Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ cải thiện thính lực của bệnh nhân điếc đột ngột sau điều trị bằng phương pháp kết hợp đồng thời oxy cao áp với thuốc và mối liên quan giữa thời gian
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TT NHIỆT ĐỚI VIỆT - NGA
CHI NHÁNH PHÍA NAM
BÁO CÁO NGHIỆM THU
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐIỀU TRỊ ĐIẾC ĐỘT NGỘT BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP ĐỒNG THỜI OXY CAO ÁP VỚI THUỐC
ĐỒNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 11/2012
Trang 2TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đặt Vấn đề: Điếc đột ngột sau khi điều trị thuốc đơn thuần 5 ngày không có
kết quả được chỉ định điều trị kết hợp với oxy cao áp cho thấy tỉ lệ cải thiện thính lực tương đối tốt Vì vậy, vấn đề được đặt ra là nếu điều trị kết hợp đồng thời oxy cao áp với thuốc ngay từ ngày điều trị đầu tiên cho bệnh nhân điếc đột ngột kết quả sẽ như thế nào?
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ cải thiện thính lực của bệnh nhân điếc
đột ngột sau điều trị bằng phương pháp kết hợp đồng thời oxy cao áp với thuốc và mối liên quan giữa thời gian đến điều trị sớm hay muộn, lứa tuổi bệnh nhân với kết
quả điều trị
Đối tượng và phương pháp: 300 bệnh nhân điếc đột ngột được phân bố ngẫu
nhiên thành 2 nhóm: 150 bệnh nhân điều trị thuốc đơn thuần theo phác đồ quy ước
10 ngày và 150 bệnh nhân điều trị thuốc theo phác đồ quy ước kết hợp đồng thời với oxy cao áp 10 ngày ở áp suất 2,5 ATA, mỗi ngày 01 giờ
Kết quả: Bệnh nhân điếc đột ngột điều trị kết hợp oxy cao áp với thuốc có tỉ
lệ cải thiện thính lực Chung là 70,7% trong đó cải thiện Tốt là 34,8%, cao hơn bệnh nhân điều trị thuốc đơn thuần có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Bệnh nhân đến điều trị
≤ 7 ngày có tỉ lệ cải thiện Chung là 76,5% trong đó cải thiện Tốt là 40% và bệnh nhân đến điều trị > 7 ngày có tỉ lệ cải thiện Chung là 60,6% trong đó cải thiện Tốt là 25,8% (p < 0,05) Bệnh nhân lứa tuổi < 50 có tỉ lệ cải thiện Chung là 72,5% trong đó cải thiện Tốt là 37,4% và bệnh nhân lứa tuổi ≥ 50 có tỉ lệ cải thiện Chung là 66% trong đó cải thiện Tốt là 28% (p > 0,05)
Kết luận: Điều trị điếc đột ngột bằng phương pháp kết hợp đồng thời oxy cao
áp với thuốc cho hiệu quả điều trị cao hơn so với điều trị thuốc đơn thuần theo phác
đồ quy ước
ABSTRACT
Background: One previous study has showed that if patient with Sudden
Hearing Loss medical treatment is not improved after 5 days, combined treatment with hyperbaric oxygen will be more effective So with this study, we try to see if
Trang 3patient treated with combined treatment (hyperbaric oxygen and medicine) from the beginning will have better result or not
Objective: To find out improvement rate on audiogram after combined
treatment and to observe the relation between result of treatment with time of beginning treatment and age of intervention
Method: 300 patients randomized controlled trial into 2 groups: 150 with
only medical treatment and 150 with a combined treatment (medicine + HBO at the pressure 2.5 ATA one hour daily) for 10 days
Results: Primary study showed that patient treated with combined treatment:
70.7% patients have improved hearing with 34.8% having a significant improvement, higher than patients treatment only with medicine (p < 0.05)
Beginning of treatment ≤ 7 days 76.5% improved with 40% having a significant improvement and beginning of treatment > 7 days 60.6% improved with 25.8% having a significant improvement (p < 0.05)
Patients with < 50 age 72.5% improved with 37.4% having a significant improvement and patients with ≥ 50 age 66% improved with 28% having a significant improvement (p > 0.05)
Conclusion: Treatment Sudden Hearing Loss with combined treatment
(hyperbaric oxygen and medicine) will be more effective than treatment only with medicine
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Điếc đột ngột (ĐĐN) là bệnh lý thường gặp tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh và các Khoa Tai Mũi Họng của các bệnh viện trong cả nước Tần suất ĐĐN ước tính khoảng 1/5.000 người mỗi năm, những năm gần đây
tỉ lệ này có xu hướng tăng Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là lứa tuổi trung niên Điếc có thể vĩnh viễn, tạm thời hoặc trở lại bình thường Khoảng 80% trường hợp bị ĐĐN là không rõ nguyên nhân, 20% còn lại người ta đưa ra giả thuyết do các nguyên nhân mạch máu, virut, vỡ màng trong ốc tai, bệnh tự miễn…vv Vì vậy, việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn và nếu không được điều trị kịp thời, đúng phương pháp có thể sẽ để lại di chứng điếc vĩnh viễn là gánh nặng lớn cho bản thân người bệnh và xã hội [1], [2], [4], [7], [8], [12], [15], [16], [18]
Một số công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để điều trị ĐĐN, chẳng hạn như sử dụng: Thuốc giãn mạch, corticoit, histamine, kháng đông, châm cứu…vv Đặc biệt, một số tác giả đã
sử dụng OXCA để điều trị cho các bệnh nhân ĐĐN có kết hợp với dùng thuốc ngay
từ đầu hoặc sau khi đã điều trị bằng thuốc thất bại, kết quả nhìn chung nhóm có sử dụng OXCA cho thấy có tỉ lệ cải thiện thính lực và cải thiện các triệu chứng ù tai, chóng mặt cao hơn so với nhóm điều trị bằng thuốc đơn thuần [1], 35], [41], [77]
Từ tháng 4/2007 đền tháng 9/2009 Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga thực hiện đề tài cấp Sở Khoa học & Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh: “Đánh giá hiệu quả của oxy cao áp trong điều trị điếc đột ngột” Kết quả đề tài cho thấy tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm điều trị kết hợp OXCA với thuốc cao hơn nhóm điều trị bằng thuốc đơn thuần Tuy nhiên, hạn chế của đề tài này là mới chỉ đánh giá được hiệu quả điều trị cho bệnh nhân ĐĐN bằng phương pháp kết hợp OXCA với thuốc sau khi đã điều trị bằng thuốc đơn thuần 5 ngày có thính lực cải thiện kém (< 10 dB) Vì vậy, một vấn đề mới và cấp thiết được đặt ra là: “Nếu kết hợp đồng thời OXCA với thuốc ngay từ ngày điều trị đầu tiên cho bệnh nhân ĐĐN thì hiệu quả sẽ như thế nào?” Vấn đề này chúng tôi được biết Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố
Trang 5Hồ Chí Minh rất quan tâm và mong muốn tiếp tục nghiên cứu để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân ĐĐN
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Điều trị điếc đột
ngột bằng phương pháp kết hợp đồng thời oxy cao áp với thuốc” với mục tiêu
- Xác định tỉ lệ cải thiện thính lực của bệnh nhân ĐĐN sau điều trị bằng
phương pháp kết hợp đồng thời OXCA với thuốc
- Xác định mối liên quan giữa thời gian đến điều trị sớm hay muộn, lứa tuổi
của bệnh nhân ĐĐN với tỉ lệ cải thiện thính lực
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÓM TẮT GIẢI PHẪU CƠ QUAN THÍNH GIÁC
Bộ máy thính giác bao gồm tai, dây thần kinh thính giác (dây thần kinh số VIII), đường dẫn truyền thính giác, các nhân và trung tâm thính giác ở não Đó là
một hệ thống, cơ quan đã được biệt hóa để nghe, nhận biết âm thanh Về giải phẫu tai được chia 3 phần: Tai ngoài, tai giữa và tai trong [2], [3], [14], 15], [16], [30]
Hình 1.1: Giải phẫu tai [3]
Nhằm tạo cơ sở về thính học, ở đây chúng tôi chỉ trình bày sơ lược giải phẫu
tai có chức năng nghe
1.1.1 Tai ngoài
Tai ngoài gồm hai phần là vành tai và ống tai ngoài
Vành tai: Có hình như cái loa bằng sụn, khung sụn có những chỗ lồi, chỗ
lõm để thu nhận âm thanh từ bất cứ hướng nào
Ống tai ngoài: Đi từ lỗ tai ngoài đến tận cùng là màng nhĩ Phần ngoài là
ống tai sụn, phần trong là ống tai xương Ống tai ngoài có nhiệm vụ dẫn truyền âm thanh từ ngoài vào đến màng nhĩ [2], [3], [14], 15], [16], [30]
Loa tai
Xương thái
dương
Xương búa
Xương
đe
Xương bàn đạp
Tai giữa
Các ống bán khuyên
Ốc tai Tai trong
Thần kinh tiền đình Thần kinh ốc tai Cửa sổ tròn
Vòi nhĩ
Mũi hầu Màng nhĩ Xương trâm
Động mạch cảnh trong
Trang 71.1.2 Tai giữa
Khoang tai giữa bao gồm một hệ thống thông khí rộng rãi được thông khí bởi vòi tai Các phần của tai giữa bao gồm ba phần: Vòi tai, hòm tai giữa và khối thông bào xương chũm
Hình 1.2: Tai giữa [30]
Vòi tai hay vòi Eustachi:
Vòi tai là một ống nhỏ dài khoảng 35 – 40mm gồm một phần sụn (2/3) và một phần xương (1/3), nối thông từ thành trước hòm tai giữa đến thành bên của họng mũi Vòi tai giúp cho việc thông khí từ họng mũi vào tai và ngược lại, do đó làm cân bằng áp lực bên trong và ngoài hòm tai giữa, đảm bảo cho màng nhĩ rung động bình thường Khi có tăng áp lực ở hòm tai giữa thì thường được bù trừ theo con đường thụ động của vòi tai đi tới họng mũi Còn khi có giảm áp lực thì lại cần
có sự thông khí chủ động từ họng mũi dọc theo vòi tai đi vào khoang tai giữa
Vòi tai mở và đóng đáp ứng với cử động của các cơ kế cận và sự khác biệt về
áp lực không khí giữa họng mũi và khoang tai giữa sẽ được cân bằng ngay lập tức
Cơ chế đóng vòi là sự nẩy, bật đàn hồi của sụn vòi tai và tác động của van ở lỗ họng của vòi Vòi tai được mở bởi cơ căng vòm miệng và cơ nâng vòm miệng Cơ chế này một phần chịu sự điều khiển của các cơ tự ý nhưng các cử động phản xạ về
Xương búa Xương đe Ngăn trên hòm nhĩ
Trang 8Hòm tai giữa:
Là phần trung tâm quan trọng của tai giữa Hòm tai giữa là một hốc rỗng hình hộp có sáu thành:
Thành trên: Còn gọi là trần nhĩ, là lớp xương mỏng ngăn cách tai giữa với hố
não, liên quan kế cận với các màng não và não
Thành dưới: Thấp hơn bờ dưới của ống tai ngoài 3 – 4mm tạo một hố lõm
gọi là hạ nhĩ, thành này có liên quan với vịnh cảnh, thần kinh Jacobson, nhánh của thần kinh IX
Thành ngoài: Ngăn cách tai ngoài và tai giữa Thành ngoài chính là màng tai
(màng nhĩ) Màng nhĩ là một màng mỏng có đường kính ngang 9 – 10mm và đường kính dọc 8 – 9mm, hơi nghiêng và có dạng nón với chóp nón ở rốn màng tai Về mô học màng nhĩ có 3 lớp là lớp ngoài, lớp giũa và lớp trong Lớp ngoài là biểu mô liên tiếp với biểu bì da ống tai ngoài Lớp trong là niêm mạc liên tiếp với niêm mạc hòm nhĩ Lớp giữa gồm các sợi liên kết hình vòng tròn và hình nan hoa xe, cấu trúc các sợi nhằm đảm bảo cho độ căng, bền vững và rung động tốt của màng nhĩ, cán xương búa nằm ở lớp này
Thành trong: Ngăn cách tai giữa và tai trong, cũng là thành ngoài của vỏ mê
đạo tai Ở gần trung tâm của thành này có phần lồi ra ngoài gọi là ụ nhô Ở phía trên sau ụ nhô có cửa sổ bầu dục để đế xương bàn đạp lắp vào, ở trước dưới ụ nhô có cửa sổ tròn để màng nhĩ phụ bịt lại
Thành trước: Rất hẹp ở thượng nhĩ và nở rộng ở phần dưới nơi có lỗ vòi
Eustachi, qua lỗ này mà có sự lưu thông không khí giữa hòm tai giữa và họng mũi Ngay trên lỗ vòi là lỗ ống cơ búa, thành này có liên quan với động mạch cảnh trong
Thành sau: Phần trên là sào đạo Phần dưới là tường dây VII, ngăn cách hòm
nhĩ với sào bào, gờ của ống Fallope chia mặt này làm hai phần, phần sát với mặt trong là xoang nhĩ, phần bên ngoài là xoang thần kinh mặt
Trong hòm tai giữa có các bộ phận quan trọng như chuỗi xương con, dây chằng, gân và cơ của chúng Các xương con gồm xương búa, xương đe và xương bàn đạp Cán búa nằm giữa lớp niêm mạc và biểu bì, dính vào lớp sợi để đảm bảo tiếp nhận được toàn bộ rung động của màng nhĩ, còn đầu xương búa khớp với thân xương đe, tạo khớp búa đe
Trang 9Xương đe có hai ngành, ngành trên tì vào thành sào đạo ngành dưới khớp với xương bàn đạp qua khớp đe đạp Xương bàn đạp gồm một đầu, hai gọng và một đế Đầu xương bàn đạp khớp với xương đe, còn đế xương bàn đạp khớp với cửa sổ bầu dục, qua cửa sổ bầu dục xương bàn đạp tiếp xúc với vịn tiền đình Tất cả các xương con đều được treo hoặc dính vào thành của hòm nhĩ bằng mạc treo dây chằng
Có hai cơ liên quan đến hoạt động của chuỗi xương con là cơ búa và cơ bàn đạp Cơ búa đi từ thành trước hòm nhĩ, trong ống cơ búa đến bám vào đầu trên cán búa, tác dụng làm tăng áp lực tai trong và căng màng nhĩ Cơ bàn đạp đi từ thành sau trước đoạn ba của ống Fallope đến bám vào chỏm xương bàn đạp, tác dụng làm giảm áp lực tai trong, đồng thời làm chùng màng nhĩ
Khối thông bào xương chũm:
Gồm khối tế bào chứa không khí nằm ở phía sau hòm tai giữa, trong đó tế bào chũm lớn nhất nằm ở trung tâm gọi là hang chũm hay sào bào Bao quanh hang chũm là các đám tế bào chũm phía trước, phía sau, phía trên và dưới Hang chũm thông với hòm tai giữa qua ống thông hang, tiếp cận và liên quan tới màng não, đại
não, tiểu não, xoang tĩnh mạch bên và dây thần kinh mặt (số VII)
Nói chung tai giữa giúp dẫn truyền âm thanh từ màng nhĩ vào cửa sổ bầu dục của tai trong nhờ vào chuỗi ba xương con, ngoài con đường này âm thanh còn đến tai trong qua đường không khí ở vòi tai và qua xương sọ nhưng không quan trọng lắm Tai giữa có cơ búa và cơ bàn đạp giúp tăng sức nghe và bảo vệ tai trong khi
Trang 10Phần tiền đình: Chứa soan nang, cầu nang Thành ngoài có cửa sổ tiền đình (còn gọi là cửa sổ bầu dục) được đậy bởi đế xương bàn đạp Thành trong có lỗ thông với cống tiền đình Soan nang nối với cầu nang bằng ống soan cầu Cầu nang
nối với ống ốc tai bằng ống nối Trong soan nang và cầu nang có vết soan nang và
vết cầu nang là nơi tận cùng của các nhánh thần kinh tiền đình Từ soan nang có ống nội dịch đi trong cống tiền đình, ống nội dịch tận cùng bằng túi nội dịch nằm dưới màng cứng ở mặt sau xương đá
Hình 1.3: Cơ quan tiền đình ốc tai [30]
Bộ phận ốc tai:
Về hình thể ốc tai gần giống hình ốc sên được hình thành do một bản xương xoắn hai vòng rưỡi quanh trục hình nón gọi là trụ ốc, có một đỉnh với chiều cao khoảng 3 – 5 mm và một đáy có đường kính 9 mm Đỉnh của ốc tai chính là phần đẩy lồi thành trong hòm tai giữa ra ngoài gọi là ụ nhô Có ốc tai xương và ốc tai màng
Ốc tai xương được hình thành bởi vỏ mê đạo tai mà vỏ này phát triển do sự cốt hóa nội sụn và cốt hóa màng xương Ốc tai xương được chia hai ngăn bởi mảnh xoắn, ngăn trên là vịn tiền đình, ngăn dưới là vịn nhĩ liên quan với hòm nhĩ qua cửa
3 ống bán khuyên
Thần kinh tiền đình
Thần kinh ốc tai
Ốc tai Cầu nang
Soan nang Vết cầu nang
Vết soan nang
Trang 11sổ tròn, hai vịn thông với nhau ở chõm ốc tai Ngoài ra vịn nhĩ còn thông ra ngoài
sọ bằng cống ốc tai đi từ cạnh cửa sổ tròn đến bờ dưới xương đá
Ốc tai màng còn gọi là loa đạo màng được hình thành và phát triển từ tấm nhĩ ngoại bì Nó bao gồm một hệ thống các hốc chứa nội dịch Nội dịch đi qua ống nội dịch và tận cùng ở một túi bịt là túi nội dịch nằm ở khoang ngoài màng cứng, ở mặt sau của tháp đá gần với xoang xích ma
Nội dịch là phần lọc của ngoại dịch nhưng nồng độ ion K+
và ion Na+ thì hoàn toàn khác hẳn Nồng độ ion K+ không thay đổi ở cạnh biểu mô của khía mạch Nồng độ ion Na+ ở ngoại dịch gấp mười lần so với nồng độ ion Na+ ở nội dịch Ngược lại, nồng độ ion K+
ở nội dịch cao gấp hai mươi lần so với nồng độ ion K+ ở ngoại dịch Chính sự khác biệt về nồng độ giữa hai loại ion Na+ và ion K+ là cơ sở
để tạo nên điện thế thường xuyên Thành phần chất điện giải của nội dịch điều hòa
Trang 12Trong ống ốc tai có: Nội dịch, màng nền, màng mái, màng nuôi Đặc biệt trên màng nền có bộ phận tiếp thu các rung động âm thanh, đó là cơ quan Corti Cơ
quan Corti là phần giác quan chủ yếu của bộ máy thính giác, cấu tạo rất phức tạp gồm:
Các trụ: Tạo thành khung ở giữa cơ quan corti, có 2 dãy trụ gồm các trụ
trong và trụ ngoài, chúng cách xa nhau ở màng đáy và hội tụ ở đầu trên tạo nên một khoang tam giác gọi là đường hầm Corti
Các tế bào nâng đỡ: Gồm tế bào nâng đỡ trong và tế bào nâng đỡ ngoài Tế
bào nâng đỡ trong đi từ chân màng mái, ở trên màng đáy tới tựa vào trụ trong, đầu trên các tế bào này kết hợp với đầu trên trụ trong thành yếu tố nâng đỡ bao quanh các tế bào thính giác lông trong Tế bào nâng đỡ ngoài ở ngoài trụ ngoài, dựa trên màng đáy đi ra tới thành ngoài, gồm có tế bào Deiters là tế bào nâng đỡ chính, tế bào Hensen ở phía ngoài, có đỉnh to hơn đáy, tế bào Claudius ở phía ngoài cùng
Hình 1.5: Cơ quan Corti [16]
Các tế bào giác quan: Gồm tế bào lông trong và tế bào lông ngoài
Tế bào lông ngoài có ba hàng, khoảng 13.500 tế bào nhiều hơn 3 lần tế bào lông trong, mỗi tế bào có hàng trăm lông nổi lên bề mặt, độ cao không đều, sắp xếp hình chữ W lồng lên nhau, nhưng chỉ có một hàng cao nhất tiếp xúc với màng mái ngay lúc nghỉ, các chuyển động cơ học ở các lông sẽ phát sinh thay đổi về điện, đó
Tế bào biểu mô
phủ màng đáy
Tế bào trụ Đường hầm Corti
Sợi thần kinh ốc tai
Trang 13là biến đổi điện – cơ học Tế bào lông ngoài không phải là tế bào giác quan thật sự nhưng có khả năng khuếch đại những chuyển động nhỏ, rất tinh tế của màng đáy và truyền những chuyển động đó đến phần dịch xung quanh các lông nổi của tế bào lông trong Các tế bào lông ngoài đóng vai trò giúp tai trong phân loại các tần số
Tế bào lông trong mới thực sự là tế bào thần kinh giác quan (có nhiều điểm khác tế bào lông ngoài) chỉ có 1 hàng khoảng 3.500 tế bào, xếp thành hình chữ V, ngăn cách với tế bào lông ngoài bằng đường hầm Corti, các lông không trực tiếp cắm vào màng mái, mà đáy tế bào tiếp khớp chủ yếu với các sợi thần kinh thính giác hướng tâm tạo thành khớp thần kinh (synape) Ở đây diễn ra quá trình tiếp nhận các tín hiệu thần kinh
Màng mái: Là một phần xoắn trên toàn bộ chiều dài cơ quan Corti, màng mái
nằm tựa nhẹ lên các tế bào lông của cơ quan Corti nhưng có một khoảng cách để đảm bảo sự rung động các lông của tế bào thần kinh giác quan này
Thần kinh nghe: Dây thần kinh VIII có hai chức năng nghe và thăng bằng
Các sợi thần kinh xuất phát từ tế bào lông của cơ quan Corti tập trung về hạch Corti
và hình thành bó ốc tai Các sợi thần kinh xuất phát từ soan nang, cầu nang, ống bán khuyên tập trung về hạch Scarpa ở đáy ống tai trong hình thành bó tiền đình
Hình 1.6: Thần kinh tiền đình ốc tai [30]
Nhánh thần kinh tiền đình Bán khuyên trước
Thần kinh tiền đình
ốc tai (VIII) Thần kinh số VII Nhánh thần kinh ốc tai
Trang 14Hạch Scarpa và hạch Corti là nơi tập trung các tế bào thần kinh (neuron) Từ hạch Scarpa trở đi hai bó hợp lại thành dây thần kinh số VIII hay dây tiền đình ốc tai, đi trong ống tai trong bên cạnh dây thần kinh số VII, dây thần kinh Wrisberg và động mạch tai trong
Dây thần kinh số VIII chui vào não ở rãnh hành cầu và tách ra thành hai bó
tiền đình và ốc tai, mỗi bó đi về trung tâm riêng của mình Bó ốc tai chạy lên hành
não tới các nhân ốc tai trước, nhân trám lưỡi, nhân hình thang Từ các nhân này phát sinh các sợi bắt chéo sang bên đối diện và những sợi đi thẳng lên dọc theo dãy Reil hai bên, khi tới ngang củ não sinh tư sau một số sợi đi vào đấy, còn phần lớn đi thẳng lên các hồi thái dương I và II ở vùng thính giác Hesch ở bờ dưới rãnh Sylvius
Các sợi thần kinh hướng tâm đa số (95%) tiếp khớp với tế bào lông trong, vai trò sinh lý của nó là dẫn truyền các thông tin thính giác về não và có thể đo được các hoạt động của các sợi thần kinh hướng tâm bằng kĩ thuật đo điện thính giác thân
não Các sợi ly tâm xuất phát từ thân não xuống tiếp khớp với đa số các tế bào lông
ngoài, vai trò chưa biết chính xác, có lẽ góp phần vào sự ức chế, biến đổi và điều
chỉnh hoạt động của cơ quan Corti
Động mạch tai trong
Động mạch tai trong là nhánh của động mạch tiểu não trước dưới, xuất phát
từ động mạch thân nền, cấp máu cho vùng tai trong bởi ba nhánh đó là nhánh động
mạch ốc tai, nhánh động mạch tiền đình và nhánh động mạch ốc tai tiền đình
Hình 1.7: Động mạch tai trong [30]
Trang 15Động mạch tai trong là động mạch tận không có nhánh nối, nên khi bị tắc thì
tai trong sẽ bị thiếu máu nuôi [2], [3], [14], 15], [16], [30]
1.2 SINH LÝ NGHE
Sinh lý nghe là một vấn đề khá tinh vi và phức tạp gồm hai phần cơ bản là
sinh lý truyền âm và sinh lý tiếp nhận âm
1.2.1 Sinh lý truyền âm
Chức năng truyền sóng âm đến bộ phận tiếp nhận ở tai trong:
Tai ngoài: Vành tai cấu tạo như phễu thu, đón nhận âm thanh vào ống tai, giúp khu trú nguồn âm, để biết được âm thanh đến từ hướng nào Ống tai ngoài
- Màng nhĩ bình thường và rung động tốt theo tác động của sóng âm
- Chuỗi xương con liên tục từ màng nhĩ đến cửa sổ bầu dục và cử động dễ
dàng trong môi trường khí
- Chuyển động hòa hợp giữa hai cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn với sự lệch
pha theo tác động của sóng âm và sóng thủy lực trong dịch ốc tai
- Không khí trong hòm nhĩ được đổi mới liên tục qua sự đóng mở tự động
của vòi nhĩ
Tai trong: Vào cuối thập kỷ 50, Von Bekesy đã chứng tỏ có 2 bộ phận ở tai trong có chức năng truyền âm là các chất dịch, chủ yếu là ngoại dịch của ốc tai và
màng đáy Rung động cơ học ở đế xương bàn đạp gây nên chuyển động của ngoại
dịch, ngoại dịch chuyển động làm màng đáy rung động, kéo theo nội dịch chuyển
động sẽ tác động đến các tế bào thính giác ở cơ quan Corti
Hiệu quả truyền âm và khuếch đại của tai giữa:
Sóng âm khi truyền từ nguồn âm đến tai giữa, được truyền trong môi trường
Trang 16trường nước Theo quy luật vật lý, do sự khác biệt về trở kháng âm, sóng âm mất
99,9% năng lượng tương ứng 30 dB, và nhiệm vụ của bộ máy dẫn truyền với sự
điều chỉnh trở kháng phải thu hồi được sự chênh lệch 30 dB này
- Yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu là sự tương quan của diện tích bề mặt
màng nhĩ và bề mặt đế xương bàn đạp, phần di động hữu ích của màng nhĩ khoảng 60mm2, còn diện tích đế xương bàn đạp là 3mm2
, tỉ lệ chênh lệch khoảng 20 lần Điều này dẫn đến áp lực âm thanh từ màng nhĩ đến đế xương bàn đạp được tăng
khoảng 25 dB
- Yếu tố thứ hai là hiệu quả đòn bẩy: Cán búa dài hơn cành xuống của xương
đe gấp 1,3 lần, sự chênh lệch cơ học này giúp thu hồi 2 – 3 dB
Tổng cộng của hai yếu tố thì hệ thống màng nhĩ chuỗi xương con giúp tai thu
hồi được 28 dB trong số 30 dB bị mất Ngoài ra còn có khả năng cộng hưởng tự nhiên của hòm nhĩ và khoang ống tai ngoài
Cơ chế bảo vệ tai trong:
Cơ bàn đạp khi co sẽ kéo nghiêng xương bàn đạp khỏi cửa sổ tiền đình, lệch
về phía sau theo chiều ngang, làm giảm áp lực ngoại dịch, giảm áp lực tai trong Khi chỏm bàn đạp bị kéo nghiêng ra sau, làm thân xương đe và chỏm xương búa quay vào trong, đẩy cán búa ra ngoài làm giảm căng màng nhĩ, cơ bàn đạp là cơ của tiếng
bổng, cơ chịu sự chi phối của thần kinh số VII
Cơ búa khi co sẽ kéo cán xương búa vào trong, đẩy chỏm búa ra ngoài làm kéo theo thân xương đe ra ngoài, làm cành dài xương đe ấn xương bàn đạp vào cửa
sổ tiền đình làm tăng áp lực ngoại dịch Cơ búa là cơ của tiếng nhỏ và trầm, cơ chịu
sự chi phối của thần kinh số V3 [2], [9], [15], [18]
1.2.2 Sinh lý tiếp nhận âm
Hoạt động của ốc tai như là một cơ quan tiếp nhận và phân tích tần số sóng
âm Những rung động cơ học được đưa vào tai trong bằng đường chuỗi xương con
qua cửa sổ bầu dục, và bằng đường không khí qua cửa sổ tròn Giữa các sóng cơ học này có sự lệch pha về thời gian, mặc dù rất nhỏ (nhỏ hơn một phần nghìn giây) nhưng rất cần thiết cho sự chuyển động của chất dịch ở tai trong Khi xương bàn đạp di động dưới kích thích của sóng âm làm ngoại dịch rung động, sự rung động
Trang 17này sẽ tác động vào nội dịch trong ống ốc tai qua màng nền và màng Reinsner
Theo thuyết di chuyển sóng của Bekesy, ở màng nền có sự phân vùng tiếp nhận âm thanh, tùy theo tần số rung động: Vùng gần cửa sổ tiếp nhận những âm cao, vùng
gần đỉnh tiếp nhận những âm trầm và đoạn giữa tiếp nhận những âm trung bình
Sự rung động của màng nền làm cho những bộ phận dính liền với nó rung động theo, cụ thể là cơ quan Corti Khi cơ quan Corti rung động thì tế bào lông sẽ
va chạm vào màng mái, làm cho lông của các tế bào này bị uốn cong, kéo căng, đè
nén Những thay đổi cơ học này sẽ tác động đến điện sinh học của tế bào lông
Qua các màng đo vi điện thế với các vi điện cực, người ta thấy có nhiều loại
điện thế:
Điện thế nội ốc tai hay điện thế nghỉ: Đo được lúc không có kích thích âm, còn gọi là điện thế liên tục Mỗi bộ phận của ống ốc tai có một điện thế liên tục riêng biệt, điện thế của vân mạch là +80 mV, của tế bào lông là -80 mV, của màng Reinsner là -20 mV, riêng màng mái không có điện thế Nguồn cung cấp điện thế này là vân mạch của tế bào lông Sự có mặt của Oxy, ion K+
, ion Na+ ở một tỉ lệ nhất định rất cần thiết cho sự ổn định các điện thế này
Điện thế đo được lúc có kích thích âm phản ánh hoạt động của cơ quan Corti
gồm:
- Điện thế vi âm (điện thế microphone): Là dòng điện xoay chiều, có nguồn gốc từ tế bào lông Sự rung động của màng đáy dưới tác dụng sóng âm làm lông của
tế bào bị rung động, đè nén, làm điện thế liên tục trong ốc tai biến đổi do hiện tượng
khử cực hoặc thay đổi điện trở Biến đổi này tạo ra dòng điện xoay chiều
- Điện thế cộng: Gồm hai dòng điện một chiều, một âm và một dương, xuất hiện khi lông của tế bào giác quan bị đè nén một cách liên tục, kéo dài bởi màng mái, và cường độ âm thanh cao hơn cường độ gây ra điện thế vi âm 20 dB, nó có tác
dụng tu chỉnh đối với điện thế vi âm
- Điện thế hoạt động: Nguồn gốc là do các điện thế liên tục và điện thế cộng tác dụng vào tế bào giác quan, và giải phóng một chất trung gian hóa học, chất trung gian hóa học này giải phóng theo nhịp rung của màng đáy và đi xuống tập trung ở
Trang 18khớp thần kinh Xung này dẫn truyền theo sợi thần kinh tạo nên điện thế động hay
luồng thần kinh Luồng thần kinh tức điện thế hoạt động phát sinh từ cơ quan Corti được đưa về vỏ não qua ba chặng neuron thần kinh
+ Neuron thứ nhất: Từ tế bào giác quan của cơ quan Corti đến nhân thính giác ở hành não Các thân neuron tập trung thành hạch Corti, các sợi trục tập trung thành dây thần kinh ốc tai
+ Neuron thứ hai: Từ hành não đến đồi thị, tại đây có sự bắt chéo các sợi trục tạo ra sự liên lạc giữa các nhân trám cầu, thể thang, cấu tạo lưới
+ Neuron thứ ba: Là neuron đồi thị vỏ não, đi từ thể gối trong và tận cùng ở
vỏ não thùy thái dương tại vùng thính giác, mỗi vùng thính giác đều nhận xung điện
ở cả hai tai Tại vùng thính giác, các tín hiệu xuất phát từ cơ quan Corti được đưa đến dưới dạng mật mã, sẽ được giải mã và ghi nhớ, gọi là hiện tượng hiểu – nhận
Nhờ có hiểu – nhận được các tín hiệu nên chúng ta phân biệt được cường độ,
âm sắc, tần số, mới phân biệt được tiếng động và tiếng nói, nhận ra được giọng nói của người quen, lạ, giọng nói buồn, vui,…vv Nếu vùng thính giác bị hủy thì dòng điện hoạt động vẫn đến được não, nhưng bệnh nhân sẽ không hiểu được ý nghĩa của các tín hiệu [2], [9], [15], [18]
1.3 ĐIẾC ĐỘT NGỘT
1.3.1 Đại cương
ĐĐN là mối quan tâm lớn không những cho người bệnh mà còn cho cả thầy thuốc, phần lớn các chuyên gia Tai Mũi Họng định nghĩa ĐĐN là điếc tiếp nhận từ
30 dB trở lên ít nhất ở 3 tần số liên tiếp nhau và xuất hiện trong vòng 3 ngày ĐĐN
có thể vĩnh viễn, tạm thời và trở lại bình thường hoặc gần như bình thường, thường xảy ra một bên tai (80 – 85%) nhưng cũng có thể hai bên tai (15 – 20%), ngoài nghe kém ra thì có thể ù tai, chóng mặt Bệnh sinh đến nay vẫn chưa rõ ràng mà vẫn chỉ dừng lại ở các giả thuyết Phần lớn các trường hợp ĐĐN đều không tìm thấy nguyên nhân, và được xem như là ĐĐN vô căn
ĐĐN là một hội chứng (không phải là một bệnh) hay gặp ở cấp cứu Tai Mũi Họng nên cần điều trị càng sớm càng tốt, đặc biệt phải có thính lực đồ để theo dõi thường xuyên [2], [7], [8], [15], [16], [29], [32]
Trang 191.3.2 Tần suất
Tần suất ĐĐN vô căn ước tính khoảng 1/5.000 người mỗi năm Tuy nhiên, tần suất này có thể cao hơn vì có những bệnh nhân tự nhiên khỏi bệnh mặc dù chưa kịp đi điều trị Tần suất dường như tăng theo độ tuổi, tuổi trung bình bệnh nhân bị ĐĐN là 46 - 49 tuổi ĐĐN thường một bên tai, tỷ lệ tai phải bằng tai trái, điếc cả hai tai chiếm khoảng 15 - 20% Tần suất không khác nhau theo giới tính, yếu tố nghề nghiệp không rõ ràng và ĐĐN không theo mùa [2], [7], [8], [15], [16], [29], [32], [59], [69]
1.3.3 Nguyên nhân
Đa số ĐĐN đều vô căn và người ta ít biết đến sinh bệnh lý của nó Tuy nhiên, có nhiều giả thuyết được đề xuất về nguyên nhân của ĐĐN: Giả thuyết do mạch máu, do nhiễm virus, do bệnh tự miễn, do khối u…vv ĐĐN có thể xảy ra do các tổn thương tại ốc tai hoặc dây thần kinh thính giác hay tổn thương thần kinh
trung ương
Các nguyên nhân do ốc tai gồm:
- Bệnh mạch máu: Các bệnh lý mạch máu có thể gây ĐĐN như tăng huyết
áp, bệnh Berger, bệnh máu tăng đông, tăng độ nhớt của máu…vv Các bệnh lý này
có thể gây ra hiện tượng tắc mạch, co thắt mạch, hoặc vỡ mạch ở ốc tai dẫn đến ĐĐN
- Nhiễm siêu vi: ĐĐN xảy ra trên người bị cảm cúm, đang bị viêm mũi họng… (do cúm, sởi, herper simplex, zona…) gây ra viêm mê nhĩ
- Vỡ màng tai trong và các cửa sổ: Chấn thương làm rách mê nhĩ màng, gây
dò ngoại dịch, như vỡ xương đá, chấn thương do áp lực, do chấn động âm quá lớn, hoặc sau phẫu thuật vào vùng cửa sổ tròn và cửa sổ bầu dục Cũng có thể gặp ĐĐN
sau bị điện giật, sau điều trị tia xạ vv
- Bệnh tự miễn: ĐĐN có thể gặp trên những bệnh nhân bị luput, viêm nút quanh động mạch hay hội chứng Cogan McCabe cho rằng ĐĐN có liên quan đến bệnh tự miễn ở tai trong, việc điều trị bằng corticoid có kết quả tốt
Trang 20- Nhiễm độc: Nhiễm độc do thuốc đứng hàng đầu, trong đó chủ yếu là nhiễm độc kháng sinh nhóm Aminozid Do sự lắng đọng của thuốc trong nội dịch tai trong
gây ra những hậu quả kéo dài ngay cả khi đã dừng thuốc Ngoài ra có thể gặp nhiễm độc do rượu, nhiễm độc do thuốc lá
- Rối loạn chuyển hóa: Các nguyên nhân gây rối loạn chuyển hóa toàn thể như suy thận, nhiễm toan máu do nguyên nhân tại thận, đái tháo đường, tăng lipid
máu, suy giáp trạng Các rối loạn chuyển hóa thường đưa đến tình trạng thiếu máu của động mạch tai trong hoặc gây tình trạng nhiễm độc tai trong
- Các bệnh máu: Bệnh của hệ thống tạo máu, bệnh đa hồng cầu, bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh đông globulin Sự thiếu máu và chứng nghẽn mạch sẽ gây nên
sự thiếu hụt máu trong ốc tai và sẽ dẫn đến sự thiếu máu thứ phát của các tế bào
lông và vân mạch là nguyên nhân gây nên ĐĐN
Các nguyên nhân sau ốc tai gồm:
Tổn thương sau ốc tai có thể do bệnh lý ở dây thần kinh thính giác hoặc hệ thống thần kinh trung ương
- Do tổn thương dây thần kinh thính giác: U dây thần kinh số VIII, u góc cầu tiểu não, viêm dây thần kinh thính giác
- Do tổn thương hệ thống thần kinh trung ương: Thiểu năng tuần hoàn não, khối u hành não cầu, u củ não sinh tư, bệnh xơ cứng rải rác [2], [7], [8], [15], [16], [29], [32], [45]
1.3.4 Triệu chứng
Lâm sàng:
- Nghe kém: Là triệu chứng chủ yếu, nghe kém ở một hoặc hai bên tai, khởi phát đột ngột thường kèm theo ù tai Người bệnh mô tả một cách chính xác ngày giờ họ thấy nghe kém Bệnh thường xảy ra ban đêm hoặc lúc buổi sáng thức dậy
Đa số nghe kém xuất hiện và tiến triển nhanh trong vài phút đến vài giờ Cũng có khi nghe kém xuất hiện rồi tăng dần trong vòng một vài ngày Nếu nghe kém hai bên bệnh nhân sẽ phát hiện ngay tức khắc do không nghe khi giao tiếp, nếu nghe kém một bên có khi bệnh nhân không phát hiện được cho đến khi gặp sự cố như khi
Trang 21nghe điện thoại di động Nghe kém ở nhiều mức độ khác nhau, đa số là điếc nặng đến điếc đặc
- Ù tai: Là triệu chứng gây ấn tượng mạnh mẽ nhất cho người bệnh, khoảng 70% bệnh nhân điếc đột ngột bị ù tai ở các mức độ khác nhau trong suốt thời gian bị bệnh Có thể ù tai tiếng trầm, nhưng đa số ù tai tiếng cao như tiếng ve kêu, tiếng còi tàu Ù tai thường xuất hiện cùng với nghe kém nhưng có khi ù tai xuất hiện trước triệu chứng nghe kém vài giờ, lắng đi trong vòng 1 tháng, cũng có thể kéo dài suốt thời gian bị điếc hoặc lâu hơn
- Chóng mặt: Khoảng 40% bệnh nhân điếc đột ngột bị chóng mặt thoáng qua hoặc nhẹ và 10% bị chóng mặt nặng không thể làm việc được Chóng mặt kéo dài trong vòng 4 - 7 ngày, có trường hợp kéo dài đến 7 tuần Buồn nôn và nôn thường kết hợp với chóng mặt nặng
- Cảm giác đầy tai: Người bệnh cảm giác bị chèn ép bên tai điếc hoặc như bị đút nút tai
- Ngoài ra có thể gặp đau đầu, đau tai và các triệu chứng nhiễm trùng đường
hô hấp trên do siêu vi xảy ra trong khoảng 25% bệnh nhân, một số bệnh nhân có thể
Trang 22+ Dạng giảm ở tần số âm trầm (tổn thương ở vùng đỉnh của loa đạo):
Hình 1.8 Biểu đồ nghe kém tiếp âm thể loa đạo đỉnh [15]
+ Dạng giảm ở tần số âm trung bình (tổn thương ở đoạn giữa của loa đạo):
Hình 1.9 Biểu đồ nghe kém tiếp âm thể giữa loa đạo [15]
Trang 23+ Dạng giảm ở tần số âm cao (tổn thương ở vùng đáy của loa đạo):
Hình 1.10 Biểu đồ nghe kém tiếp âm thể loa đạo đáy [15]
+ Dạng giảm ở tất cả các tần số âm (tổn thương toàn loa đạo):
Hình 1.11 Biểu đồ nghe kém tiếp âm thể toàn loa đạo [15]
Trang 24- Nhĩ lượng đồ: Thường bình thường
- Đo điện thính giác thân não (ABR): Có thể sử dụng để đánh giá chức năng thần kinh thính giác
- Test tiền đình: Không bắt buộc và chỉ làm khi có tiền sử và các dấu hiệu thăm khám toàn thân
- MRI sọ não: Có thể sử dụng nhằm tránh bỏ sót u góc cầu tiểu não, u dây thần kinh VIII, u hành não cầu…vv
- X Quang xương chũm và xương đá: Thường bình thường [2], [7], [8], [15], [16], [29], [32], [50]
- Type II: Đồng nhất hơn type I, mất từ 50 – 60 dB ở các tần 500 Hz, 1.000
Hz và 2.000 Hz, nghe kém hoàn toàn ở các tần số trên 3.000 Hz
- Type III: Điếc đặc, không có khả năng phân biệt được lời
Bảng tiêu chuẩn phân loại điếc của WHO
Trang 25tiểu cầu, làm thuận lợi cho sự lưu chuyển hồng cầu và chống co thắt tại vi mạch
- Thuốc làm giảm tính thấm thành mạch, ngăn ngừa sự ứ dịch ở tai trong:
Kháng Histamin, Corticoid
- An thần
- Vitamin nhóm B
Điều trị nguyên nhân:
Dựa vào khai thác tiền sử, bệnh sử, thăm khám, các xét nghiệm cận lâm sàng, có thể tìm thấy nguyên nhân như nhiễm độc thuốc, viêm nhiễm, do rối loạn chuyển hóa…vv, và kết hợp điều trị nguyên nhân Tuy nhiên phần lớn nguyên nhân
chính sinh bệnh thường không rõ ràng nên việc điều trị ĐĐN gặp nhiều khó khăn
có ý nghĩa tiên lượng, bệnh nhân ĐĐN mức độ vừa phải và chủ yếu ở tần số thấp tiên lượng tốt Bệnh nhân ĐĐN cả 2 tai tiên lượng xấu hơn ĐĐN 1 tai Tuổi đời bệnh nhân có ảnh hưởng, nếu dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi tiên lượng xấu Ngoài
ra tiên lượng xấu ở những bệnh nhân có kèm theo tiểu đường, cao huyết áp và
Trang 26những người già có tiền sử bệnh tim mạch thì hồi phục rất kém [1], [7], [10], [15], [16], [29], [32], [69], [70], [74], [76]
1.4 OXY CAO ÁP
1.4.1 Đại cương
Oxy là một trong những nguyên tố quan trọng tạo thành và duy trì sự sống Khi thiếu oxy, nhiều quá trình chuyển hóa bị ảnh hưởng, rối loạn Thiếu oxy trở thành nguyên nhân tiên phát hoặc thứ phát của nhiều quá trình bệnh lý Phương pháp OXCA hình thành và phát triển đã góp phần quan trọng để giải quyết các quá
trình bệnh lý liên quan tới thiếu oxy
Trong thực hành lâm sàng oxy tinh khiết ở áp suất thường được dùng phổ biến trong hồi sức, cấp cứu, khi đó tình trạng thiếu oxy của bệnh nhân được cải thiện Nhưng trong nhiều trường hợp vẫn bị hạn chế, đôi khi không giải quyết được
các yếu tố bệnh sinh
Khi hô hấp ở áp suất không khí bình thường (1 ATA) oxy được vận chuyển
từ phổi đến các tế bào do hemoglobin (Hb) đảm nhiệm, phần oxy hòa tan trong huyết tương không đáng kể Khi lượng Hb trong máu bệnh nhân giảm hoặc bị phong tỏa đương nhiên lượng oxy được vận chuyển đến tế bào giảm, không đáp ứng nhu cầu các quá trình chuyển hóa cho dù bệnh nhân đã được hô hấp bằng oxy
nguyên chất
Phương pháp OXCA cho bệnh nhân hô hấp bằng oxy tinh khiết ở áp suất cao
đã khắc phục được sự hạn chế này Khi đó lượng oxy hòa tan trong máu tăng theo
áp suất, lượng oxy được vận chuyển đến tế bào không còn bị lệ thuộc vào hàm lượng Hb trong máu nữa Như vậy, về cơ bản hiệu quả của OXCA phụ thuộc trực tiếp phân áp oxy trong hỗn hợp khí hít vào và nồng độ của nó trong môi trường lỏng (huyết tương, bạch huyết, dịch gian bào, dịch não tủy và các dịch khác) [5], [6],
[13], [17], [20], [21], [25], [26], [37], [46]
1.4.2 Cơ sở sinh lý của OXCA
Ở điều kiện bình thường, áp suất của không khí trong phế nang bằng áp suất của khí quyển, theo Dalton nó là tổng phân áp của các chất khí riêng biệt (oxy, cacbonic, nitơ, hơi nước) Khi tăng áp suất của môi trường bên ngoài, phân áp các
Trang 27khí trong phổi tăng theo tỷ lệ với sự tăng của áp suất chung và phần trăm khí đó trong hỗn hợp khí hít vào
Bảng 1.1: Phân áp các khí ở khí trời và cơ thể người
Nếu thở oxy tinh khiết, nitơ phế nang thay bằng oxy, khi tăng phân áp oxy hít vào lên 2, 3, 4 ATA dẫn đến tăng phân áp oxy phế nang lên 14, 22, 30 lần so với thở không khí ở áp suất khí quyển Tăng phân áp oxy trong phổi dẫn đến tăng phân
áp oxy giữa phế nang và mao mạch phổi Dưới phân áp oxy tương đối cao trong máu động mạch thì nhu cầu oxy của các mô có thể hoàn toàn được thỏa mãn nhờ oxy hòa tan, lượng oxy hòa tan trong huyết tương được xác định theo định luật Henri:
- Q: Lượng oxy hòa tan trong máu
- : Hệ số hấp thụ oxy, = 0,023
- V: Thể tích máu
at
fP
P V
Trang 28- Pat: Áp suất khí quyển
Như vậy lượng oxy hòa tan tỷ lệ thuận với phân áp oxy phế nang Do đó nếu thở oxy tinh khiết ở áp suất 1 ATA, nhiệt độ 370C thì trong 100ml máu đi qua phế nang có:
- Tương tự thở oxy tinh khiết ở áp suất 2 ATA thì Q2 = 4,34ml (4,34%)
- Thở oxy tinh khiết ở áp suất 3 ATA thì Q3 = 6,65ml (6,65%)
Như vậy cứ tăng áp suất oxy thở vào lên 1 ATA trong điều kiện nhiệt độ không đổi thì lượng oxy hòa tan bổ sung xấp xỉ 2,3ml/100ml máu Hô hấp bằng oxy tinh khiết ở áp suất 3 ATA sẽ tăng lượng oxy hòa tan trong máu lên 6,65ml/100ml máu, gấp 22 lần so với hô hấp ở áp suất khí quyển Lượng oxy hòa tan này bằng lượng oxy chênh lệch giữa máu động mạch và tĩnh mạch, nghĩa là bằng lượng oxy cần thiết cho chuyển hóa tế bào
Ở áp suất 3 ATA, OXCA sẽ tạo ra một nguồn cung cấp oxy mới cho tế bào
đủ để đảm bảo mọi hoạt động sống của cơ thể, có thể thay thế chức năng Hb của hồng cầu Bằng thực nghiệm đã chứng minh cơ thể vẫn hoạt động bình thường khi thay máu bằng dung dịch Dextran hay Ringer nếu thở oxy tinh khiết ở áp suất 3 ATA Đây là cơ sở sinh lý để sử dụng OXCA điều trị các tình trạng thiếu oxy trong
cơ thể
Khả năng tăng dung tích oxy trong máu lên nhiều lần cho phép OXCA đảm bảo sự sống trong các trạng thái mà Hb hoàn toàn hay một phần bị loại trừ khỏi quá trình hô hấp (thiếu máu, ngộ độc CO, ngộ độc gây MetHemoglobin)
Khi làm tăng dung tích oxy ở các môi trường lỏng trong cơ thể, OXCA tạo ra một số khả năng nhất định trong việc dự trữ một lượng oxy trong mô và kéo dài thời gian sự sống cho cơ thể trong trường hợp loại trừ tuần hoàn [17], [20], [22], [23], [24], [25], [37], [46], [58]
1.4.3 Cơ chế tác dụng của OXCA
Người ta cho rằng OXCA tác dụng đến cơ thể thông qua 2 cơ chế: Tạo anion gốc tự do và peroxy hóa lipid
% 04 , 2 04
, 2 760
673 100
023 , 0
Q
Trang 29Cơ chế tạo anion gốc tự do:
Bình thường trong cơ thể các tế bào có hai kiểu sử dụng oxy là oxydase và oxygenase
Oxydase: Chủ yếu oxy được sử dụng theo con đường này Đây là quá trình
biến đổi nhiều giai đoạn các thức ăn thông qua oxy hóa các cơ chất tương ứng cho đến sản phẩm cuối cùng là nước và cacbonic (H2O và CO2) Các giai đoạn cuối cùng được thực hiện thông qua chu trình Krebs xẩy ra ở ti thể, kết quả tạo ra năng lượng dưới dạng ATP cung cấp cho hoạt động của các tế bào, cơ quan
Quá trình này không có sự tạo ra các gốc anion tự do mà chỉ tạo ra các sản phẩm là H2O và CO2 ít độc hại đến tế bào
Oxygenase: Đây là quá trình biến đổi sinh học các chất hữu cơ như axít béo,
steroid, một số axit amin, một số thuốc hoặc các chất lạ xâm nhập vào cơ thể qua con đường thức ăn, hô hấp, hoặc da
Theo kiểu oxygenase, oxy kết hợp trực tiếp với các chất hữu cơ không tạo ra năng lượng với sự tham gia của oxygenase theo sơ đồ sau:
X + 1/2 O2 → XO
X + O2 → XO2Trong các phản ứng này chỉ xẩy ra khử không hoàn toàn 1 hoặc 2 điện tử của nguyên tử oxy do vậy tạo thành điện tử không cặp đôi trong phân tử oxy nên tính chất của gốc tự do hoạt động gọi là gốc anion tự do superoxide O20
, superoxid O20trong dung môi nước kém họat hoá nên nó tạo ra các sản phẩm có hoạt tính cao hơn
là oxy đơn bội 1O2 và gốc hydroxyl tự do (OH)0
Peroxy hóa lipid:
Các gốc anion tự do (superoxide, oxy đơn bội, hydroxyl tự do) có thế năng oxy hóa rất lớn Vì vậy, chúng nhanh chóng tham gia vào các phản ứng với các hợp chất hữu cơ Trong các chất thì các axit béo không no, phospholipid màng tế bào và
vi cơ quan tham gia phản ứng với các anion gốc tự do nhanh nhất Quá trình phản
ứng gọi là quá trình peroxy hóa lipid [6], [13], [17], [22], [26], [53], [58]
Trang 3027
1.4.4 Tác dụng của OXCA
Việc tạo ra các gốc anion tự do và sản phẩm peroxy hóa lipid là quá trình bình thường xảy ra trong hoạt động trao đổi chất của tế bào và giữ một mức độ nhất
định không gây nguy hại tới hoạt động của tế bào
OXCA cung cấp oxy đầy đủ cho hoạt động tế bào sử dụng theo 2 kiểu trên
và tạo ra một lượng anion gốc tự do nhất định nếu không vượt quá giới hạn cho phép thì có tác dụng kích thích sinh lý như kích thích hô hấp tế bào và sinh tổng hợp một số chất như steroid, prostaglandin, thromboxan A2, progesterone,
- Ngộ độc Oxyt cacbon, cyanid, khói thuốc lá; ngộ độc gây MetHemoglobin
- Nhiễm trùng kỵ khí, hoại thư sinh hơi Vết thương lâu liền
- Thương tổn do đè ép, chấn thương gây thiếu máu cấp tính ở ngoại biên
- Thiếu máu mất máu nặng
- Áp xe trong sọ não
- Hoại tử mô mềm nhiễm trùng Viêm tủy xương
- Trì hoãn (ngăn ngừa) hoại tử mô mềm và xương do xạ trị ở người ung thư
- Bỏng nhiệt, mổ ghép da bỏng Ghép vạt da
Chỉ định điều trị kết hợp OXCA:
- Thiếu máu não cấp tính thoáng qua Điếc đột ngột, thiểu năng hoặc tắc cấp tính động mạch trung tâm võng mạc Thương tổn gây thiếu máu cục bộ
- Các thương tổn ở đầu, chấn thương trong thể thao, thương tổn ở cột sống,
gãy xương lâu liền, ghép xương
- Viêm màng não Viêm ruột do Pseudomonas, áp xe trong ổ bụng
Trang 31- Tiểu đường Bệnh phong
Chống chỉ định tương đối điều trị OXCA:
- Bệnh nhân có các khoang chứa khí kín ở trong phổi
- Bệnh nhân đang bị viêm đường hô hấp cấp tính
- Bệnh nhân bị ung thư đang dùng hóa chất trị liệu (Ciplatin, Doxirubixin)
chứng sợ buồng kín, bệnh giảm áp và ngộ độc oxy
Nếu hô hấp oxy với áp suất cao và thời gian vượt quá giới hạn cho phép có
thể dẫn đến tình trạng ngộ độc oxy:
Cơ chế:
Nhiều nghiên cứu cho thấy các gốc anion tự do và các sản phẩm peroxy hóa lipid là những sản phẩm chuyển hóa bình thường của tế bào, nhưng một khi các sản phẩm trên được tạo ra quá nhiều do một nguyên nhân nào đó thì chính chúng lại gây tổn thương quá trình trao đổi chất và sự tồn tại của tế bào Chính các anion gốc tự
do và sản phẩm peroxy hóa lipid ở nồng độ cao vượt quá giới hạn cho phép đã gây
ức chế hoạt động của lipoprotein màng tế bào, cũng như các enzym và thụ cảm thể Hậu quả dẫn đến tổn thương cấu trúc acid nucleic và các enzym tham gia sinh tổng
Trang 32bào bị hủy diệt, màng lysosom bị phá hủy giải phóng ra các enzym thủy phân vào nguyên sinh chất Các enzym này phá hủy màng các bào quan đặc biệt ở hồng cầu,
Hb bị các enzym tiêu thể phân hủy, nên các ion sắt được tự do trở thành một trong các chất xúc tác mạnh nhất tạo nên các anion gốc tự do và sản phẩm peroxy hóa
lipid và như vậy tạo nên vòng xoắn bệnh lý
Biểu hiện lâm sàng:
Trên lâm sàng, ngộ độc oxy được thể hiện dưới hai hình thức: Cấp tính và
mạn tính
- Ngộ độc oxy cấp tính biểu hiện các dấu hiệu tổn thương thần kinh trung ương kiểu cơn động kinh co giật, trước đó có các biển đổi trên điện não đồ biểu hiện bằng sóng biên độ thấp, tần số cao Ngộ độc oxy cấp tính thường xảy ra khi điều trị bệnh nhân với áp suất > 3 ATA hoặc cao hơn và phụ thuộc vào thời gian điều trị Nếu thời gian điều trị kéo dài hơn 60 phút với áp suất > 3 ATA thì khả năng xảy ra ngộ độc oxy cấp tính rất lớn Trường hợp xảy ra ngộ độc oxy cấp tính thì xử lí bằng cách ngừng điều trị, nhanh chóng đưa bệnh nhân ra khỏi buồng cao
áp, cho thở khí trời, cho uống các thuốc chống co giật
- Ngộ độc oxy mạn tính biểu hiện bằng viêm phổi, phù phổi và xẹp phổi có thể xảy ra khi điều trị OXCA với áp suất < 2 ATA nhưng kéo dài và lặp lại nhiều lần Ngay cả khi điều trị bằng oxy 100% dưới áp suất khí quyển (1 ATA) kéo dài >
12 giờ sẽ xuất hiện các dấu hiệu đau ngực, ho và đau họng Trường hợp xảy ra ngộ độc oxy mạn tính thì xử lí bằng cách dừng liệu trình điều trị, cho uống thuốc kháng
sinh, chống viêm, giảm đau, long đờm
Trong thực tế điều trị OXCA để tránh xảy ra ngộ độc oxy các chuyên gia hàng đầu về OXCA đã thống nhất liệu trình điều trị với áp suất < 3 ATA và thời gian không kéo dài quá 60 phút đối với bệnh nhân không phải do ngộ độc oxit carbon, MetHemoglobin, tắc mạch do khí hoặc hoại thư sinh hơi [20], [23], [24],
[25], [28], [34], [35], [52], [56], [60], [62], [64], [67], [71]
1.4.7 Tính hợp lý của OXCA trong điều trị điếc đột ngột
OXCA làm tăng phân áp oxy tai trong:
Khi sử dung các vi điện cực nhạy oxy đặt vào tai trong chuột bạch thì thấy giảm phân áp oxy Con vật được đặt trong phòng cao áp và sau đó thở oxy ở áp suất
Trang 33bình thường thì thấy phân áp oxy tăng lên 204% Khi áp suất tăng 1,6 ATA thì phân
áp oxy tăng khoảng 563% so với trị số ban đầu Sự gia tăng phân áp oxy sẽ khắc phục được tình trạng thiếu oxy ở các tế bào
OXCA làm tăng hàm lượng oxy hòa tan:
Ở áp suất cao, lượng oxy hòa tan tăng lên phụ thuộc vào việc tăng áp lực riêng phần của oxy, từ đó làm tăng dung tích oxy ở các môi trường lỏng trong cơ thể, do đó cho phép tăng nhanh hàm lượng oxy trong các tế bào thiếu oxy
OXCA cải thiện lưu thông máu:
Mathieus và cộng sự từ năm 1984 đã cho biết OXCA cải thiện vi tuần hoàn, không những hạ thấp Hematocrit và độ nhớt của máu toàn bộ, nó còn cải thiện tính đàn hồi của tế bào hồng cầu [22], [26], [55], [56], [63], [64], [69], [74]
1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI VÀ TRONG NƯỚC
1.5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Aslan I và cộng sự [31] điều trị 50 bệnh nhân ĐĐN chia làm 2 nhóm: 25 bệnh nhân được điều trị betahistine hydrochloride, prednisolon, chẹn hạch sao (nhóm 1) và 25 bệnh nhân được điều trị tương tự kết hợp đồng thời OXCA (nhóm 2) Kết quả sự cải thiện thính lực trung bình là 20,0 dB ở nhóm 1 và 37,9 dB ở nhóm 2 (p < 0,05) Ở nhóm 2 sự cải thiện thính lực trung bình là 51,4 dB đối với bệnh nhân < 50 tuổi và 23,3 dB đối với bệnh nhân > 50 tuổi (p < 0,05); 48,9 dB đối với bệnh nhân < 60 tuổi và 14,5 dB đối với bệnh nhân > 60 tuổi (p < 0,001) Ở bệnh nhân > 60 tuổi sự cải thiện thính lực trung bình là 14,5 dB ở nhóm 1 và 14,4 dB ở nhóm 2 (p > 0,05) Tác giả kết luận: Điều trị kết hợp đồng thời OXCA với thuốc theo phác đồ quy ước nâng cao có ý nghĩa kết quả điều trị bệnh nhân ĐĐN, đặc biệt
ở những bệnh nhân < 50 tuổi, các bệnh nhân > 50 tuổi cho kết quả ít và bệnh nhân >
60 tuổi gần như không có kết quả
Cekin E và cộng sự [35] điều trị 57 bệnh nhân ĐĐN chia làm 2 nhóm: 36 bệnh nhân điều trị OXCA (áp suất 2,5 ATA mỗi ngày 90 phút, trong 10 ngày) kết hợp đồng thời với thuốc theo phác đồ quy ước (nhóm nghiên cứu) và 21 bệnh nhân chỉ điều trị bằng thuốc đơn thuần theo phác đồ quy ước (nhóm chứng) Kết quả: Tỉ
lệ cải thiện thính lực ở nhóm điều trị kết hợp đồng thời OXCA với thuốc có tỉ lệ cải
Trang 34nhóm điều trị thuốc đơn thuần có tỉ lệ cải thiện Chung là 71,3% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 52,3%)
Desloovere C và cộng sự [38] điều trị 316 bệnh nhân ĐĐN chia làm 3 nhóm:
100 bệnh nhân ĐĐN sau khi điều trị bằng thuốc thất bại ngưng điều trị (nhóm 1),
160 bệnh nhân ĐĐN sau khi điều trị bằng thuốc thất bại tiếp tục điều trị OXCA ở áp suất 1,5 ATA (nhóm 2) và 56 bệnh nhân ĐĐN sau khi điều trị bằng thuốc thất bại tiếp tục điều trị OXCA ở áp suất 2,5 ATA (nhóm 3) Kết quả ở nhóm 1 sự cải thiện thính lực trung bình là 2,6 ± 15,0 dB so với cuối giai đoạn dùng thuốc thất bại, nhóm 2 sự cải thiện thính lực trung bình là 3,1 ± 9,0 dB và ở nhóm 3 là 19,7 ± 23,0
dB Kết quả này có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa nhóm 3 với nhóm 1 (p < 0,01)
và nhóm 2 (p < 0,01) Có mối liên quan rõ giữa hiệu quả điều trị với việc sử dụng OXCA sớm hay muộn sau khi điều trị bằng thuốc thất bại (p < 0,05) Tác giả kết luận: OXCA ở áp suất 2,5 ATA điều trị bệnh nhân ĐĐN sau khi điều trị bằng thuốc thất bại mang lại sự cải thiện thính lực có ý nghĩa thống kê, sự cải thiện thính lực càng cao khi được điều trị OXCA càng sớm
Dundar K và cộng sự [41] điều trị 80 bệnh nhân ĐĐN chia làm 2 nhóm: 55 bệnh nhân điều trị OXCA (áp suất 2,8 ATA, mỗi ngày 90 phút, trong 10 – 28 ngày) kết hợp đồng thời với thuốc theo phác đồ quy ước (nhóm nghiên cứu) và 25 bệnh nhân chỉ điều trị bằng thuốc đơn thuần theo phác đồ quy ước (nhóm chứng) Kết quả: Tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm điều trị kết hợp đồng thời OXCA với thuốc có
tỉ lệ cải thiện Chung là 87,3% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 38,1%) cao hơn (p < 0,05) nhóm điều trị thuốc đơn thuần có tỉ lệ cải thiện Chung là 56,0% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 12,0%)
Fujimura T và cộng sự [44] điều trị 130 bệnh nhân ĐĐN (có ngưỡng nghe ban đầu ≥ 40 dB, thời gian mắc bệnh ≤ 30 ngày) chia làm 2 nhóm: 67 bệnh nhân điều trị OXCA (áp suất 2,5 ATA mỗi ngày 60 phút) kết hợp đồng thời với Steroid trong 14 ngày và 63 bệnh nhân chỉ điều trị bằng Steroid Kết quả: Tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm điều trị kết hợp đồng thời OXCA với Steroid có tỉ lệ cải thiện Chung là 77,6% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 17,9%) cao hơn (p < 0,05) nhóm điều trị Steroid đơn thuần có tỉ lệ cải thiện Chung là 65,1% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 25,4%) Đối với các bệnh nhân có ngưỡng nghe ban đầu ≥ 80 dB, nhóm nghiên cứu
Trang 35có tỉ lệ cải thiện Chung về thính lực là 62,5% cao hơn nhóm chứng có tỉ lệ cải thiện Chung về thính lực là 25,0% (p < 0,05), trong khi đó ở những bệnh nhân có ngưỡng nghe ban đầu < 80 dB sự cải thiện thính lực không có sự khác biệt giữa 2 nhóm Tác giả kết luận: OXCA kết hợp đồng thời với Steroid làm tăng hiệu quả điều trị bệnh nhân ĐĐN, đặc biệt đối với những bệnh nhân ĐĐN nặng
Topus E và cộng sự [74] điều trị 51 bệnh nhân ĐĐN chia làm hai nhóm: 21 bệnh nhân được điều trị bằng Steroid, Dextrans, giãn mạch, an thần (nhóm 1) và 30 bệnh nhân được điều trị OXCA (áp suất 2,5 ATA, mỗi ngày 90 phút, trong 20 ngày) kết hợp đồng thời với thuốc tương tự như trên (nhóm 2) Đánh giá thính lực được đo
ở các tần số 250, 500, 1.000, 2.000 và 4.000 Hz Kết quả sự cải thiện thính lực trung bình ở nhóm 2 cao hơn nhóm 1 ở tất cả các tần số (p < 0,05), ngoại trừ tần số 2.000
Hz (p > 0,05) Ở nhóm 2, sự cải thiện thính lực trung bình ở những bệnh nhân có ngưỡng nghe ban đầu > 60 dB cao hơn so với các bệnh nhân có ngưỡng nghe ban đầu < 60 dB (p < 0,05) Về mối liên quan giữa tuổi đời bệnh nhân với sự cải thiện thính lực không có sự khác biệt khi so sánh trong nhóm 1, còn ở nhóm 2 sự cải thiện thính lực trung bình ở bệnh nhân < 50 tuổi là 39,1 ± 18,3 dB cao hơn so với bệnh nhân > 50 tuổi có sự cải thiện thính lực trung bình là 22,7 ± 11,3 dB (p < 0,05) Tác giả kết luận điều trị kết hợp đồng thời OXCA với thuốc theo phác đồ quy ước nâng cao có ý nghĩa kết quả điều trị cho bệnh nhân ĐĐN, đặc biệt ở các tần số
250, 500, 1.000, 4.000 Hz và ở những bệnh nhân có ngưỡng nghe ban đầu > 60 dB Hơn nữa liệu pháp OXCA cho thấy có hiệu quả cao ở những bệnh nhân có tuổi đời
< 50 tuổi
Yalcin A và cộng sự [77] điều trị 119 bệnh nhân ĐĐN chia làm hai nhóm: 58 bệnh nhân được điều trị bằng Steroid (nhóm 1) và 61 bệnh nhân được điều trị OXCA (áp suất 2,5 ATA, mỗi ngày 120 phút, trong 20 ngày) kết hợp đồng thời với Steroid (nhóm 2) Đánh giá thính lực được đo ở các tần số 500, 1.000, 2.000 và 4.000 Hz Kết quả: Tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm điều trị kết hợp đồng thời OXCA với Steroid có tỉ lệ cải thiện Chung là 86,9% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 42,6%) cao hơn (p < 0,05) nhóm điều trị Steroid đơn thuần có tỉ lệ cải thiện Chung
là 63,8% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 19,0%)
Trang 36Tóm lại, các tác giả ngoài nước đã kết hợp OXCA với thuốc ngay từ đầu hoặc sau khi dùng thuốc thất bại để điều trị cho các bệnh nhân ĐĐN, phần lớn các kết quả đều có tỉ lệ cải thiện thính lực cao hơn so với nhóm bệnh nhân điều trị thuốc đơn thuần Tuy nhiên, tỉ lệ cải thiện thính lực giữa các tác giả có sự chênh lệch ít nhiều, có thể là do đặc điểm của bệnh nhân ĐĐN và chế độ điều trị trong nghiên cứu của mỗi tác giả này có khác nhau ít nhiều về phương pháp nghiên cứu, trong đó
có khác về phác đồ điều trị nội khoa và liều lượng OXCA nên dẫn tới sự khác biệt như vậy
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chu Lan Anh và cộng sự [1] điều trị 49 bệnh nhân ĐĐN chia làm 2 nhóm:
27 bệnh nhân điều trị thuốc giãn mạch và Corticoid 10 ngày (nhóm chứng) và 22 bệnh nhân điều trị OXCA (áp suất 2,5 ATA, mỗi ngày 60 phút, trong 10 ngày) kết hợp với thuốc tương tự như trên (nhóm nghiên cứu) Kết quả: Tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm nghiên cứu có tỉ lệ cải thiện Chung là 77,3% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt
là 36,4%) cao hơn nhóm chứng có tỉ lệ cải thiện Chung là 67,6% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 20,6%) Bệnh nhân ĐĐN 1 tai có sự cải thiện thính lực tốt hơn bệnh nhân ĐĐN cả 2 tai, thời gian nhập viện càng sớm thì khả năng phục hồi cao hơn, tuổi càng cao khả năng phục hồi càng kém, bệnh nhân có thính lực đồ dạng giảm ở tần số âm trầm có sự cải thiện thính lực tốt hơn dạng giảm ở tần số âm cao Nhóm tác giả kết luận: Bước đầu điều trị ĐĐN bằng phương pháp kết hợp OXCA với thuốc cho kết quả khả quan hơn so với điều trị bằng thuốc đơn thuần và đề nghị cần
tiếp tục nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn
Võ Tá Kiêm và cộng sự [10] điều trị cho 300 bệnh nhân ĐĐN sau khi đã điều trị bằng thuốc giãn mạch liều cao kết hợp với Corticoid 5 ngày có thính lực cải thiện kém (< 10 dB) chia làm 2 nhóm: 150 bệnh nhân tiếp tục điều trị bằng thuốc như trên thêm 10 ngày (nhóm chứng) và 150 bệnh nhân điều trị OXCA (áp suất 2,5 ATA, mỗi ngày 60 phút, trong 10 ngày) kết hợp với thuốc như trên (nhóm nghiên cứu) Kết quả, tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm nghiên cứu có tỉ lệ cải thiện Chung là 85,1% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 21,5%) cao hơn (p < 0,05) nhóm chứng có tỉ lệ cải thiện Chung là 75,4% (trong đó tỉ lệ cải thiện Tốt là 14,0%) Tỉ lệ cải thiện thính lực của bệnh nhân ≥ 50 tuổi kém hơn so với bệnh nhân < 50 tuổi ở cả nhóm nghiên
Trang 37cứu và nhóm chứng Thời gian đến điều trị càng sớm tỉ lệ cải thiện thính lực càng cao Nhóm tác giả kết luận: Điều trị bệnh nhân ĐĐN bằng thuốc kết hợp với OXCA cho hiệu quả cao hơn so với điều trị bằng thuốc đơn thuần theo phác đồ đang được
áp dụng tại bệnh viện Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là mới chỉ đánh giá được hiệu quả điều trị ĐĐN bằng phương pháp kết hợp OXCA với thuốc sau khi đã điều trị bằng thuốc đơn thuần 5 ngày có thính lực cải thiện kém (< 10 dB) Do đó nhóm tác giả đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu điều trị ĐĐN bằng phương pháp kết hợp đồng thời OXCA với thuốc ngay từ ngày điều trị đầu tiên
Bùi Thị Ngọc Thúy [18] nghiên cứu diễn tiến lâu dài của 31 bệnh nhân ĐĐN
và tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của bệnh nhận thấy: Sau 1 năm, tỉ lệ cải thiện Chung
về thính lực không khác biệt so với lúc xuất viện Các yếu tố tiên lượng xấu làm giảm khả năng phục hồi thính lực ở bệnh nhân ĐĐN là:
- Tuổi ≥ 30 ĐĐN cả 2 tai
- Thời gian đến khám và điều trị trễ sau 7 ngày
- Thính lực đồ có dạng giảm ở tần số âm cao
Tóm lại, một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về diễn tiến của bệnh nhân ĐĐN và sử dụng OXCA ở áp suất 2,5 ATA, mỗi ngày 01 giờ kết hợp với thuốc trong 10 ngày để điều trị cho các bệnh nhân ĐĐN đã được điều trị thuốc đơn thuần nhưng hiệu quả kém Kết quả cũng cho thấy tỉ lệ cải thiện thính lực ở nhóm kết hợp OXCA với thuốc cao hơn nhóm điều trị thuốc đơn thuần
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân ĐĐN tới khám và điều trị tại
Bệnh viện Tai Mũi Họng, Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm OXCA, Chi
nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga
+ α: là xác suất sai lầm loại 1, α = 0,05 thì Z0,975 = 1,96
+ β: là xác suất sai lầm loại 2, khi 1 – β = 0,9 thì Z0,90 = 1,28
Tính ra cở mẫu tối thiểu của mỗi nhóm là 106 bệnh nhân Trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi dự kiến cở mẫu cụ thể như sau:
+ Nhóm điều trị thuốc đơn thuần (nhóm chứng): 150 bệnh nhân ĐĐN
+ Nhóm điều trị kết hợp đồng thời OXCA với thuốc (nhóm nghiên cứu): 150 bệnh nhân ĐĐN
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Các bệnh nhân ĐĐN có tuổi đời > 15 tuổi, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, thỏa mãn các tiêu chí sau được chọn vào mẫu nghiên cứu:
- Điếc xảy ra đột ngột trong vòng 3 ngày
- Điếc tiếp nhận 1 tai hoặc cả 2 tai
- Mất ít nhất 30 dB ở ba tần số liên tục
- Dạng điếc tiếp nhận trên thính lực đồ đơn âm trong ngưỡng [2], [7], [8], [15], [16], [29], [36], [62]
Trang 392.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân được chẩn đoán ĐĐN nhưng có các bệnh lý thuộc diện chống chỉ định điều trị OXCA dưới đây được loại ra khỏi mẫu nghiên cứu:
- Bệnh nhân có các khoang chứa khí kín ở trong phổi, tràn khí màng phổi
- Bệnh nhân đang bị viêm đường hô hấp cấp tính
- Bệnh nhân bị ung thư đang dùng hóa chất trị liệu
- Bệnh nhân động kinh
- Bệnh nhân mắc chứng sợ buồng kín [5], [17], [20], [22], [25], [37], [46]
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Can thiệp lâm sàng có nhóm chứng
2.2.2 Phương tiện nghiên cứu
Để chẩn đoán và theo dõi điều trị:
- Máy đo thính lực và nhĩ lượng: Thực hiện tại Bệnh Viện Tai Mũi Họng, Thành phố Hồ Chí Minh
- Máy xét nghiệm: Thực hiện xét nghiệm thường quy về huyết học, sinh hóa
- Máy đo điện tim: Đo điện tim đối với ngưới có tiền sử bệnh tim mạch
- Máy chụp X Quang: Chụp X Quang Tim Phổi, vv
Để điều trị :
- Thuốc, oxy tinh khiết dùng cho y tế
- Máy Oxy cao áp Model NG90/IIIB do Trung Quốc chế tạo năm 2006
2.2.3 Các bước thực hiện
Tất cả bệnh nhân ĐĐN chọn vào nghiên cứu sẽ được:
- Khám và làm hồ sơ nhập viện: Bệnh nhân được khai thác bệnh sử, khám xét lâm sàng đầy đủ theo một mẫu bệnh án thống nhất phục vụ cho việc điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng, Trung tâm OXCA và đăng ký vào phiếu thu thập số liệu
- Đo thính lực, nhĩ lượng, xét nghiệm thường quy, điện tim, X Quang tim phổi vv, được thực hiện ngay trước khi nhập viện
Trang 40- Để phân loại mức độ điếc của bệnh nhân ĐĐN chúng tôi dựa theo tiêu chuẩn của WHO (đánh giá mất sức nghe bằng cách lấy trị số trung bình của 3 tần số
+ Dạng giảm ở tần số âm trung bình
+ Dạng giảm ở tần số âm cao
+ Dạng giảm ở tất cả tần số âm [1], [10], [11], [15], [18]
- Để xác định mối liên quan giữa thời gian đến điều trị sớm hay muộn của bệnh nhân ĐĐN với tỉ lệ cải thiện thính lực chúng tôi chia nhóm thời gian đến điều trị như sau:
+ Bệnh nhân đến điều trị ≤ 7 ngày sau khi bị ĐĐN
+ Bệnh nhân đến điều trị trong khoảng 8 – 14 ngày sau khi bị ĐĐN
+ Bệnh nhân đến điều trị trong khoảng 15 – 21 ngày sau khi bị ĐĐN
+ Bệnh nhân đến điều trị > 21 ngày sau khi bị ĐĐN [1], [10], [11], [18]
- Để xác định mối liên quan giữa lứa tuổi của bệnh nhân ĐĐN với tỉ lệ cải thiện thính lực chúng tôi chia nhóm lứa tuổi như sau:
+ Bệnh nhân ĐĐN lứa tuổi < 20
+ Bệnh nhân ĐĐN lứa tuổi từ 20 – 29 tuổi
+ Bệnh nhân ĐĐN lứa tuổi từ 30 – 39 tuổi
+ Bệnh nhân ĐĐN lứa tuổi từ 40 – 49 tuổi
+ Bệnh nhân ĐĐN lứa tuổi từ 50 – 59 tuổi
+ Bệnh nhân ĐĐN lứa tuổi ≥ 60 [1], [10], [11], [18]