TỔ U TÀ U
Tổng quan về cây hương thảo
1.1.1 Phân loại, nguồn gốc, đặc điểm ây hương thảo thuộc ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Lamiales, họ Lamiaceae, chi Rosmarinus, loài Rosmarinus officinalis Tên khoa học của cây hương thảo là Rosmarinus officinalis L (Wilson Botanical Garden, 1981)
Cây hương thảo, có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải, Bồ Đào Nha và tây bắc Tây Ban Nha, được mô tả khoa học lần đầu tiên bởi Linnaeus vào năm 1753 Đây là một loại cây bụi thường xanh lâu năm, có chiều cao từ 1 đến 2 mét.
Cây ương thảo có thân thẳng đứng với nhiều nhánh dài, mảnh và vỏ màu tro bong tróc Lá cây đơn, mọc đối, thường xanh, dài khoảng 5 cm và rộng khoảng 0,3 cm, với mặt trên màu xanh đậm bóng và mặt dưới có lông tơ dày đặc Cây bắt đầu ra hoa vào cuối mùa đông đến mùa xuân, hoa thường có màu xanh dương, một số giống có thể có hoa màu hồng hoặc trắng ương thảo là nguồn cung cấp tinh dầu, hương liệu, gia vị và cũng là cây kiểng đẹp Cây phát triển trên đất đá, cát, ven biển, và ở những khu vực đá vôi khô cằn, không quá cao so với mặt đất.
1.1.2 iá trị và tác dụng ƣơng thảo từ lâu đã đƣợc xem là một loại cây quan trọng có tinh dầu đƣợc sử dụng trong nước hoa và dược liệu ( iberty yde ailey ortorium, 1976) cũng như là một loại gia vị và chất chống oxy hóa trong chế biến thực phẩm (Chipault và ctv,
Cây hương thảo được trồng ở nhiều quốc gia để chiết xuất tinh dầu phục vụ cho thực phẩm, nước hoa, mỹ phẩm và ngành dược phẩm Ngoài việc làm cây kiểng với hương thơm dễ chịu, hương thảo còn có tác dụng xua đuổi côn trùng và thường được tạo dáng bonsai, là món quà ý nghĩa trong các dịp lễ tết Trong y học dân gian, lá hương thảo được sử dụng trong trà tắm và giúp cải thiện lưu thông máu, nhờ vào các chất dinh dưỡng như sắt, kali, canxi và vitamin Cây hương thảo cũng được biết đến với khả năng cải thiện trí nhớ và hỗ trợ sức khỏe não bộ Vào thế kỷ XIV-XV, hương thảo được đốt trong nhà để ngăn ngừa bệnh dịch hạch, và trong Thế Chiến, nó cùng với cây bách xù được sử dụng trong bệnh viện để hạn chế lây lan nhiễm trùng.
Vai trò của ánh sáng đối với sự sinh trưởng và phát triển của thực vật
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hình thái phát triển của thực vật, với độ dài sóng, cường độ và quang kỳ là những yếu tố quyết định sự tăng trưởng Chỉ một phần nhỏ của toàn bộ phổ điện từ được thực vật sử dụng cho quá trình quang hợp, trong đó ánh sáng màu đỏ, tím và xanh là hiệu quả nhất, nằm trong phổ ánh sáng khả kiến với bước sóng cụ thể.
Ánh sáng trong khoảng từ 380 đến 750 nm có khả năng kích thích các electron, ảnh hưởng nhiều hơn bởi bước sóng so với cường độ ánh sáng (Fried, 1995) Cây cối sử dụng năng lượng bức xạ mặt trời theo hai cách khác nhau: như một nguồn năng lượng và như một nguồn thông tin Trong các yếu tố môi trường, ánh sáng đặc biệt thích hợp cho vai trò thông tin, khác với các yếu tố khác như trọng lực, nhiệt độ, nước, chất dinh dưỡng và gió.
BM20-QT.QLKH Trang 6 đề cập đến việc ánh sáng có khả năng truyền tải thông tin qua nhiều dạng khác nhau, với bốn đặc trưng chính bao gồm chất lượng, số lượng, hướng và quang kỳ.
- Chất lượng: dạng năng lượng bức xạ, màu, quang phổ, thành phần bước sóng là tất cả từ dùng diễn tả đặc trƣng này của ánh sáng
- Số lượng: số lượng năng lượng bức xạ, cường độ, số photon, tốc độ dòng định rõ đặc trƣng thứ hai này
- ướng: có sự đa dạng rất lớn giữa các môi trường sống khác nhau theo hướng chiếu sáng
- Quang kỳ: mô tả sự khác nhau đều đặn do chu kì ngày đêm và sự thay đổi độ dài ngày theo mùa (Hart, 1988)
Các đặc tính hình thái và sự phát triển của thực vật in vitro và ex vitro chịu ảnh hưởng đáng kể từ các điều kiện môi trường, bao gồm ánh sáng (chất lượng, cường độ, thời gian và hướng chiếu sáng), nhiệt độ, và thành phần môi trường (Kozai và ctv, 1992).
Ánh sáng ảnh hưởng đến thực vật thông qua các thụ quan ánh sáng chuyên biệt, với ba dạng quang hệ (photosystem) để thu năng lượng và đáp ứng tín hiệu ánh sáng Các yếu tố quang hợp, phytochrome nhận ánh sáng đỏ và đỏ xa, cùng với cryptochrome nhận ánh sáng xanh, hoạt động như nơi tiếp nhận, khuếch đại và đáp ứng tín hiệu ánh sáng Trong quá trình nảy mầm, cây con phát triển dưới ánh sáng trải qua hiện tượng quang hình thái (photomorphogenesis), trong khi cây trong bóng tối phát triển theo chương trình skotomorphogenesis, khi các gen kiểm soát sự phát triển bình thường không biểu hiện do thiếu ánh sáng Phytochrome đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích hoặc ức chế sự nảy mầm; hạt nảy mầm dưới ánh sáng đỏ (660 - 760 nm) sẽ chuyển đổi phytochrome (Pr) thành phytochrome (Pfr) để kích thích nảy mầm, trong khi ánh sáng đỏ xa (760 - 800 nm) sẽ chuyển đổi Pfr trở lại thành Pr và ức chế nảy mầm Quá trình này có thể lặp lại nhiều lần và hiệu quả nhất là lần cuối cùng Sự phát sinh quang hình thái ở thực vật được điều hòa bởi ít nhất một loại thụ quan ánh sáng (photoreceptor).
- Các phytochrome, nhạy cảm với ánh sáng đỏ và đỏ xa
- Các thụ quan nhận ánh sáng xanh
- Các thụ quan hấp thu tia cực tím – A
- Các thụ quan hấp thu tia cực tím – B
Phytochrome là một protein quan trọng trong việc kiểm soát sự nảy mầm, tăng trưởng lá và thân, phát triển plastid và nở hoa ở thực vật bậc cao Nó hấp thu ánh sáng đỏ (660 nm) và đỏ xa (730 nm), trong khi ánh sáng mà thực vật sử dụng trong quang hợp có bước sóng từ 400 - 700 nm, với đỉnh tại 660 - 680 nm Sự phát sinh hình thái do ánh sáng, như nảy mầm và kéo dài thân, diễn ra ở các bước sóng từ 400 - 500 nm (xanh lục), 600 - 700 nm (đỏ) và 700 - 800 nm (đỏ xa) Để đo cường độ ánh sáng trong nghiên cứu thực vật, người ta sử dụng dòng photon quang hợp (PPF), tính bằng àmol.m-2.s-1 Trước đây, lux là đơn vị phổ biến nhưng chỉ đo lượng ánh sáng mà mắt người cảm nhận, không phản ánh chính xác cường độ ánh sáng cần thiết cho thực vật Ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tạo rễ của mẫu cấy; ánh sáng yếu hỗ trợ sự tạo rễ, trong khi cường độ cao có thể cản trở Chất lượng ánh sáng, đặc biệt là màu đỏ cam, thường thích hợp hơn cho sự ra rễ so với màu xanh da trời.
Vai trò của nước đối với các hoạt động sinh lý của cây
Trong tế bào và mô của cây, nước chiếm khoảng 3/4 khối lượng cây, bao gồm nước tự do và nước liên kết Tỷ lệ và lượng hai dạng nước này ảnh hưởng đến trạng thái chất nguyên sinh, cường độ và chiều hướng trao đổi chất, cũng như khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu của cây.
- ƣớc quyết định sự ổn định cấu trúc của chất nguyên sinh
- ƣớc tham gia vào các phản ứng hóa sinh, các biến đổi chất trong tế bào
- ƣớc là dung môi hòa tan các chất hữu cơ và các chất khoáng
- ƣớc tạo dòng vận chuyển các chất trong tế bào và giữa các tế bào với nhau, đến các cơ quan trong toàn cơ thể
- ƣớc điều chỉnh nhiệt trong cây
- ƣớc có chức năng dự trữ trong cây
- ước tạo nên sức trương trong tế bào
- ƣớc là thành phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng tỷ lệ O 2 /CO 2 trong khí quyển
Nước đóng vai trò quan trọng trong quang hợp, không chỉ là nguồn nguyên liệu mà còn là điều kiện cần thiết cho quá trình tổng hợp các chất hữu cơ, quyết định năng suất cây trồng Thiếu nước dẫn đến sự phân hủy bộ máy quang hợp, suy thoái lục lạp và phá hủy mối liên kết giữa diệp lục và protein Khi thiếu nước, khí khổng đóng lại, hạn chế sự xâm nhập CO2 vào lá, giảm độ thủy hóa của chất nguyên sinh và làm giảm hoạt tính của enzym RDP-cacboxylaza, ảnh hưởng đến tốc độ chuyển đổi các chất trong quang hợp Điều này dẫn đến việc sản phẩm quang hợp không được vận chuyển ra khỏi lá, gây suy giảm hoạt động quang hợp Ngược lại, khi cây đủ nước, khí khổng mở ra, tạo điều kiện thuận lợi cho CO2 xâm nhập vào lá và hỗ trợ quá trình quang hợp hiệu quả hơn.
Để đảm bảo cây trồng hoạt động quang hợp hiệu quả và ngăn ngừa hạn hán, việc thiết lập chế độ tưới nước hợp lý trong sản xuất là rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hình thành cơ quan kinh tế.
Nước đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển và phân bố các chất trong cây, quyết định tốc độ và hướng di chuyển của chúng Là dung môi hòa tan, nước tạo điều kiện cho các chất được vận chuyển hiệu quả Khi cây thiếu nước, tốc độ vận chuyển các chất giảm đáng kể, và nếu tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, hiện tượng chảy ngược dòng có thể xảy ra, khiến các chất hữu cơ di chuyển từ các cơ quan dự trữ.
BM20-QT.QLKH Trang 9 đề cập đến việc trữ và tích lũy của cơ quan dinh dưỡng trong cây trồng Hậu quả của quá trình này dẫn đến sự sinh trưởng kém và giảm năng suất, thậm chí có thể không đạt được năng suất mong muốn.
Nước đóng vai trò quan trọng trong hô hấp của cây, vì nó là môi trường cho các phản ứng sinh hóa và là nguyên liệu chính trong quá trình oxy hóa Hàm lượng nước trong mô cây ảnh hưởng mạnh mẽ đến cường độ hô hấp Khi thiếu nước, hô hấp vô hiệu sẽ tăng lên, dẫn đến hiệu quả sử dụng năng lượng trong hô hấp giảm.
Nước đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng khoáng của cây, vì các chất dinh dưỡng khoáng chỉ có thể được hấp thụ dưới dạng ion hòa tan trong nước Khi cây hút nước, chúng cũng vận chuyển khoáng chất vào cơ thể Thiếu nước sẽ làm giảm khả năng hút và vận chuyển khoáng, do tốc độ thoát hơi nước bị giảm, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
Nước đóng vai trò thiết yếu trong sự sinh trưởng và phát triển của cây, ảnh hưởng đến mọi giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn giãn (thời kỳ khủng hoảng nước) Cây phát triển tốt nhất khi có đủ nước, nhưng nếu cây luôn bão hòa nước, sẽ dẫn đến việc kéo dài thời gian sinh trưởng và chậm ra hoa Ngược lại, khi cây thiếu nước, thời gian sinh trưởng sẽ rút ngắn và cây sẽ ra hoa, quả sớm hơn.
Khi cây thiếu nước, biểu hiện đầu tiên là héo rũ, và lá dần mất màu xanh do diệp lục bị phá hủy Héo, dù tạm thời hay lâu dài, đều gây hại cho cây, đặc biệt héo lâu dài có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển Vì vậy, cần xác định chế độ tưới hợp lý cho từng loại cây trồng để tránh tình trạng héo Khi phát hiện cây héo, cần tìm nguyên nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Nước đóng vai trò quan trọng trong khả năng chống chịu của cây trước các điều kiện ngoại cảnh bất thuận Khi cây bị hạn, các chức năng sinh lý và sự phát triển của cây bị ảnh hưởng tiêu cực, dẫn đến giảm sức sống và khả năng chống lại bệnh tật Hiện tượng này trở nên rõ rệt khi độ ẩm đất thay đổi đột ngột, như khi thiếu nước hoặc ngập úng.
Điều kiện đất thiếu dưỡng khí do úng hoặc bị váng chặt ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, đặc biệt là đối với các cây có rễ ăn sâu Tuy nhiên, những điều kiện này lại tạo thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của một số loại bệnh, như bệnh lở cổ rễ và bệnh cuốn lá (Vũ uang Sáng và ctv, 2010).
Tình hình nghiên cứu trên thế giới về cây hương thảo
Nghiên cứu của Singh và Ramesh (2000) tại Bangalore, Ấn Độ cho thấy độ ẩm đất và mức đạm ảnh hưởng đến năng suất dầu của cây hương thảo Độ ẩm đất ở mức 0,50 W:E làm tăng năng suất dầu đáng kể so với mức 0,25, trong khi các mức 0,75 và 1,00 không mang lại lợi ích Bón phân N ở mức 150 kg/ha đạt năng suất cao nhất, trong khi chế độ nitơ và độ ẩm không ảnh hưởng đến chất lượng dầu Hiệu quả sử dụng nước cao nhất được ghi nhận ở mức 0,25 IW:CPE và thấp nhất ở mức 1,00.
Theo nghiên cứu của Theo Westervelt (2003), cây con hương thảo R officinalis „thens lue Spire‟ được trồng trong chậu và bón phân với ba nồng độ đạm (100, 200, 300 mg/L) từ phân hòa tan trong nước 15N-2,2P-12,2K trong 12 tuần Việc tưới dung dịch phân bón được thực hiện khi giá thể có độ ẩm dưới 30% hoặc 20% Kết quả cho thấy trọng lượng khô của chồi và rễ không bị ảnh hưởng bởi thời điểm tưới, tuy nhiên, tỷ lệ tưới cao hơn dẫn đến chồi phát triển lớn hơn ở tất cả các nồng độ phân bón.
Trong thí nghiệm thứ hai, cây con hương thảo được trồng trong chậu và bón phân với các nồng độ đạm 50, 100, 150, 200 mg/L từ phân bón hòa tan 15N-2,2P-12,2K trong 2, 4, 6, 8 tuần, với ba thời điểm tưới dung dịch phân bón khi độ ẩm giá thể xuống dưới 40%, 30% hoặc 20% Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về trọng lượng khô của chồi và rễ giữa các thời gian bón phân Tuy nhiên, trọng lượng khô của rễ có sự khác biệt rõ rệt ở tuần thứ tư, với tỷ lệ tưới thấp nhất (dưới 30% độ ẩm) cho rễ lớn nhất ở tất cả các nồng độ đạm ngoại trừ 100 mg/L Đối với chồi, cũng tại tuần thứ tư, thời điểm tưới khi độ ẩm thấp nhất cho chồi lớn nhất ở tất cả các nồng độ đạm trừ 100 mg/L.
Theo nghiên cứu của Icolás và cộng sự (2008), sau 4 tháng trồng cây hương thảo trong vườn ươm, thí nghiệm được thực hiện với ba chế độ tưới từ tháng 11/2000 đến tháng 12/2001, bao gồm 167 mm (đối chứng), 83,5 mm (50% đối chứng) và 50 mm (30% đối chứng) Kết quả cho thấy các chế độ tưới tiết kiệm làm giảm chiều cao cây nhưng lại tăng số lượng chồi Đặc biệt, độ ra hoa tối đa xảy ra vào đầu mùa thu ở tất cả các chế độ tưới.
Nghiên cứu của Hassan và cộng sự (2013) về chế độ tưới tiết kiệm cho cây hương thảo trong chậu nhựa 30 cm cho thấy rằng việc tưới 100% sức chứa nước của đất (công thức 1) là đối chứng, trong khi tưới 80% và 60% sức chứa nước (công thức 2 và 3) là các phương pháp tiết kiệm nước Kết quả cho thấy, tưới tiết kiệm làm giảm đáng kể các thông số sinh trưởng của cây so với đối chứng; tuy nhiên, tỷ lệ dầu dễ bay hơi tăng, trong khi năng suất giảm và tỷ lệ carbohydrate tăng Phương pháp tưới tiết kiệm không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn có thể được áp dụng để kiểm soát sinh trưởng trong canh tác cây hương thảo.
Tình hình nghiên cứu trong nước
1.5.1 Mức độ che sáng và chế độ tưới cho cây hương thảo
Cây hương thảo là loại cây chịu hạn tốt nhưng không chịu được ngập úng và phát triển chậm Để cây phát triển khỏe mạnh, cần đảm bảo cây nhận đủ 6 - 8 giờ ánh nắng mỗi ngày.
Theo Home Garden Shop (2014), để tưới nước cho cây hương thảo hiệu quả, cần tránh để đất quá khô hoặc quá ẩm Nên tưới nước đều đặn vào buổi sáng sớm với lượng nước nhiều và tưới ít hơn vào buổi chiều mát.
Theo Vân ương (2015), cây hương thảo cần được tưới đẫm vào buổi sáng, và nếu thời tiết hanh khô, có thể tưới nhẹ thêm vào chiều để làm mát cây Cần chú ý không để nước đọng dưới đáy chậu để tránh thối rễ Trong trường hợp có mưa kéo dài, nên đưa chậu cây vào trong nhà Đặt cây ở nơi có ánh nắng vào buổi sáng sẽ giúp lá cây hương thảo xanh hơn.
1.5.2 Tình hình nghiên cứu về cây hương thảo tại Trung tâm NC&PTNNCNC
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Duy ƣu và cộng sự (2015), nồng độ NAA 3.000 ppm kết hợp với giá thể gồm 30% mụn dừa, 30% cát, 20% tro trấu và 20% vỏ trấu là tối ưu cho sự ra rễ của cành giâm hương thảo Cây hương thảo trồng trong chậu cần áp dụng chế độ tưới nhỏ giọt với giá thể có phối trộn 30% phân trùn quế và tưới bón phân đạm nồng độ 100 ppm Hiện tại, Việt Nam chỉ có một số khuyến cáo chung về mức độ che sáng và chế độ tưới cho cây hương thảo, trong khi nghiên cứu về loại cây này vẫn còn hạn chế Việc trồng và sản xuất cây hương thảo đang trong giai đoạn mới mẻ và cần được quan tâm nhiều hơn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao đang xây dựng quy trình sản xuất hương thảo trồng trong chậu với tưới nhỏ giọt, và việc nghiên cứu thêm về che sáng và chế độ tưới là cần thiết để hoàn thiện quy trình này.
1.5.3 Một số nghiên cứu về mức độ che sáng đối với một số loài rau
Vũ Thanh ải (2008) đã nghiên cứu biện pháp che sáng cho rau cần nước với các mức che 0%, 25%, 50%, và 75% cường độ ánh sáng Kết quả cho thấy rau cần nước trồng trong điều kiện che sáng có khối lượng cây/khóm lớn hơn so với không che Đặc biệt, việc che sáng 25% đã làm tăng năng suất rau cần nước lên 25,7%, đạt 16,5 tấn/ha.
Lê Duy và Nguyễn Bảo Toàn (2014) đã nghiên cứu ba khoảng thời gian chiếu sáng kết hợp với ba điều kiện che sáng cho cây xà lách xoong thủy canh, bao gồm 6 giờ chiếu sáng vào buổi sáng, 6 giờ vào buổi chiều và chiếu sáng cả ngày (12 giờ) với cường độ ánh sáng tương ứng là 12,5%, 25% và 50% so với ánh sáng tự nhiên Kết quả cho thấy cây xà lách xoong thủy canh đạt năng suất cao nhất khi nhận được năng lượng ánh sáng ở mức 8,36 mol/m²/ngày (25% ánh sáng cả ngày) và 16,75 mol/m²/ngày (50% ánh sáng cả ngày).
Phạm Hữu Hạnh và Nguyễn Uy Sơn (2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sự sinh trưởng của cây con hoàng đằng trong giai đoạn vườn ươm Nghiên cứu được thực hiện với các mức độ che sáng khác nhau là 0%, 25%, 50%, và 75% Kết quả cho thấy trong hai tháng đầu sau khi cấy, cây con phát triển tốt nhất ở mức che sáng 75%.
Trong khoảng thời gian từ 2 đến 6 tháng, cây con cần được che ánh sáng ở mức 50% Từ 6 đến 8 tháng, mức che ánh sáng giảm xuống còn 25% Sau 8 tháng, có thể loại bỏ hoàn toàn dàn che để huấn luyện cây con trước khi trồng.
Ộ DU VÀ ƯƠ Á Ê ỨU
Vật liệu nghiên cứu
- Cây giống hương thảo để lấy cành giâm: Cây giống được trồng tại Trung tâm NC&PTNNCNC, có nguồn gốc từ âm Đồng Độ tuổi của cây là 1 năm
- Chất điều hòa tăng trưởng: Naphthalene acetic acid (NAA) xuất xứ từ Đức
- Giá thể: Mụn dừa, cát, tro trấu, vỏ trấu (Việt Nam)
Hình 2.1: ác loại vật liệu làm giá thể dùng trong thí nghiệm
+ Mụn dừa trước khi sử dụng cần được xử lý sạch chất chát bằng cách bơm xả nước từ 7 - 10 ngày (khi thấy nước xả đã trong)
Tro trấu và vỏ trấu cần được ủ nóng trước khi sử dụng Để chuẩn bị giá thể, hãy đổ chúng thành đống và tưới nước cho đến khi độ ẩm đạt khoảng 60-70% Sau đó, che phủ bằng bạt và tưới nước hàng ngày Sau 15 ngày ủ, giá thể sẽ sẵn sàng để sử dụng.
+ át đƣợc đổ thành đống, dùng bạt che phủ lại
+ Tỷ lệ phối trộn giá thể: 21% mụn dừa + 21% cát + 14% tro trấu + 14% vỏ trấu + 30% phân trùn quế
- ưới che sáng màu xanh (Thái Lan): loại che 25%, 50%, 75% cường độ ánh sáng
- Chậu nhựa ỉ20 x 15 cm (Việt Nam)
- Phân hữu cơ: hân trùn quế (Việt Nam)
Các loại phân vô cơ bao gồm: 2PO4, K2SO4, Mg(NO3)2.6H2O, MgSO4.7H2O, Ca(NO3)2.4H2O, EDTA-Fe, CuSO4.5H2O, ZnSO4.7H2O, MnSO4.4H2O, H3BO3, và (NH4)6Mo7O24.2H2O Thành phần và nguồn gốc của các loại phân này được thể hiện chi tiết trong Bảng 2.1.
- Nhiệt ẩm kế tự ghi Rotronic HL-1D (Thụy Sỹ)
- Máy đo cường độ ánh sáng FLM400 (Đức)
Bảng 2.1: Thành phần và nguồn gốc các loại phân vô cơ dùng trong thí nghiệm
Loại phân Thành phần Nguồn gốc
Mg(NO 3 ) 2 6H 2 O (98%) 10% N và 9% Mg Jordan
Ca(NO 3 ) 2 4H 2 O (98%) 12% N và 17% Ca Jordan
(NH 4 ) 6 Mo 7 O 24 2H 2 O (99%) 1,2% N và 54% Mo Đức
Thời gian - địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Trung tâm NC&PTNNCNC, ấp 1, xã Phạm Văn ội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
2.4 Nội dung 1: Ảnh hưởng của mức độ che sáng đến sự sinh trưởng phát triển của cây hương thảo trồng trong chậu áp dụng chế độ tưới nhỏ giọt
2.4.1 Điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng của thí nghiệm
Nhiệt độ và độ ẩm trung bình trong thí nghiệm được theo dõi hàng ngày bằng nhiệt ẩm kế tự ghi ROTRONIC HL-1D, với tần suất ghi nhận số liệu mỗi 3 phút Kết quả được trình bày chi tiết trong Bảng 2.2.
Bảng 2.2: Nhiệt độ, ẩm độ trung bình của thí nghiệm từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016
TB Tối thấp Tối cao TB Tối thấp Tối cao
Bảng 2.2 cho thấy: Nhiệt độ thấp nhất tại tháng 8 (18,6 0 C), cao nhất tại tháng
5 (55,6 0 C); ẩm độ thấp nhất tại tháng 5 (16,7%), cao nhất (100%) tại các tháng 6, 7,
8 ƣờng độ ánh sáng trung bình (lux) của thí nghiệm: Theo dõi từ 7 - 17 giờ mỗi ngày bằng máy đo cường độ ánh sáng FLM400, cứ 1 phút ghi nhận số liệu một lần, đƣợc trình bày ở Bảng 2.3
Bảng 2.3: ƣờng độ ánh sáng trung bình của thí nghiệm từ tháng 5/2016 đến tháng
Tháng/năm ƣờng độ ánh sáng trung bình (lux)
Không che sáng (Đ ) he 25% Đ S Che 50% Đ S he 75% Đ S
Bảng 2.3 cho thấy: ƣờng độ ánh sáng trung bình trong 4 tháng tại các công thức thí nghiệm che 0, 25, 50, 75% cường độ ánh sáng lần lượt là 41.675, 31.256, 20.837, 10.418 lux
Thí nghiệm một yếu tố gồm 4 công thức đƣợc bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 5 lần lặp lại
Công thức S1: hông che sáng (Đ );
Công thức S2: he 25% cường độ ánh sáng;
Công thức S3: he 50% cường độ ánh sáng;
Công thức S4: he 75% cường độ ánh sáng
Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí với 50 cây hương thảo, tổng cộng có 1.000 cây Các cây được che bởi lưới màu xanh để điều chỉnh cường độ ánh sáng Hương thảo được trồng trong chậu nhựa kích thước 20 x 15 cm, trong điều kiện nhà màng với hệ thống tưới nhỏ giọt Giá thể trồng bao gồm 21% mụn dừa, 21% cát, 14% tro trấu, 14% vỏ trấu và 30% phân trùn quế Mật độ trồng được thiết lập với khoảng cách giữa các hàng đôi là 0,5 m, hàng đơn là 0,3 m, và khoảng cách giữa các cây là 0,4 m, tương ứng với mật độ 6.250 cây trên 1.000 m² Diện tích mỗi ô thí nghiệm được xác định rõ ràng.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
S2 S4 S2 S4 S1 ây hương thảo được tưới bón qua gốc bằng dung dịch thủy canh có nồng độ các nguyên tố nhƣ sau:
N = 100 ppm (Nguyễn oàng Duy ƣu và ctv, 2015),
P = 50 ppm, K = 300 ppm, Ca = 130 ppm, Mg = 50 ppm, Fe = 2,7 ppm, Cu 0,2 ppm, Zn = 0,4 ppm, Mn = 0,7 ppm, B = 0,7 ppm, Mo = 0,05 ppm (Trung tâm NC&PTNNCNC, 2012)
Liều lượng tưới: ây dưới 1 tháng tuổi: 100 mL/cây/ngày (4 lần/ngày), cây từ
1 - 4 tháng tuổi: 250 mL/cây/ngày (4 lần/ngày)
2.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng của cây, chọn đo ngẫu nhiên 20 cây/ô, sau đó tính trung bình, tiến hành đo 1 lần/tháng
Chiều dài lóng thân được đo bằng milimét (mm) và xác định chiều dài của lóng thân thứ 5 tính từ ngọn cây Để đảm bảo tính chính xác, cần chọn ngẫu nhiên 20 cây trong mỗi ô và tiến hành đo Sau đó, tính trung bình chiều dài lóng thân và thực hiện đo 1 lần mỗi tháng.
Để đánh giá số lượng cành cấp 1 của cây, tiến hành đếm 20 cây ngẫu nhiên trong mỗi ô và tính trung bình hàng tháng Cành cấp 1 được xác định là những cành có chiều dài từ 1 cm trở lên và có ít nhất 2 cặp lá.
Để đo đường kính tán cây, hãy chọn ngẫu nhiên 20 cây trong mỗi ô và thực hiện đo một lần mỗi tháng Cách đo được thực hiện bằng cách sử dụng thước đo đường kính tán tại 4 vị trí ngẫu nhiên trên mỗi cây Sau đó, tính trung bình của 4 số đo này để có được kết quả đường kính tán trung bình của một cây.
Để đo đường kính gốc cây, chọn ngẫu nhiên 20 cây trong ô và tính trung bình, thực hiện đo 1 lần mỗi tháng Sử dụng thước kẹp CENTURY VERNIER CALIPER 0-200 mm để đảm bảo độ chính xác trong việc đo đạc.
- Màu sắc lá: Đánh giá cảm quan 1 lần/tháng Đánh giá theo 3 mức độ: ít xanh, xanh vừa, xanh đậm
Kích thước lá (mm) bao gồm chiều dài, chiều rộng và chiều dày của lá Để đo, chọn ngẫu nhiên 20 cây trong mỗi ô và tính trung bình, thực hiện đo 1 lần mỗi tháng Kích thước lá được chọn để đo là lá thuộc cặp thứ 5 tính từ ngọn cây Việc đo kích thước lá được thực hiện bằng thước kẹp CENTURY VERNIER CALIPER 0-200 mm.
Mẫu phân tích tổng lượng tinh dầu (%) đã được gửi đến Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tỷ lệ sâu (bệnh) hại (%) (nếu có) = Số cây bị sâu (bệnh) hại / Tổng số cây trên ô thí nghiệm x 100
- Phân loại cây xuất vườn: (Phân loại cây theo Bảng 2.4)
+ Tỷ lệ cây loại I (%) = Số cây đạt tiêu chuẩn loại I / Tổng số cây trên ô thí nghiệm x 100.
+ Tỷ lệ cây loại II (%) = Số cây đạt tiêu chuẩn loại II / Tổng số cây trên ô thí nghiệm x 100.
+ Tỷ lệ cây loại III (%) = Số cây đạt tiêu chuẩn loại III / Tổng số cây trên ô thí nghiệm x 100.
Bảng 2.4: ảng tiêu chuẩn phân loại cây xuất vườn (cây 4 tháng tuổi)
Phân loại cây Chiều cao cây
(cm) Đường kính tán (cm)
Số cành cấp 1 (cành) Sâu, bệnh hại
- Hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Kết quả thí nghiệm được thu thập và tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel trên máy tính Dữ liệu sau đó được xử lý thống kê bằng phần mềm SAS 9.1.3 thông qua phân tích ANOVA và kết quả phân hạng được xác định bằng phương pháp LSD.
2.5 Nội dung 2: Ảnh hưởng của lượng dung dịch tưới đến sự sinh trưởng phát triển của cây hương thảo trồng trong chậu áp dụng chế độ tưới nhỏ giọt
2.5.1 Điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng của thí nghiệm
Kế thừa kết quả nội dung 1, cây hương thảo ở nội dung 2 được trồng trong điều kiện có lưới che 50% cường độ ánh sáng
Nhiệt độ (0°C), độ ẩm (%) và cường độ ánh sáng (lux) trung bình trong thí nghiệm được theo dõi hàng ngày Nhiệt độ và độ ẩm được ghi nhận bằng nhiệt ẩm kế tự ghi ROTRONIC HL-1D với chu kỳ 3 phút một lần, dữ liệu được trình bày trong Bảng 2.5 Cường độ ánh sáng được đo từ 7 đến 17 giờ hàng ngày bằng máy đo cường độ ánh sáng FLM400, với tần suất ghi nhận 1 phút một lần, cũng được thể hiện trong Bảng 2.5.
Bảng 2.5: Nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng trung bình của thí nghiệm từ tháng
9/2016 đến tháng 12/2016 (có dùng lưới che 50% cường độ ánh sáng)
Nhiệt độ ( 0 C) Ẩm độ (%) ƣờng độ ánh sáng
Tối cao TB Tối thấp
Tối cao TB Tối thấp
Bảng 2.5 cho thấy: Nhiệt độ thấp nhất tại tháng 12 (18,8 0 C), cao nhất tại tháng
11 (49,5 0 C); ẩm độ thấp nhất tại tháng 11 (16,9%), cao nhất (100%) tại cả 4 tháng; cường độ ánh sáng thấp nhất tại tháng 9 (53 lux), cao nhất tại tháng 9 (48.000 lux)
Ghi chép số liệu về lượng dung dịch tưới hàng ngày cho cây hương thảo là một phần quan trọng trong nghiên cứu thường xuyên năm Việc tưới đủ cho cây hương thảo sẽ giúp đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh và tối ưu hóa năng suất cây trồng.
Nghiên cứu năm 2015 về ảnh hưởng của nồng độ NAA, giá thể và phân bón đến sự ra rễ và sinh trưởng của cây hương thảo (Rosmarinus officinalis L.) tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổng hợp số liệu và tính giá trị trung bình Kết quả này là cơ sở để xác định nghiệm thức đối chứng cho lượng dung dịch tưới cây hương thảo trong thí nghiệm.
Để thực hiện, hãy kê chậu lên khay để hứng và đo lường dung dịch dư chảy xuống Tính toán lượng dung dịch cung cấp cho cây bằng cách trừ đi lượng dung dịch dư, đảm bảo có đủ dung dịch cho cây, bao gồm cả lượng đã bốc hơi Đồng thời, ghi chép nhiệt độ và độ ẩm trong khu vực nhà màng nơi tiến hành thí nghiệm.
- ượng dung dịch tưới trung bình trong 1 ngày cho cây dưới 1 tháng tuổi là
- ượng dung dịch tưới trung bình trong 1 ngày cho cây từ 1 - 4 tháng tuổi là
Trong nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Duy và cộng sự (2015), cây trồng trong chậu được tưới 4 lần mỗi ngày trên nền giá thể gồm 21% mụn dừa, 21% cát, 14% tro trấu, 14% vỏ trấu và 30% phân trùn quế, áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt.
Công thức thí nghiệm: Thí nghiệm một yếu tố gồm 4 công thức đƣợc bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 5 lần lặp lại
Công thức T2: 200 mL/cây/ngày (80% của Đ );
Công thức T3: 150 mL/cây/ngày (60% của Đ );
Công thức T4: 100 mL/cây/ngày (40% của Đ )