ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu Mục tiêu 1
Nhân viên và bệnh nhân của phòng khám lồng ghép phòng khám điều trị ngoại trú ARV và Methadone
Nghiên cứu định lượng này nhằm đo lường thời gian làm việc hàng ngày của nhân viên và thời gian bệnh nhân sử dụng dịch vụ tại phòng khám trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu.
Quan sát thời gian làm việc của nhân viên:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành quan sát trực tiếp thời gian làm việc của các vị trí công việc khác nhau tại phòng khám, bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, tư vấn viên, nhân viên dược, hành chính, nhân viên xét nghiệm, kế toán và hộ lý Thời gian quan sát diễn ra từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều trong một ngày làm việc ngẫu nhiên trong tuần Để đảm bảo tính chính xác, quan sát viên đã được tập huấn và hướng dẫn về phương pháp làm việc, cũng như cách phân loại và ghi chép các hoạt động của nhân viên theo mã số.
Quan sát thời gian sử dụng các dịch vụ tại phòng khám của bệnh nhân:
Tại mỗi phòng khám, khoảng 5% tổng số bệnh nhân được chọn để quan sát Thời gian quan sát bắt đầu từ khi bệnh nhân đến phòng khám cho đến khi ra về, bao gồm cả thời gian chờ đợi trước khi nhận dịch vụ.
Bảng 2: Số lượng mẫu thu thập trong 2 giai đoạn trước và sau lồng ghép
Số lượng mẫu thu thập được Trước Lồng ghép Sau Lồng ghép
3 BN đang điều trị ART 145 140
4 Nhân viên phòng khám điều trị ngoại trú ARV
4.Nhân viên phòng khám Methadone
Nhóm nghiên cứu, bao gồm giám sát viên của Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM, FHI 360 và sinh viên Khoa Xã hội học – Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, đã được tập huấn về cách thu thập thông tin liên quan đến đạo đức trong nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và các công cụ thu thập dữ liệu.
Quan sát thời gian làm việc của nhân viên:
Phòng khám trước và sau lồng ghép bao gồm 5 – 6 phòng chức năng như Phòng Hành chính, Tư vấn, Phòng khám bệnh, Phòng xét nghiệm và Phòng phát thuốc Các quan sát viên sẽ chọn một vị trí thích hợp để theo dõi hoạt động của nhân viên mà không gây ảnh hưởng đến công việc của họ Thời gian quan sát bắt đầu từ khi nhân viên bắt đầu làm việc trong ngày, bao gồm các hoạt động như chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị, báo cáo, biểu mẫu và hồ sơ bệnh nhân, cho đến khi họ kết thúc thời gian làm việc.
Trong nghiên cứu tại 16 phòng khám, các nhà nghiên cứu đã ghi chú đầy đủ thông tin liên quan đến việc quản lý thời gian và hiệu suất làm việc Họ thực hiện quan sát tất cả nhân viên trong một ngày ngẫu nhiên trong tuần để ước lượng thời gian trung bình cho các hoạt động.
Quan sát thời gian sử dụng dịch vụ của bệnh nhân:
Khi bệnh nhân đến phòng khám, nhân viên hành chính sẽ phân loại và giới thiệu họ tham gia nghiên cứu, bao gồm bệnh nhân Methadone và ARV Quan sát viên xin phép đi theo bệnh nhân để ghi nhận thời gian nhận dịch vụ, thời gian di chuyển và thời gian chờ tại các phòng dịch vụ khác nhau Quá trình quan sát diễn ra trong vài ngày để thu thập đủ mẫu bệnh nhân theo từng loại đã quy định trong nghiên cứu.
Trang thiết bị và dụng cụ thu thập dữ liệu:
- Biểu mẫu thu thập dữ liệu (Phụ lục 1, 2 và 3)
- Các bảng, dây đeo thẻ dành cho bệnh nhân đeo để giúp phân loại khách hàng và không mất dấu khách hàng
Thời điểm lựa chọn để quan sát:
Phòng khám điều trị ngoại trú ARV phục vụ từ 60 đến 80 bệnh nhân mỗi ngày, với mức cao nhất lên tới 100 bệnh nhân vào thứ Hai và thấp nhất là 30 bệnh nhân vào các ngày khác Những ngày đông bệnh nhân thường rơi vào thứ Hai, thứ Ba và thứ Tư, trong khi thứ Năm có lượng bệnh nhân bình thường và thứ Sáu là ngày có ít bệnh nhân nhất Do đó, việc chọn thời điểm quan sát thời gian làm việc của nhân viên phòng khám là rất quan trọng.
17 nhận dịch vụ của BN tại phòng khám là các ngày Thứ Ba – Thứ Tư – Thứ Năm
Phòng khám Methadone có số lượng bệnh nhân nhận dịch vụ ổn định trong tuần, vì vậy nhóm nghiên cứu đã chọn một ngày để quan sát thời gian làm việc và nhận dịch vụ tại đây, tương tự như phòng khám điều trị ngoại trú ARV Đối với nhóm bệnh nhân mới khởi liều, nhóm nghiên cứu sẽ đến quan sát vào những ngày có bệnh nhân này.
Quy định chung về thời gian làm việc của nhân viên tại phòng khám
Thời gian làm việc của nhân viên được xác định từ khi họ vào văn phòng lúc 7h30 sáng cho đến khi nghỉ trưa vào lúc 11h30 hoặc 12h00, và tiếp tục từ 1h30 chiều cho đến khi kết thúc ngày làm việc vào lúc 4h30 hoặc 5h00 chiều.
Thời gian làm việc của nhân viên chỉ được tính khi họ tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, thực hiện báo cáo và ghi chép hồ sơ Ngoài ra, các công việc liên quan như tham gia họp, đưa bệnh nhân qua phòng dịch vụ khác, dọn dẹp phòng, sắp xếp hồ sơ, gọi điện cho nhân viên hoặc bệnh nhân liên quan đến công việc, và hỗ trợ các phòng ban khác cũng được tính vào thời gian làm việc.
Không tính thời gian dành cho các hoạt động cá nhân của nhân viên như nghỉ ngơi, uống nước, trò chuyện, gọi điện thoại cá nhân và đi vệ sinh.
Số lượng bệnh nhân phòng khám điều trị ARV và Methadone tại thời điểm nghiên cứu trước và sau lồng ghép
Theo báo cáo lũy tích của phòng Chăm sóc điều trị ARV và Methadone của Quận 6 và Bình Thạnh trong hai giai đoạn nghiên cứu
- Thời điểm triển khai nghiên cứu trong giai đoạn 1 (12/2012 – 4/2013): tại Quận 6: số người đang nhận dịch vụ tại phòng khám là: 1573 BNphòng khám
18 điều trị ngoại trú ARV, 360 BN Methadone; Q.Bình Thạnh: số người đang nhận dịch vụ tại phòng khám là: 2714 BN phòng khám điều trị ngoại trú ARV,
Trong giai đoạn 2 từ tháng 11/2014 đến tháng 02/2015, tại Quận 6, có 1.293 bệnh nhân đang nhận dịch vụ điều trị ngoại trú ARV và 340 bệnh nhân sử dụng Methadone Tại Quận Bình Thạnh, số người nhận dịch vụ tại phòng khám điều trị ngoại trú ARV là 1.950 bệnh nhân.
346 BN Methadone (Chi tiết trong bảng 1.2)
Một số khái niệm liên quan
Thời gian chờ của bệnh nhân (BN) để nhận dịch vụ bao gồm thời gian di chuyển giữa các phòng dịch vụ và thời gian ngồi xếp hàng chờ trước cửa các phòng khám.
Thời gian nhận dịch vụ của bệnh nhân tại phòng khám được xác định từ lúc bệnh nhân vào bất kỳ phòng dịch vụ nào cho đến khi hoàn tất việc sử dụng dịch vụ và rời khỏi phòng đó.
2.1.5 Quản lý và phân tích dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu Mục tiêu 2
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu dữ liệu trước và sau lồng ghép tại phòng khám ngoại trú điều trị ARV và Methadone ở Quận 6 và Quận Bình Thạnh, TP.HCM Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 6 tháng cho mỗi giai đoạn, trước tháng 9/2013 và sau tháng 7/2014.
- Tại Quận Bình Thạnh: Giai đoạn trước LG là từ tháng 4-9/2013; Giai đoạn sau LG là từ tháng 7-12/2014
- Tại Quận 6: Giai đoạn trước LG là từ tháng 4-9/2011; Giai đoạn sau LG là từ tháng 7-12/2014
Chi phí thu thập và phân tích trong nghiên cứu này bao gồm các khoản chi tiền do phòng khám điều trị ARV và MMT quận 6 và Bình Thạnh chi trả Tuy nhiên, những chi phí này không phản ánh đầy đủ tất cả các nguồn lực đã được huy động cho hoạt động điều trị Tại thời điểm nghiên cứu, thuốc ARV, Methadone, xét nghiệm CD4 và sinh phẩm xét nghiệm heroin cho bệnh nhân được cung cấp miễn phí.
20 bởi các tổ chức khác nên không bao gồm trong khung phân tích chi phí của nghiên cứu
Nghiên cứu không xem xét chi phí cơ hội của vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng, cũng như chi phí cán bộ theo mức tiền công thị trường và giá trị thị trường của các đầu vào được trợ cấp như điện, nước Nó cũng không tính đến khấu hao tài sản cố định và các chi phí khác mà bệnh nhân phải gánh chịu, bao gồm thời gian tham gia điều trị, chi phí đi lại, xét nghiệm đầu vào và các chi phí không chính thức Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả chi phí để so sánh nguồn lực tài chính của phòng khám trước và sau khi lồng ghép, do đó chỉ thu thập số liệu về chi phí tài chính công cho chương trình tại phòng khám.
Nghiên cứu về chi phí trong y tế thường được phân chia thành hai nhóm chính: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Chi phí trực tiếp bao gồm các khoản chi cho các đầu vào được sử dụng trực tiếp để cung cấp dịch vụ y tế, như chi phí cho quy trình xét nghiệm, chẩn đoán, thuốc, vật tư y tế, khám bác sĩ và nằm viện Ngoài ra, chi phí không phải y tế cũng được tính vào chi phí trực tiếp, bao gồm quản lý chương trình, tiện ích và không gian y tế.
Chi phí gián tiếp bao gồm các chi phí cơ hội từ việc mất khả năng sản xuất của người bệnh và những tổn hại về tinh thần do bệnh tật gây ra Những chi phí này thường không có giá trị thị trường cụ thể và khó xác định chính xác.
Trong nghiên cứu này, chi phí được phân loại thành hai nhóm: chi phí cố định và chi phí biến đổi, dựa trên mối quan hệ giữa các loại chi phí này và số lượng dịch vụ cung cấp.
Chi phí biến đổi trong lĩnh vực y tế là những khoản chi phí thay đổi theo số lượng bệnh nhân, bao gồm chi phí dịch vụ trực tiếp như thuốc và xét nghiệm, cũng như chi phí dịch vụ gián tiếp như viện phí, chi phí đưa bệnh nhân đi cai nghiện, học nghề, mai táng, quà cho bệnh nhân và vật tư tiêu hao khác.
Chi phí cố định là các khoản chi mà phòng khám phải trả cho việc thực hiện các chương trình, không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất trong ngắn hạn, bao gồm chi phí nhân sự như lương và bảo hiểm.
Tiền công làm ngoài giờ và tiền thưởng, cùng với chi phí hành chính như điện, nước, điện thoại, thông tin liên lạc, nước uống, văn phòng phẩm, đi lại, tập huấn và hội họp, đều là những yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Tất cả các chi phí này đều được ghi nhận tại hệ thống kế toán của trung tâm y tế dự phòng quận 6 và Bình Thạnh
Sau khi thu thập, số liệu được phân tích để tính tổng chi phí hoạt động và chi phí cố định của mỗi phòng khám trong hai giai đoạn: trước và sau khi lồng ghép Kết quả cho phép so sánh các chỉ tiêu của hai mô hình trước và sau lồng ghép tại từng phòng khám, cũng như so sánh giữa hai phòng khám khác nhau.
Nhóm thực hiện đề tài dự kiến sử dụng mô hình nhu cầu nguồn lực (RNM) của John Stover, một công cụ phân tích chi phí đã được áp dụng thành công cho chương trình chăm sóc điều trị HIV/AIDS tại nhiều quốc gia RNM là một phần mềm Excel giúp ước tính toàn bộ nguồn lực cần thiết cho các chương trình phòng chống HIV/AIDS Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu không cho phép thu thập số liệu chi phí thực tế từ hai phòng khám, công cụ này ban đầu được xem là hữu ích để ước tính chi phí chưa xảy ra Hiện tại, với việc đã thu thập được chi phí thực tế và các chi phí không bằng tiền chưa thể đo lường, việc sử dụng RNM không còn phù hợp Do đó, nhóm nghiên cứu đã quyết định sử dụng phần mềm Excel để tính toán và phân tích, mà không ảnh hưởng đến các chỉ số đầu ra đã được thiết kế trong đề cương nghiên cứu.
3 John Stover and Lori Bollinger, Futures Institute, Andrew Boulle and Susan Ceary, University of Cape town, South Africa, June 2009
a.1 Thiết kế nghiên cứu
- Đoàn hệ hồi cứu dữ liệu báo cáo tháng và HIV/QUAL
- Cắt ngang theo 2 giai đoạn trước và sau lồng ghép theo phương pháp nghiên cứu định lượng
- Thời gian lấy mẫu từ tháng 4/2013-31/12/2014
a.2 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân HIV đang điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trú Quận 6 và Bình Thạnh
Dân số mục tiêu: Bệnh nhân HIV đang điều trị ARV tại TPHCM
Dân số chọn mẫu: Bệnh nhân HIV đang điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trú Quận 6 và Bình Thạnh
a.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ ngày 01/04/2013 đến 31/12/2014
Nghiên cứu được thực hiện tại hai quận, quận 6 và Bình Thạnh, nơi triển khai các hoạt động chăm sóc và điều trị ARV cũng như điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng phương pháp thay thế Methadone.
a.4 Cỡ mẫu
- Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng cho cả 2 giai đoạn: 2013 và 2014
- Tính cỡ mẫu theo hướng dẫn của HIVQUAL về ước lượng cỡ mẫu đánh giá chất lượng dịch vụ chương trình chăm sóc điều trị ARV
Bảng 3: Cỡ mẫu nghiên cứu đánh giá kết quả chương trình CSĐT ARV Điểm nghiên cứu
Tổng số bệnh nhân đang Chăm sóc điều tri tính đến tháng 12/2012[1] Ước tính cỡ mẫu
a.5 Kỹ thuật chọn mẫu và tiêu chí lựa chọn
Các bệnh nhân được chọn tham gia vào nghiên cứu theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống dựa trên một khoảng cách nhất định: K = N/n, trong đó:
- K là khoảng cách giữa 2 người được chọn vào mẫu
- N là tổng số bệnh nhân ARV đang tham gia điều trị tại phòng khám (N743; Quận 6: N1 = 1655; Bình Thạnh: N2=2.088)
- n là số mẫu cần lấy (n = 292; n17; n27)
K1 = N1/n1 = 1655/37 = 11; K2 = N2/n2 = 2.088/137 Danh sách bệnh nhân tại từng phòng khám sẽ được sắp xếp theo thứ tự ABC và đánh số từ nhỏ đến lớn Nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện bốc thăm ngẫu nhiên Tại Quận 6, 11 lá thăm sẽ được chọn từ số thứ tự 1 đến 11 để xác định người đầu tiên tham gia nghiên cứu Người thứ hai được chọn sẽ cách người đầu tiên 11 người, và quy tắc này sẽ được áp dụng cho đến khi đủ số lượng cần thiết.
137 bệnh nhân; áp dụng tương tự cho Quận Bình Thạnh với bước nhảy 14 (tổng 2 PKNT: 274 người)
Trong trường hợp người được chọn trong danh sách từ chối tham gia nghiên cứu, hoặc không đến khám/tử vong vào ngày hẹn tái khám, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành các biện pháp phù hợp để xử lý tình huống này.
24 cứu sẽ căn cứ trên danh sách ban đầu để chọn người liền kề trước hoặc sau người từ chối (khi không lấy được người trước) để thay thế
- Bệnh nhân đang điều trị ARV tại 02 phòng khám của 02 quận đã được chọn
- Đồng ý và ký xác nhận vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân mới đăng ký
- Bệnh nhân bị các bệnh về tâm thần, không có khả năng trả lời câu hỏi phỏng vấn
a.6 Phương pháp thu thập thông tin
Phân tích dữ liệu sẵn có
Dựa trên danh sách bệnh nhân đang điều trị ARV tại hai phòng khám ở TP.HCM, cùng với các báo cáo hoạt động và kết quả nghiên cứu trước đây liên quan đến chương trình chăm sóc và điều trị ARV tại thành phố, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả của chương trình này.
Dùng bảng hỏi để thu thập thông tin định lượng từ bệnh nhân đang điều trị ARV tại TP.HCM
Để thu thập dữ liệu, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng bảng hỏi phỏng vấn định lượng đã được soạn sẵn, nhằm khảo sát ý kiến của bệnh nhân điều trị ARV khi họ đến phòng khám OPC lấy thuốc hàng tháng Điều này giúp đánh giá chất lượng dịch vụ một cách hiệu quả.
- Thời gian thực hiện phỏng vấn: sau khi bệnh nhân đã hoàn tất việc khám và lấy thuốc ARV, chuẩn bị ra về
Địa điểm phỏng vấn sẽ được tổ chức tại phòng của OPC, nhằm tạo ra một không gian thoải mái và riêng tư cho người tham gia nghiên cứu, từ đó giúp họ trả lời các câu hỏi một cách khách quan nhất.
a.7 Công cụ và kỹ thuật xử lý thông tin
- Đối với các thông tin về chỉ số hoạt động chương trình sẽ lấy từ các báo cáo hoạt động
Mức độ hài lòng của bệnh nhân về chất lượng chương trình sẽ được thu thập thông qua bảng hỏi soạn sẵn và phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân (xem phụ lục 3a).
- Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu đánh giá sự hài long của bệnh nhân và excel để nhập liệu báo cáo tháng
- Phân tích các dữ liệu thu thập được bằng Stata 13.0.
a.8 Chỉ số chương trình chăm sóc điều trị ARV
Gồm 2 nội dung chính: Đánh giá chất lượng chương trình và Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân về dịch vụ của chương trình
Đánh giá chất lượng chương trình được thực hiện bằng cách sử dụng các chỉ số theo Phương pháp HIVQUAL, kết hợp với một số chỉ số theo dõi chương trình thường quy Những chỉ số này bao gồm các yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả và tính khả thi của chương trình.
Phương pháp HIVQUAL sẽ được áp dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ trong chương trình chăm sóc điều trị ARV Đây là một công cụ đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá chất lượng dịch vụ trong chương trình chăm sóc điều trị HIV/AIDS, bao gồm cả liệu pháp điều trị bằng ARV.
HIVQUAL 4 là mô hình phát triển nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc cho người nhiễm HIV, tập trung vào việc cải thiện năng lực và khả năng quản lý chất lượng dịch vụ chăm sóc HIV/AIDS tại các cơ sở y tế và bệnh viện.
HIVQUAL, được khởi xướng và phát triển bởi Viện AIDS của New York, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc cho người sống với HIV/AIDS.
Bộ 10 Chỉ số theo Hướng dẫn Quốc gia, Cục PC HIV/AIDS:
4 https://www.cqihiv.com/ConceptEn.aspx
1 Tỉ lệ bệnh nhân mới đăng ký điều trị trong 6 tháng qua được làm xét nghiệm CD4 lần đầu trong vòng 15 ngày
2 Tỉ lệ bệnh nhân chưa điều trị ARV đến tái khám định kỳ
3 Tỉ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn điều trị ARV nhưng chưa được điều trị trong 6 tháng qua
4 Tỉ lệ bệnh nhân ARV đến tái khám đúng hẹn trong lần khám gần nhất
5 Tỉ lệ bệnh nhân được đánh giá tuân thủ điều trị ARV trong lần khám gần nhất
6 Tỉ lệ bệnh nhân điều trị ARV được bắt đầu điều trị ARV trong vòng 30 ngày
7 Số CD4 trung bình của bệnh nhân bắt đầu điều trị ARVtrong 6 tháng qua,
8 Tỉ lệ bệnh nhân được kê đơn dự phòng Cotrim hoặc Dapsone khi đủ tiêu chuẩn trong lần khám gần nhất
9 Tỉ lệ bệnh nhân được sàng lọc lao trong lần khám gần nhất
10 Tỉ lệ bệnh nhân được xét nghiệm CD4 ít nhất một lần trong vòng 6 tháng qua
Chỉ số theo dõi chương trình thường quy:
- Số lượng/Tỉ lệ bệnh nhân Pre ART mất dấu trước điều trị ARV
- Số lượng/Tỉ lệ bệnh nhân Pre ART chết trước điều trị ARV
- Số lượng/Tỉ lệ bệnh nhân ART bỏ điều trị ARV
- Số lượng/Tỉ lệ bệnh nhân ART chết trong điều trị ARV
- Tỉ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn điều trị ARV nhưng không được tham gia điều trị trong vòng 30 ngày trong 6 tháng qua
- Đây là các chỉ số quan trọng nhằm theo dõi, đánh giá chất lượng hoạt động chương trình CSĐT hàng tháng tại Thành phố
Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân về dịch vụ của chương trình (theo bảng câu hỏi soạn sẵn)
b.1.Thiết kế nghiên cứu
Bài viết này phân tích dữ liệu báo cáo tháng của chương trình Methadone trong 6 tháng tại Quận 6 và Quận Bình Thạnh, so sánh hai giai đoạn trước và sau khi lồng ghép (từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2013 và từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2014) nhằm đánh giá hiệu quả thực hiện chương trình Methadone.
2.3b.2 Đối tượng nghiên cứu và cỡ mẫu
Nghiên cứu đã phỏng vấn 250 bệnh nhân Methadone thông qua bảng hỏi cấu trúc nhằm mục đích: a) Khám phá hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong quá trình điều trị Methadone; b) Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân đối với đội ngũ y bác sĩ và nhân viên tại phòng khám, cũng như nhận xét về các dịch vụ chăm sóc và điều trị liên quan đến HIV như ARV, Methadone và tư vấn hỗ trợ tâm lý trước và sau khi lồng ghép; c) Tìm hiểu các chỉ số tự đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau khi lồng ghép.
b.3 Thu thập và quản lý số liệu
Nhóm nghiên cứu kiểm tra số liệu báo cáo tháng từ các phòng khám và phiếu phỏng vấn để đảm bảo tính đầy đủ, tin cậy và hợp lý của thông tin Những thông tin thiếu sót sẽ được đề nghị bổ sung bởi các điều tra viên và nhân viên quản lý số liệu của phòng khám.
Trong đợt khảo sát, các bộ số liệu bao gồm phiếu thu thập thông tin bệnh nhân, báo cáo tổng hợp tháng về tình hình điều trị, kết quả xét nghiệm nước tiểu phát hiện heroin và ma túy tổng hợp, cùng báo cáo dược về việc phân phát thuốc và liều uống hàng ngày của từng bệnh nhân Tất cả các bộ số liệu này được lưu trữ độc lập trong các thư mục bảo mật tại Văn phòng thường trực của Uỷ Ban Phòng Chống AIDS TP.HCM.
b.4 Các chỉ số đánh giá chính
a) Đánh giá kết quả thực hiện chương trình Methadone trước và sau lồng ghép
- Số bệnh nhân đăng ký điều trị trong 6 tháng trước lồng ghép (từ tháng 4 - tháng 9/2013) và 6 tháng sau lồng ghép (từ tháng 7 – tháng 12/2014);
- Tỉ lệ bệnh nhân được xét chọn vào điều trị trong kỳ báo cáo (từ tháng 4 - tháng 9/2013 và từ tháng 7 – tháng 12/2014);
Tỉ lệ bệnh nhân duy trì điều trị bằng methadone trên 12 tháng đến cuối mỗi kỳ báo cáo (tháng 9/2013 và tháng 12/2014) cho thấy rằng cột mốc 12 tháng là thời gian tối thiểu được khuyến cáo để đạt được hiệu quả điều trị.
Thời gian trung bình dò liều của bệnh nhân trong kỳ báo cáo từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2013 và từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2014 được tính bằng số ngày, bắt đầu từ ngày bệnh nhân bắt đầu uống thuốc cho đến khi đạt được liều ổn định.
- Tỉ lệ bệnh nhân có hiện tượng quá liều (trong giai đoạn dò liều) trong kỳ báo cáo (từ tháng 4 - tháng 9/2013 và từ tháng 7 – tháng 12/2014)
- Tỉ lệ bệnh nhân tử vong trong kỳ báo cáo (từ tháng 4 - tháng 9/2013 và từ tháng 7 – tháng 12/2014);
Tỉ lệ bệnh nhân ngừng điều trị trong các kỳ báo cáo từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2013 và từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2014 cho thấy sự thay đổi đáng kể Bên cạnh đó, cần đánh giá hành vi nguy cơ cao của bệnh nhân trong quá trình tham gia điều trị bằng Methadone để có biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả.
Hành vi tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV được đánh giá dựa trên thông tin tự báo cáo của bệnh nhân về hoạt động tình dục trong 6 tháng trước phỏng vấn Những thông tin này bao gồm số lượng bạn tình, loại bạn tình và việc sử dụng bao cao su thường xuyên hay không trong các mối quan hệ tình dục.
Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV liên quan đến việc sử dụng và tiêm chích ma túy bao gồm các loại ma túy được sử dụng cũng như việc có hay không sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng trước khi phỏng vấn Ngoài ra, việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét.
- Tỉ lệ bệnh nhân có việc làm tại thời điểm phỏng vấn trước và sau lồng ghép;
Nghiên cứu này sử dụng bảng đánh giá chất lượng cuộc sống rút gọn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) gồm 25 câu hỏi để tự đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Bảng đánh giá tập trung vào 4 khía cạnh chính: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mối quan hệ xã hội và môi trường sống.
Sự hài lòng của bệnh nhân đối với tinh thần phục vụ của nhân viên phòng khám và chất lượng dịch vụ nhận được là rất quan trọng Để đánh giá mức độ hài lòng, bảng khảo sát được chia thành 5 mức độ: 1) Khó chịu; 2) Không hài lòng; 3) Bình thường; 4) Hài lòng; 5) Rất hài lòng.
b.5 Phân tích dữ liệu
Phân tích mô tả được thực hiện bằng cách tính toán tỷ lệ phần trăm để mô tả các đặc điểm của quần thể nghiên cứu và các biến số trong cả hai vòng khảo sát Đối với dữ liệu hồi cứu, phương pháp so sánh tỷ lệ hai mẫu được áp dụng nhằm xác định sự khác biệt giữa hai giai đoạn Các chỉ số đánh giá chương trình trong 6 tháng trước giai đoạn lồng ghép được sử dụng làm cơ sở so sánh với các chỉ số trong 6 tháng sau giai đoạn này Đối với dữ liệu phỏng vấn qua bảng hỏi cấu trúc, phân tích tương quan hai biến và tương quan đa biến được thực hiện để đánh giá sự khác biệt trong quần thể nghiên cứu trước và sau giai đoạn lồng ghép.
Phương pháp nghiên cứu Mục tiêu 4
Nghiên cứu định tính ở giai đoạn 2 đã tích hợp hoạt động chăm sóc điều trị ARV và Methadone tại quận 6 và Bình Thạnh Mục tiêu của nghiên cứu là khám phá thông tin về điểm mạnh và thách thức của mô hình lồng ghép phòng khám, cũng như những ảnh hưởng và tác động của mô hình này đối với hệ thống y tế và nhu cầu nguồn nhân lực.
Cán bộ y tế từ Sở Y tế đến Trung tâm y tế dự phòng Quận và các phòng khám điều trị ARV và Methadone tại TP.HCM đang làm việc tích cực để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.
Phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được áp dụng để thu thập thông tin định tính về mô hình lồng ghép phòng khám và Methadone tại quận 6 và Bình Thạnh.
Thảo luận nhóm giữa nhân viên tại phòng khám lồng ghép của Quận 6 và Bình Thạnh diễn ra với sự tham gia từ 6 đến 8 người, nhằm chia sẻ kinh nghiệm và quan điểm về mô hình lồng ghép Mỗi buổi thảo luận có một thành viên điều hành và một thành viên ghi chú thông tin quan trọng Người tham gia mô tả công việc tại phòng khám, nêu rõ thuận lợi và khó khăn, so sánh tình hình công việc trước và sau khi lồng ghép, đồng thời đưa ra ý kiến cải thiện mô hình.
- 10 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện với những người đại diện các ban ngành như sau:
- Sở Y tế: 2 người (1 cán bộ Phòng Nghiệp vụ Y, 1 cán bộ Phòng Kế hoạch – tài chính)
Trung tâm y tế dự phòng quận 6 và Bình Thạnh có tổng cộng 6 người, bao gồm 1 Giám đốc hoặc Phó Giám đốc quận, 1 cán bộ Phòng Tài chính kế toán quận, và 1 cán bộ Phòng nhân sự quận từ mỗi quận.
- Phòng khám lồng ghép hoạt động của quận 6 và Bình Thạnh: 2 người: 1
BS Trưởng Phòng khám/quận, 1 BS điều trị/quận x 2 quận
- Chủ đề nghiên cứu bao gồm:
Mô hình lồng ghép phòng khám chăm sóc điều trị ARV và Methadone có tính khả thi cao khi được tích hợp vào hệ thống y tế hiện có tại tuyến quận Việc này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.
- Những hỗ trợ từ chính quyền địa phương trong việc xây dựng mô hình lồng ghép phòng khám
- Chia sẻ kinh nghiệm, quan điểm về những thành công của mô hình lồng ghép phòng khám
- Vai trò của lãnh đạo ngành y tế các cấp trong việc xây dựng mô hình lồng ghép phòng khám
- Những thách thức và thành tựu của mô hình lồng ghép
- Những ý kiến đề xuất để cải thiện chương trình
Nhóm thu thập dữ liệu, bao gồm giám sát viên của Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM, FHI 360 và sinh viên Khoa Xã hội học - Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, đã được tập huấn về cách thu thập thông tin Buổi tập huấn này cung cấp kiến thức về đạo đức nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và các công cụ thu thập dữ liệu, đảm bảo đầy đủ trong quá trình thu thập dữ liệu tại điểm nghiên cứu.
Tất cả các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện theo biểu mẫu hướng dẫn phỏng vấn-bảng hỏi bán cấu trúc Một số phỏng vấn sâu đã được ghi âm với sự đồng ý của người được phỏng vấn, trong khi một số khác chỉ được ghi chép lại do không có sự đồng ý cho việc ghi âm.
Tất cả các phỏng vấn sâu được thực hiện trong không gian riêng tư, đảm bảo sự thoải mái cho người tham gia Một nhóm phỏng vấn viên có kinh nghiệm đã được lựa chọn để thực hiện và gỡ băng các phỏng vấn, đồng thời ghi chú các thông tin liên quan trong quá trình phỏng vấn.
Các cuộc phỏng vấn sâu đầu tiên được thực hiện nhằm thu thập thông tin và cung cấp phản hồi cho phỏng vấn viên về những nội dung cần khai thác Mỗi phỏng vấn viên được đào tạo qua 1-3 cuộc phỏng vấn giả để làm quen với bộ câu hỏi trước khi tiến hành phỏng vấn chính thức Những phản hồi từ các cuộc phỏng vấn đầu tiên đã giúp phỏng vấn viên cải thiện kỹ năng khai thác thông tin và thu thập dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu.
2.4.5 Quản lý và phân tích dữ liệu
Trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu, tất cả tài liệu liên quan như bộ câu hỏi, file ghi âm, và ghi chú nghiên cứu được lưu trữ an toàn tại UBPC AIDS TP.HCM Các bản điện tử được bảo vệ bằng mật mã, trong khi bản in được quản lý cẩn thận, chỉ nhóm nghiên cứu mới có quyền truy cập, nhằm đảm bảo tính an toàn và bảo mật thông tin trong nghiên cứu.
Sau khi hoàn tất phân tích dữ liệu và báo cáo nghiên cứu được phê duyệt, tất cả tài liệu liên quan được gửi về văn phòng UBPC AIDS TP.HCM để lưu trữ Các file ghi âm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ bị tiêu hủy ngay sau khi phân tích dữ liệu hoàn tất.
Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và ghi chép bằng phần mềm Word 2010 Dữ liệu từ các buổi phỏng vấn và thảo luận này được phân tích thông qua các phương pháp phân tích định tính theo từng bước, như đã nêu bởi Ulin, Robinson & Tolley (2005).
2.4.6 Giám sát nghiên cứu Để đảm bảo theo đúng mục tiêu của nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu Xã hội học Ứng dụng của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM là đơn vị trực tiếp triển khai nghiên cứu này Nhóm nghiên cứu và UBPC AIDS TP.HCM chịu trách nhiệm giám sát và hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu
Nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng Đạo Đức của Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM và được phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức của Tổ chức FHI.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương và các công cụ nghiên cứu đã được Hội đồng Khoa học và Công Nghệ TP.HCM phê duyệt theo Công văn số 496/QĐ-SKHCN ngày 16/8/2013, cùng với sự chấp thuận của Hội đồng Y Đức - Ủy ban phòng chống AIDS TP.HCM vào ngày 20/10/2014.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hiệu năng làm việc của nhân viên chương trình chăm sóc điều trị ARV và Methadone trước và sau khi lồng ghép phòng khám
điều trị ARV và Methadone trước và sau khi lồng ghép phòng khám
3.1.1 Thời gian làm việc của nhân viên phòng khám chăm sóc điều trị ngoại trú ARV giai đoạn trước và sau lồng ghép a.) Giai đoạn trước lồng ghép:
Nhân viên Hành chánh làm việc trung bình 6 giờ 19 phút mỗi ngày, chủ yếu dành thời gian cho việc lập báo cáo, ghi chép sổ sách và thực hiện các công việc khác.
Bác sĩ tại phòng khám có thời gian làm việc trung bình mỗi ngày là 2 giờ 12 phút, trong đó phần lớn thời gian được dành cho việc khám bệnh cho bệnh nhân, khoảng 1 giờ 25 phút Trong khi đó, điều dưỡng có thời gian làm việc trung bình là 3 giờ 11 phút, chủ yếu tập trung vào việc ghi chép hồ sơ bệnh án, sổ theo dõi và các công việc liên quan khác.
Nhân viên dược thường làm việc trung bình 4 giờ 57 phút mỗi ngày, với các nhiệm vụ chính bao gồm làm báo cáo thuốc, ghi phiếu và kiểm kê thuốc Thời gian còn lại chủ yếu dành cho việc phát thuốc cho bệnh nhân.
Thời gian làm việc trung bình hàng ngày của tư vấn viên trong giai đoạn chưa lồng ghép là 3 giờ 17 phút, với khoảng 50% thời gian dành cho việc ghi chép sổ sách, trong khi phần còn lại được sử dụng cho tư vấn bệnh nhân và các công việc khác.
Nhân viên xét nghiệm trung bình làm việc khoảng 3 giờ 21 phút mỗi ngày, trong đó 2/3 thời gian dành cho việc lập báo cáo, ghi chép sổ sách và thực hiện các công việc khác.
Nhân viên Hành chánh: thời gian làm việc trung bình là 5 giờ 37 phút (2.44.45 – 8.20.50), công việc chủ yếu tương tự như giai đoạn 1
Thời gian làm việc trung bình của bác sĩ tại phòng khám là 4 giờ 33 phút, trong đó chủ yếu dành cho việc khám bệnh với 1 giờ 33 phút Đối với nhân viên điều dưỡng, thời gian làm việc trung bình tăng lên 5 giờ 40 phút, do phải kiêm nhiệm thêm các công việc hành chính và chuyển gửi mẫu xét nghiệm Trong khi đó, thời gian làm việc của nhân viên dược trong giai đoạn này là 5 giờ 08 phút, chủ yếu dành cho việc phát thuốc, sau đó là làm báo cáo và các nhiệm vụ khác.
Thời gian làm việc của tư vấn viên đã tăng lên so với giai đoạn 1, với thời gian trung bình đạt 4 giờ 43 phút, không có thời gian thấp nhất hay cao nhất được ghi nhận.
Nhân viên xét nghiệm hiện làm việc trung bình 4 giờ 46 phút 34 giây, tăng hơn 1 tiếng so với giai đoạn 1 Thời gian làm việc được chia đều cho ba loại công việc chính: phát thuốc cho bệnh nhân, làm báo cáo và ghi chép sổ sách, cùng với các công việc khác trong phòng.
Ngoài 06 vị trí chủ chốt như liệt kê ở trên còn duy trì trong cả hai giai đoạn trước và sau lồng ghép phòng khám Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy được thời gian làm việc trung bình một ngày của một nhân viên Chăm sóc tại nhà (5 giờ
Trong giai đoạn 1, Nhân viên quản lý dữ liệu đã làm việc từ 6 giờ 37 phút 52 giây, đồng thời phải đối mặt với những thách thức như kinh phí cắt giảm và việc dự án không tiếp tục được tài trợ.
Trong giai đoạn 2, hầu hết các phòng khám điều trị ngoại trú ARV tại TP.HCM không còn hai vị trí nhân sự này, dẫn đến việc điều chỉnh lương cho các vị trí còn lại.
Biểu đồ 1: Trung bình thời gian làm việc của nhân viên phòng khám điều trị ngoại trú ARV trước và sau lồng ghép
3.1.2 Thời gian làm việc của nhân viên phòng khám Methadone a.) Giai đoạn trước lồng ghép
Nhân viên hành chánh tại phòng khám Methadone làm việc trung bình 4 giờ 09 phút mỗi ngày Trong đó, 50% thời gian được sử dụng cho việc ghi chép sổ sách, làm thủ tục đăng ký điều trị và ghi phiếu liều Methadone cho bệnh nhân 25% thời gian còn lại dành cho việc tiếp xúc với bệnh nhân, trong khi 25% thời gian còn lại được sử dụng cho các công việc khác.
Bác sĩ khám bệnh: trong giai đoạn này, thời gian làm việc tại phòng khám
Methadone của bác sĩ chủ yếu là khám bệnh cho BN, và thời gian làm việc trung bình trên ngày là 3 giờ 38 phút (2.19.41 – 4.56.30)
Nhân viên dược thường làm việc trung bình 3 giờ 52 phút mỗi ngày, trong đó chủ yếu dành 2 giờ 48 phút để phát thuốc Thời gian còn lại được sử dụng cho việc làm báo cáo, ghi chép sổ sách và thực hiện các công việc khác.
Tư vấn viên: thời gian làm việc trung bình trên ngày của một tư vấn viên
Thời gian làm việc liên quan đến Methadone là 4 giờ 10 phút, trong đó 80% thời gian được dành cho tư vấn khách hàng và làm báo cáo, ghi chép sổ sách, cũng như phiếu hẹn cho bệnh nhân Phần còn lại được sử dụng cho các công việc khác.
Thời gian làm việc trung bình của nhân viên xét nghiệm trong giai đoạn 1 là 3 giờ 53 phút, trong đó công việc báo cáo và ghi chép sổ sách chiếm nhiều thời gian nhất với 2 giờ 11 phút Thời gian dành cho việc test nước tiểu và xét nghiệm máu là 1 giờ 06 phút, phần thời gian còn lại được sử dụng cho các công việc khác.
Chi phí hoạt động chương trình chăm sóc điều trị ARV và Methadone trước và sau lồng ghép
3.2.1 Mô tả tình trạng sử dụng kinh phí tại phòng khám
Trước lồng ghép Đối với phòng khám điều trị ARV
Ngân sách hoạt động của phòng khám ARV chủ yếu đến từ các nguồn tài trợ nước ngoài như PEPFAR, MdM và FHI, trong khi ngân sách nhà nước chỉ chiếm một phần nhỏ dành cho hoạt động thường xuyên Các khoản tài trợ này không chỉ hỗ trợ nhân sự và xét nghiệm mà còn bao gồm các chi phí hỗ trợ bệnh nhân khác Đặc biệt, thuốc ARV và thuốc điều trị bệnh nhiễm trùng cơ hội (OI) được mua bằng kinh phí từ các dự án do UBPC AIDS và Cục Phòng chống AIDS (VAAC) cấp, sau đó được phân phối về phòng khám dưới hình thức hiện vật.
Ngân sách cho các hoạt động của phòng khám chủ yếu do PEPFAR tài trợ, bao gồm đào tạo nâng cao năng lực, sửa chữa cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, chi phí vận hành, cũng như mua và phân phối thuốc Ngoài ra, ngân sách còn chi cho lương nhân viên và các hoạt động hỗ trợ tuân thủ điều trị, theo dõi, giám sát, và hỗ trợ kỹ thuật nhằm đảm bảo chất lượng chương trình Riêng thuốc Methadone và sinh phẩm xét nghiệm heroin được UBPC AIDS và VAAC mua bằng nguồn tài trợ dự án và cấp phát cho các phòng khám.
Hoạt động điều trị ARV và MMT được thực hiện tại một phòng khám chung với cơ sở vật chất và nhân sự chung Ngân sách cho phòng khám này được huy động từ nhiều nguồn, bao gồm ngân sách tài trợ, ngân sách nhà nước và đóng góp từ bệnh nhân Tuy nhiên, cấu trúc ngân sách đã thay đổi đáng kể sau khi lồng ghép, với sự cắt giảm từ nguồn tài trợ và gia tăng ngân sách nhà nước cùng với sự đóng góp của bệnh nhân.
3.2.2 Chi phí hoạt động của phòng khám a.) Tổng chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động của phòng khám đã giảm mạnh sau khi lồng ghép tại hai quận, cụ thể tại quận 6 giảm từ 1.992 triệu đồng xuống còn 830 triệu đồng và tại Bình Thạnh giảm từ 1.208 triệu đồng xuống còn 840 triệu đồng Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là do chính sách tài trợ của các nhà tài trợ đã thay đổi, từ việc chi nhiều cho các hoạt động hỗ trợ bệnh nhân như viện phí, sữa, dinh dưỡng và xét nghiệm, sang chỉ triển khai những hoạt động điều trị cơ bản.
Biểu đồ 7: Chi phí hoạt động của phòng khám b.) Chi phí hoạt động theo nguồn vốn
Sự thay đổi trong cơ cấu nguồn vốn của chi phí phòng khám đã thể hiện rõ qua sự điều chỉnh các nhà tài trợ và chính sách tài trợ Trước khi lồng ghép, tỷ lệ đóng góp từ các nhà tài trợ nước ngoài như CDC, MdM và FHI chiếm phần lớn, với 98% tại Quận 6 và 99,6% tại Bình Thạnh Sau khi lồng ghép, tỷ lệ này giảm đáng kể ở Quận 6 xuống còn 58%, trong khi vẫn duy trì ở mức cao 91% tại Bình Thạnh Đồng thời, ngân sách nhà nước, bao gồm CTMTQG và ngân sách TTYTDP, đã tăng mạnh ở Quận 6 từ 1,2% lên 38,4% và dần dần tăng ở Bình Thạnh từ 0% lên 5,9%.
Biểu đồ 8: Tổng chi phí hoạt động theo nguồn vốn
49 c.) Chi phí hoạt động theo cơ cấu chi phí
Cấu trúc tổng chi phí của phòng khám trước và sau lồng ghép cho thấy chi phí nhân sự chiếm tỉ trọng lớn nhất, dao động từ 46% ở Bình Thạnh trước lồng ghép đến 89% ở Quận 6 sau lồng ghép Tiếp theo là chi phí dịch vụ trực tiếp, với tỉ lệ 27% ở Quận 6 trước lồng ghép và tăng lên 30% và 48% ở Bình Thạnh trước và sau lồng ghép Trong khi đó, chi phí dịch vụ gián tiếp và chi hành chính chiếm tỉ trọng nhỏ, từ 12-13% trước lồng ghép, giảm xuống còn 4-7% sau lồng ghép.
Biểu đồ 9: Chi phí theo mục ch
3.2.3 Số người nhận dịch vụ của từng chương trình
Nghiên cứu này thu thập dữ liệu từ bệnh nhân nhận dịch vụ tại phòng khám trong hai giai đoạn nhằm đánh giá tác động của số lượng bệnh nhân đến chi phí hoạt động Do sự biến động số lượng bệnh nhân hàng tháng, nhóm nghiên cứu đã tính toán số bệnh nhân bình quân cho từng giai đoạn để so sánh chi phí hoạt động Biểu đồ 2.4 trình bày tóm tắt số lượng bệnh nhân điều trị ARV và Methadone tại Bình Thạnh và quận 6.
Trong giai đoạn 50, số lượng bệnh nhân tại phòng khám giai đoạn sau lồng ghép có sự gia tăng nhẹ so với giai đoạn trước Cụ thể, bệnh nhân ARV tại Bình Thạnh tăng từ 1.092 lên 1.162 và bệnh nhân MMT tăng từ 269 lên 304 Tại quận 6, bệnh nhân ARV cũng tăng từ 1.679 lên 1.700, trong khi số bệnh nhân MMT giữ nguyên ở mức 261.
Biểu đồ 10: Số bệnh nhân ART và MMT
3.2.4 Chi phí cố định của phòng khám trước và sau lồng ghép Đây là những chi phí không thay đổi trong khoảng thời gian ngắn cho dù số bệnh nhân được điều trị có thể thay đổi Bộ máy nhân sự được thiết kế ổn định cho từng giai đoạn Các chi phí vận hành khác (điện, nước, thông tin liên lạc, ) hầu như không chịu sự ảnh hưởng của số bệnh nhân đang điều trị tại phòng khám Đây là cơ sở để có thể so sánh được tác động của việc lồng ghép lên chi phí hoạt động Khi số bệnh nhân không giảm đi, chi phí này giảm cho thấy hiệu quả của lồng ghép lên chi phí thông qua việc tinh giảm nhân sự và sử dụng chung các tiện ích phòng khám Điều này chứng tỏ chi phí của phòng khám được tập trung hơn vào các khâu trực tiếp tạo ra lợi ích cho bệnh nhân
Biểu đồ 2.5 cho thấy rằng chi phí cố định đã giảm đáng kể sau khi LG hoạt động tại cả hai phòng kinh doanh Cụ thể, chi phí nhân sự và chi phí hành chính đều giảm so với giai đoạn trước.
Phòng khám quận 6 đã giảm chi phí cố định từ 1.460 triệu đồng xuống còn 809 triệu đồng Trong đó, chi nhân sự giảm từ 1.108 triệu đồng xuống còn 736 triệu đồng, cùng với việc giảm chi phí hành chính.
Chi phí tổng cố định tại Bình Thạnh đã giảm mạnh từ 843 triệu đồng xuống còn 434 triệu đồng Trong đó, chi phí nhân sự giảm từ 676 triệu đồng xuống 391 triệu đồng, và chi phí hành chính cũng giảm từ 167 triệu đồng xuống còn 43 triệu đồng.
Biểu đồ 11 trình bày chi phí cố định, từ đó giúp đánh giá tác động của việc lồng ghép các dịch vụ đến các chi phí này Sau khi thu thập và phân tích, các chi phí cố định được so sánh giữa hai giai đoạn để xác định những loại chi phí tương đồng Đặc biệt, những chi phí liên quan đến các hoạt động đặc thù, như chi phí cho xe đồng hành chăm sóc bệnh nhân tại cộng đồng ở quận, đã được loại bỏ khỏi phân tích.
Chi phí cố định cho các hoạt động tương tự giữa hai giai đoạn tại quận 6 và Bình Thạnh đã giảm sau khi lồng ghép, như thể hiện trong Biểu đồ 6 Cụ thể, tại Phòng khám quận 6, chi phí nhân sự giảm từ 1.010 triệu xuống còn 736 triệu, trong khi chi phí hành chính giảm từ 221 triệu xuống 73 triệu Tương tự, tại Bình Thạnh, chi phí nhân sự cũng giảm từ 676 triệu xuống 391 triệu, và chi phí hành chính giảm đáng kể.
Biểu đồ 12: Chi phí cố định sau khi loại bỏ những chi phí đặc thù
3.2.5 Chi phí trung bình trên mỗi bệnh nhân/khách hàng
Chi phí trung bình trên mỗi bệnh nhân là một chỉ số quan trọng trong việc lập kế hoạch kinh phí và định giá dịch vụ y tế Tại hai phòng khám ở quận, chỉ số này giúp so sánh chi phí giữa các giai đoạn trước và sau lồng ghép Tuy nhiên, để tính toán chi phí chính xác, cần xác định tất cả các nguồn lực và số lượng của chúng để tính tổng chi phí, bao gồm cả chi phí trực tiếp và gián tiếp Nhóm thực hiện đề tài gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu chi phí cho giai đoạn sau lồng ghép, do nhiều loại chi phí không thể được xác định Hơn nữa, nhân sự và tiện ích chung của phòng khám phục vụ cho cả hai loại hình dịch vụ, làm cho việc phân bổ chi phí cho từng chương trình ARV và MMT trở nên phức tạp và vượt quá phạm vi nghiên cứu.
Hiệu quả chương trình chăm sóc điều trị ARV và Methadone trước và sau lồng ghép 53 3.3a Hiệu quả chương trình chăm sóc điều trị ARV trước và sau lồng ghép
trước và sau lồng ghép
3.3a Hiệu quả chương trình chăm sóc điều trị ARV trước và sau lồng ghép
a.1.Chất lượng hoạt động chương trình dựa vào báo cáo tháng
Các chỉ số bao gồm BN mất dấu trước khởi trị ARV, BN chết trước khởi trị ARV,
BN đang điều trị ARV bỏ trị, BN đang điều trị ARV chết và BN đủ chuẩn mà không được điều trị ARV trong tháng
Tại thời điểm thực hiện lồng ghép, Quận 6 có 1.092 bệnh nhân đang điều trị ARV,
269 bệnh nhân đang điều trị Methadone và mỗi tháng có trên 100 khách hàng đến
VCT; Bình Thạnh có 1.679 bệnh nhân đang điều trị ARV, 261 bệnh nhân đang điều trị Methadone và mỗi tháng có trên 179 khách hàng đến VCT
Bảng 7: Kết quả chăm sóc và điều trị trước sau lồng ghép dựa vào báo cáo tháng
Trước lồng ghép Sau lồng ghép
Số biến cố/tổng bệnh nhân-năm (%)
Số biến cố/tổng bệnh nhân-năm (%) Mất dấu trước khởi trị
Mất dấu đang điều trị ARV
Chết khi đang điều trị ARV
BN đủ chuẩn nhưng không được điều trị ARV/tổng số bệnh nhân đủ chuẩn
Kết quả thu thập cho thấy các chỉ số báo cáo tháng này không có sự khác biệt trước và sau lồng ghép, ngoại trừ chỉ số bệnh nhân đủ chuẩn ARV nhưng không được điều trị ARV Cụ thể, tại Quận 6, tỷ lệ này giảm từ 76,0% xuống 52,2% (p=0,021), trong khi tại Quận Bình Thạnh, tỷ lệ giảm từ 45,5% xuống 14,5% (p