Từ thời xưa con người đã biết sử dụng cây cỏ hoang dại để làm thuốc chữa trị một số bệnh thông thường như cảm, sốt, đau đầu, bệnh ngoài da hay các bệnh nan y về gan, thận, tim mạch,… Cho
Trang 1SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH ĐOÀN TP.HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH VƯỜN ƯƠM SÁNG TẠO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRẺ
٭٭٭٭ D E ٭٭٭٭
BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP CÂY THUỐC
HUYỆN CỦ CHI - TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2- Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn đến Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh
đã tài trợ kinh phí để thực hiện nghiên cứu này
- Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Viện Sinh Học Nhiệt Đới đã tạo điều kiện, giúp đở về thời gian và chuyên môn trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
- Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn đến Phòng Tài nguyên và Môi trường, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh đã cung cấp những thông tin cần thiết để phục vụ nghiên cứu này
- Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS TS Trần Hợp - Đại học Khoa học
Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, TS Võ Văn Chi - Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, ThS Nguyễn Trần Vỹ - Viện Sinh học Nhiệt đới đã động viên, giúp đở về mặt chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện đề tài
- Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn đến gia đình anh Trọng, xã Phú Mỹ Hưng, huyện
Củ Chi, TP Hồ Chí Minh đã giúp đở nhóm nghiên cứu trong suốt thời gian thực địa thu mẫu
Thay mặt nhóm thực hiện
ThS Đặng Văn Sơn
Trang 3TÓM TẮT
Kết quả điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận được 176 loài, 148 chi, 65 họ thuộc 39 bộ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Mộc lan (Magnoliophyta) Có 5
họ giàu loài nhất phải kể đến là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Ô rô (Acanthaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae) Tài nguyên cây thuốc được phân chia thành 5 nhóm dạng sống chính là Thân thảo (C), Cây bụi (bụi/tiểu mộc), Gỗ nhỏ (GN), Gỗ lớn (GL) và Dây leo (DL) Nhiều loài cây thuốc được người dân địa phương sử dụng để trị một số bệnh thông thường như bệnh ngoài da, bệnh đường tiêu hóa, bệnh đường hô hấp, bệnh về gan, đau răng,… trong đó, có 3 loài
được sử dụng phổ biến nhất là Nhãn lồng (Passiflora foetida), Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) và Kim tiền thảo (Desmodium stycifolium) Kết quả nghiên cứu
cũng đã ghi nhận được 10 loài cây thuốc có giá trị bảo tồn theo thang đánh giá của Sách đỏ Việt Nam (2007) và Sách đỏ thế giới IUCN (2010)
ABSTRACT
The survey results of medicinal plants identified 176 species, 148 genera, 65
families, and 39 orders belonging to two phyla (Polypodiophyta and Magnoliophyta) in
Cu Chi District, Ho Chi Minh City The species-rich families are: Euphorbiaceae, Fabaceae, Asteraceae, Acanthaceae and Moraceae Life forms of medicinal plants are:
herb, shrub, small tree, big tree and liana Some species of medicinal plants are used to treat common diseases such as skin diseases, respiratory diseases, digestive diseases,
liver diseases, toothache,… Three speicies are most commonly used as Passiflora foetida, Phyllanthus amarus and Desmodium styracifolium Ten species are listed for
conservation by the Vietnam Red Data Book, Part II Plants (2007) and The IUCN Red List of Threatened Species (2010)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 2
1.1.1 Địa hình 2
1.1.2 Thổ nhưỡng 2
1.1.3 Khí hậu, thủy văn 3
1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 4
1.2 Các nghiên cứu có liên quan 5
CHƯƠNG 2 – THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian thực địa 9
2.2 Nội dung nghiên cứu 9
2.3 Phương pháp nghiên cứu 10
2.3.1 Tập hợp, kế thừa 10
2.3.2 Ngoài thực địa 10
2.3.3 Trong phòng thí nghiệm 10
2.3.4 Xử lý số liệu 12
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
3.1 Đa dạng về thành phần loài cây thuốc 13
3.2 Đa dạng về dạng sống của cây thuốc 16
3.3 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống 28
3.4 Đa dạng về giá trị sử dụng của cây thuốc 28
3.4.1 Phân chia theo bộ phận dùng 28
3.4.2 Phân chia theo các bệnh được chữa trị bằng cây thuốc 29
3.4.3 Phân chia theo giá trị bảo tồn nguồn gen 30
3.4.4 Một số loài thực vật làm thuốc được sử dụng phổ biến 31
3.5 Các loài thực vật làm thuốc tiêu biểu trong bộ sưu tập mẫu 41
Trang 53.6 Thảo luận 43
CHƯƠNG 4 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
4.1 Kết luận 45
4.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC i
1 Tra cứu cây thuốc theo tên khoa học i
2 Tra cứu cây thuốc theo tên Việt Nam ix
3 Một số hình ảnh cây thuốc vùng nghiên cứu xvii
4 Mẫu tiêu bản trong bộ sưu tập cây thuốc xxviii
5 Sản phẩm từ cây thuốc và tài liệu phục vụ nghiên cứu xxxviii
6 Các kết quả khác đạt được của đề tài xl
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH
Bảng 3.1: Phân bố các taxon trong ngành 13
Bảng 3.2: Phân bố các taxon trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta) 14
Bảng 3.3: So sánh số lượng cây thuốc của Củ Chi với các huyện ngoại thành…… 15
Bảng 3.4: Các họ thực vật có số lượng loài nhiều nhất 15
Bảng 3.5: Các chi có số lượng loài đa dạng nhất 16
Bảng 3.6: Đa dạng về dạng sống của thực vật 17
Bảng 3.7: Danh lục cây thuốc vùng nghiên cứu 18
Bảng 3.8: Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống 28
Bảng 3.9: Các nhóm bệnh phổ biến được chữa trị bằng cây thuốc 29
Bảng 3.10: Các loài thực vật làm thuốc cần được bảo vệ 30
Bảng 3.11: Thống kê các loài cây thuốc trong bộ sưu tập mẫu 42
Hình 2.1: Vị trí thu mẫu cây thuốc 11
Hình 3.1: Tỷ lệ các taxon phân bố trong ngành 13
Hình 3.2: Tỷ lệ các taxon trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta) 14
Hình 3.3: Tỷ lệ về dạng sống của thực vật làm thuốc 17
Trang 8MỞ ĐẦU
Thực vật đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với con người, nó không chỉ cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm mà còn cung cấp các giá trị tài nguyên khác, trong
đó đặc biệt là giá trị làm thuốc Từ thời xưa con người đã biết sử dụng cây cỏ hoang dại
để làm thuốc chữa trị một số bệnh thông thường như cảm, sốt, đau đầu, bệnh ngoài da hay các bệnh nan y về gan, thận, tim mạch,… Cho đến ngày nay khi khoa học hiện đại phát triển thì cây cỏ làm thuốc vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền y học cổ truyền, và là nguồn nguyên liệu quí cho nhiều loại thuốc hiện đại có xuất xứ từ các hợp chất tự nhiên Bên cạnh giá trị làm thuốc chữa bệnh, cây thuốc còn đem lại giá trị kinh
tế và xã hội cao
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có địa hình dốc, nhiệt độ
và lượng mưa trung bình năm phân bố không đồng đều, đã tạo nên nhiều kiểu thảm thực vật quan trọng, với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc Theo thống kê của Viện Dược liệu (Bộ Y tế), tính đến cuối năm
2004 đã ghi nhận và thống kê được ở Việt Nam có 3.874 loài thực vật bậc cao có mạch
có giá trị làm thuốc, trong đó hơn 90% số loài là những cây thuốc mọc tự nhiên, tập trung chủ yếu trong các sinh cảnh rừng tự nhiên và trảng cây bụi
Thế nhưng trong những năm gần đây, do nạn khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng không hợp lý, cộng với áp lực gia tăng về dân số và nhu cầu sử dụng các dược liệu có nguồn gốc tự nhiên, dẫn đến nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị cạn kiệt, nhiều loài cây thuốc đang phải đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng; theo Nguyễn Tập (2007) thì ở Việt Nam có đến 144 loài thực vật làm thuốc bị đe dọa, trong đó một
số loài phải kể đến như Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis), Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tâm thất hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng liên (Coptis chinensis), Lan một lá (Nervilia spp.), Đãng sâm (Codonopsis javanica),… bị khai thác rất gay
gắt, nên có nguy cơ tuyệt chủng rất cao Vì vậy việc điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu và sưu tập mẫu tiêu bản về tài nguyên cây thuốc ở một huyện ngoài thành của một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh là điều cần thiết và thiết thực, góp phần vào công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên này Xuất phát từ thực tế
trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Điều tra, đánh giá và xây dựng bộ sưu tập cây thuốc
huyện Củ Chi - TP Hồ Chí Minh”, đề tài thực hiện nhằm vào hai mục tiêu sau:
- Điều tra xây dựng danh lục cây thuốc vùng nghiên cứu, trên cơ sở đó xác định tính đặc hữu, quý hiếm của các loài cần bảo tồn
- Xây dựng bộ sưu tập cây thuốc cho huyện
Trang 9CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
1.1.1 Địa hình
Củ Chi là một huyện ngoại thành nằm về phía Tây Bắc của TP Hồ Chí Minh, trên một vùng đất chuyển tiếp từ vùng đất cao của núi rừng miền đông nam bộ xuống vùng đất thấp của đồng bằng Sông Cửu Long, có đường giao thông giao lưu với các tỉnh miền đông và Tây Nam bộ Đây là một vùng đất kiên cường trong suốt hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Sài Gòn - Gia Định
Củ Chi có tọa độ địa lý từ 10o53’00” đến 10o10’00” vĩ độ Bắc và từ 106o22’00” đến 106o40’00” kinh độ Đông, gồm 20 xã và một thị trấn với 43.450,2 ha diện tích tự nhiên, bằng 20,74 % diện tích toàn thành phố
- Phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
- Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương
- Phía Nam giáp huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh
- Phía Tây giáp tỉnh Long An
Địa hình Củ Chi nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây nam bộ và miền sụt Đông nam bộ, với độ cao giảm dần theo 2 hướng Tây Đông và Đông Tây Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8-10 m Ngoài ra địa bàn huyện có nhiều ruộng, đất đai thuận lợi để phát triển nông nghiệp so với các huyện trong thành phố [37]
1.1.2 Thổ nhưỡng
Căn cứ nguồn gốc phát sinh có 3 nhóm đất chính sau:
♦ Nhóm đất phù sa: Đất phù sa được hình thành trên các trầm tích Alluvi tuổi
haloxen muộn ven các sông, kênh, rạch Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Đây là một loại đất rất quí hiếm, cần thiết phải được cung cấp nước tưới, ưu tiên sản xuất lúa nước 2 đến 3 vụ và sử dụng một phần diện tích nhỏ cho việc trồng cây ăn trái
♦ Nhóm đất xám: Đất xám hình thành chủ yếu trên mẫu đất phù sa cổ (Pleistocen
muộn) Tầng đất thường rất dày, thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt cát trung bình và cát mịn chiếm tỉ lệ rất cao (40-55 %), cấp hạt sét chiếm 21-27 % và có sự gia tăng sét rất
rõ tạo thành tầng tích sét Đất có phản ứng chua, pH (H2O) xấp xỉ 5 và pH (KCl) xấp xỉ 4; các Cation trao đổi trong tầng đất rất thấp; hàm lượng mùn, đạm tầng đất mặt khá
nhưng rất nghèo Kali do vậy khi sản xuất phải đầu tư thích hợp về phân bón
Trang 10Loại đất này rất dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hóa và thích hợp với các loại cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, đậu,… Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng các cây như Cao su, Điều vì khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt Trong sử dụng phải chú ý biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường phân bón
bổ sung dinh dưỡng nhất là phân hữu cơ
♦ Nhóm đất đỏ vàng: Loại đất này hình thành trên sản phẩm phong hóa của các
loại đá mẹ và mẫu chất khác nhau Đặc điểm của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là
fuvic, chất hòa tan dễ bị rửa trôi [37]
1.1.3 Khí hậu, thủy văn
♦ Khí hậu: Củ Chi nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất
cận xích đạo Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, với đặc trưng chủ yếu là:
- Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 26,6oC Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28.8 oC (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 24,8 oC (tháng 12) Tuy nhiên biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào mùa khô có trị số 8-10 oC
- Lượng mưa trung bình năm từ 1.300-1.770 mm, tăng dần lên phía Bắc theo chiều cao địa hình, mưa phân bổ không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9; vào tháng 1 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí trung bình năm cao 79,5 %, cao nhất tháng 7, 8, 9 là 80-90 %,
và thấp nhất tháng 12, 1 là 70 %
- Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2.100-2.920 giờ
Huyện nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa chủ yếu phân bố vào các tháng trong năm như sau:
- Từ tháng 2 đến tháng 5 gió Tín phong có hướng Đông Nam hoặc Nam với vận tốc trung bình từ 1,5-2,0 m/s; tháng 5 đến tháng 9 thịnh hành là gió Tây - Tây nam, vận tốc trung bình từ 1,5-3,0 m/s
- Ngoài ra, từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau có gió Đông Bắc, vận tốc trung bình
từ 1-1,5 m/s [37]
♦ Thủy văn: Củ Chi có hệ thống sông, kênh, rạch đa dạng, với đặc điểm chính:
- Sông Sài Gòn chịu chế độ ảnh hưởng dao động bán nhật triều, với mực nước triều bình quân thấp nhất là 1,2 m và cao nhất là 2,0 m
Trang 11- Các hệ thống kênh rạch tự nhiên khác, đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Sài Gòn như Rạch Tra, Rạch Sơn, Bến Mương,… Riêng chỉ có kênh Thầy Cai chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Vàm Cỏ Đông
Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của huyện và nét nổi bậc của dòng chảy và sự xâm nhập của thủy triều [37]
1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
♦ Tài nguyên nước: Nguồn nước của huyện chủ yếu là nước ở các sông, kênh,
rạch, hồ, ao Tuy nhiên, phân bố không đều tập trung ở phía Đông của huyện (sông Sài Gòn) và trên các vùng trũng phía Nam và Tây Nam với chiều dài gần 300 km cả hệ thống, đa số chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Theo các kết quả điều tra khảo sát về nước ngầm trên địa bàn huyện Củ Chi cho thấy nguồn nước ngầm khá dồi dào
và đang giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân
Chất lượng khá tốt trừ các khu vực vùng trũng như: Tam Tân, Thái Mỹ Ngoài ra,
do tác dụng của hệ thống kênh Đông Củ Chi đã bổ sung một lượng nước ngầm đáng
kể, nâng mực nước ngầm lên từ 2-4 m
♦ Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện so với thành
phố khá phong phú gồm có các loại chủ yếu sau:
- Mỏ Cao Lanh: có trữ lượng khoảng 5 triệu tấn phân bố chủ yếu ở Rạch Sơn
- Than bùn ở Tam Tân, trữ lượng khoảng 0,5 triệu tấn
- Sạn sỏi ở Bầu Chứa, trữ lượng cấp B khoảng 0,8 triệu tấn
Ngoài ra, còn có mỏ đất sét làm gạch ngói và đá xây dựng nhưng với trữ lượng không đáng kể [37]
♦ Tài nguyên thực vật: Hệ thống rừng tự nhiên ở Củ Chi chủ yếu phân bố ở các khu khu di tích lịch sử, vườn thực vật nên trữ lượng hạn chế
Rừng Củ Chi là rừng kín thường xanh ưu thế cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) và trong cấu trúc tổ hợp thành hổn giao có khoảng 20-30 % các loài cây rụng lá thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Bằng lăng (Lythraceae) đều ở tầng nhô và tầng tán rừng
Hệ thực vật vùng Củ Chi rất phong phú và đa dạng, với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều thuận lợi cho nhiều cây trồng phát triển Cây mọc nhiều ở đây có thể nói đến những cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), với những loài phổ biến có giá trị như Dầu rái
(Dipterocarpus alatus Roxb ex G.Don), cây lấy dầu dùng trét ghe, thuyền hoặc trồng
lấy gỗ, lấy bóng mát ở hầu hết các con đường của thành phố Hồ Chí Minh; Vên vên
Trang 12(Anisoptera costata Korth.) cây chủ yếu lấy gỗ đóng đồ dùng, gỗ tốt; Sao đen (Hopea odorata Roxb.) Họ Bằng lăng (Lythraceae) cũng là họ phổ biến ở vùng này Ngoài ra
còn có họ Đậu (Fabaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae),…
1.2 Các nghiên cứu có liên quan
Tài nguyên cây thuốc được biết đến rất sớm, ngay từ đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, người ta đã biết sử dụng các cây cỏ hoang dại để chữa bệnh như: dùng nước trà
(Thea sinensis) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ [Hội đông y Việt Nam] Năm 1985
trong cuốn “Cây thuốc Trung Quốc” đã liệt kê một loạt các loài thực vật chữa bệnh
như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, vết thương
tụ máu; Cải Soong (Nasturtium officinale) có tác dụng giải nhiệt, chữa lở miệng, chảy
máu chân răng, bướu cổ Cũng trong năm 1985, Perry trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, đã nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố, trong đó có 146 loài thực vật
có tính kháng khuẩn và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia” [Perry L.M]
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật trong tổng số 250.000 loài đã biết, được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc [Farnsworth N.R and Soejarto D.D] Trong
đó ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài; Trung Quốc 5.000 loài; vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1.900 loài thực vật có hoa
Trên thực tế có rất nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc nhưng do con người khai thác quá mức dẫn đến nhiều loài trên thế giới vĩnh viễn mất đi hoặc đang bị
đe dọa nghiêm trọng (theo công ước đa dạng Sinh học, 1992) Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài có nguy cơ bị đe dọa Trong số những loài thực vật đã bị mất đi hoặc đang bị đe dọa nghiêm trọng, trong đó có nhiều loài cây
thuốc như: ở Bangladet có loài Tylophora indica dùng để chữa bệnh hen, loài Zanonia indica dùng để tẩy xổ - trước kia có khá nhiều nay có nguy cơ bi tuyệt chủng [Islam
4 tập đã thống kê được 1.482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương
Trang 13Trong công trình “Medicinal and poisonous plants, 3 tập” thuộc chương trình
phối hợp điều tra tài nguyên thực vật Đông Nam Á (xuất bản năm 1999, 2001 và 2003)
đã thống kê được khoảng 2.200 loài thực vật có giá trị làm thuốc, đây là công trình có giá trị khoa học cao Tất cả các loài được mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, cách gieo trồng và giá trị sử dụng ; đặc biệt trong công trình này cũng được phân tích khá đầy đủ các hàm lượng hoạt chất có trong các bộ phận của thực vật
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, để chống lại các bệnh nan y, thì sự cần thiết
là phải kết hợp giữa Đông và Tây y, giữa y học hiện đại với kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc Chính từ những kinh nghiệm truyền thống đó của họ là chìa khóa để nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng đến thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc [Nguyễn Tập, 1996]
Ở Việt Nam, ngay từ thời xa xưa người dân Việt Nam, đặc biệt là những người sống ở những vùng cao, vùng sâu, vùng xa đã có nhiều bài thuốc, cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh có hiệu quả Qua quá trình phát triển, các kinh nghiệm dân gian quí báu đó đã dần dần được đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng
Thời vua Hùng Vương dựng nước (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử kí ngoại kí,…) và qua các truyền thuyết , tổ tiên ta đã biết dùng cây
cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh Theo Long Úy chép lại, vào đầu
thế kỷ thứ II có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao Chỉ như: Ý dĩ (Coix lachrymal- jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin Benth.) [Lê Trần Đức, 1995]
Ở đời Trần (1225-1399), Phạm Ngũ Lão thu thập trông coi một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sĩ trên núi gọi là “Sơn Dược”, hiện vẫn còn di tích để lại tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng Cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản năm 1429 là “Bản thảo cương toàn yến” do Chu Tiên biên soạn Vào thế kỷ XIV có người thầy thuốc nổi tiếng là Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh), ông biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 tập với 406 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc [Lê Trần Đức, 1995 và Tuệ Tĩnh, 1972]
Thời nhà Nguyễn (1788-1883) có “Nam dược”, “Nam dược chỉ danh truyền” của Nguyễn Quang Lượng ghi chép 500 vị thuốc nam Năm 1858 Trần Nguyên Phương đã
kể tên và mô tả công dụng của trên 100 loài cây thuốc trong cuốn “Nam bang thảo mộc” [Lê Trần Đức, 1983, 1995]
Trang 14Năm 1957, Đỗ Tất Lợi cho ra đời công trình “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Đến năm 1961 tác giả đã tái bản in thành 2 tập, trong đó mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962-1965 tác giả tiếp tục cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Qua nhiều năm cập nhật và bổ sung, trong lần tái bản thứ 12 vào năm 2006 tác giả đã nâng số loài động thực vật có giá trị làm thuốc lên đến 800 loài, các loài này được mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học và chia tất cả các cây thuốc đó thành các nhóm bệnh khác nhau
Năm 1966 Vũ Văn Chuyên “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”, trong đó ngoài việc tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, ông còn đưa ra danh sách các cây thông thường thuộc các họ, giúp dễ học và dễ phân loại thực vật, thuận lợi cho việc tra cứu
Năm 1976 trong công trình khoa học của mình, Võ Văn Chi đã thống kê được ở Miền Bắc có 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành thực vật hạt kín Đến năm
1991, trong báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc Việt Nam có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành Có thể nói công bố này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất
Năm 1980 Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương trong cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện vào nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam
Năm 1995, Trần Đình Lý và cộng sự đã cho ra đời cuốn “1900 loài cây có ích”, trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây
Năm 1997, Võ Văn Chi cho ra đời cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, tác giả đã thống kê và mô tả chi tiết 3.200 loài cây thuốc ở Việt Nam Đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và chuyên ngành thực vật học Cũng chính tác giả trong cuốn “Từ điển thực vật thông dụng” (2003-2004, 2 tập)
có đề cập đến phần công dụng mà chủ yếu là làm thuốc của 5.034 loài, 2.382 chi của
Trang 15giả đã đưa ra công dụng cụ thể của từng loài theo cách sử dụng của người dân địa phương
Bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” gồm ba tập của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), đã mô
tả hình thái của 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch hiện diện ở Việt Nam, rất nhiều loài được mô tả sơ lược về giá trị làm thuốc Đến năm 2006, trong cuốn “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” tác giả đã thống kê được 2.000 loài có giá trị làm thuốc, ở đây tác giả chỉ mô tả sơ lược đặc điểm nhận dạng và giá trị sử dụng của chúng
Đến cuối năm 2006, nhóm các tác giả thuộc Viện Dược liệu gồm Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập
và Trần Toàn trong công trình 2 tập “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” đã thống kê được 920 loài cây thuốc, đây là công trình khá đầy đủ và công phu, nhóm các tác giả đã mô tả, phân tích khá chi tiết các đặc điểm nhận dạng, phân bố, công dụng và thành phần hóa học của từng loài
Đến năm 2007 trong công trình “Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam” Nguyễn Tập đã giới thiệu 144 loài cây thuốc nguy cấp ở Việt Nam Đây là một đóng góp quan trọng trong công tác bảo tồn và sử dụng bềnh vững nguồn tài nguyên dược liệu có giá trị này
Giữa năm 2007 trong Dự án hỗ trợ chuyên ngành “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”
đã giới thiệu 82 loài thực vật có giá trị làm thuốc, với đầy đủ các thông tin về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật nhân trồng, khái thác, chế biến, bảo quản, giá trị kinh tế và đề xuất các biện pháp bảo tồn
Ở Củ Chi, thông tin về cây thuốc mới được đề cập trong những năm gần đây Trong công trình “Khảo sát thành phần loài và xây dựng bộ sưu tập mẫu các loài cây thân gỗ trên hệ sinh thái gò đồi thuộc huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh” Đặng Văn Sơn
đã ghi nhận được 29 loài thực vật có giá trị làm thuốc, đến năm 2009 tác giả cập nhật
và nâng số lượng loài cây thuốc lên 38 loài và mới đây nhất trong công trình đăng ở Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 4 về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, nhóm tác giả đã ghi nhận bổ sung vào nguồn tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi lên 162 loài, 135 chi, 63 họ, 38 bộ thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch
Tóm lại, thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh của nhân dân ta là phong phú và đa dạng Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài từ đời này sang đời khác Vì vậy, ngày nay chúng ta cần tiếp tục kiểm kê, bổ sung và hệ thống hóa các loài cây thuốc để giúp cho việc bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu và sử dụng bền vững
Trang 16CHƯƠNG 2 – THỜI GIAN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thơi gian thực địa
♦ Thời gian thực địa: Đã tiến hành 6 đợt thực địa nghiên cứu, mỗi đợt từ 5-7 ngày
♦ Giới hạn của đề tài: Đề tài chỉ tập trung điều tra, nghiên cứu ở những nơi còn
rừng tự nhiên, các vườn sưu tập thực vật, các trảng và các vùng đất ngập nước
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu đề ra, các nội dung được tiến hành như sau:
♦ Điều tra, đánh giá thành phần loài cây thuốc, từ đó xây dựng danh lục cây thuốc
- Cố định và bảo quản mẫu
- Xây dựng bộ sưu tập: xây dựng bộ tiêu bản thực vật của một số loài có giá trị
làm thuốc Số lượng tiêu bản có thể là 40 loài và khi thu hái sẽ thu thập thành 2 bộ, mỗi
bộ gồm 40 tiêu bản của 40 loài thực vật Một bộ tiêu bản dành cho giáo dục, trưng bày
và 1 bộ dành cho lưu trữ bảo tồn, nghiên cứu Mẫu thực vật được lấy tại địa điểm
Trang 17nghiên cứu, được chụp ảnh ngoài thực địa và xử lý trong phòng thí nghiệm, khâu dán lên bìa cứng (bìa sơmi giấy kích thước 28cm x 42cm) theo tiêu chuẩn bộ tiêu bản thực vật quốc gia Việt Nam
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Các mẫu thu ưu tiên có đầy đủ các bộ phận đặc trưng như: thân (cành non, cành già), lá (lá non, lá trưởng thành), hoa (chùm hoa, hoa đực, hoa cái) và quả (quả non, quả có hạt),… kích thước mẫu vừa phải, từ 35-45cm, được gói gọn trong các tờ giấy báo, được gắn nhãn kèm theo các thông tin: địa điểm lấy mẫu, thời gian lấy mẫu, tên hoặc nhóm người lấy mẫu, độ cao so với mặt nước biển, sinh cảnh lấy mẫu và đặc biệt
là các đặc điểm không lưu lại được trên mẫu khi mẫu đã sấy khô, ngâm tẩm: màu sắc hoa, có mủ hay không có mủ, kích thước cây gỗ,…
Để tránh hư hỏng, các mẫu thu được xử lý sơ bộ ngoài thực địa bằng cồn với nồng
độ 60-800 pha với nước sạch và được bảo quản trong túi nilon kín Các bộ phận của mẫu cũng được bao gói cẩn thận bằng giấy báo hay túi nilon, có kèm theo nhãn
2.4.3 Trong phòng thí nghiệm
Các mẫu vật sau khi mang về phòng thí nghiệm, tiếp tục được xử lý và sấy khô Sau khi sấy khô được ngâm tẩm hóa chất bảo quản để diệt khuẩn và chống côn trùng phá hoại Sau đó đính lên bìa giấy cứng crôki kích thước 28 x 42cm và dán nhãn ở góc phải
Việc xác định tên khoa học của thực vật được tiến hành qua phân tích các đặc điểm hình thái của mẫu vật, kết hợp với khóa tra của một số tài liệu chính như: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2000); Thực vật chí Đông Dương (Flore générale
de I’ Indo-chine, H, Lecomle, 1907-1952); Thực chí Campuchia, Lào, Việt Nam (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam, Aubréville A, et al, 1960 - 1997);
Trang 19Thực chí Việt Nam (The Flora of Vietnam), họ Na - Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 1999), họ Đơn Nem - Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002)…; Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2002-2003); Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín
ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997); Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam (Võ Văn Chi, 2007)
Đối với một số loài còn nghi ngờ thì được so mẫu với bộ tiêu bản chuẩn Việt Nam đang lưu giữ tại Bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh Học Nhiệt Đới Sau khi đã có đầy
đủ tên thực vật, tiến hành kiểm tra lại tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Sắp xếp bộ, họ và chi dựa theo Brummitt (1992), đồng thời hiệu chỉnh tên chi và loài theo các tài liệu Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ, Thực vật chí Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam của Võ Văn Chi
Việc xác định thông tin của các loài có giá trị làm thuốc, dạng sống và tình trạng bảo tồn; ngoài các tài liệu nêu trên còn sử dụng một số tài liệu khác như: 1900 cây có ích của Trần Đình Lý (1993), Sách đỏ Việt Nam (2007), Sách đỏ thế giới của IUCN (2010), Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (1997), Từ điển thực vật thông dụng của Võ Văn Chi (2003 - 2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc của Viện dược liệu (2006), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2009),…
2.4.4 Xử lý số liệu
- Phân tích, tổng hợp và bổ sung số liệu nghiên cứu
- Dùng phần mềm Exel để lưu trữ và xử lý số liệu
- Xây dựng bộ sưu tập cho một số loài cây thuốc tiêu biểu
- Lập danh lục và viết báo cáo kết quả
Trang 20họ là Polyòng bong);
.1)
Bảng 3.1:
gành thực
ophyta (Dưophyta (Mộ
Tổng cộn
taxon phân
Họ
4.6 % 95.4
; ngành M: Phân bố c
e (họ Ráng
ộc lan có các taxon tr
À THẢO
nghiên cứu
ao có mạca) Trong đ
đa túc), Pt
172 loài trong ngành
LUẬN
u có 176 lo
ch là ngàn
ó, ngành Dteridaceae thuộc 144 c
oài, thuộc 1
nh DươngDương xỉ c(họ Cẳng chi của 62
148
g xỉ
có 4 gà)
2 họ
a
a a
Trang 21gành thực
a (Một lá mopsida (Hai
Tổng cộn
Tỷ lệ các tahuyện ngoạphú và đa hóa, lịch
ên nhiên, đ
Họ
14.5 % 85.5
h Mộc lan
ộc lan (Ma
m 90,3%, mầm (Lilio
m 9,7%, sốđịnh được
g toàn hệ ttaxon tron
sử của dânđặc biệt là
C
9.7 %
%
n (Magnoliagnoliopsid
số họ là 53opsida) có t
ố họ là 9 crằng lớp Mthực vật
Chi
% 90.3 %
ophyta) chda) chiếm ư
3 chiếm 85
tỷ trọng thchiếm 14,5Mộc lan chMộc lan (M
Loài
8.1 % 91.9 %
ho thấy kết
ưu thế với 5,5%, số bộhấp hơn, có5% và số bhiếm ưu thếMagnoliophy
h mà còn l
ây thuốc, g
L M
à nơi bảo góp phần v
Liliopsida Magnoliopsid
sau
158 iếm
à 14 iếm ành
yên lưu tồn vào
da
Trang 22công cuộc phát triển, sử dụng và khai thác bềnh vững nguồn tài nguyên mang tính chất
nhân văn này của một thành phố được xem là có tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại
hóa vào hạng bậc nhất của cả nước
Bảng 3.3: So sánh số lượng cây thuốc của Củ Chi với các huyện ngoại thành khác
STT Tên huyện Diện tích (ha) Số lượng cây thuốc
Khi đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của một hệ thực vật, người
ta thường phân tích taxon ở bậc họ, chi có nhiều loài nhất của hệ thực vật đó Bởi vì tỷ
lệ (%) của họ, chi giàu loài nhất được xem là bộ mặt của hệ thực vật và là chỉ số so
sánh đáng tin cậy, vì nó không phụ thuộc vào diện tích nghiên cứu cũng như mức độ
giàu loài của hệ thực vật Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành phân tích 5 taxon ở
cấp độ họ và 5 taxon ở cấp độ chi của hệ thực vật
Ở cấp độ họ, vùng nghiên cứu có 5 họ có số lượng loài đa dạng nhất với 55 loài
chiếm 31,3% tổng số loài trong toàn hệ (bảng 3.4) gồm: họ Euphorbiaceae (Thầu dầu)
có 20 loài chiếm 14,1%, kế đến là họ Fabaceae (Đậu) có 13 loài chiếm 8,4%, họ
Asteraceae (Cúc) có 9 loài chiếm 5,1%, họ Acanthaceae (Ô rô) có 7 loài chiếm 4,0%
và sau cùng là họ Moraceae (Dâu tằm) có 6 loài chiếm 3,4%
Bảng 3.4: Các họ thực vật có số lượng loài nhiều nhất
Trang 23Ở cấp độ chi, kết quả thống kê cho thấy có 5 chi có số lượng loài cây thuốc đa
dạng nhất với 17 loài, chiếm 9,7% tổng số loài của toàn hệ (bảng 3.5) gồm: chi Ficus
(Sung) có 5 loài chiếm 2,8%, kế đến là các chi Polygonum (Nghể), Vitex (Bình linh),
Phyllanthus (Diệp hạ châu) và chi Antidesma (Chòi mòi) mỗi chi co 3 loài và chiếm
1,7% số loài trong khu vực nghiên cứu
Bảng 3.5: Các chi có số lượng loài đa dạng nhất
3.2 Đa dạng về dạng sống của cây thuốc
Nguồn tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi được phân chia thành 5 nhóm dạng sống
chính, đó là: cây thân thảo, cây bụi (cây bụi/tiểu mộc), cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ và dây
leo Trong số 176 loài cây thuốc thì nhóm cây thân thảo (C) có 63 loài chiếm 35,8%,
nhóm này gồm các cây sống ở trảng cỏ, dưới tán rừng, ven rừng hay xung quanh
nương rẫy, tập trung chủ yếu vào các họ như Asteraceae (Cúc), Euphorbiaceae (Thầu
dầu), Poaceae (Hòa thảo), Acanthaceae (Ô rô),… Kế đến là nhóm cây bụi (B) có 48
loài chiếm 27,3%, nhóm này gặp nhiều ở vùng gò đồi, rừng thứ sinh và ven rừng; tập
trung chủ yếu vào các họ như Fabaceae (Đậu), Malvaceae (Bông), Rubiaceae (Cà phê),
Verbenaceae (Cỏ roi ngựa),… Tiếp theo nhóm cây gỗ nhỏ có 28 loài chiếm 15,9%, và
nhóm cây gỗ lớn có 26 loài chiếm 14,8%, hai nhóm này gồm những cây sống ở rừng
thứ sinh hoặc những khu rừng trồng; tập trung chủ yếu vào các họ như Fabaceae (Đậu),
Dipterocarpaceae (Dầu), Clusiaceae (Bứa),… và sau cùng là nhóm dây leo có 11 loài
chiếm 6,3%, nhóm này gồm các cây sống ở vùng đồi, ven rừng hay nương rẫy và tập
trung vào một số họ như Asclepiadaceae (Thiên lý), Vitaceae (Nho), Convolvulaceae
(Bìm bìm), Như vậy nhóm cây thân thảo chiếm tỷ trọng cao nhất (35,8%) trong số
Trang 24DL 6.3 %
ở vùng ng
ai trò quan
n điều hòa kBảng 3.6
Tổng cộng
h 3 3: Tỷ lệ
GL 14.8 %
ghiên cứu (b
n trọng, chkhí hậu và6: Đa dạng
à bảo vệ mô
về dạng số
Số lượ
1126284863
176
sống của th
GN 5.9 %
Điều này chlại lợi ích
ực vật
Tỷ lệ (
6,314,815,927,335,8
100
m thuốc
C 35.8
Trang 25Bảng 3.7: Danh lục cây thuốc vùng nghiên cứu
1 Polypodiaceae Họ Ráng đa túc
7 * Hochr Hygrophyla erecta (Burm.f.) Đình lịch đứng C TC
11 Thunbergia grandiflora (Roxb ex Rottl.) Roxb Cát đằng hoa to B R, V, L
Trang 2616 * Beauv Alternanthera ficoidea (L.) P Diếc C TC
9 Ancistrocladaceae Họ Trung quân
29 Holarrhena pubescens Wall ex G Don Hồ liên to GN R, V, L, Ha
14 Asclepiadaceae Họ Thiên lý
Trang 2734 * F.) P.S Green Gymnanthera oblonga (Burm Lõa hùng DL R
48 Markhamia stipulata var pierre (Dop) Sant Thiết đinh lá bẹ GL V, L, H
18 Boraginaceae Họ Vòi voi
Trang 2820 Chrysobalanaceae Họ Cám
56 Cratoxylum cochichinensis (Lour.) Blume Thành ngạnh nam GN R, V, L
57 Cratoxylum formosum (Jack) Benth et Hook.f ex Dyer Thành ngạnh đẹp GN V, L
60 Calycopteris floribunda (Roxb.) Lam Dực đài B R, V, L
23 Commelinaceae Họ Rau trai
25 Convolvulaceae Họ Bìm bìm
Trang 2969 Dipterocarpus obtusifolius Teijsm ex Miq Dầu trà ben GL M
30 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu
89 Mallotus paniculatus (Lamk.) Muell.-Arg Ba bét nam GN R, Q
Trang 3091 Phyllanthus reticulatus Poir Phèn đen C R, V, L
99 Desmodium cf styracifolium (Osb.) Merr Kim tiền thảo B TC
105 Sindora siamensis Teijsm ex Miq.var siamensis Gõ mật GL V
32 Flagellariaceae Họ Mây nước
Trang 3135 Lauraceae Họ Long não
112 Litsea glutinosa (Lour.) C Rob Bời lời nhớt B V, L, H, Ha
113 Litsea monopetala (Roxb.) Pers Bời lời cánh đơn GN V, L, Q
Trang 32126 Ficus altissima Blume Da tía, da trơn GL R, M
133 Rhodamnia dumetorum (Poir.) Merr & Perry Tiểu sim, sim rừng B V, L, Q
136 Campyospermum serratum (Geartn.) Bittr & Amar Mai cánh lõm GN R, L
Trang 33144 Phragmites karka (Retz.) Trin ex Steud Sậy C R
151 Ixora cuneifolia var varians Pierre ex Pitard Tiền cổ B R, H
152 Mitragyna diversifolia (Wall ex G.Don.) Havil Giam, Cà giâm GL L
57 Scrophulariaceae Họ Hoa mõm chó
Trang 3458 Simaroubaceae Họ Thanh thất
161 Ailanthus triphysa (Dennist.) Alston Thanh thất GL V, L, Q
62 Verbenaceae Họ Cỏ roi ngựa
171 Vitex negudo var cannabifolia Hand.-Mazz Ngũ trảo lá có răng B R, V, L, Q
Ghi chú: DS - dạng sống, C - thân thảo, B - cây bụi/tiểu mộc, GN - gỗ nhỏ, GL - gỗ lớn, DL - dây leo; BPSD - bộ phận sử dụng, R - rễ, TC - toàn cây (có thể dùng riêng lá, thân, rễ,…), L - lá, Ha - hạt, H - hoa, V - vỏ, Q - quả, M - mủ; * - thuốc theo dân gian
Trang 353.3 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống
Nguồn tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi có điều kiện sống rất đa dạng, có những
loài sống ở rừng, ở vùng gò đồi hay trảng cây bụi Song có những loài sống ở nương
rẫy, ven đường đi, ruộng, ven sông, suối Căn cứ vào các điều kiện địa hình, đất đai và
sự phân bố của các loài cây thuốc có thể tạm chia thành các môi trường sống chính
như: rừng, gò đồi, nương vườn và ven sông suối (xem bảng 3.8)
Bảng 3.8: Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống
STT Môi trường sống Số lượng loài Tỷ lệ (%)
Từ kết quả bảng 3.8 cho thấy số lượng loài cây thuốc phân bố không đều trong
các sinh cảnh Số lượng loài cây thuốc tập trung nhiều nhất là ở sinh cảnh rừng với 89
loài chiếm 50,6% tổng số loài, gồm các loài cây gỗ lớn, gỗ nhỏ, bụi, thân thảo và dây
leo; sống trong rừng, dưới tán rừng và ven rừng; chúng vừa có giá trị chữ bệnh vừa có
ý nghĩa trong quá trình tái sinh và phục hồi rừng Kế đến là sinh cảnh gò đồi có 41 loài
chiếm 23,3%, tập trung chủ yếu ở các trảng cây bụi, các vùng đất cao bỏ hoang Tài
nguyên cây thuốc ở Củ Chi còn được tìm thấy ở sinh cảnh nương rẫy, vườn thực vật,
làng xóm với 26 loài chiếm 14,8% Sau cùng là sinh cảnh ven sông suối có số lượng
loài ít nhất với 20 loài chiếm 11,4% só với tổng số loài, nhóm này chủ yếu là những
cây thảo thích nghi với môi trường ẩm và những cây thủy sinh
3.4 Đa dạng về giá trị sử dụng của cây thuốc
3.4.1 Phân chia theo bộ phận dùng
Theo kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong dân gian, có thể sử dụng toàn cây hoặc
một bộ phận của cây thuốc, mỗi bộ phận của cây có một tác dụng chữa bệnh khác
nhau, chẳng hạn như loài Lộc vừng (Barringtonia acutangula) dùng vỏ thân chữa vết
thương do Côn trùng độc cắn, hạt chữa đau bụng đầy hơi, cùng một bộ phận có thể
dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau tùy mục đích và cách sử dụng của thầy thuốc; loài
Mây nước (Flagellaria indica) được dùng rễ để chữa đau dạ dày và hạn chế sinh đẻ
Trang 36Bên cạnh đó người ta có thể kết hợp 2 hay nhiều bộ phận của cùng một cây hay kết hợp giữa các cây thuốc khác nhau để có tác dụng chữa bệnh tốt nhất
Tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi không chỉ đa dạng, phong phú về thành phần loài (176 loài) mà cả về công dụng cũng như bộ phận sử dụng (cả cây, rễ, thân, lá, quả hoặc các thành phần khác như hoa, tinh dầu, củ,…) Trong quá trình sử dụng cây thuốc người ta có thể sử dụng cây tươi, khô hay vừa dùng tuơi vừa dùng khô Đối với nhóm cây dùng tươi thường là cây thân thảo hoặc những cây chỉ dùng lá để đắp, bôi ngoài da,
xông hơi, nấu nước uống hoặc làm rau ăn như Kim thất (Gynura colaniae), Môn nước (Colocasia esculenta), Bọ xít (Synedrella nodiflora), Bời lời cánh đơn (Litsea monopetala),… Với nhóm cây dùng khô, thuốc lấy về có thể chặt nhỏ phơi khô hoặc
sao ở các mức độ khác nhau dùng sắc uống, ngâm rượu hoăc tán nhỏ thành bột như
Dây hà thủ ô (Streptocaulon juventus), Cỏ xướt (Achyranthes aspera), Mù u (Calophyllum inophyllum), Kim tiền thảo (Desmodium cf styracifolium),… Một số cây
có thể vừa dùng tươi và khô như Núc nác (Oroxylum indicum), Ké hoa đào (Urena lobata), Choại (Stenochlaena palustris),…
3.4.2 Phân chia theo các bệnh được chữa trị bằng cây thuốc
Theo y học cổ truyền từ một cây có thể chữa được nhiều bệnh và để chữa một bệnh có thể cần kết hợp nhiều cây thuốc với nhau Theo tài liệu của một số tác giả như
Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Đỗ Huy Bích, Phạm Hoàng Hộ,… cũng như trong quá trình điều tra, thu thập thông tin từ thầy thuốc và người dân địa phương, chúng tôi phân chia
các nhóm bệnh phổ biến được chữa trị từ cây thuốc như sau (bảng 3.9)
Bảng 3.9: Các nhóm bệnh phổ biến được chữa trị bằng cây thuốc
Trang 37phương sử dụng phổ biến để chữa bệnh như Nhãn lồng (Passiflora foetida), Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus), Kim tiền thảo (Desmodium cf styracifolium), Tai tượng ấn (Acalypha indica), Mù u (Calophyllum inophyllum), Cóc kèn nước (Derris trifolia), Cỏ xướt (Achyranthes aspera), Cỏ nhọ nồi (Eclipta prostrata), Rau đắng đất (Glinus oppositifolius), Cỏ sửa lá lớn (Euphorbia hirta), Rau dừa nước (Ludwigia adscendens), Ráng đại (Acroticum aureum), Choại (Stenochlaena palustris), Sam (Portulaca oleracea), Rau má (Centella asiatica), Hà thủ ô (Streptocaulon griffithii), Bình bát (Annona glabra), Trai thường (Commelina communis), Mây nước (Flagellaria indica), Núc nác (Oroxylum indicum), Dừa cạn (Catharanthus roseus),…
3.4.3 Phân chia theo giá trị bảo tồn nguồn gen
Trong số 176 loài cây thuốc được ghi nhận, có 10 loài đã được cấp báo trong Sách
Đỏ Việt Nam (2007) và IUCN (2010) Trong đó, có 6 loài được xếp ở thứ hạng Ít nguy cấp - LR (Lower risk), 2 loài được xếp ở thứ hạng Nguy cấp - EN (Endangered), 1 loài được xếp ở thứ hạng Sẽ nguy cấp - VU (Vulnerable) và 1 loài được xếp ở thứ hạng Nguy cấp và Ít nguy cấp (bảng 3.10)
Bảng 3.10: Các loài thực vật làm thuốc cần được bảo vệ
STT Tên Khoa học Tên Địa phương Tọa độ SĐVN (2007) (2010) IUCN
Trang 38da, lậu, mụn nhọt; loài Dầu rái chữa bệnh sán, lậu; loài Sến mủ có tác dụng hạ sốt, trợ tim, bệnh lỵ; loài Thạnh ngạnh đẹp chữa bệnh ngoài da, mắt đỏ, giải nắng nóng; loài Thành ngạnh nam có tác dụng trị cảm, viêm ruột, ho, dạ dày, ngứa lỡ; loài Xây có tác dụng kích thích tiêu hóa, chữa nấm da; loài Gõ mật chữa kiết lỵ, viêm phế quản; loài
Mù u có tác dụng trị nhọt, lỡ loét, mụn trứng cá, trĩ; loài Kơ nia chữa no hơi đầy bụng
3.4.4 Một số loài thực vật được sử dụng làm thuốc thường gặp
♦ Mù u (Calophyllum inophyllum): Loài này có tác dụng gây nôn, giải độc Nhựa
Mù u phơi khô, tán thành bột rắc chữa mụn nhọt, lở loét, tai có mủ Nhựa hòa với nước hoặc mài gỗ với nước bôi làm tan các chỗ sưng cứng, chữa họng sưng không nuốt được Nhân Mù u giã nát hoặc ép lấy dầu rồi trộn với ít vôi, đun nóng, bôi ngày 2-3 lần
để chữa ghẻ và một số bệnh ngoài da khác Có người dùng dầu Mù u xoa bóp chữa tê
thấp, bôi trị mụn trứng cá, trĩ Một số bệnh viện đã dùng chế phẩm từ dầu Mù u điều trị
vết thương và bỏng có kết quả tốt, có tác dụng kháng khuẩn mạnh, làm mô phát triển rất nhanh, sạch vẩy, hết mủ, không còn mùi hôi ở vết thương Ester ethylic của dầu Mù
u điều trị có kết quả chứng viêm dây thần kinh do bệnh phong, với liều dùng 5-20 ml
uống hoặc xoa bóp Có thể dùng nhiều ngày [2, 5]
♦ Tai tượng ấn (Acalypha indica): Theo tài liệu y học cổ truyền lá, rễ, chồi non
và hoa có tác dụng tẩy, diệt giun sán, lợi đờm, gây nôn, giảm đau và gây ngủ Lá của Tai tượng ấn dùng làm thuốc tẩy ở Ấn Độ, dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột Lá phối hợp với tỏi làm thuốc tẩy giun đường tiêu hóa, trộn với muối giã nát đắp chữa ghẻ lở
Trang 39Dịch ép từ lá tươi là thuốc gây nôn an toàn cho trẻ con, dùng với liều một thìa cà phê
có ích trong trường hợp viêm tắc thanh quản, với liều nhỏ hơn lại có tác dụng lợi đờm điều trị viêm phế quản mạn tính và hen suyễn Lá tươi phối hợp với chanh, hành củ giã nát đắp chữa thấp khớp Để chữa táo bón ở trẻ em, lấy lá Tai tượng ấn nghiền nát làm thành thuốc dạng viên, đặt vào trực tràng làm giãn cơ thắt hậu môn, đại tiện trở lại bình thường Nước hãm từ rễ Tai tượng ấn cũng được dùng làm thuốc tẩy Để chữa chứng điên cuồng người ta lấy lá, cành và hoa ngâm rượu, uống với Mật ong làm nhiều lần trong ngày Ở một số nước khác như Indonesia, Thái Lan, Malaysia Tai tượng ấn cũng
được sử dụng với các công dụng tương tự [2, 5]
♦ Cóc kèn nước (Derris trifolia): Trong y học dân gian Cóc kèn nước được dùng
làm thuốc chữa bệnh nấm ngoài da, hắc lào Ngoài ra còn dùng làm thuốc diệt ruồi, diệt giòi Thân, lá, rễ cóc kèn đều có độc; triệu chứng ngộ độc Cóc kèn nước giống như ngộ độc rotenon là nôn mửa, đau bụng từng cơn, co giật, rung cơ, hô hấp chậm dần dẫn đến trung khu hô hấp bị liệt gây tử vong; phương pháp giải độc là nếu chưa xuất hiện
co giật thì rửa dạ dày, tiêm truyền tinh mạch huyết thanh mặn ngọt, vitamin C, còn nếu xuất hiện co giật thì dùng thuốc chống co giật, nếu hô hấp giảm dùng lobelin [2]
♦ Chó đẻ (Phyllanthus urinaria): Dùng chữa đau viêm họng, mụn nhọt, viêm da,
lở ngứa, sản hậu ứ huyết đau bụng, trẻ em tưa lưỡi Ngoài ra còn dùng chữa bệnh gan, sốt, rắn rết cắn và dùng cây tươi giã đắp hoặc dịch ép cây tươi bôi ngoài, liều lượng không hạn chế Trong y học dân gian Ấn Độ, người ta dùng cây Chó đẻ với những công dụng tương tự Cây Chó đẻ có tác dụng lợi tiểu rất tốt Nước ép lá cho vào sữa dùng cho trẻ em ăn ngon miệng Cây Chó đẻ được coi là thuốc làm săn, khai thông và sát trùng và được dùng trị khó tiêu, lỵ, phù, bệnh đường niệu, đái tháo đường Lá và quả được giã và làm thành bột nhão với nước sữa, tỏi và hạt tiêu và dùng uống trị vàng
da Dưới dạng thuốc đắp bào chế với nước gạo, Chó đẻ dùng chữa sưng phù và loét Dược liệu này còn được dùng để trị giun ở trẻ em Cây Chó đẻ dưới dạng dịch ép được dùng trong y học dân gian Malaysia làm sạch lưỡi trẻ em và kích thích ăn ngon miệng
Ở Papua Niu Ghine, nước sắc dùng hạ sốt Ở Brunei, thuốc đắp từ lá cùng với sữa dừa trị bệnh đậu mùa Ở Campuchia chó đẻ dùng trị sốt rét Ở Thái Bình Dương cây được dùng điều kinh và gây sẩy thai [2, 5]
♦ Cỏ xướt (Achyranthes aspera): Loài này được dùng chữa cảm mạo phát sốt,
phong thấp tê mỏi yếu liệt, đau lưng, nhức xương, viêm khớp, sưng gối, kinh nguyệt không đều, ứ huyết trong tử cung, hàn thấp, chân tay co quắp, tiểu tiện không lợi, đái buốt, sốt rét Ngoài ra còn được dùng để trục thai chết Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Cỏ sướt được dùng điều trị nhức đầu, cảm nắng, sốt rét, sỏi niệu, viêm thận mạn tính Y học cổ truyền Ấn Độ, dùng nước sắc Cỏ sướt làm thuốc lợi tiểu và trị xơ gan,
Trang 40uống dịch ép toàn cây hoặc bột rễ Cỏ sướt phơi khô trong râm, ngày 10-20 g để trị rắn độc cắn Bột nhão làm từ hoa hoặc hạt Cỏ sướt tán bột được đắp tại chỗ trị sâu bọ độc cắn Bệnh nhân hen hít khói do đốt lá khô Cỏ sướt có thể hết cơn hen phế quản Để trị gãy xương, toàn cây Cỏ sướt được làm thành bột nhão và đắp tại chỗ sau khi đã nắn lại xương gẫy và bó với băn vải và hằng ngày đắp bột nhão mới bào chế, Có thể uống rễ
Cỏ sướt 5 g, bột hồ tiêu 5 g chia làm 3 lần uống trong ngày chữa tiêu chảy và lỵ Để điều trị giai đoạn đầu của bệnh hen, uống bột lá khô Cỏ sướt với Mật ong vào buổi sáng; cũng dùng lá tươi giã nát thành bột nhão trộn với hạt tiêu và hành tây làm thành viên uống trong 20-30 ngày, thường uống thuốc vào mùa đông; nhai lá Cỏ sướt tươi với vài hạt Bạch hồ tiêu, đắp bột nhão này để chữa vết đốt do Bọ cọp Để trị khó tiêu, uống dịch ép rễ tươi hoặc nước hãm rễ khô Cỏ sướt Chữa chảy dịch tai, bằng cách nhỏ 1-2 giọt dịch ép lá Cỏ sướt vào tai, ngày 2 lần trong 1-2 ngày Để gây ngừa thai, phụ nữ sau khi hành kinh uống đều đặn mỗi ngày 10g rễ Cỏ sướt dưới dạng nước sắc ấm Ở Ai Cập, theo kinh nghiệm dân gian, một bài thuốc gồm lá Cỏ sướt, lá Chua me đất hoa vàng và 2 dược liệu khác đã được áp dụng để gây sẩy thai [2]
♦ Cỏ nhọ nồi (Eclipta prostrata): Dùng làm thuốc bổ máu, cầm máu bên trong và
bên ngoài, chữa ho ra máu, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, trĩ ra máu, nôn ra máu, đái ra máu, bị thương chảy máu; còn dùng chữa ban sởi, ho, hen, viêm họng, bỏng, lao phổi, di mộng tinh, bệnh nấm ở da, làm thuốc mọc tóc (sắc uống hoặc ngâm vào dầu dừa để bôi) và nhuộm tóc Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Cỏ nhọ nồi còn được dùng làm thuốc bổ toàn thân và cầm máu, có trong thành phần thuốc mỡ
để điều trị một số bệnh của da; liều dùng một lần 4-6 g, dạng thuốc sắc uống Ở Ấn Độ,
Cỏ nhọ nồi được dùng làm thuốc bổ và chữa ứ tắc trong các bệnh phì đại gan và lách,
và chữa một số bệnh về da Dịch ép cây được dùng phối hợp với một số chất thơm để
chữa vàng da xuất tiết Dịch ép lá cây được dùng cùng với Mật ong để chữa sổ mũi ở trẻ nhỏ Một chế phẩm được làm từ dịch ép lá Cỏ nhọ nồi đun nóng với dầu dừa hoặc dầu vừng được dùng để bôi đầu làm tóc mọc dày và đen Cây tươi có tác dụng giảm đau và thấm hút, nó được trộn với gom để chữa đau răng và đắp với một ít dầu để trị nhức đầu Cây Cỏ nhọ nồi được dùng làm chất nhuộm để xăm hình Lá Cỏ nhọ nồi được dùng làm rau ăn ở Java, và làm gia vị ở một số vùng Ấn Độ Ngoài ra Cỏ nhọ nồi
được dùng ngoài làm thuốc sát trùng chữa các vết thương và vết loét ở gia súc [2]
♦ Rau đắng đất (Glinus oppositifolius): Trong nhân gian Rau đắng đất được dùng
làm thuốc hạ sốt, chữa bệnh về gan, vàng da Liều dùng mỗi ngày 20-30 g, sắc nước uống Ở Ấn Độ, toàn cây rau đắng đất được dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa, nhuận tràng, và điều trị ứ sản dịch Cây giã nát trộn với dầu castor đắp nóng chữa đau tai, dịch
chiết từ rau đắng đất trị ngứa và bệnh ngoài da [2]