Bao gồm: thực trạng và nhu cầu dạy thêm, học thêm của các khách thể có liên quan như giáo viên, học sinh, phụ huynh, nhà trường, trung tâm, cơ sở dạy thêm; các đơn vị quản lý giáo dục có
Trang 1BÁO CÁO NGHIỆM THU
Tên đề tài:
DẠY THÊM, HỌC THÊM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
THỰC TRẠNG - NHU CẦU - GIẢI PHÁP
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS NGUYỄN THỊ HOÀI HƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 6/2018
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
BÁO CÁO NGHIỆM THU
Tên đề tài:
DẠY THÊM, HỌC THÊM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
THỰC TRẠNG – NHU CẦU - GIẢI PHÁP
Trang 3Chủ nhiệm đề tài: TS.Nguyễn Thị Hoài Hương
Thành viên tham gia:
1 CN Lê Thị Dung Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
2 ThS Mai Thị Quế Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
3 CN Nguyễn Thái Đặng Hồng
Thành viên
4 ThS Nguyễn Thị Hà Viện Nghiên cứu Phát triển Thư ký
5 NCS Nguyễn Thị Hương Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
6 CN Nguyễn Hải Loan Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
7 CN Hồ Thị Luấn Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
8 CN Nguyễn Tôn Thị Tường
Thành viên
9 ThS Nguyễn Thị Lê Uyên Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
10 ThS Phạm Hoàng Phước Viện Nghiên cứu Phát triển Thành viên
11 ThS Hoàng Trường Giang Sở Giáo dục TPHCM Thành viên
12 ThS Nguyễn Bảo Quốc Sở Giáo dục TPHCM Thành viên
13 ThS Quách Thu Cúc Viện KHXH vùng Nam Bộ Thành viên
Trang 4Phường Phú Thọ Hòa - quận Tân Phú, Xã Tân Phú Trung - Huyện Củ Chi
- Ban Giám hiệu và giáo viên các trường:
Quận 3: THCS Bạch Đằng, THPT Marie Curie;
Quận Tân Phú: THCS Lê Anh Xuân, THPT Tân Bình;
Huyện Củ Chi: THCS Tân Phú Trung; THPT Củ Chi;
- Cơ sở dạy thêm và các giáo viên: Cơ sở Toàn Tâm (Q10); Cơ sở Cẩm Tú
(Tân Phú)
- Điều phối khảo sát: CN Nguyễn Hải Loan
- Xử lý số liệu: ThS Phạm Hoàng Phước
- Điều tra viên: Hồ Thị Luấn, Phan Nguyễn Trung Minh, Nguyễn Thị Lê Uyên,
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Võ Văn Tấn, Nguyễn Tôn Thị Tường Vân, Nguyễn
Thị Hà, Mai Thị Quế, Nguyễn Thị Hương
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ Giáo dục và đào tạo: BGDĐT
Dạy thêm, học thêm: DTHT
Giáo dục và đào tạo: GDĐT
Ủy ban Nhân dân: UBND
Viện Nghiên cứu Phát triển: Viện NCPT
Trang 51
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HỘP 4
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu 9
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.1.3 Nội dung nghiên cứu 9
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 11
1.2.1 Khái niệm “dạy thêm, học thêm” 11
1.2.2 Khái niệm “cơ sở dạy thêm, học thêm” 11
1.2.3 Khái niệm “giáo dục phổ thông” 12
1.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 12
1.3.1 Nghiên cứu ngoài nước 12
1.3.1 Nghiên cứu trong nước 13
1.4 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KỸ THUẬT CHỌN MẪU 21
1.4.1 Quan điểm tiếp cận 21
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 21
1.4.3 Kỹ thuật chọn mẫu 22
1.4.4 Khung phân tích 23
CHƯƠNG 2 QUẢN LÝ DẠY THÊM, HỌC THÊM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ KINH NGHIỆM DẠY THÊM Ở CÁC NƯỚC 24
2.1 CÁC VĂN BẢN, CHÍNH SÁCH VỀ DẠY THÊM, HỌC THÊM 24
2.2 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ QUẢN LÝ DẠY THÊM, HỌC THÊM TẠI TP HỒ CHÍ MINH 27
2.2.1 Các nội dung về công tác giáo dục phổ thông 27
2.2.2 Công tác quản lý dạy thêm, học thêm 34
2.2.3 Công tác phối hợp liên ngành trong quản lý dạy thêm, học thêm 38
2.3 DẠY THÊM, HỌC THÊM Ở CÁC QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 39
2.3.1 Dạy thêm, học thêm ở các quốc gia phương Tây 39
2.3.2 Dạy thêm, học thêm ở châu Á 42
Trang 62
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG DẠY THÊM, HỌC THÊM HIỆN NAY Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 53
3.1 TÌNH HÌNH HỌC SINH PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2017-2018 53
3.2 CÁC HÌNH THỨC DẠY THÊM HIỆN NAY 53
3.2.1 Dạy thêm trong nhà trường 54
3.2.2 Dạy thêm ngoài nhà trường 60
3.3.THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN THAM GIA DẠY THÊM QUA KẾT QUẢ KHẢO SÁT 64
3.3.1 Đặc điểm mẫu khảo sát giáo viên 64
3.3.2 Tỉ lệ giáo viên tham gia dạy thêm 65
3.3.3 Lý do giáo viên tham gia dạy thêm 68
3.3.4 Địa điểm và thời lượng dạy thêm 70
3.3.5 Thu nhập của giáo viên từ dạy thêm 71
3.3.6 Ưu điểm, hạn chế của việc dạy thêm 75
3.4 TÌNH HÌNH HỌC SINH HỌC THÊM QUA KHẢO SÁT 78
3.4.1 Đặc điểm của học sinh trong mẫu khảo sát 78
3.4.2 Tỉ lệ học sinh tham gia học thêm 81
3.4.3 Địa điểm học thêm 83
3.4.4 Về thời lượng học thêm trong tuần 86
3.4.5 Phân bổ thời gian học tập của học sinh hiện nay 87
3.4.6 Học phí học thêm của học sinh 93
3.4.7 Những ưu điểm và hạn chế của học thêm hiện nay 93
3.5 THỰC TRẠNG NHU CẦU CHO CON HỌC THÊM CỦA PHHS QUA KHẢO SÁT 99
3.5.1 Nhận thức của PHHS về việc học thêm 99
3.5.2 Nhu cầu lựa chọn môn học thêm 103
3.5.3 Nhu cầu lựa chọn địa điểm học thêm 105
3.5.4 Đánh giá của PHHS về hiệu quả học thêm 108
3.5.5 Quan điểm của PHHS về sự cần thiết của dạy thêm, học thêm 108
CHƯƠNG 4 XU HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 112
4.1 NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC DẠY THÊM, HỌC THÊM 112
4.1.1 Những nguyên nhân khách quan 112
4.1.2 Nguyên nhân chủ quan 121
4.2 TÁC ĐỘNG CỦA DẠY THÊM, HỌC THÊM 124
4.2.1 Tác động trực tiếp đến các chủ thể 124
Trang 73
4.2.2 Dư luận xã hội về dtht và vị thế nhà giáo 125
4.2.3 Học thêm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của gia đình 126
4.3 XU HƯỚNG DẠY THÊM, HỌC THÊM 127
4.3.1 Nhu cầu của học sinh 127
4.3.2 Nhu cầu của phụ huynh 134
4.3.3 Nhu cầu của nhà trường 136
4.3.4 Nhu cầu của giáo viên 137
4.3.5 Các nhu cầu khác 139
4.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 142
4.4.1 Đề xuất các giải pháp 142
4.4.2 Kiến nghị 150
KẾT LUẬN 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC 163
1.CÁC BẢNG HỎI……… ……….164
Bảng hỏi giáo viên………164
Bảng hỏi phụ huynh……… 170
Bảng hỏi học sinh……….176
2 KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU ĐIỀU TRA………182
3 CÁC BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU……….………194
4 THỦ TỤC CẤP, GIA HẠN GIẤY PHÉP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY THÊM, HỌC THÊM ……… ……… ……… ……… 207
5 THỦ TỤC HÀNH CHÍNH……… ……….……….208
Trang 84
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HỘP
Bảng 1: Địa bàn khảo sát 22
Bảng 2: Số trường lớp theo năm học 27
Bảng 3: Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 theo năm 29
Bảng 4: Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn theo cấp học 30
Bảng 5: Tình hình học sinh phổ thông năm học 2017-2018 53
Bảng 6 Trường THCS dạy 02 buổi/ngày năm học 2016-2017 59
Bảng 7: Trường THPT dạy 02 buổi/ngày năm học 2016-2017 60
Bảng 8: Số lượng các trung tâm dạy thêm hiện nay 61
Bảng 9: Lí do thầy cô dạy thêm tại trường 66
Bảng 10: Dạy thêm giúp ích cho học sinh 67
Bảng 11: Thầy cô dạy thêm vì muốn tăng thu nhập 68
Bảng 12: Các giải pháp cải thiện tình trạng dạy thêm, học thêm 69
Bảng 13: Thu nhập hàng tháng từ dạy thêm 72
Bảng 14 Thu nhập trung bình của giáo viên theo môn và địa điểm dạy thêm 73 Bảng 15 Thu nhập trung bình/tháng của giáo viên theo cấp dạy và địa điểm dạy thêm 74
Bảng 16 Thu nhập trung bình/tháng của giáo viên theo thâm niên và nơi dạy thêm 75
Bảng 17: Lý do dạy thêm chưa tốt 77
Bảng 18: Đánh giá hạn chế của việc dạy thêm 77
Bảng 19: Danh sách các trường trong mẫu khảo sát 79
Bảng 20: Môn học mà em tự nhận thấy mình học tốt nhất 79
Bảng 21: Học sinh tham gia học thêm hiện nay 80
Bảng 22: Môn học thêm hiện nay 80
Bảng 23: Tổng số môn học thêm theo cấp lớp 81
Bảng 24: Những môn học thêm và muốn học thêm của học sinh hiện nay 81
Bảng 25: Tình hình học sinh học thêm phân theo tuổi 82
Bảng 26: Loại hình học thêm học sinh thích thú nhất 83
Bảng 27: Lý do học môn Toán 85
Bảng 28: Tổng số buổi học thêm theo cấp học 86
Bảng 29: Thời gian để thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày 90
Bảng 30: Học phí các môn học thêm trong tháng 93
Bảng 31: Mức độ hài lòng của học sinh với việc đi học thêm hiện nay 94
Bảng 32: Những lợi ích từ việc học thêm (điểm trung bình) 95
Bảng 33: Cảm nhận của em sau các buổi học thêm 96
Trang 95
Bảng 34: Mong muốn của học sinh về việc học thêm sắp tới 97
Bảng 35: Lý do nghỉ học thêm 98
Bảng 36 Tiền học thêm/tháng của HS trong % tổng thu nhập gia đình theo cấp học 106
Bảng 37 Tiền học thêm/tháng của HS trong % tổng thu nhập gia đình theo nghề nghiệp PHHS 107
Bảng 38: Tự nhận xét về vị thế của giáo viên hiện nay 126
Bảng 39: Các môn học sinh muốn học thêm 133
Bảng 40: Ý kiến của giáo viên về phụ huynh 135
Bảng 41: Tổng thu nhập từ dạy thêm của giáo viên 137
Bảng 42: Đánh giá mức độ hài lòng của học sinh về thầy cô dạy thêm 140
Bảng 43: Mức độ học sinh trao đổi bài với thầy cô 140
Bảng 44: Học sinh đánh giá cơ sở vật chất nơi học thêm 141
Biểu đồ 1: Mẫu khảo sát giáo viên 64
Biểu đồ 2: Môn học giáo viên giảng dạy chính khóa 65
Biểu đồ 3: Cấp dạy học của giáo viên qua khảo sát 65
Biểu đồ 4: Lý do giáo viên dạy thêm 69
Biểu đồ 5: Tự đánh giá về thu nhập của giáo viên 72
Biểu đồ 6 Thu nhập trung bình tháng của giáo viên theo môn và địa điểm dạy thêm 74
Biểu đồ 7: Tình hình học thêm phân theo xếp loại học tập năm trước 82
Biểu đồ 8: Địa điểm 5 môn học sinh học thêm nhiều nhất 84
Biểu đồ 9: Thầy cô dạy thêm ở các môn Văn, Lý, Hóa, Anh, Toán 85
Biểu đồ 10: Số buổi học thêm trên 1 tuần ở môn Toán, Anh, Hóa, Lý, Văn 87
Biểu đồ 11: Số buổi học thêm của học sinh phổ thông ở TP.HCM 87
Biểu đồ 12: Số buổi học thêm trong tuần qua khảo sát phụ huynh 88
Biểu đồ 13: Thời điểm học thêm trong tuần (môn Văn, Toán, Anh văn) 88
Biểu đồ 14: Thời gian để thực hiện các hoạt động sinh hoạt khác hàng ngày của HS 89
Biểu đồ 15: Cảm nhận của học sinh sau các buổi học thêm 91
Biểu đồ 16: Mặt tiêu cực của dạy thêm, học thêm hiện nay (đánh giá của phụ huynh) 91
Biểu đồ 17: Những tiêu cực đối với học sinh học thêm (đánh giá của giáo viên) 92
Trang 106
Biểu đồ 18: Nguyên nhân của hiện tượng dạy thêm, học thêm hiện nay 99
Biểu đồ 19: Lý do gia đình cho con em đi học thêm theo nghề nghiệp 101
Biểu đồ 20: Phụ huynh dự đoán về điều sẽ xảy ra nếu không cho con đi học thêm 102
Biểu đồ 21: Lý do gia đình cho con em đi học thêm phân theo cấp học 103
Biểu đồ 22: Lựa chọn môn học thêm 104
Biểu đồ 23: Đánh giá về cơ sở dạy thêm 106
Biểu đồ 24: Số học sinh bình quân trên một giáo viên ở TPHCM năm học 2015-2016 120
Biểu đồ 25: Số học sinh bình quân trên một lớp học ở TPHCM năm học 2015-2016 120
Biểu đồ 26: Người thân chỉ bài cho học sinh 134
Hộp 1 Các nội dung chỉ đạo của Thành ủy về DTHT 26
Hộp 2: Quy định về dạy thêm, học thêm 35
Hộp 3 Quy định xử phạt vi phạm quy định về dạy thêm 37
Hộp 4: Các hành vi giáo viên không được làm 38
Hộp 5 Quy định dạy thêm trong nhà trường 57
Hộp 6 Ý kiến của một giáo viên tại buổi khảo sát về tình hình dạy thêm, học thêm trên địa bàn Quận 3 do Ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP.HCM tổ chức, 30/08/2017 102
Hộp 7 Các chính sách phụ cấp liên quan đến thu nhập của giáo viên hiện nay 124
Trang 117
MỞ ĐẦU
Đầu tư và phát triển giáo dục có thể được xem là một trong những giải pháp bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển, hiện thực hóa quyền bình đẳng về cơ hội vào đời và tạo dựng cuộc sống cho mỗi cá nhân thông qua việc tiếp thu những giá trị, tri thức và kỹ năng mà giáo dục mang lại Kinh nghiệm từ mô hình phát triển ở Đông Á cho thấy, giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển của quốc gia “Giáo dục là nền tảng và là phương thức tạo ra nguồn lực
phát triển” vì“tri thức đẻ ra tri thức, tri thức là thứ lấy không bao giờ cạn”(Alvin Tofler)1 Sử dụng nguồn lực có hiệu quả, chú trọng nội lực đặc biệt nguồn lực con người, là những chiến lược mà các quốc gia áp dụng theo cách riêng để trở thành một xã hội hiện đại Vì thế, các quốc gia đã đầu tư hết sức mạnh mẽ cho giáo dục ở tất cả các cấp, có tầm nhìn chiến lược toàn diện cho sự phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình với sự tác động của nhiều yếu tố và chỉ có thể được đảm bảo khi quá trình này đồng hành với phát triển giáo dục, y tế, kinh tế và văn hóa Trong đó, giáo dục phổ thông có vai trò đặc biệt quan trọng tạo ra sự phát triển con người ở cả bình diện cá nhân
và bình diện xã hội
Hiến pháp Việt Nam khẳng định: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài2
Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo cũng đã được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VIII Hội nghị TW 2 khóa VIII đã ra nghị quyết về chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Nghị quyết đại hội XI, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng đồng thời định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”3
, nhằm phát huy đến mức cao
1 Nguyễn Anh Tuấn Sự phát triển của kinh tế Việt Nam và nhiệm vụ của giáo dục đào tạo 4/2011 Hội thảo quốc tế Đóng góp của khoa học xã hội nhân văn trong phát triển kinh tế xã hội
https://www.researchgate.net/publication/277200100_SU_PHAT_TRIEN_KINH_TE_VIET_NAM_VA_NHIE M_VU_CUA_GIAO_DUC_DAO_TAO ]
2 Điều 61, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
3 Nguyễn Vinh Hiển Về công tác xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua và các giải pháp đồng bộ cần thực hiện thời gian tới 23/10/2015
nuoc-ta-nhung.aspx
Trang 12tiên thuế đối với các sơ sở giáo dục, đặc biệt vấn đề dạy thêm, học thêm trở
nên phổ biến gây nhiều dư luận xã hội không tốt trong xã hội …
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ xem xét vấn đề dạy thêm học thêm ở cấp giáo dục phổ thông Tìm hiểu một số hình thức phổ biến của dạy thêm, học thêm; phân tích các nguyên nhân, yếu tố tác động của việc dạy thêm học thêm hiện nay Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu việc dạy thêm, học thêm ở một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học cho Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Đề xuất những kiến nghị nhằm giải quyết những vấn đề có liên quan đến dạy thêm học thêm hiện nay
Trang 139
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề dạy thêm và học thêm hiện nay Bao gồm: thực trạng và nhu cầu dạy thêm, học thêm của các khách thể có liên quan như giáo viên, học sinh, phụ huynh, nhà trường, trung tâm, cơ sở dạy thêm; các đơn vị quản lý giáo dục có liên quan như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, các Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện, Ban Giám hiệu các trường phổ thông trên địa bàn Thành phố
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài nhằm nhận diện thực trạng dạy thêm, học thêm tại Thành phố Hồ Chí Minh, để có cơ sở khoa học và thực tiễn hoạch định chính sách, góp phần quản lý phát triển xã hội trong lĩnh vực giáo dục, góp phần đảm bảo đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, chuyên nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích và đánh giá thực trạng, nhu cầu dạy thêm, học thêm của giáo viên và học sinh phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Về tỷ lệ học sinh học thêm, số môn học thêm, hình thức học thêm, thời lượng thời gian học thêm và chi phí chi trả cho việc học thêm
- Xác định nguyên nhân, những tác động của nhu cầu dạy thêm, học thêm đến môi trường giáo dục phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh: xác định các yếu tố tác động đến nhu cầu học thêm; sự đa dạng của các nguồn cung dạy thêm, dạy kèm hiện nay
- Đánh giá tác động của việc dạy thêm, học thêm đến kết quả, thành tích học tập, các kỹ năng, các giá trị tổng quát đối với học sinh; Hiệu quả tích cực, tiêu cực đối với nhà trường, gia đình, xã hội
- Từ cơ sở của khảo sát thực trạng, nhu cầu dạy thêm học thêm nêu trên,
đề tài đề xuất kiến nghị những vấn đề cấp bách và lâu dài quản lý vấn đề dạy thêm, học thêm tại Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.3 Nội dung nghiên cứu
Tổng quan các chính sách của Nhà nước và các sở ngành về vấn đề dạy thêm, học thêm Các quan điểm của Đảng về xã hội học tập, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, các chính sách về dạy thêm, học thêm trong xu thế phát triển và
Trang 1410
đối với nền giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những bất cập của chính sách và thực trạng công tác quản lý nhà nước vấn đề dạy thêm, học thêm ở TP.HCM
Một số kinh nghiệm từ các mô hình dạy thêm, học thêm trong và ngoài nước
Khảo sát, đánh giá thực trạng, nhu cầu dạy thêm, học thêm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Nhận diện các ưu điểm và hạn chế của vấn đề dạy thêm, học thêm dưới góc nhìn từ: người dạy (chương trình đào tạo, thu nhập, đạo đức nghề nghiệp ), người học (học lực hạn chế, nhu cầu định hướng nghề nghiệp, nâng cao kiến thức, tâm lý học cho kịp bạn bè…) phụ huynh (không có thời gian chăm sóc, dạy con, học thêm là một biện pháp quản lý con, tâm lý mong muốn con học giỏi…)
Phân tích, đánh giá các nguyên nhân tác động đến việc dạy thêm, học thêm (từ phía nhà quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh…)
Đề xuất giải pháp các loại hình dạy thêm học thêm, nâng cao chất lượng dạy và học; tạo môi trường giáo dục lành mạnh, công bằng
Các nội dung công việc cụ thể được triển khai như sau:
- Sách báo và các phương tiện truyền thông khác
Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thực hiện thông qua:
- Bảng hỏi cấu trúc khảo sát 800 phiếu hỏi sử dụng 02 bảng hỏi: Bảng hỏi
hộ gia đình có con em đang theo học các lớp học thêm, thu thập thông tin
về hoàn cảnh gia đình, tìm hiểu nhu cầu của phụ huynh về vấn đề học tập chính khóa và học thêm, mức độ chi tiêu cho học thêm; Bảng hỏi cá nhân học sinh: năng lực học tập, nhu cầu đi học thêm và đánh giá hiệu quả của việc học thêm
- Bảng hỏi bán cấu trúc phỏng vấn sâu thu thập ý kiến chuyên gia và giáo viên
- Tổ chức tọa đàm, hội thảo: (1) tọa đàm tập thể giáo viên có tham gia dạy thêm; (2) Hội thảo thu thập ý kiến chuyên gia, cán bộ quản lý đại diện các
sở, ban, ngành liên quan, đối với công tác giáo dục
Trang 1511
- Báo cáo, số liệu chính thức, các website của các đơn vị Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố, các Phòng Giáo dục quận huyện; các trung tâm, cơ sở dạy thêm, các đơn vị giáo dục liên quan
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái niệm “dạy thêm, học thêm”
Khái niệm “dạy thêm, học thêm”: được ghi rõ trong Điều 2, chương I, Quy
định về dạy thêm, học theo, ban hành kèm theo Thông tư số 17/2012 -BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2012, như sau:
1 Dạy thêm, học thêm là hoạt động dạy học phụ thêm có thu tiền của người học, có nội dung theo chương trình giáo dục phổ thông nhưng ngoài kế hoạch giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
2 Dạy thêm, học thêm trong nhà trường là dạy thêm, học thêm do cơ sở giáo dục công lập (gồm: cơ sở giáo dục phổ thông; trung tâm dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm học tập cộng đồng; trung tâm ngoại ngữ, tin học, sau đây gọi chung là nhà trường) tổ chức
3 Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường là dạy thêm, học thêm không do các cơ sở giáo dục quy định tại khoản 2 điều này tổ chức
Như vậy, ở khoản 1 quy định này nêu rõ, khái niệm “Dạy thêm, học thêm
là hoạt động dạy học phụ thêm có thu tiền của người học, có nội dung theo chương trình giáo dục phổ thông nhưng ngoài kế hoạch giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành”
1.2.2 Khái niệm “cơ sở dạy thêm, học thêm”
Khái niệm “Cơ sở dạy thêm, học thêm”: bao gồm cơ sở giáo dục công lập
và cơ sở giáo dục ngoài công lập Đó là hai loại hình dạy thêm, học thêm cơ bản, một là dạy thêm, học thêm được tổ chức trong nhà trường và hai là dạy thêm,
học thêm được tổ chức ngoài nhà trường
Học thêm ngoài nhà trường có nhiều loại hình: dạy tại trung tâm dạy thêm như Trung tâm bồi dưỡng kiến thức, trung tâm luyện thi; Dạy tại nhà riêng của học sinh theo nhóm; dạy tại nhà riêng của giáo viên theo lớp, nhóm hoặc giáo viên thuê mướn mặt bằng để dạy thêm; Dạy kèm tại gia theo yêu cầu
Hiện nay ở các trung tâm dạy thêm thì có quản lý cấp phép, nhưng chỉ cấp phép đối với các trung tâm dạy cấp THCS và THPT Riêng cấp Tiểu học và các trường hợp khác thì chưa được cấp phép Theo quy định của ngành, giáo viên có nhu cầu dạy thêm đăng ký với trường Nội dung đăng ký như: địa điểm dạy (ở
Trang 1612
nhà, ở đâu), dạy nhóm học sinh, bao nhiêu em; mức học phí… để trường nắm tình hình dạy thêm của giáo viên Thời gian nơi dạy thêm không ổn định, dựa trên thoả thuận giữa giáo viên và học sinh
1.2.3 Khái niệm “giáo dục phổ thông”
Luật giáo dục của Quốc hội, số: 38/2005/QH11, ngày 14 tháng 06 năm
2005 , quy định tại Điều 4 Hệ thống giáo dục quốc dân, gồm giáo dục chính quy
và giáo dục thường xuyên Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ
Như vậy, trong nghiên cứu đề tài sử dụng khái niệm giáo dục phổ thông
bao gồm 3 cấp: tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
1.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.3.1 Nghiên cứu ngoài nước
- Theo công trình nghiên cứu của Mark Bray, Chad Lykins, 2012,“Giáo dục Ngoài luồng - Học thêm và ý nghĩa của nó đối với các nhà hoạch định chính sách ở Châu Á”, được tài trợ của ngân hàng ADB, đã nhận định: vấn đề học
thêm là hiện tượng phổ biến tại tất cả các khu vực châu Á Các hộ gia đình đang dành một khoản chi tiêu đáng kể cho học thêm Việc học thêm có thể góp phần vào những thành tích đạt được của học sinh nhưng đồng thời nó cũng duy trì và
và làm cho bất bình đẳng xã hội thêm trầm trọng, làm chuyển hướng các nguồn lực vốn được dùng cho mục đích khác và có thể góp phần vào sự không hiệu quả của các hệ thống giáo dục Việc học thêm được nhìn nhận là giáo dục ngoài luồng vì nó bám theo hệ thống trường chính khóa Khi chương trình giảng dạy của hệ thống chính khóa thay đổi, chương trình giảng dạy của giáo dục ngoài luồng cũng thay đổi theo
Nghiên cứu này ghi nhận quy mô và tính chất của việc học thêm tại những địa bàn khác nhau, đã phác thảo bức tranh tổng quan về giáo dục ngoài luồng qua dữ liệu về tỷ lệ nhập học, khác biệt về thời lượng và đối tượng, môn học và hình thức học thêm Về mức độ hữu dụng của học thêm đem lại điểm số học tập cao hơn cho thấy kết quả không đồng nhất Hầu hết kết quả không chỉ phụ thuộc vào động cơ và khả năng học tập của học sinh mà còn phụ thuộc vào động cơ và
Trang 1713
khả năng của giáo viên dạy thêm Tại nhiều quốc gia, nhiều cá nhân có thể dạy thêm mà không cần qua đào tạo, và hiệu quả của một số hình thức học thêm cần phải xem lại
Kết quả nghiên cứu đưa ra các yếu tố thúc đẩy nhu cầu học thêm, rút ra ý nghĩa của học thêm đối với các nhà hoạch định chính sách Nghiên cứu cho rằng phải công nhận sự tồn tại của giáo dục ngoài luồng (tức việc học thêm) Vấn đề này cần được đưa vào nội dung hoạch định chính sách một cách tích cực hơn, với các bằng chứng dựa trên nghiên cứu thuyết phục hơn Các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc các phương thức khác nhau để khuyến khích các hình thức học thêm có lợi và ngăn chặn các hình thức bất lợi
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này khá rộng, kéo dài từ phía bắc Mông Cổ cho đến phía Nam In-đô-nê-xi-a, và từ phía tây Grudi-a cho đến phía đông Nhật Bản Một số quốc gia (như Nhật Bản và Hàn Quốc) có thu nhập cao, trong khi một số khác (như Băng-la-đét và Tát-di-kixtan) còn nghèo Một số quốc gia (như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Ấn Độ) là những nước đông dân, trong khi một số khác (như Brunây và Man-đi-vơ) là những nước rất nhỏ Tập hợp các quốc gia cũng thể hiện sự đa dạng về bị thuộc địa trong quá khứ, bao gồm thuộc địa của Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Liên Xô cũ, Anh và Hoa Kỳ Sự đa dạng đó
ở mặt nào đó là một thách thức trong phân tích, nhưng cũng có giá trị ở chỗ nó cho phép xác định được sự ảnh hưởng của yếu tố bối cảnh và những đặc điểm nhất quán giữa các xã hội đa dạng Do vậy, một số nhận định của nghiên cứu còn cần phải có thêm chứng cứ Vì nghiên cứu chủ yếu dựa vào các tài liệu nghiên cứu đã công bố, được bổ sung bằng những cuộc phỏng vấn với cán bộ tại các Bộ Giáo dục, các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác Các nguồn này cho phép so sánh đối chiếu tổng thể, nhưng vẫn còn rất nhiều lỗ hổng về thông tin Các nhà nghiên cứu châu Á, nhất là tại các nước Đông Á, được coi là đang dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này Tuy vậy còn nhiều việc cần phải làm để các nhà hoạch định chính sách và những người khác nắm chắc được những nội dung và ý nghĩa của giáo dục ngoài luồng trong tất cả các bối cảnh khác nhau
1.3.1 Nghiên cứu trong nước
- Ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu của Nguyễn Phong Nam, 2004, “Những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan tại Thành phố Đà Nẵng”, của nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Đà Nẵng Đề
tài đã phân tích, tìm hiểu các nguyên nhân đã làm biến tướng hiện tượng dạy thêm, học thêm và đề ra giải pháp để kiểm soát nó Đề tài khảo sát các đối tượng người dạy, người học, người bảo trợ, phương tiện và phương thức quản lý ở bậc
Trang 1814
tiểu học và trung học cơ sở Phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp liên ngành và phương pháp thực nghiệm mô hình
- Công trình nghiên cứu quốc tế mang tên “Những cuộc đời trẻ thơ” được
phối hợp giữa ba cơ quan: Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng, Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Anh và Tổng cục Thống kê phối kết hợp thực hiện Theo Tiến sĩ Trần Tuấn, trưởng chương trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu ra rằng tỉ lệ trẻ học thêm ở thành phố (mẫu Đà nẵng) là 58%, ở nông thôn là 56% và miền núi 7% Trong đó, tỉ lệ học thêm ở nhóm trẻ dân tộc Kinh (50%) gấp 15 lần so với dân tộc thiểu số (3,4%)
Về lí do học thêm, có tới 60% trẻ được điều tra cho rằng học thêm do bố
mẹ, người thân trong gia đình đề xuất, 18 - 27% cho rằng do giáo viên, chỉ có 9% trẻ tự đề xuất Đặc biệt, công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng học thêm không giúp cho trẻ học tốt hơn Nghiên cứu được đặt trong cái nhìn tổng thể về trẻ Sự phát triển của trẻ không chỉ được nhìn nhận đơn thuần về yếu tố kiến thức mà còn có yếu tố sức khoẻ, cả sức khoẻ thể chất và tinh thần Yếu tố gia đình cũng được nghiên cứu cả về kinh tế, mối quan hệ của cha mẹ, gia đình với bên ngoài Với phương pháp phân tích đa biến, khi so sánh nhóm có đi học thêm và nhóm không đi học xét tương đồng về kinh tế của gia đình, trình độ giáo dục của cha mẹ, sức khoẻ và tâm trí của trẻ cho thấy rằng học thêm không đưa lại kết quả khác biệt gì cho nhóm có học thêm so với nhóm không học thêm ở khả năng tính toán và khả năng viết Nghiên cứu chưa kết luận đây có phải là cuộc chạy đua giữa các bậc cha mẹ hay không và nghiên cứu này sẽ còn tiếp tục theo dõi Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một vài giả thuyết: Có thể việc học thêm
ở thành phố được một số gia đình xem như một hình thức quản lý trẻ; Cũng có thể học thêm được xuất phát từ chính suy nghĩ của bản thân gia đình, họ cho rằng học thêm có lợi để đạt được các thành tích, yêu cầu; Khả năng nữa, học thêm là cuộc ganh đua giữa các gia đình hoặc do tác động của thầy cô giáo Tuy nhiên, mỗi yếu tố trên đây chiếm bao nhiêu %, nghiên cứu này cần phải tiếp tục trong tương lai
Tác giả Trần Tuấn cho rằng, dạy thêm, học thêm là vấn đế có tính chất phong trào, thiên về tự phát thì không nhất thiết phải dùng cơ chế Như trên đã nói, 60% trẻ học thêm do cha mẹ đề xuất, tức 3 trẻ có 2 trẻ do yếu tố bên ngoài còn 1 trẻ thuộc về yếu tố tạm gọi là cơ chế Nếu chúng ta áp cơ chế vào hệ thống nhà trường, thầy cô giáo nhưng bên ngoài vẫn có nhu cầu học thêm, ắt nhu cầu
đó sẽ được đáp ứng, nhất là lại có thêm yếu tố kinh tế ở trong đó
Trang 19Cũng từ số liệu của khảo sát của chương trình “Những cuộc đời trẻ thơ”
chỉ ra rằng năm học 2012 -2013, có 99% trẻ em cả nước đi học ở các trường công lập Giáo dục tư đóng vai trò bổ trợ cho chương trình chính thức dưới dạng các lớp học thêm, ở đó trẻ được dạy thêm chủ yếu các môn học chính (Lê Thúc Dục và Baulch, 2013) Bất bình đẳng xuất hiện giữa các nhóm trẻ có xuất thân khác nhau mặc dù mức độ bất bình đẳng đang dần được thu hẹp 85% trẻ ở đô thị đi học thêm trong khi con số này ở nông thôn là 59% Tương tự, 86% trẻ thuộc gia đình khá giả đi học thêm và chỉ có 38% trẻ thuộc các gia đình nghèo đi học thêm7
- Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, DFID và Bỉ, trong báo cáo“Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người đến năm 2020”, tháng
6/2011, tập 1: Báo cáo chính sách/tóm tắt Nghiên cứu xem xét những thay đổi diễn ra đối với giáo dục tiểu học và trung học trong vòng 20 năm qua cũng như những yếu tố chính tác động tới những kết quả có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục như tỷ lệ học sinh đi học, trình độ học vấn và kết quả học tập để từ đó đề ra những đề xuất liên quan tới chính sách giáo dục công
Về tác động mạnh mẽ của thời gian dành cho học thêm đối với hiệu quả học tập đã được nghiên cứu này khẳng định Tuy nhiên, tác động của thời gian học thêm sẽ lớn hơn nếu có nguồn lực và áp dụng phương pháp sư phạm đầy đủ hơn, điều này cho thấy tầm quan trọng của chất lượng trường học vì đây là biến gây tác động tới việc thực hiện học cả ngày8
Đặc biệt nghiên cứu cũng xét các biến liên quan tới giáo viên, tài liệu dạy học (việc cấp cho học sinh một bộ sách có thể tăng điểm thi đọc hiểu của học sinh một độ lệch chuẩn là 0,2 và có thể tương đương với tác động của việc học thêm 2-3 năm) và một số biện pháp liên quan tới chất lượng cơ sở hạ tầng (như
6 Mạnh Cường, 2004, Dạy thêm, học thêm: Gác cơ chế, lay chuyển nhận thức?, Báo Dân trí số 52 (270) thứ năm
23.12.2004, trang 5
7 Young Live, 2014, Học tập: những phát hiện ban đầu từ khảo sát năm 2013(vòng 4) của chương trình nghiên
cứu “Những cuộc đời trẻ thơ” tại Việt Nam
8
Ngân hàng Thế giới, DFID và Bỉ, 2011 trong báo cáo“Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người
đến năm 2020”, tháng 6/2011, tập 1: Báo cáo chính sách/tóm tắt, tr.18
Trang 2016
thư viện, phòng thí nghiệm, nhà vệ sinh và thiết bị cung cấp đồ uống) Cũng có bằng chứng cho thấy những nhóm dân số dễ chịu tác động đặc biệt bị ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào, liên quan tới cả tỷ lệ đi học và kết quả học tập9
- Nghiên cứu của Đặng Hải Anh, 2011, “Học thêm tại Việt Nam: Đánh giá
về vấn đề hiện tại và những tương quan chính” Bản thảo không công bố,
Washington DC: Ngân hàng Thế giới Tác giả đã xem xét dữ liệu điều tra 9.189
hộ gia đình năm 2006, phát hiện 32,0% học sinh tiểu học đi học thêm Ở cấp trung học, tỷ lệ này tương ứng là 46,0% và 63,0%10
- Riêng tình hình dạy thêm học thêm tại TP.HCM, đầu tiên phải kể đến đề
tài của Nguyễn Thị Quy, 2004, “Nghiên cứu những hiện tượng tiêu cực trong dạy thêm - học thêm và đánh giá hiệu quả các giải pháp quản lý đối với các hiện tượng tiêu cực đó trong giáo dục phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài
đã khảo sát 38 trường phổ thông, với hơn 4.000 phiếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích thực trạng dạy thêm, học thêm, các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và đưa ra những giải pháp Đề tài kết luận, hiện tượng học thêm là một nhu cầu của một bộ phận học sinh và gia đình nhằm nắm vững, mở rộng, nâng cao kiến thức Tuy nhiên việc học thêm tràn lan với cường độ cao gây nên tình trạng vượt quá mức tiếp thu, giảm thời gian tự học, nghỉ ngơi, giải trí của học sinh và gây hậu quả tiêu cực đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của nhân dân vào đội ngũ nhà giáo và nhà trường11
Theo tác giả, nguyên nhân của việc dạy thêm, học thêm chủ yếu là do chương trình quá tải, tổ chức thi cử và kiểm tra đánh giá còn nhiều bất cập, nặng về kiểm tra kiến thức, thiếu tính toàn diện… Việc chỉ đạo chấn chỉnh dạy thêm, học thêm chưa kiên quyết, mang nặng tính hành chính nên hiệu quả thấp
- “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển giáo dục phổ thông trong bối cảnh kinh tế thị trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Viện Kinh tế TP.HCM năm 2005, liên quan mật thiết đến tình trạng dạy thêm,
học thêm trên địa bàn Thành phố, được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu Trần Thị Thanh Thủy, Lê Thị Hương, Phạm Thị Thanh Hiền, Phan Văn Khiết Nhóm nghiên cứu tiếp cận các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển giáo dục, như:
9
Ngân hàng Thế giới, DFID và Bỉ, 2011, Tlđd, tr.19
10 Trích lại từ Mark Bray, Chad Lykins, 2012, “Giáo dục Ngoài luồng - Học thêm và ý nghĩa của nó đối với các
nhà hoạch định chính sách ở Châu Á”, tr.7
11 Nguyễn Thị Quy, 2004, “Nghiên cứu những hiện tượng tiêu cực trong dạy thêm – học thêm và đánh giá hiệu
quả các giải pháp quản lý đối với các hiện tượng tiêu cực đó trong giáo dục phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh”, Sở Khoa học Công nghệ TPHCM, tr.92-93
Trang 2117
1/ Về phía nhà trường: số lượng và chất lượng đội ngũ giảng dạy; điều kiện vật chất trường học; một số chế độ chính sách, chế độ liên quan đến việc tiếp nhận học sinh
2/ Về các yếu tố ảnh hưởng đến việc đi học của trẻ em, cụ thể như: đặc điểm của phụ huynh; độ tuổi trẻ em đến trường; các yếu tố liên quan đến tình trạng học tập hay bỏ học; khả năng chi trả và sẵn sàng đầu tư cho giáo dục của phụ huynh…
Về tình trạng dạy thêm, học thêm qua khảo sát 663 ý kiến của những người trả lời cho rằng: việc học thêm là cần thiết (chiếm 68%) Các ý kiến tập trung nhiều nhất ở các phụ huynh có con học ở các lớp cuối cấp, chuẩn bị thi chuyển cấp Lý giải cho việc học thêm là do chương trình chính khóa hiện nay quá nặng
so với số tiết được phân phối giảng dạy Các môn đều yêu cầu chuẩn bị bài và làm bài ở nhà rất cao Gia đình và bản thân học sinh áp lực bởi kết quả các kỳ thi, bằng cấp… Ngoài ra, phụ huynh cho em con đi học thêm ở trường hay nhà thầy cô để quản lý con em được tốt hơn…12
Trong khảo sát của đề tài, có 60,4% phụ huynh có con học phổ thông cho con đi học thêm, trong đó có nhiều học sinh khá giỏi Nhóm nghiên cứu nhận định hiện tượng dạy thêm, học thêm đã quá phổ biến ở Thành phố Hồ Chí Minh
Về chi phí học thêm, gần 53,1% phụ huynh chi từ 100.000 đồng - 1.000.000 đồng/ tháng (thậm chí có phụ huynh còn chi đến 3.000.000 đồng/tháng) cho con
đi học thêm với mục đích chiếm đa số là chuẩn bị thi cuối cấp và thi đại học Học sinh học thêm tập trung nhiều ở cấp THCS và THPT, ngay cả học sinh không phải lớp cuối cấp cũng đi học thêm Lý giải vấn đề này, nhóm nghiên cứu cho rằng, có thể do các môn học trên không được dạy đủ về kiến thức và kỹ năng trong giờ học chính nên cha mẹ học sinh buộc phải cho con em mình học thêm, chương trình học quá nặng, số tiết học tập ở nhà trường không đủ nên cần phải có thêm thời gian để bổ sung kiến thức qua học thêm
Về nguyên nhân dạy thêm của giáo viên, nhóm nghiên cứu lý giải là do lương của giáo viên quá thấp không đảm bảo cho họ tái tạo đầy đủ sức lao động Ngành giáo dục rất cần một chính sách hỗ trợ của nhà nước trong vấn đề lương
đủ sống cho giáo viên (có tính đến gia đình của họ)13
đặc biệt đối với 2 khối Tiểu học và THCS14
12 Trần Thị Thanh Thủy, Lê Thị Hương, Phạm Thị Thanh Hiền, Phan Văn Khiết, 2005, “Nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến phát triển giáo dục phổ thông trong bối cảnh kinh tế thị trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, tr.55
13
Trần Thị Thanh Thủy, Lê Thị Hương, Phạm Thị Thanh Hiền, Phan Văn Khiết, 2005, tlđd, tr.59
14 Trần Thị Thanh Thủy, Lê Thị Hương, Phạm Thị Thanh Hiền, Phan Văn Khiết, 2005, tlđd, tr.60
Trang 2218
Trong nghiên cứu, phần lớn phụ huynh cho rằng “chỉ nên phụ đạo cho học sinh yếu kém và học sinh cuối cấp chứ không nên dạy thêm tràn lan” Nếu nhà trường dạy tốt trong các lớp học bình thường thì học sinh khá, giỏi, trung bình không cần phải đi học thêm Điều quan trọng là phụ huynh chấp nhận cho con
em học thêm để vượt qua các kỳ thi nhưng vẫn nhận ra rằng “học sinh không còn thời gian để tự học, ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần các cháu” Các buổi học thêm với cường độ cao (54,3% học sinh học thêm từ 6-15 giờ/tuần và học sinh lại phải tiếp tục làm bài và học bài ở nhà nên không còn thời gian giải trí15
- Thêm vào đó, kết quả khảo sát năm 2010 về mức học vấn cho con trai và
con gái trong đề tài “Cơ cấu xã hội, lối sống và phúc lợi của cư dân Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay” của GS.TS Bùi Thế Cường cho biết, cư dân Thành phố
coi học vấn của con là một trong những giá trị niềm tin và kỳ vọng quan trọng nhất của mình Đa số mong muốn con có học vấn đại học hoặc cao hơn Trong vấn đề ấy, đại đa số người dân hoàn toàn không phân biệt giữa con trai và con gái, dù là con nào họ đều mong muốn con mình đạt được mức học vấn cao như nhau mà họ kỳ vọng Cũng trong khảo sát này, 87% không đồng ý với quan điểm “con gái không cần phải học cao như con trai” Học vấn, vị thế nghề, thu nhập và độ tuổi của người trả lời không có tác động lớn đến kỳ vọng học vấn của con Dù ở bậc học nào và vị thế nghề nào của xã hội, đa số người dân vẫn bày tỏ mong muốn con mình đạt mức học vấn đại học trở lên16
- Trong khảo sát về “Điều tra chất lượng cuộc sống của cư dân Thành phố năm 2013” của Viện Nghiên cứu Phát triển17, tỷ lệ đi học thêm của các con em trong mẫu khảo sát rất cao, chiếm 61,7%, phản ánh mức độ phổ biến hiện tượng học sinh học thêm ngoài giờ tại TP.HCM Lý do phụ huynh cho con em đi học
thêm là vì muốn con cái học giỏi hơn (76,8%), tiếp đó là để con em mình không thua kém bạn bè (24,8%) Có số ít ý kiến gửi con học thêm vì muốn gửi cháu
ngoài giờ (4,9%) và để an tâm hơn (17%) Tỉ lệ học thêm phân theo 3 vùng, ở quận nội thành phát triển (61,9%) và nội thành hiện hữu (63,9%) cao hơn huyện ngoại thành (50%); phân theo 5 mức thu nhập thì tỉ lệ học thêm tăng dần từ nhóm thu nhập thấp nhất đến nhóm thu nhập cao nhất, lần lượt từ nhóm 1 đến nhóm 5 là 52,4%, 58,3%, 60,6%, 66,3% và 72%
15 Trần Thị Thanh Thủy, Lê Thị Hương, Phạm Thị Thanh Hiền, Phan Văn Khiết, 2005, tlđd, tr.60
16 Bùi Thế Cường, 2017, Dân cư Thành phố Hồ Chí Minh mong muốn mức học vấn cho con, Tạp chí Nghiên cứu
Phát triển, Số 19 (1/2017), tr.43
17
Viện Nghiên cứu Phát triển, 2014, “Điều tra chất lượng cuộc sống của cư dân Thành phố năm 2013”, Báo cáo tổng hợp, tr.60-61
Trang 2319
Các tác giả cho rằng, giữa điểm tích cực và tiêc cực của việc học thêm thì theo tiêu cực vẫn nhiều hơn Việc học thêm ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của học sinh, ảnh hưởng đến thể chất, chất lượng cuộc sống của các em và cả phụ huynh có con em đang học thêm Ngoài thời gian học thêm, học sinh vẫn phải tiếp tục làm bài tập và học bài ở nhà, vì thế không còn thời gian giải trí Lý
do học thêm xuất phát từ chính nhu cầu của phụ huynh, nhu cầu của xã hội bên cạnh đó là tính cạnh tranh của phụ huynh, học sinh trong học tập Ngoài ra tình trạng học thêm hiện nay cũng là do chương trình giáo dục của chúng ta còn nặng, quá tải nội dung chương trình quá hàn lâm, nặng về lý thuyết Nhóm nghiên cứu cũng dự báo nhu cầu học thêm của học sinh, nhu cầu cho con đi học thêm của phụ huynh vẫn tiếp tục gia tăng
- Đến năm 2016, theo số liệu của Sở Giáo dục Đào tạo Thành phố, có
khoảng 100.000 học sinh tiểu học học thêm văn hóa ngoài giờ chính khóa; có
khoảng 190.000 học sinh trung học (THCS - THPT) đang tham gia học thêm tại các cơ sở dạy thêm trong nhà trường và 30.000 học sinh tham gia học tập tại các
cơ sở dạy thêm ngoài nhà trường, chủ yếu các em học các môn Toán, Lý, Hóa
(chiếm 35%)18
Trong đó, có gần 500.000 học sinh đang tham gia học ngoại ngữ
Sở Giáo dục và Đào tạo cũng nhận định có 2 dạng dạy thêm học thêm cơ bản: (1) xuất phát từ nhu cầu của phụ huynh, học sinh và giáo viên; (2) dạng dạy thêm học thêm biến tướng, không xuất phát từ nhu cầu của phụ huynh và học sinh (chiếm tỉ lệ dưới 10%)19
Thêm vào đó, giữa năm 2016, tình hình dạy thêm học thêm đã một số phương tiện truyền thông đưa tin gây bức xúc trong dư luận, nhất là trong nội bộ cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành GDĐT Thành phố Chính quyền TP.HCM và
Sở Giáo dục Đào tạo Thành phố đã có các văn bản chỉ đạo chấn chỉnh công tác này20 Theo đó, từ năm học 2016-2017, thành phố sẽ chấm dứt việc tổ chức dạy thêm, học thêm trong tất cả các trường học theo chỉ đạo của lãnh đạo thành phố
và chấp thuận của Bộ GDĐT Giáo viên không được dạy thêm học sinh mà mình đang dạy chính khóa cũng đã được quy đinh tại Điều 4 Khoản 4b Thông tư 17 Việc giáo viên vi phạm, tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của Luật Viên
18 Công văn số 2843/GDĐT-VP ngày 26 tháng 8 năm 2016 của Sở Giáo dục Đào tạo TPHCM
19 học them-tran-lan-20161130074533614.học thêmm , Thứ tư, 30/11/2016 - 07:44
thêmtp://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/tphcm-hang-loat-giai-phap-chan-chinh-viec-day-them-hoc-20 Công văn số 1536-CV/VPTU ngày 28/5/2016 về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm và công tác tuyển sinh tại các trường trên địa bàn thành phố; báo cáo số 2843/GDĐT-VP ngày 26/8/2016 về dạy thêm, học thêm Nội dung báo cáo nêu rõ tình hình thực tế về dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố từ trước năm học 2016-2017, một số giải pháp về quản lý, về chuyên môn đã được Sở GD&ĐT thực hiện trong thời gian qua và đề xuất thực hiện nhằm quản lý tốt việc dạy thêm, học thêm theo chỉ đạo của Thường trực Thành ủy
Trang 2420
chức và Nghị định về xử lý kỷ luật viên chức Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc cấm giáo viên dạy thêm Giáo viên vẫn có thể tham gia dạy thêm tại các trung tâm, cơ sở dạy thêm, học thêm có phép bên ngoài nhà trường theo đúng quy định tại Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 của Bộ GDĐT
và Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 6/6/2014 của UBND Thành phố quy định quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố
Dù có các quy định như trên, song thực tế vấn đề dạy thêm, học thêm vẫn còn nhiều bất cập Một số giáo viên công lập vẫn tổ chức dạy thêm tại nhà riêng, các cơ sở dạy kèm “gia sư” do sinh viên hoặc những giáo viên thiếu kinh nghiệm đảm trách Chất lượng giáo dục dạy thêm không được quản lý chặt chẽ, cơ sở vật chất không đảm bảo… Vấn đề dư luận xã hội quan tâm và có nhiều ý kiến trái chiều giữa nhu cầu thực tế, chính đáng của phụ huynh và học sinh, nhu cầu dạy thêm của giáo viên, đặc biệt là giáo viên tiểu học vì hiện nay chưa có quy định cấp phép dạy thêm dành cho cấp tiểu học Nhiều giáo viên tiểu học mong muốn
có một cơ chế mở để họ có thể dạy thêm hợp pháp, đúng quy định
Qua tổng quan nghiên cứu trong nước và tình hình về vấn đề dạy thêm, học thêm tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy rằng, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề dạy thêm học thêm hiện nay còn rất ít ỏi Các nghiên cứu chỉ mang tính gợi mở nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu với các bằng chứng cụ thể hơn Về
cơ bản, các nghiên cứu bước đầu cũng đồng nhất ở một số nhận định như sau: (1) Hiện tượng dạy thêm, học thêm là hiện tượng phổ biến, là nhu cầu thực
tế của phụ huynh, học sinh
(2) Dạy thêm, học thêm tạo ra sự bất bình đẳng trong kết quả học tập ở trường học chính quy
(3) Bên cạnh ưu điểm của dạy thêm, học thêm là nâng cao kết quả học tập của học sinh, còn có rất nhiều hạn chế, tiêu cực đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau
(4) Một số mối tương quan giữa thời gian học thêm, giáo viên và cơ sở vật chất… đến hiệu quả học tập
Một số vấn đề còn chưa được khẳng định nhất quán đó là:
(1) Xác định nhu cầu học thêm và các yếu tố tác động đến việc học thêm (2) Xác định nguyên nhân dẫn đến việc dạy thêm, học thêm
Do vậy, đánh giá thực trạng, nhu cầu dạy thêm, học thêm là vấn đề cấp thiết cần triển khai nghiên cứu một các khoa học và thực tiễn, tìm hiểu các tác nhân ảnh hưởng đến nhu cầu dạy thêm, học thêm nhằm đề xuất các giải pháp tương thích với tình hình thực tiễn luôn biến động đa dạng, nhất là đối với một
Trang 2521
thành phố lớn như TPHCM, với nguồn dân cư từ nhiều địa phương, mức độ thụ hưởng, mức độ đầu tư cho các dịch vụ giáo dục trong bối cảnh hội nhập đã và đang tạo nên một bức tranh học tập rất phong phú Các đơn vị cung cấp dịch vụ giáo dục tại TP.HCM cũng ngày càng đa dạng đáp ứng nhu cầu của người dân
Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp trong vấn đề giải quyết nhu cầu học tập ngày càng cao, đa dạng của người dân, đồng thời là cơ sở hỗ trợ cho các nhà quản lý trong định hướng, hoạch định chính sách dạy thêm, học
thêm sao cho hiệu quả, giảm thiểu các tác động xã hội không mong muốn
1.4 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KỸ THUẬT CHỌN MẪU
1.4.1 Quan điểm tiếp cận
Về vấn đề dạy thêm, học thêm, quan điểm của nhóm nghiên cứu nhìn nhận mục đích học tập của mọi thành phần trong xã hội nói chung và mục đích của việc dạy thêm, học thêm nói riêng không đi khỏi khuôn khổ do tổ chức Unesco
đề xướng là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” Vì vậy nhu cầu học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng… trong bất kỳ xã hội nào, thời điểm nào cũng đều được đánh giá cao và được khuyến khích Tuy nhiên, vấn đề phân bổ thời gian học, phương pháp học và quan trọng hơn cả là hiệu quả, chất lượng của việc học tập mang lại cho người học và xa hơn là nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội
- Cách tiếp cận nghiên cứu: tiếp cận theo hướng liên ngành để phân tích
vấn đề dạy thêm, học thêm trong mối tương quan giữa: (1) Kinh tế: định hướng, cách đầu tư của gia đình và bản thân học sinh; việc dạy thêm để tăng thu nhập đối với giáo viên; (2) Tâm lý, nguyện vọng của các đối tượng khảo sát; (3) Mối quan hệ ảnh hưởng qua lại của dạy thêm, học thêm đến môi trường giáo dục và đời sống văn hóa - xã hội
- Giả thuyết nghiên cứu: Việc dạy thêm, học thêm liên quan đến chất
lượng giáo dục như thế nào? Đối với công tác quản lý giáo dục vấn đề về dạy thêm, học thêm ở Thành phố Hồ Chí Minh có nên cấm hay không?
- Câu hỏi nghiên cứu: Đề tài tìm hiểu liệu việc dạy thêm, học thêm tràn
lan có phải do sự tác động của vấn đề kinh tế? Trong bối cảnh kinh tế thị trường,
xã hội phát triển, môi trường của một xã hội học tập cần có sự bình đẳng trong tiếp cận giáo dục như thế nào?
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2622
- Đề tài áp dụng phương pháp điều tra xã hội học, khảo sát định lượng 800 phiếu hỏi bán cấu trúc 03 đối tượng là học sinh phổ thông (300 phiếu), phụ huynh (300 phiếu) và đối tượng dạy thêm là giáo viên, sinh viên, giáo viên nghỉ hưu… (giáo viên có tham gia dạy thêm 200 phiếu); phương pháp phỏng vấn sâu lấy ý kiến gồm chuyên gia và giáo viên…
1.4.3 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu phi sát xuất theo phương pháp định ngạch Theo đó, với 800 mẫu khảo sát sẽ phân đều theo 2 cấp học và khu vực địa lý trong Thành phố để đảm bảo tính khách quan và tính đại diện
Các bước chọn mẫu được triển khai như sau:
Bước 1: Chọn 3 địa bàn khảo sát: quận nội thành; quận vùng ven và ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có số lượng dân nhập cư đông Tương ứng các quận được chọn là: Quận 3, quận Tân Phú, huyện Củ Chi
Bước 2: Chọn khảo sát học sinh tại 01 trường cấp 3, 01 trường cấp 2; và khảo sát phụ huynh tại một phường/xã theo địa bàn mà các trường đã lựa chọn Bước 3: chọn cơ sở, trung tâm dạy thêm theo địa bàn thuận tiện vì việc tiếp cận với các đơn vị dạy thêm rất khó khăn
Theo đó, các mẫu khảo sát được chọn là:
o Quận 3: THCS Bạch Đằng, THPT Marie Curie, phường 14
o Quận Tân Phú:THCS Lê Anh Xuân, THPT Tân Bình, phường Phú Thọ Hòa
o Huyện Củ Chi: THCS Tân Phú Trung; THPT Củ Chi; xã Tân Phú Trung
o Cơ sở dạy thêm: Toàn Tâm (Q10); Cẩm Tú (Tân Phú)
Bước 4: Phân chia mẫu phiếu theo đối tượng và địa bàn
Trang 27Sơ đồ khung phân tích như sau:
Trang 2824
CHƯƠNG 2 QUẢN LÝ DẠY THÊM, HỌC THÊM Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH VÀ KINH NGHIỆM DẠY THÊM Ở CÁC NƯỚC
2.1 CÁC VĂN BẢN, CHÍNH SÁCH VỀ DẠY THÊM, HỌC THÊM
Các văn bản chính sách hiện hành về giáo dục – đào tạo nói chung và về vấn đề dạy thêm, học thêm nói riêng hiện nay đã được thống nhất trên cả nước
và thay đổi theo hướng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của xã hội Ngành GD&ĐT có sự chỉ đạo nhất quán và triển khai đồng bộ, kịp thời từ
Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, đến các Phòng GD&ĐT quận, huyện ở địa phương sát sao Thông tin kết nối giữa các cấp quản lý, giữa nhà trường, phụ huynh, học sinh công khai, minh bạch nhờ mạng lưới website điện tử và các phần mềm quản
lý học sinh Công tác thông tin công khai các chương trình, chủ đề, mục tiêu năm học, về kết quả học tập, thi cử qua mạng internet Phụ huynh nắm vững các thông tin về trường, lớp, các vấn đề liên quan đến việc học tập của con em mình
và các hoạt động của nhà trường… giúp cho sự vận hành hệ thống thông tin trong lĩnh vực giáo dục được liên thông và thuận lợi
Về nội dung cải tiến, đổi mới trong quản lý giáo dục, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, đánh giá học sinh đã được áp dụng ở nhiều cấp độ khác nhau, mang lại những hiệu ứng tích cực như: ở cấp tiểu học, mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN)21
, bước đầu triển khai phương pháp giáo dục STEM trong các trường THCS, THPT theo chỉ đạo của chính phủ và Bộ GDĐT từ năm 2017, Chương trình dạy môn Toán, khoa học và Tiếng Anh tích hợp chương trình Anh và Việt Nam, Chương trình phổ cập và nâng cao năng lực
sử dụng tiếng Anh cho học sinh phổ thông và chuyên nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2015”, cải cách trong phương pháp ra đề thi tốt nghiệp phổ thông giúp phân loại và đánh giá HS ngày càng chính xác và hiệu quả hơn… Cùng với các ngân sách đầu tư cho giáo dục của Nhà nước, chính sách xã hội hóa giáo dục góp phần gia tăng số lượng khối trường ngoài công lập và khối người có yếu tố nước ngoài, các trung tâm, cơ sở giáo dục, tạo ra nhiều địa điểm học tập, đảm bảo cơ hội học tập cho học sinh, góp phần nâng cao dân trí cho người dân đồng thời làm giảm đáng kể sức ép về ngân sách cho giáo dục
21 Mô hình VNEN được triển khai thí điểm ở trường tiểu học Tân Thông, huyện Củ Chi Sau đó mở rộng toàn phần tại 52 trường tiểu học của 5 huyện ngoại thành và vận dụng từng phần mô hình này ở hơn 104 trường tiểu học Các quận/huyện đều có ít nhất một trường điểm áp dụng toàn phần hay từng phần mô hình VNEN
Trang 2925
Về việc quản lý và triển khai các hoạt động trong ngành giáo dục ở lĩnh vực dạy thêm, học thêm tùy theo chức năng, nhiệm vụ được giao, đến nay các văn bản, chính sách có các nội dung cơ bản theo cấp độ ban hành như sau:
2.1.1 Văn bản chính sách của nhà nước và bộ giáo dục
Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Nghị quyết số 40/2000/NQ-QH10 của Quốc hội, về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Chỉ thị số:14/2001/CT-TTg của thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội ngày 11 tháng 06 năm 2001
Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2017 Quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Nghị quyết 16 /NQ-CP ngày 08/06/2012 của Chính phủ Ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết số 13-NQ/TƯ ngày 16 tháng 01 năm 2012 của ban chấp hành trung ương về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, ngày 4 tháng 11
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định
số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)
Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 của Bộ GD&ĐT
Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học
2.1.2 Chỉ đạo của Thành ủy, UBND, HĐND
- Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 6/6/2014 của UBND thành phố quy định quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố
Trang 30- Công văn số 3265/UBND-VX ngày 28/6/2016 của UBND.TP V/v quản lý các hoạt động dạy thêm, học thêm và công tác tuyển sinh tại các trường trên địa bàn Thành phố
- Công văn số 5679/UBND-VX ngày 12/10/2016 của UBND.TP V/v quản
lý các hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn TP.HCM
Văn bản số 5417/UBND - VX ngày 30 tháng 9 năm 2016 của UBND
Thành phố về việc quản lý các hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố;
Các nội dung chỉ đạo của Thành ủy cụ thể:
Hộp 1 Các nội dung chỉ đạo của Thành ủy về DTHT
Chỉ đạo của Thường trực Thành ủy tại công văn số 1536-CV/VPTU ngày 28/5/2016 về quản
lý hoạt động dạy thêm, học thêm và công tác tuyển sinh tại các trường trên địa bàn thành phố; báo cáo số 2843/GDĐT-VP ngày 26/8/2016 về dạy thêm, học thêm Nội dung báo cáo nêu rõ tình hình thực tế về dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố từ trước năm học 2016-2017, một số giải pháp về quản lý, về chuyên môn đã được Sở GD&ĐT thực hiện trong thời gian qua và đề xuất thực hiện nhằm quản lý tốt việc dạy thêm, học thêm theo chỉ đạo của Thường trực Thành ủy gồm 5 nội dung:
Thứ nhất: Không cho phép giáo viên dạy học sinh mà mình đang dạy chính khóa trong bất
cứ trường hợp nào Xử lý ở mức cao nhất nếu giáo viên vi phạm
Thứ hai: Nâng cao trách nhiệm của hiệu trưởng nhà trường trong việc quản lý dạy thêm của giáo viên Hiệu trưởng chịu mức kỷ luật cao nếu để xảy ra việc ép buộc học sinh tham gia học thêm của giáo viên trong đơn vị mình phụ trách
Thứ ba: Ngừng cấp phép mới cho hoạt động dạy thêm trong các nhà trường
Thứ tư: Sở GD&ĐT tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy và tập; đổi mới cách đánh giá, ra đề kiểm tra, đề thi theo hướng phân tích, đánh giá, chấm dứt việc ra đề kiểm tra, đề thi theo hướng từ chương, học thuộc, …
Thứ năm: Sở GD&ĐT tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các quận, huyện, các cơ quan báo đài tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp đã triển khai, tăng cường công tác thanh, kiểm tra để chấm dứt nạn dạy thêm, học thêm trái qui định trên địa bàn thành phố
2.1.3 Văn bản của Sở Giáo dục
- Văn bản số 3550/GDĐT-VP ngày 21 tháng 10 năm 2016 của Sở Giáo dục Đào tạo TPHCM về sử dụng cơ sở vật chất nhà trường tổ chức dạy thêm, học thêm
Trang 3127
- Văn bản số 3538/GDĐT-VP ngày 21 tháng 10 năm 2016 của Sở Giáo dục Đào tạo TPHCM về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố
- Văn bản số 2447/GDĐT-VP ngày 22 tháng 7 năm 2016 của Sở Giáo dục Đào tạo TPHCM về quản lý các hoạt động dạy thêm, học thêm và công tác tuyển sinh tại các trường trên địa bàn thành phố
- Văn bản số 2843/GDĐT-VP ngày 26 tháng 8 năm 2016 của Sở Giáo dục Đào tạo TPHCM về dạy thêm, học thêm
- Văn bản số 2924/GDĐT-VP ngày 01 tháng 09 năm 2016 của Sở Giáo dục Đào tạo TPHCM về thông tin rõ nội dung làm việc giữa Sở GDĐT và Ban VHXH (HĐNDTP) ngày 31 tháng 8 năm 2016…
2.2 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ QUẢN
LÝ DẠY THÊM, HỌC THÊM TẠI TP HỒ CHÍ MINH
2.2.1 Các nội dung về công tác giáo dục phổ thông
2.2.1.1 Về cơ sở vật chất
Thành phố đã tập trung cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo, thể hiện qua việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để tăng quy mô phát triển trường lớp, học sinh và giáo viên ở tất cả các ngành học, bậc học; tạo điều kiện học tập cho mọi học sinh
để phổ cập giáo dục bậc tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục bậc trung học; đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 40/2000/QH 10 của Quốc hội; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI; củng cố
và phát triển giáo dục chuyên nghiệp, mở rộng và nâng cấp các Trường Kỹ thuật nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh
Đến nay 100% quận, huyện đã hoàn tất quy hoạch chi tiết mạng lưới trường học, xác định được diện tích đất cụ thể để xây dựng các loại hình trường theo yêu cầu phát triển GD&ĐT của địa phương đến năm 2020 Mạng lưới trường học ở các ngành học, bậc học đã được phủ khắp 322 phường, xã, thị trấn trên địa bàn thành phố với các loại hình đa dạng
Bảng 2: Số trường lớp theo năm học
Trang 3228
Trang thiết bị dạy học hiện đại đã được đưa vào giảng dạy như: bảng tương tác cho các trường Tiểu học theo phương châm xã hội hóa bán phần, đưa vào phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả chương trình dạy học nhằm tiếp tục thực hiện tốt yêu cầu “học tập nhẹ nhàng, hoạt động tích cực, chất lượng giáo dục thật”, “Xây dựng trường học hiện đại mang đậm bản sắc dân tộc” “Đổi mới toàn diện công tác quản lí nâng cao chất lượng giáo dục”,
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được triển khai Công tác xã hội hóa giúp giáo dục huy động được sự tham gia của các bậc cha mẹ và cộng đồng, thu hút nhiều nguồn lực đầu tư cho giáo dục
Hàng năm, Thành phố đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng cho công tác xây dựng
cơ sở vật chất trường học trên địa bàn Số phòng học tăng dần qua các năm học22 Từ năm 2011 đến năm 2015, toàn Thành phố đã xây dựng mới và đưa vào
sử dụng 8.976 phòng học23 Quy hoạch mạng lưới trường học ở từng địa phương, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường lớp đáp ứng yêu cầu cơ sở vật chất cho giáo dục, từng bước nâng dần tỷ lệ học sinh được học tập và sinh hoạt 2 buổi/ngày tại trường
Các trường học đều trang bị đầy đủ đèn, hệ thống ánh sáng; 100% trường
có đủ công trình vệ sinh, nước sạch hợp vệ sinh; 100% nhà vệ sinh trường học đảm bảo vệ sinh theo qui định Tất cả các trường bán trú đã xây dựng và quản lý bếp ăn một chiều đúng quy định an toàn vệ sinh thực phẩm nên đã hạn chế tối đa tình trạng ngộ độc thực phẩm 100% các trường ở các ngành học, bậc học đều có thư viện riêng biệt và được kết nối mạng internet phục vụ cho công tác quản lý
và giao lưu hoạt động chuyên môn với đầy đủ các phòng tin học với số lượng máy tính theo quy định và các thiết bị tối thiểu
Mặc dù Thành phố quan tâm và ưu tiên đầu tư cho ngành giáo dục, nhưng với dân số tăng cơ học cao, hệ thống trường lớp của thành phố chỉ mới đảm bảo được chỗ học nhưng sĩ số học sinh/lớp còn cao, chưa đáp ứng được nhu cầu học
2 buổi/ngày Qua đó, phần nào hạn chế cho việc nâng cao chất lượng dạy và học,
là trở ngại chính trong quá trình ngành giáo dục thành phố thực hiện chỉ tiêu đến năm 2020 đạt 300 phòng học/10.000 dân số trong độ tuổi đi học (từ 3 - 18 tuổi) theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X
22 Năm học 2010-2011: 32.923 phòng học; năm học 2011-2012: 36.397 phòng học; năm học 2012-2013: 37.158 phòng học; năm học 2013-2014: 39.228 phòng học; năm học 2014-2015: 40.709 phòng học; năm học 2015-2016: 42.459 phòng học
23
Tổng số phòng học xây dựng mới và đưa vào sử dụng: Năm 2011: 1.572 phòng; Năm 2012: 1.418 phòng; Năm 2013: 1.527 phòng; Năm 2014: 1.900 phòng; năm 2015: 2.557 phòng
Trang 3329
2.2.1.2 Về chất lượng và hiệu quả giáo dục
Các cấp học, ngành học đều có những bước chuyển nhanh về quy mô, học vấn trung bình của người dân thành phố được nâng lên rõ rệt
Thành phố tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, theo
số liệu của Sở GD&ĐT TP.HCM năm 2015, đã có 107 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi được hoàn thành theo đúng tiến độ đề ra, được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn trong tháng 5 năm 2014 Thành phố thực hiện có hiệu quả Đề án giữ trẻ mầm non từ 6 - 18 tháng tuổi24;
Bảng 3: Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 theo năm
Nguồn: Sở Giáo dục TP Hồ Chí Minh, 2016
Ở cấp tiểu học, các đơn vị tích cực tập trung thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy; số liệu năm 2017, Thành phố có 62 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức 1, trong đó có 6 trường đạt mức 2 Về giáo dục trung học, toàn Thành phố có 22 trường đạt chuẩn quốc gia, 170/188 trường THPT công lập tổ chức dạy 2 buổi/ngày nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục25
100% các trường tổ chức giảng dạy nghiêm túc theo quy định, giáo viên chủ động thực hiện đúng phân phối chương trình của môn học Thực hiện có hiệu quả hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục quốc phòng và sinh hoạt tập thể theo các chủ đề của cấp học
Đội ngũ sư phạm được xây dựng và củng cố vững mạnh từ số lượng đến chất lượng Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học cá thể
24
Lộ trình thực hiện đề án như sau: Năm học 2014 - 2015, triển khai thí điểm tại 8 quận huyện gồm Q.7, Q.12, Bình Chánh, Củ Chi, Bình Tân, Nhà Bè, Tân Phú, Thủ Đức Năm học 2015 - 2016 triển khai thêm tại 4 quận nữa
là Q.9, 11, Gò Vấp, Tân Bình Năm học 2016 - 2017 thực hiện đại trà tại 24 quận huyện
25 Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM, Báo cáo đánh giá kết quả triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 Báo cáo Số 1535/GDĐT-KHTC ngày 14 tháng 05 năm 2018
Trang 3430
thay cho dạy học số đông, chăm sóc tốt từng học sinh trong quá trình dạy học, đảm bảo dạy đủ môn theo chương trình quy định Công tác quản lý nhà trường được đổi mới tích cực, theo hướng chuyên nghiệp, hội nhập quốc tế và khu vực,
sử dụng tốt công nghệ thông tin, tinh giản bộ máy và chuẩn hóa nhà trường Thành phố thực hiện công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên tốt, số lượng giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn rất cao (đạt chuẩn gần 100%) Năm 2010 có: mầm non đạt 66,60 % trình độ từ cao đẳng trở lên, tiểu học đạt 84,60 % trình độ từ cao đẳng trở lên (trong đó trình độ đại học đạt 47,74 %), trung học cơ sở đạt 70,45 % trình độ đại học trở lên (trong đó có 46 Thạc sĩ, 01 Tiến sỹ) và trung học phổ thông có 534 Thạc sĩ, 32 Tiến sỹ đạt tỷ lệ trên chuẩn 6% Trong giai đoạn 2011 - 2016, đội ngũ giáo viên tiếp tục được chuẩn hóa, nâng cao trình độ chuyên môn, cụ thể như sau:
Bảng 4: Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn theo cấp học
Trang 3531
- Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá
Tiếp tục đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục; tăng cường mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau giữa các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động dạy học - giáo dục, đánh giá trong quá trình dạy học - giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục nhằm phát triển năng lực và phẩm chất học sinh
Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kỹ năng của học sinh theo tinh thần Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2013
về áp dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" và các phương pháp dạy học tích cực khác; đổi mới đánh giá giờ dạy giáo viên, xây dựng tiêu chí đánh giá giờ dạy dựa trên Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014 của Bộ GDĐT; đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các môn học; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; tập trung dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá phù hợp các đối tượng học sinh khác nhau; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc
Tổ chức thực hiện ít nhất 01 chủ đề dạy học theo định hướng giáo dục STEM (theo văn bản 2998/GDĐT-GDTrH ngày 18/8/2017) nhằm triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Đa dạng hóa các hình thức học tập, chú ý các hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học của học sinh; sử dụng các hình thức dạy học trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như: dạy học trực tuyến, trường học kết nối Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường
Tích cực triển khai công tác nghiên cứu khoa học đối với học sinh trung học; động viên học sinh trung học tích cực tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật (theo công văn 3486/BGDĐT-GDTrH ngày 09/8/2017 của Bộ GDĐT về hướng dẫn triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học và tổ chức Cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2017-2018) và cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học Tăng cường tổ chức các hoạt động như: Hội thi thí nghiệm - thực hành của học sinh
Trang 3632
Tiếp tục thực hiện công tác phối hợp với đơn vị, doanh nghiệp xây dựng các tiết học ngoài nhà trường với các chủ đề dạy học tích hợp, liên môn, phối hợp với Thảo Cầm viên xây dựng nội dung bài dạy cho các tiết học ngoài nhà trường để các trường tổ chức triển khai trong năm học2017-2018
Tiếp tục thực hiện tốt việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013 của liên Bộ GDĐT,
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tiếp tục mở rộng mô hình trường học gắn với văn hóa, sản xuất, kinh doanh tại địa phương
Khuyến khích tổ chức, thu hút học sinh tham gia các hoạt động góp phần phát triển năng lực học sinh như: Văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao; thi thí nghiệm, thực hành; kỹ năng sử dụng tin học văn phòng; giải toán trên máy tính cầm tay và các hội thi, hoạt động chuyên môn khác do Sở GDĐT triển khai26
Công tác kiểm tra và đánh giá: Tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy
chế ở tất cả các khâu ra đề, coi, chấm và nhận xét, đánh giá học sinh trong việc thi và kiểm tra; đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh
Kết hợp đánh giá trong quá trình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học; Khi chấm bài kiểm tra phải có phần nhận xét, hướng dẫn, sửa sai, động viên sự cố gắng, tiến bộ của học sinh
Xây dựng đề kiểm tra cuối học kỳ, cuối năm học theo ma trận và viết câu hỏi phục vụ ma trận đề được thực hiện nghiêm túc Đề kiểm tra theo 4 mức độ yêu cầu: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỉ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh và tăng dần
tỉ lệ các câu hỏi, bài tập ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao
Kết hợp một cách hợp lý giữa hình thức trắc nghiệm tự luận với trắc nghiệm khách quan, giữa kiểm tra lý thuyết và kiểm tra thực hành trong các bài
26
Kết quả năm học 2015-2016, toàn Thành phố có 3.782 học sinh giỏi cấp Thành phố, 117 HS đạt Huy chương Bạc kỳ thi Olympic Tin học Châu Á Thái Bình Dương; có 140.577 HS đạt danh hiệu HSG và 463.747 HS tiểu học được khen thưởng cuối năm học với HS có thành tích tốt trong học tập và rèn luyện Cuộc thi HS nghiên cứu khoa học có 480 đề tài tham gia, 18 đề tài được chọn thi Quốc gia và đạt 13 giải, 01 đề tài được giải Ba kỳ thi Intel ISEF được tổ chức tại Hoa Kỳ Ở bậc Tiểu học đạt 2 giải Nhất, 3 giải Nhì và 3 giải Ba cuộc thi Roboties khu vực và 2 giải Khuyến khích tại cuộc thi Robocon Quốc tế…
Tại các cuộc thi cấp Thành phố HS trung học đã đạt nhiều kết quả tốt Cụ thể: 852 giải Nhất, 1.241 giải Nhì, 2.044 giải Ba; với số HSG khối THCS có 138.905 HS, đạt 36,77%; Khối THPT có 43.374 HSG đạt 21,71%
Trang 3733
kiểm tra; tiếp tục nâng cao chất lượng việc kiểm tra và từng bước thực hiện thi các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
Tăng cường tổ chức hoạt động trên trang mạng "Trường học kết nối” do
Bộ GDĐT xây dựng và triển khai
Chuẩn bị tốt cho các kỳ thi cuối cấp: hướng dẫn các trường chủ động đề ra
kế hoạch dạy và học, nhằm bảo đảm cho học sinh đáp ứng tốt với kỳ thi cuối cấp Nhà trường cũng chủ động hơn trong công tác bồi dưỡng, ôn tập cho học sinh có học lực yếu ngay từ đầu học kỳ 2, tăng cường phụ đạo, bồi dưỡng và phối hợp tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao qua đó giúp học sinh
có thể tiếp thu kiến thức tốt nhất Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng dạy học nhồi nhét gây quá tải nơi người học
Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
Đội ngũ cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để qua hoạt động điều hành, quản trị nhà trường thể hiện được năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục; năng lực triển khai đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tổ chức các hoạt động trải nghiệm; đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở từng tổ bộ môn; chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, công tác Đoàn, Đội, các hoạt động phối hợp với gia đình và cộng đồng; thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý hiệu quả; tổ chức triển khai nhiệm vụ năm học đúng quy định; thực hiện công khai dân chủ, không có những quyết định quản lý trái quy định và không phù hợp
Nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; Tăng cường các hình thức bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý
và hỗ trợ hoạt động dạy học và quản lý qua trang mạng "Trường học kết nối" Tiếp tục đổi mới sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong các cơ sở GDTrH dựa trên nghiên cứu bài học Chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán các môn học trong các cơ sở GDTrH; tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên môn tại trường, cụm trường, phòng/sở GDĐT (trực tiếp và qua mạng)
Nhìn chung, với sự chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ nhiệt tình của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo Thành phố, sự quan tâm, tin tưởng và ủng hộ của người dân Thành phố, giáo dục - đào tạo của Thành phố Hồ Chí Minh luôn phát triển không ngừng trong những năm qua Thành phố đã ban hành nhiều chỉ thị,
kế hoạch, thường xuyên rà soát việc thực hiện các mục tiêu GD&ĐT trên địa bàn; tiến hành sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị về GD&ĐT để tiếp tục có những định hướng chỉ đạo phát triển tiếp theo Mỗi năm Thành phố dành trên 25% trong tổng số chi ngân sách Thành phố cho GD&ĐT
Trang 3834
Quy mô và mạng lưới các cấp học được đầu tư phát triển đồng bộ Kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học trên địa bàn Thành phố hàng năm không ngừng gia tăng27 Chất lượng và hiệu quả GD&ĐT có nhiều chuyển biến tích cực
Tuy nhiên, GD&ĐT Thành phố còn nhiều hạn chế về đào tạo sư phạm còn chậm đổi mới, quan điểm sư phạm dạy cho số đông với phương pháp dạy học từ chương, khoa bảng vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong nhà trường Tình trạng dạy học để đối phó với thi cử vẫn còn phổ biến Và với tỷ lệ tăng dân số cơ học cao, học sinh nhập cư hàng năm không ngừng gia tăng Do đó, dù đã rất nỗ lực nhưng
cơ sở vật chất trường học vẫn không đáp ứng đủ so với nhu cầu học tập trên địa bàn thành phố Sỹ số lớp học còn cao, vẫn còn tình trạng học sinh học một buổi, mạng lưới trường học thiếu cân đối do quỹ đất ở các quận nội thành không còn
2.2.2 Công tác quản lý dạy thêm, học thêm
2.2.2.1 Thẩm quyền cấp phép, vai trò và trách nhiệm quản lý DTHT
Thẩm quyền cấp phép và quy trình cấp phép DTHT được quy định rõ tại
điều 2 và điều 3, Quyết định Số: 21/2014/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2014,
về Ban hành Quy định về quản lý dạy thêm, học thêm trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Giám đốc Sở Giáo dục
và Đào tạo cấp giấy phép tổ chức dạy thêm, học thêm đối với các trường hợp tổ chức dạy thêm, học thêm có nội dung thuộc chương trình trung học phổ thông hoặc thuộc nhiều chương trình nhưng có chương trình cao nhất là chương trình trung học phổ thông, giấy phép sử dụng con dấu của Sở Giáo dục và Đào tạo
Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố (trực tiếp là Phòng Giáo dục Trung học) thực hiện công tác tham mưu, hướng dẫn các cơ sở giáo dục trung học xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục tại đơn vị và chịu trách nhiệm quản lý về công tác DTHT trong chức năng của mình Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất tới các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố về việc chấp hành các qui định về DTHT trên địa bàn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với Phòng GD&ĐT các phường, xã và các cơ quan liên quan tổ chức giám sát, thanh tra, kiểm tra các cơ
sở giáo dục, các tổ chức, cá nhân có tổ chức dạy thêm, đảm bảo thực hiện đúng các qui định hiện hành
27 UBNDTP – Thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 – Khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cẩu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3935
Chủ tịch UBND quận, huyện ủy quyền cho Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp giấy phép tổ chức dạy thêm, học thêm đối với các trường hợp tổ chức dạy thêm, học thêm có nội dung thuộc chương trình tiểu học, trung học cơ sở hoặc thuộc nhiều chương trình nhưng có chương trình cao nhất là chương trình THCS, giấy phép sử dụng con dấu của Phòng Giáo dục và Đào tạo Các Phòng GD&ĐT tham mưu với UBND quận/huyện để quản lý hiệu quả việc dạy thêm học thêm ngoài nhà trường trên địa bàn; thực hiện công tác kiểm tra nhằm phát hiện và xử lý các trường hợp dạy thêm không đúng qui định của các cơ sở giáo dục trực thuộc và các tổ chức, cá nhân có liên quan
- Hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm với cơ quan quản lý cấp trên về việc quản lý, giám sát giáo viên thuộc đơn vị mình tham gia dạy thêm ngoài nhà trường Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp dạy thêm không đúng qui định
- Nội dung qui định về dạy thêm, học thêm thực hiện theo Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2012 của Bộ GD&ĐT, Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2014 và Quyết định 2140/2015/QĐ-UBND ngày 08 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân thành phố, các nội dung
cơ bản như: (Hộp 2)
Hộp 2: Quy định về dạy thêm, học thêm
- Không tổ chức dạy thêm, học thêm đối với học sinh theo học 2 buổi/ngày; không tổ chức dạy thêm học sinh tiểu học, trừ trường hợp bồi dưỡng về nghệ thuật, thể dục thể thao, rèn luyện kỹ năng thích ứng cuộc sống, kỹ năng xã hội
- Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường chỉ được tổ chức trên cơ sở tự nguyện tham gia của học sinh; phân chia lớp học theo trình độ học sinh, học sinh được lựa chọn giáo viên để theo học Hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm toàn diện về việc tổ chức dạy thêm, học thêm trong nhà trường
- Cán bộ, giáo viên đang công tác trong các cơ sở giáo dục công lập tham gia dạy thêm phải thực hiện đúng qui định về dạy thêm, học thêm, chịu sự quản lý, giám sát của thủ trưởng cơ sở giáo dục công lập
Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố phổ biến các quy định về dạy thêm học thêm, hướng dẫn quy trình, thủ tục rõ ràng, chi tiết cho các cơ sở giáo dục; các quy định về dạy thêm, học thêm của giáo viên; Thực hiện cập nhật thông tin, hướng dẫn về dạy thêm, học thêm trên trang thông tin của Sở GDĐT tại địa chỉ: http://csdaythemhocthem.hcm.edu.vn/
Trang 4036
2.2.2.2 Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy phép
Các tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm phải thực hiện đầy đủ hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về dạy thêm, học thêm; hồ sơ, quy trình, thủ tục cấp giấy phép dạy thêm, học thêm có trên trang web của Sở Giáo dục và Đào tạo, địa chỉ www.hcm.edu.vn/phongTCCB (các biểu mẫu chỉ mang tính tham khảo, không bắt buộc)
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm được lập thành một bộ (01 bộ) và nộp trực tiếp tại Phòng Giáo dục và Đào tạo hoặc Sở Giáo dục và Đào tạo Thời hạn, thu hồi giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm; đình chỉ hoạt động dạy thêm, học thêm được thực hiện theo Điều 14 Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành Quy định về dạy thêm, học thêm
2.2.2.3 Giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm
- Hoạt động dạy thêm, học thêm chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý giáo dục, của các cơ quan thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành có liên quan, của chính quyền các cấp Cụ thể:
+ Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp các Sở - ngành Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, trong việc hướng dẫn, tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố Trong trường hợp cần thiết phải lập đoàn thanh tra, kiểm tra, Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phải quán triệt các thành viên của đoàn thanh tra phải làm đúng chức trách nhiệm vụ, có thái độ ứng xử đúng mực khi thực thi công vụ
+ Ủy ban nhân dân quận, huyện: Chỉ đạo việc thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn để phát hiện các sai phạm, kịp thời xử lý hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý Chỉ đạo Ủy ban Nhân dân phường -
xã, thị trấn có trách nhiệm giám sát hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn, đảm bảo an toàn, trật tự tại các điểm hoạt động dạy thêm, học thêm và xác nhận
hồ sơ xin cấp hoặc gia hạn giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm cho các tổ chức và cá nhân theo quy định
+ Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức hoặc phối hợp với các ban ngành có liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy thêm, học thêm; phát hiện và xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm