịch sử khai thác đã định hình tính cách cư dân nơi đây với những đặc điểm nổi bật như dũng cảm, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, và lòng hiếu khách.

47 Ngô Đức Thịnh (2006): “Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam”, NXB Khoa học Xã hội,

Nam Bộ, được xem là vùng đất mới của cộng đồng người Việt, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lịch sử Việt Nam, trong khi vùng đồng bằng Bắc Bộ được coi là quê hương và cái nôi của nền văn hóa Việt.

1.3.1 Không gian văn hóa vùng Nam Bộ

Môi trường tự nhiên Nam Bộ

Nam Bộ, vùng đất mới của người Việt từ thế kỷ XVI, trải dài về phía Nam và nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long, đã trở thành trung tâm giao lưu văn hóa và kinh tế Khu vực này sớm tiếp nhận ảnh hưởng từ các nền văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc và các nền văn hóa cổ ở Đông Nam Á, đồng thời có mối quan hệ mạnh mẽ với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia trong thời cận hiện đại Ngoài ra, văn hóa Pháp và Mỹ cũng để lại dấu ấn tại đây Địa hình đồng bằng và kênh rạch của Nam Bộ, kết hợp với biển, rừng tràm và đầm lầy, đã tạo nên một môi trường sống phong phú cho cư dân nơi này.

Miền Tây Nam Bộ, nằm bên chín nhánh Cửu Long, có vị trí địa lý quan trọng khi phía Bắc giáp Đông Nam Bộ, phía Tây giáp Campuchia và vịnh Thái Lan, cùng với Biển Đông bao quanh ba mặt Vùng đất này được hình thành trên đồng bằng sông nước với sự đa dạng về dân tộc, tạo nên đặc trưng văn hóa phong phú Yếu tố sông nước không chỉ ảnh hưởng đến đời sống mà còn định hình các yếu tố văn hóa của cộng đồng cư dân Điều kiện tự nhiên ở đây không chỉ phát huy nền văn hóa truyền thống của người Việt mà còn quyết định cách thức thích nghi với môi trường và xã hội.

Về mặt tự nhiên, miền Tây Nam Bộ gắn liền với hệ thống kênh rạch chằng chịt

Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò quan trọng trong kinh tế và văn hóa của cư dân địa phương Chế độ bán nhật triều tại các con sông và kênh rạch tạo nên bối cảnh sông nước rộng lớn, thơ mộng, từ đó khơi dậy sự sáng tạo trong nghệ thuật.

Vào những ngày rằm và mùng một âm lịch, con nước thường dâng cao nhất, được gọi là nước rong, đặc biệt xuất hiện vào các tháng giêng, tháng hai, tháng mười và tháng chạp âm lịch Ngoài ra, những ngày mùng mười và hai mươi lăm âm lịch cũng có sự biến đổi của mực nước.

QUÁ TRÌNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA NGHỀ LÀM TRANG PHỤC CẢI LƯƠNG TUỒNG CỔ

HIỆN TRẠNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ LÀM

Ngày đăng: 05/10/2023, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Tâm Anh, Nguyễn Ngọc Sang (2014), “Bảo tồn và phát huy nghề làm trang phục Cải lương tuồng cổ ở TP. HCM” đăng trong Làng nghề và Phát triển Du lịch, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy nghề làm trang phục Cải lương tuồng cổ ở TP. HCM” đăng trong" Làng nghề và Phát triển Du lịch
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm Anh, Nguyễn Ngọc Sang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. HCM
Năm: 2014
2. Nguyễn Thị Tâm Anh, Nguyễn Ngọc Sang (2016), “Nghề làm trang phục Cải lương ở TP. HCM”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 384, tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề làm trang phục Cải lương ở TP. HCM”, Tạp chí "Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm Anh, Nguyễn Ngọc Sang
Năm: 2016
4. Từ Thành Bắc (2013), Kinh kịch Trung Quốc, NXB Tổng hợp TP. HCM, 156tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh kịch Trung Quốc
Tác giả: Từ Thành Bắc
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. HCM
Năm: 2013
5. Nguyễn Thị Trúc Bạch (2013), "Đặc tính tổng hợp trong cấu trúc nghệ thuật Cải lương Nam Bộ", Tạp chí Khoa học Xã hội số 5 (177) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính tổng hợp trong cấu trúc nghệ thuật Cải lương Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Trúc Bạch
Năm: 2013
6. Phó Cẩn (2013), Hí kịch Trung Quốc, NXB Tổng hợp TP. HCM, 142tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hí kịch Trung Quốc
Tác giả: Phó Cẩn
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. HCM
Năm: 2013
7. Huỳnh Mẫn Chi (2007), Người và đất Tiền Giang, NXB Công an nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh, 318tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người và đất Tiền Giang
Tác giả: Huỳnh Mẫn Chi
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
8. Hoàng Chương (2014), 100 năm nghệ thuật Cải lương Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 427tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 năm nghệ thuật Cải lương Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Năm: 2014
9. Đỗ Dũng (2003), Sân khấu Cải lương Nam Bộ, NXB Trẻ, 203tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu Cải lương Nam Bộ
Tác giả: Đỗ Dũng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2003
10. Trần Quang Đức (2013), Ngàn năm áo mũ, NXB Thế giới; Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 297tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngàn năm áo mũ
Tác giả: Trần Quang Đức
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2013
11. Vũ Minh Giang (chủ biên) (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội, 143tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Vũ Minh Giang (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
12. Tuấn Giang (1997), Ca nhạc và sân khấu Cải lương, NXB Văn hóa Dân tộc Hà Nội, 131tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca nhạc và sân khấu Cải lương
Tác giả: Tuấn Giang
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc Hà Nội
Năm: 1997
13. Tuấn Giang (2006), Nghệ thuật Cải lương, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 613tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Cải lương
Tác giả: Tuấn Giang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
14. Phạm Minh Hạc (2015): “Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học”
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2015
15. Phan Thu Hiền (2006), Văn hóa học nghệ thuật như một chuyên ngành của văn hóa học, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học nghệ thuật như một chuyên ngành của văn hóa học
Tác giả: Phan Thu Hiền
Năm: 2006
16. Trần Văn Khải (1970), Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Tủ sách văn học, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 263tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật sân khấu Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Khải
Năm: 1970
17. Đỗ Văn Khang (2004), Nghệ thuật học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật học
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
18. Nguyễn Đình Khoa (1981), “Loại hình nhân chủng và nguồn gốc lịch sử người Khmer Nam Bộ”, Tạp chí Dân tộc học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình nhân chủng và nguồn gốc lịch sử người Khmer Nam Bộ”, Tạp chí "Dân tộc học
Tác giả: Nguyễn Đình Khoa
Năm: 1981
19. Ngô Văn Lệ (2004), Tộc người và văn hóa tộc người, Nxb ĐH QG TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tộc người và văn hóa tộc người
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: Nxb ĐH QG TP. HCM
Năm: 2004
21. Hoàng Như Mai (1986), Sân khấu Cải lương, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 193tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu Cải lương
Tác giả: Hoàng Như Mai
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1986
22. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam, cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa Thông Tin, Hà Nội, 238 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, cách tiếp cận mới
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông Tin
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Mão cửu long. Ảnh: Nhóm nghiên cứu - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 3 Mão cửu long. Ảnh: Nhóm nghiên cứu (Trang 140)
Hình 13: Mão bao đảnh. Ảnh: Nhóm nghiên cứu - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 13 Mão bao đảnh. Ảnh: Nhóm nghiên cứu (Trang 146)
Hình 15: Long bào và phụng bào. Ảnh: Nhóm nghiên cứu - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 15 Long bào và phụng bào. Ảnh: Nhóm nghiên cứu (Trang 147)
Hình 21: Áo phụng. Ảnh: Nhóm nghiên cứu - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 21 Áo phụng. Ảnh: Nhóm nghiên cứu (Trang 150)
Hình 27: Áo vải. Ảnh: Nhóm nghiên cứu. - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 27 Áo vải. Ảnh: Nhóm nghiên cứu (Trang 153)
Hình 59: Đầu chụp (tóc chụp) – Thiết kế: Nghệ sĩ Bạch Lan. Ảnh: Nhóm nghiên cứu - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 59 Đầu chụp (tóc chụp) – Thiết kế: Nghệ sĩ Bạch Lan. Ảnh: Nhóm nghiên cứu (Trang 173)
Hình 62: Nghệ sĩ – Nghệ nhân Kim Phượng, Kim Chín, Kim Mười, Hồng Sáp. - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 62 Nghệ sĩ – Nghệ nhân Kim Phượng, Kim Chín, Kim Mười, Hồng Sáp (Trang 175)
Hình 64: Mão Tỳ Lư (trái) và kim cang tích trượng (phải) – - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 64 Mão Tỳ Lư (trái) và kim cang tích trượng (phải) – (Trang 176)
Hình 66: Nghệ sĩ Kim Phượng (bìa trái) và nghệ sĩ Kim Duyên (bìa phải) sắm - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 66 Nghệ sĩ Kim Phượng (bìa trái) và nghệ sĩ Kim Duyên (bìa phải) sắm (Trang 177)
Hình 70: Mão bình thiên (trái) và Mão nữ tướng (Phải) – Thiết kế: Nghệ sĩ Lê Vy. - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 70 Mão bình thiên (trái) và Mão nữ tướng (Phải) – Thiết kế: Nghệ sĩ Lê Vy (Trang 179)
Hình 92: Long bào đại triều và long trấn của vua triều Nguyễn (hiện vật gốc ở - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 92 Long bào đại triều và long trấn của vua triều Nguyễn (hiện vật gốc ở (Trang 193)
Hình 94: Trang phục NSND Bảy Nam trong vai Đào Tam Xuân trong vở "Trảm - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 94 Trang phục NSND Bảy Nam trong vai Đào Tam Xuân trong vở "Trảm (Trang 194)
Hình 96: Trang phục NSND Phùng Há sử dụng trong vai Lữ Bố, giữa thế kỷ XX - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 96 Trang phục NSND Phùng Há sử dụng trong vai Lữ Bố, giữa thế kỷ XX (Trang 195)
Hình 98: Long bào của vua Quang Trung trong vở “Tâm sự Ngọc Hân” những - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 98 Long bào của vua Quang Trung trong vở “Tâm sự Ngọc Hân” những (Trang 196)
Hình 100: Nghệ sĩ Thanh Nguyệt trong trang phục kiếm hiệp Ba Tư (Tư liệu tại - Nghề Làm Trang Phục Cải Lương Tuồng Cổ Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh.pdf
Hình 100 Nghệ sĩ Thanh Nguyệt trong trang phục kiếm hiệp Ba Tư (Tư liệu tại (Trang 197)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm