1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào

121 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào
Tác giả Khantaly Souksouvanh
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Minh Huế
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi giai đoạn phát triển của trẻ gắn liền với một dạng hoạt động mà các nội dung giáo dục đều được thực hiện thông qua hoạt động đó và nó tác động đến sự phát triển tất cả các mặt thể ch

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHANTHALY SOUKSOUVANH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN PECK, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHANTHALY SOUKSOUVANH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN PECK, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO

Ngành: Giáo dục học

Mã ngành: 8.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS TrầnThị Minh Huế

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Minh Huế Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả

KHANTHALY SOUKSOUVANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả sự kính trọng và tình cảm chân thành của mình, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban Giám hiệu, Bộ phận Quản lý Đào tạo Sau đại học thuộc Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN, toàn thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Tâm lý Giáo dục, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy

và tham gia quản lý tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Minh Huế giảng viên Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí Lãnh Sự quán, Bộ Giáo dục và Thể thao, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Sư phạm Khăng Khải tỉnh Xiêng Khoảng Nước CHDCND Lào; Tập thể giáo viên các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp cho tôi những thông tin, số liệu, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu Cảm

ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ để tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý và giúp đỡ của Hội đồng khoa học và Quý thầy cô, anh chị em đồng nghiệp và bạn bè

Xin trân trọng cảm ơn./

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1 Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 8

1.2 Những khái niệm công cụ 10

1.2.1 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 10

1.2.2 Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 11

1.2.3 Biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 12

1.3 Một số đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 13

1.3.1 Đặc điểm sinh học 13

1.3.2 Đặc điểm tâm lý 13

Trang 6

1.4 Một số vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi ở trường mầm non 17

1.4.1 Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo 17

1.4.2 Mục tiêu giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 19

1.4.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động vui chơi 21

1.4.4 Nội dung hoạt động vui chơi và phân loại trò chơi của trẻ 22

1.4.5 Hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 26

1.4.6 Phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 30

1.4.7 Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 32

1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi 32

1.5.1 Các yếu tố khách quan 32

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 34

Kết luận chương 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN PECK, TỈNH XIÊNG KHOẢNG 36

2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 36

2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và văn hóa của huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào 36

2.1.2 Giới thiệu về các trường mầm non được khảo sát 38

2.1.3 Mục tiêu khảo sát 41

2.1.4 Khách thể và quy mô khảo sát 42

2.1.5 Nội dung khảo sát 42

2.1.6 Phương pháp khảo sát và cách xử lý kết quả 42

2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 42

2.2.1 Nhận thức về các khái niệm 42

Trang 7

2.2.2 Đánh giá của CBQL, GV về ý nghĩa của tổ chức hoạt động vui chơi đối với sự phát triển trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng

Khoảng, nước CHDCND Lào 43

2.2.3 Nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết tổ chức các loại trò chơi cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 45

2.2.4 Đánh giá của GV về ưu thế của từng loại trò chơi trong giáo dục trẻ MG 5-6 tuổi 46

2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cho trẻ ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 47

2.3.1 Thực trạng các loại trò chơi được tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi ở các trương MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 47

2.3.2 Thực trạng cách thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 52

2.3.3 Thực trạng xây dựng và sử dụng môi trường tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng 58

2.3.4 Thực trạng thực hiện vai trò của giáo viên trong tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường mầm non 61

2.3.5 Thực trạng kết quả tham gia các loại trò chơi của trẻ trong hoạt động vui chơi ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 62

2.3.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động vui chơi 64

2.4 Những ưu điểm và hạn chế của tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN 67

2.4.1 Về nhận thức 67

2.4.2 Những hạn chế 68

Kết luận chương 2 69

Chương 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN PECK, TỈNH XIÊNG KHOẢNG 71

3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 71

Trang 8

3.1.1.Nguyên tắc mục tiêu 71

3.1.2 Nguyên tắc kế thừa 71

3.1.3 Nguyên tắc thực tiễn và khả thi 71

3.1.4 Nguyên tắc chất lượng và hiệu quả 71

3.1.5 Nguyên tắc đồng bộ 72

3.2 Một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào 72

3.2.1 Biện pháp 1: Phát triển nội dung các trò chơi cho trẻ 72

3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 74

3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 78

3.2.4 Biện pháp 4: Làm đồ dùng, đồ chơi để sử dụng trong hoạt động vui chơi cho trẻ 79

3.2.5 Biện pháp 5: Thiết kế và sử dụng môi trường tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 82

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 85

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 86

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 86

3.4.2 Nội dung, cách thức khảo nghiệm 86

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 87

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL và GV về khái niệm vui chơi, về tổ chức

hoạt động vui chơi, biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 43 Bảng 2.2 Đánh giá nhận thức về ý nghĩa tổ chức hoạt động vui chơi đối

với sự phát triển nhân các cho trẻ MG 5-6 tuổi cho trẻ MG ở các

trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 44

Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết tổ chức các loại trò chơi

cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 45 Bảng 2.4 Đánh giá của GV về ưu thế của từng loại trò chơi trong giáo dục

trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 46 Bảng 2.5 Thực trạng các loại trò chơi được tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi ở các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng 48 Bảng 2.6 Thực trạng các trò chơi được giáo viên tổ chức cho trẻ MG 5-6

tuổi ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng 50 Bảng 2.7 Thực trạng cách thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở các

thời điểm trong ngày và trong hoạt động lễ, hội 52 Bảng 2.8 Đánh giá thực trạng hình thức tổ chức hoạt động hoạt động vui

chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN huyện Peck, tỉnh

Xiêng Khoảng 57 Bảng 2.9 Thực trạng xây dựng và sử dụng môi trường tổ chức hoạt động vui

chơi cho trẻ ở các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng 59 Bảng 2.10 Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của giáo viên trong

tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 61 Bảng 2.11 Thực trạng kết quả tham gia các loại trò chơi trong hoạt động

vui chơi của trẻ 5-6 tuổi 63 Bảng 2.12 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động

vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 65 Bảng 3.1 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ cần thiết và tính khả thi của

các biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở

các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng 87

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nói đến hệ thống tri thức của một xã hội tức là nói đến sự nghiệp giáo dục của xã hội Trong xã hội Lào, sự nghiệp giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được coi là nhiệm vụ hàng đầu Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì bậc học mầm non có nhiệm vụ hết sức quan trọng Công tác giáo dục mầm non giáo dục trẻ bằng cách vui chơi để hình thành những đức tính tốt, chăm sóc sức khỏe, tập cho trẻ “chơi mà học, học mà chơi” chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông Giáo dục mầm non tốt, mở đầu cho một nền giáo dục tốt Đến nay, vị trí của bậc giáo dục mầm non ngày càng được coi trọng và xác định rõ ràng Nó là bậc giáo dục mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân Lào, khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người

Tuổi mầm non là giai đoạn diễn ra sự phát triển và mạnh trên các mặt thể chất cũng như các mặt tâm lý-xã hội của con người Để đáp ứng và thúc đẩy tốc

độ phát triển đó, giáo viên mầm non đã tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục phù hợp với lứa tuổi Mỗi giai đoạn phát triển của trẻ gắn liền với một dạng hoạt động mà các nội dung giáo dục đều được thực hiện thông qua hoạt động đó và nó tác động đến sự phát triển tất cả các mặt thể chất, tâm lý-xã hội của đứa trẻ khi giáo viên mầm non nắm vững nội dung, có phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với lứa tuổi sẽ phát huy được vai trò giáo dục và điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất

Trẻ mầm non có rất nhiều dạng hoạt động khác nhau như: Hoạt động giao tiếp, hoạt động với đồ vật, hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, hoạt động lao động,… Trong các hoạt động thì vui chơi là một hoạt động quan trọng trong đời sống của trẻ Ở trường mầm non, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được giáo viên tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này Hoạt động vui chơi của trẻ là dạng hoạt động

Trang 12

phản ánh sáng tạo, độc đáo hiện thực, tác động qua lại giữa trẻ và môi trường xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nhu cầu nhận thức của trẻ Lần đầu tiên trong hoạt động vui chơi, trẻ thực sự là một chủ thể hoạt động tích cực, trẻ trò chuyện, giao tiếp, vận dụng các ấn tượng, kinh nghiệm đã có để thực hiện ý đồ chơi, nhờ thế mà nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển Ở các trường mầm non hiện nay, việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ đã được giáo viên quan tâm thực hiện Điều đó được thể hiện ở ba phương diện:

- Tạo điều kiện về địa điểm, thời gian, đồ chơi, trang thiết bị chơi và kiến thức kinh nghiệm cho trẻ

- Trực tiếp hướng dẫn hoạt động vui chơi cho trẻ

- Quan sát đánh giá hoạt động vui chơi của trẻ

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi còn gặp rất nhiều khó khăn, do trẻ em đa phần là con em nông thôn còn nhút nhát, kỹ năng giao tiếp chưa nhiều, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, một phần do nhận thức của một bộ phận nhỏ phụ huynh nhận thức về bậc học mầm non chưa

nhiều Từ những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường Mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng

Khoảng, nước CHDCND Lào

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm

non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

ở các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động vui chơi có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo, song hiện nay, thực tiễn tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ của giáo viên ở trường Mầm non huyện Peck còn nhiều bất cập

Nếu đề xuất được các lớp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và điều kiện phát triển của nhà trường thi sẽ vào hoạt động văn hóa để phương nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của giáo viên ở các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng

Khoảng, nước CHDCND Lào

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở 05 trường mầm non tại huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

5.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu tổ chức hoạt động vui chơi và đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào Nội dung khảo sát tập trung vào chủ đề Trường mầm non, Nghề nghiệp, Giao

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, gồm: Phương pháp tổng hợp, hệ

thống hoá, phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử

Đề tài sử dụng các phương pháp để xác định các khái niệm và xây dựng khung lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường

mầm non

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm:

7.2.1 Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát thực tế, thu thập thông tin về

quá trình và kết quả tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, góp phần làm rõ thực

trạng nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng ankét: tiến hành lấy ý kiến của các đối tượng

nghiên cứu thông qua phiếu điều tra, bảng hỏi nhằm làm rõ thực trạng cần

nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp trò chuyện: tiến hành đàm thoại với các đối tượng nghiên

cứu Trên cơ sở đó tổng hợp, so sánh các dữ liệu để làm rõ thực trạng nội dung

cần nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp chuyên gia: trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung

nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khoa học và tính

khả thi của các biện pháp được đề xuất

7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm

7.3 Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng các công thức toán học để tính

toán các chỉ số định lượng trong nghiên cứu thực trạng

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu

tham khảo và Phụ lục

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo

5-6 tuổi ở trường mầm non

Chương 2 Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

ở các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

Chương 3 Biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

ở các trường mầm non huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI

CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Tổ chức hoạt động vui chơi là một biện pháp giáo dục rất hấp dẫn đối với trẻ

Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này Hầu hết họ đều khẳng định trò chơi và TCHĐVC có vai trò lớn với trẻ em và đưa ra một số cách thức áp dụng Tiêu biểu có thể kể tới nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A.Komenxki (1592-1670) Ông coi trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, thông qua trò chơi trẻ được mở rộng, làm phong phú thêm vốn hiểu biết Đó là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ, là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Tác giả I.A.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi Trong nghiên cứu của tác giả Derek Hughes về Chiến lược quản lý lớp mẫu giáo (2011), tác giả đã đưa ra một số cách hữu ích để quản lý các hoạt động vui chơi trong lớp mẫu giáo để kiểm soát hoạt động vui chơi của trẻ [24, 25] Tác giả người Mỹ - Kim Petreson (2012), qua việc khảo sát hoạt động vui chơi của trẻ nhiều nơi và qua thu thập dữ liệu từ các web, blog , ông nhận thấy hoạt động vui chơi của trẻ có thể đối mặt với những nguy hiểm, từ đó ông đi đến xuất bản công trình 50 hoạt động và trò chơi ứng phó với sự rủi ro Tác giả

đã chỉ ra những cách thức quản lý trẻ trong 50 hoạt động và trò chơi đảm bảo

sự an toàn, tránh được các rủi do trong quá trình chơi của trẻ [21, 22]

Gần đây, một số tác giả đã xây dựng một trang web với tiêu đề Quản lý các hoạt động vui chơi cho trẻ em Các tác giả đã đưa ra những lời khuyên rằng các hoạt động của trẻ em đều là những trò chơi, trẻ được mô phỏng cuộc sống của người lớn, có thể được những kinh nghiệm quý báu trước khi trẻ trở thành người lớn trong tương lai

Trang 16

Tóm lại, những nghiên cứu trên đều khẳng định HĐVC và trò chơi của trẻ mang bản chất xã hội rõ rệt, các tác giả đã chỉ ra tính phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hoạt động vui chơi của trẻ Trong HĐVC, trẻ tác động lại thế giới bên ngoài nhằm lĩnh hội những năng lực của con người chứa trong thế giới đó Trẻ luyện tập được năng lực vận động, cảm giác và những năng lực trí tuệ

Vui chơi của trẻ em là sự tự do lựa chọn một cách cá nhân những hành vi mang tính định hướng, có động lực thúc đẩy là những nhu cầu, mong muốn, khao khát bên trong Chơi có thể chỉ là vui đùa, cũng có thể rất nghiêm túc Thông qua chơi, trẻ khám phá xã hội, thế giới vật chất và biểu tượng cùng những mối quan hệ của chúng, đồng thời được trang bị những cách thức phản ứng linh hoạt đối với những thử thách trẻ gặp phải Thông qua chơi, trẻ học và phát triển như một cá nhân, vừa như một thành viên của cộng đồng [26, 27]

Tháng 12/2009, toàn Chính phủ Úc và Hội đồng Chính phủ Úc (COAG)

đã ban hành Khung Chất lượng Quốc gia về Chăm sóc và giáo dục trẻ em

“Chính phủ Úc cùng Chính phủ các Bang và vùng lãnh thổ Úc thừa nhận tầm quan trọng của việc tăng cường tập trung vào giáo dục mầm non nhằm đảm bảo phúc lợi của trẻ em đến suốt đời và nâng cao năng lực quốc gia một cách toàn diện Nỗ lực cải cách được dựa trên những luận chứng rõ ràng rằng những năm đầu đời là vô cùng quan trọng đối với sức khỏe, sự phát triển, phúc lợi của trẻ trong hiện tại và tương lai” Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về trò chơi

và TCHĐVC được dựa trên các học thuyết: Thuyết Maturational theory (Thuyết chín muồi) của Gesell; thuyết Psychoanalytic theory (Thuyết phân tâm của Freud); Thuyết Psychosocial theory (Thuyết tâm lý xã hội của Erikson); Thuyết Social play theory (Thuyết tính xã hội trong trò chơi của Parten); Thuyết Behavioural theory (Thuyết hành vi của Skinner); Thuyết Cognitive development theory (Thuyết phát triển của Piaget, Vygotsky)

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non mang tính thực tiễn và tương đối sáng tạo Đầu tiên, phải nói

Trang 17

tới những cuốn sách mang tính định hướng của Bộ và các trường đại học trong

đó, có giáo trình “Tâm lí học trẻ em”, “Giáo dục học mẫu giáo” của các trường ĐHSP: đây là hai cuốn bổ sung lí luận về tổ chức học tập và hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non được sử dụng trong đào tạo sinh viên ngành giáo dục mầm non Tiếp theo là cuốn “Hướng dẫn trẻ chơi như thế nào”, “Chương trình chăm sóc giáo dục mầm non và hướng dẫn thực hiện Chương trình đối với trẻ 5-6 tuổi” của Bộ GD &ĐT [1] Các cuốn sách đã đề ra hướng dẫn kèm trò chơi cụ thể Ngoài ra, phải kể tới các đề tài nghiên cứu về các loại trò chơi của trẻ đặc biệt là TCHT nhưng hầu hết chỉ khai thác trò chơi phục vụ dạy học theo một ý

đồ sắp đặt trước chứ chưa chú ý tới tính chủ động sáng tạo của bản thân trẻ và cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức học tập trong giờ chơi Một số hướng nghiên cứu cũng được thực hiện như: “Đổi mới tổ chức hoạt động học tập và vui chơi trong trường mẫu giáo theo hướng tiếp cận tích hợp chủ đề”,

“Sử dụng TCHT như một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi”, “Những điều kiện tâm lí của việc tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao chất lượng trí nhớ có chủ định của trẻ 5-6 tuổi” Đây là những đề tài nhằm chuẩn bị tiền đề cho việc đổi mới chăm sóc trẻ từ 3 tới 6 tuổi tuy nhiên giờ chơi vẫn chưa được đổi mới Có nhiều tác giả khác nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng trò chơi dạy học dưới các góc độ khác nhau, ví

dụ như dùng TCHT để nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số lĩnh vực như: Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng, làm quen với môi trường xung quanh , rèn các giác quan chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ Các tác giả tiêu biểu của hướng này là Phan Huỳnh Hoa, Vũ Minh Hồng, Trương Kim Oanh, Phan Kim Liên, Lê Bích Ngọc, Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi Tác giả Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Tác giả đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa của trò chơi học tập không chỉ phát triển ở các giác quan mà

Trang 18

phát triển các chức năng tâm lý chung của người học Đồng thời, các tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của trẻ thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập Gần đây trong tác phẩm “Trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã đề cập đến trò chơi trí tuệ Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em Cùng với tác phẩm này còn

có “Tuyển tập các trò chơi phát triển cho trẻ mẫu giáo” của nhóm tác giả Nguyễn Tạc, Nguyễn Trâm, Trần Hương sưu tầm, biên soạn Đây là cuốn sách tuyển chọn các trò chơi mở giúp trẻ vừa học vừa chơi Bên cạnh đó, tác giả Trần Thị Ngọc Trâm đã thiết kế một hệ thống TCHT nhằm phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TCHT song nghiên cứu về TCHĐVC trong hệ thống các loại trò chơi chưa có nhiều nghiên cứu [17, 18, 19]

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Trẻ em từ 0 đến 6 tuổi đang phát triển nhanh chóng, có vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội đất nước trong tương lai Hiểu được đặc điểm giai đoạn trẻ thơ sẽ giúp gia đình, nhà trường và xã hội nâng cao sự hiểu biết, kiến thức, kỹ năng và thái độ để từ đó đề ra được cách thức tổ chức, nội dung cũng như sử dụng phương thức, hình thức giáo dục trẻ cho phù hợp Sự phát triển của nguồn nhân lực là một chỉ số quan trọng cho sự phát triển của đất nước nên giáo dục mầm non đóng vai trò quan trọng, nó là bước đầu tiên để giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Lào

Nước CHDCND Lào là đất nước đang phát triển chưa có nhiều nhà nghiên cứu sâu về việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo song có thể nêu được một số vấn đề liên quan đến hoạt động này

Trang 19

Để giáo dục tất cả trẻ em để thông thạo và tuân theo chính sách, kế hoạch giáo dục, Bộ Giáo dục và Thể thao đã thông qua Chính sách và chương trình giáo dục như một điều kiện tiên quyết cho giáo dục mầm non

Đứa trẻ đã trải qua chương trình giáo dục mầm non trong lớp mẫu giáo

sẽ có thể nhận được điểm tốt khi đi học tiểu học và lên cấp độ tiếp theo Theo quan điểm này, Tổng cục Giáo dục của Bộ Giáo dục chịu trách nghiên cứu học tập kinh nghiệm của nước ngoài trong các hoạt động tham quan, học hỏi, từ đó xây dựng và hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc-giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi [32, 33, 34, 35]

Tác giả Sa Viên Syyavong và Kham pon Keo Phanya là giảng viên phụ trách môn giáo dục học MN hệ Trung cấp của của Trường Cao đẳng sư phạm Đông Kham Xang đã xây dựng và thực hiện đào tạo sinh viên ngành giáo dục mầm non theo giáo trình Chương trình GD mầm non (năm 2012) đối với hệ 11+1 Trong tài liệu này đề cập đến vấn đề tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo như là một nội dung và yêu cầu bắt buộc, quan trọng đối với người giáo viên công tác ở trường mầm non Nội dung giáo trình cũng khẳng định phương pháp giáo dục trẻ mầm non thông qua hoạt động trải nghiệm vừa chơi vừa học có tác dụng tăng cường thể chất, nâng cao tri thức và kỹ năng nghệ thuật, sáng tạo giúp trẻ tự tin và mạnh dạn hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ… Tài liệu cũng nói đến việc tổ chức các loại trò chơi như sau:

Trang 20

khuyến khích kỹ năng vận động cơ bản trong hoạt động vui chơi và học theo thứ tự từ dễ đến khó, cho trẻ được phát triển theo năng lực cá nhân; chuẩn bị sự sẵn sàng để trẻ học lớp 1

Tác giả SútChănThong và Bunxông phanhđi, là giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Kham Xang viết về TCHĐVC cho trẻ mẫu giáo trong giáo trình môn Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non (năm 2004) Tác giả trên đã nói đến phương pháp phát triển thể chất cho trẻ mầm non đó là chú trọng tổ chức cho trẻ tham gia các trò chơi vận động để giúp trẻ phát triển khả năng vận động, khả năng tư duy, độc lập và trải nghiệm thực thế; không nên quá bao bọc trẻ, cần cho trẻ không gian hoạt động, không gia tự sáng tạo và tự trải nghiệm,

tự bộc lộ cá tính và tác giả đã nói đến việc tổ chức các hoạt động cho trẻ ở các trường mầm non nói chung [36, 37]

Giáo trình do nhóm tác giả Pakiên LUNG SAY SA NA, Sanh ma ny SU PHAN THA LÔP, Chun la KHÊM THONG, Sa viên SY YA VAN NU SAY, Viêng kheo PHÔM MA CHẮC, Ang kham BÚT SA DY, Ma ny von AT PHASOUK biên soạn tại Học viện nghiên cứu khoa học giáo dục (năm 2017) còn

đề xuất đến kiến thức và việc hiểu biết với chương trình giáo dục, việc dạy học cho trẻ, việc theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ, việc chọn trang thiết bị dạy học và đồ chơi đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; Về việc tổ chức hoạt động ngoài trời

để giáo viên mẫu giáo 5 - 6 tuổi vận dụng vào trong việc lập kế hoạch giảng dạy, giáo án và kế hoạch theo dõi sự phát triển của trẻ em cùng với chương trình giảng dạy để phù hợp với sự phát triển và nhận thức của trẻ em 5 tuổi [38, 39]

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và các nghiên cứu tại Lào làm cơ sở lý luận quan trọng cho tôi nghiên cứu về đề tài này

1.2 Những khái niệm công cụ

1.2.1 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

Theo quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp, “chơi” là hành vi đặc trưng của trẻ nhỏ, như sự bộc lộ thiên tính của tuổi thơ và từ đó tạo nên những

Trang 21

đặc điểm riêng của thời thơ ấu Trong xã hội phương Tây, “chơi” được xem như việc tạo ra thời gian và không gian tách biệt trẻ với thế giới công việc của người lớn

Vui chơi của trẻ em là sự tự do lựa chọn một cách cá nhân những hành vi mang tính định hướng, có động lực thúc đẩy là nhu cầu, mong muốn, khao khát bên trong Chơi có thể chỉ là vui đùa, cũng có thể rất nghiêm túc Thông qua chơi, trẻ khám phá xã hội, thế giới vật chất và biểu tượng cùng mối quan hệ của chúng, đồng thời trang bị cho trẻ cách thức phản ứng linh hoạt đối với thử thách trẻ gặp phải Thông qua chơi, trẻ học và phát triển vừa như một cá nhân, vừa như một thành viên của cộng đồng

Barblett (2010) định nghĩa “chơi” là niềm vui thích, tính biểu tượng, tính tích cực, tính tự nguyện, chú trọng vào quá trình và tự tạo động lực

Thuật ngữ “chơi” có nhiều nghĩa khác nhau nhưng trong phạm trù hoạt động của trẻ thì chơi là một hoạt động mô phỏng lại cuộc sống của con người,

mô phỏng lại các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người trong xã hội

Chơi được coi là hoạt động mà động cơ nằm trong quá trình chứ không nằm trong kết quả của hoạt động (A.N Lêônchiev) Khi chơi, trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào Trong trò chơi, các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã hội được trẻ mô phỏng lại Chơi mang lại cho trẻ trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu Vui chơi cần cho con người ở mọi độ tuổi, đối với trẻ 3 đến 6 tuổi, vui chơi là hoạt động tạo nên cuộc sống của chúng

1.2.2 Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo

Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ Việt Nam thì tổ chức có nghĩa sau đây:

- Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng nhất định

Trang 22

- Làm những gì cần thiết đế tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được một hiệu quả lớn nhất

Tổ chức theo từ gốc Hy Lạp ‘Organon’ nghĩa là ‘hài hòa’, từ tổ chức nói lên một quan điểm rất tổng quát “đó là cái đem lại bản chất thích nghi với sự sống”

Theo Chester I Barnard thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay

nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức

Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich thì tổ chức là

“việc nhóm gộp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một người quản lý với quyền hạn cần thiết để giám sát nó

và là việc tạo điều kiện cho sự liên kết ngang và dọc trong cơ cấu của doanh nghiệp” Trong vấn đề này, để có thể hiểu và vận dụng vào công việc quản trị trong thực tiễn, nội dung chức năng tổ chức được xem xét bao gồm việc phân chia và hình thành các bộ phận trong tổ chức, xây dựng cơ cấu tổ chức nhằm xác lập các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ phận và những cơ sở khoa học Như vậy tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và

bố trí các công việc, sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu chung

Khái niệm tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo:

Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo là quá trình giáo viên lựa chọn, sắp xếp, vận dụng tri thức, hệ thống biện pháp, phương pháp và điều kiện hoạt động để giúp trẻ thực hiện hành động chơi, thỏa mãn nhu cầu chơi và đảm bảo thực hiện các mục đích giáo dục cho trẻ

Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường mầm non còn là quá trình giáo viên xây dựng môi trường chơi với các hình thức hoạt động đa dạng nhằm thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ

1.2.3 Biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

Biện pháp là cách làm cụ thể, cách thực hiện cụ thể một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra

Trang 23

Biện pháp tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường MN là cách làm, cách thức tổ chức, quản lý của giáo viên để nâng cao hiệu quả về tổ chức hoạt động vui chơi, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách trẻ theo mục tiêu giáo dục MN nói chung và mục tiêu đối với độ tuổi

1.3 Một số đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.3.1 Đặc điểm sinh học

Thể tạng: Trẻ trai, cân nặng từ 15,2 – 21,1kg; chiều cao từ 105,0 –

125,8cm; Trẻ gái, cân nặng từ 14,9 – 21,3kg; chiều cao từ 104,5 – 124,5cm

Hệ xương đang cốt hoá nhanh xong còn mềm và có tính chất đàn hồi

Hệ cơ: Cơ lớn phát triển mạnh nhưng cơ nhỏ chưa phát triển do đó trẻ

thích những vận động mạnh, đối với vận động nhỏ đòi hỏi tỉ mỉ thì trẻ không thích và khó khăn, cử chỉ vụng về, chưa chính xác

Hệ tuần hoàn: tim của trẻ nặng gấp 4-5 lần khi mới sinh, mạch đập có

chậm đi so với lúc mới sinh nhưng vẫn nhanh hơn so với người lớn vì thế trẻ dễ xúc động mạnh, dễ bị mệt khi tham gia các hoạt động

Não: Nặng gấp 3 lần so với lúc mới sinh, hầu hết các dây thần kinh đều

được mealin hoá… kích thước của não tăng lên, các tế bào tiếp tục phân hoá, hoạt động của hệ thần kinh phát triển mạnh do đó các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng, chức năng điều khiển của vỏ bán cầu đại não tăng lên so với trung khu dưới vỏ, vì thế trẻ có khả năng kiềm chế, tự điều chỉnh lời nói và hành vi

Hoạt động của hai hệ thống tín hiệu cũng có sự thay đổi đáng kể trong đó

hệ thống tín hiệu thứ hai đã tăng lên rõ rệt, hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn chiếm

ưu thế do đó ở tuổi mẫu giáo những kích thích trực tiếp vào giác quan dễ lôi cuốn sự tập trung chú ý, hứng thú, nhu cầu của trẻ

1.3.2 Đặc điểm tâm lý

Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây tiếp tục phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn,

Trang 24

các chức năng tâm lý được phát triển về mọi phương diện để hình thành nên cơ

sở ban đầu của nhân cách

Ngôn ngữ: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã có khả năng hiểu ý nghĩa của các từ

vựng thông dụng, phát âm gần đúng như phát âm của người lớn Trẻ đã sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung truyện kể Trẻ thường sử dụng ngữ điệu êm ái để biểu hiện tình cảm yêu thương trìu mến, ngược lại khi giận dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh Khả năng này được thể hiện khá rõ khi trẻ kể những câu chuyện mà trẻ thích cho người lớn nghe

Vốn từ của trẻ tích luỹ được khá phong phú, không chỉ về danh từ mà còn cả động từ, tính từ, liên từ… Kết thúc tuổi mẫu giáo, trẻ có khoảng 3000 đến 5000 từ, trong đó có nhiều từ khoa học Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng

mẹ đẻ đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày Ngôn ngữ của trẻ thể hiện một trình độ phát triển tương đối cao, không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy Trước đây, trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống

là chủ yếu, cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã nói cho người khác hình dung được những điều trẻ định mô tả mà không cần dựa vào tình huống cụ thể trước mắt Kiểu ngôn ngữ này là ngôn ngữ ngữ cảnh mang tính rõ ràng, khúc triết Một kiểu ngôn ngữ khác cũng phát triển ở cuối độ tuổi mẫu giáo đó là kiểu ngôn ngữ giải thích, trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn cùng tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều chuyện khác Ngôn ngữ giải thích yêu cầu phải có tính chặt chẽ và mạch lạc do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc, kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và với những người xung quanh, đặc biệt là đối với sự phát triển trí tuệ Nhìn chung, trẻ đã biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những qui luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và phương diện tu từ, diễn đạt mạch lạc, thoải mái Trẻ đã thực sự nắm được tiếng mẹ đẻ

Trang 25

Tuy nhiên trong thực tế, không phải đứa trẻ nào cũng đạt được những thành tựu về ngôn ngữ như trên Vẫn còn trẻ phát âm sai (nói ngọng, nói lắp), dùng từ sai, nói trống không… mà nguyên nhân chủ yếu là do trẻ bắt chước những người xung quanh trong một “môi trường tiếng” không chuẩn Vì vậy, trẻ mẫu giáo cần được uốn nắn kịp thời, học hỏi thêm ở trường, qua giao tiếp với người xung quanh

để sử dụng tiếng mẹ đẻ mạch lạc, thành thạo, đúng và có văn hoá

Trí nhớ: Năng lực ghi nhớ và nhớ lại của trẻ phát triển mạnh Tuy vậy, trẻ

thường ghi nhớ những gì trẻ thích thú và gây được ấn tượng mạnh mẽ rõ rệt, trí nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trẻ càng tích cực hoạt động với đồ vật bao nhiêu càng ghi nhớ tốt, sự ghi nhớ của trẻ mang tính trực quan hình tượng, những tài liệu trực quan trẻ được ghi nhớ tốt hơn so với tài liệu ghi bằng ngôn ngữ Trẻ mẫu giáo ghi nhớ những kiến thức trẻ hiểu thì tốt hơn ghi nhớ máy móc, tuy nhiên ghi nhớ máy móc chiếm vai trò quan trọng Trí nhớ khái quát dựa vào dấu hiệu bên ngoài của sự vật và ghi nhớ có chủ định bắt đầu được hình thành và được tăng tiến rõ rệt có vai trò quan trọng để trẻ kiên trì theo đuổi mục đích hoạt động

Tư duy: Ở tuổi mẫu giáo, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh và

chiếm ưu thế đã trẻ giúp giải quyết được bài toán thực tiễn thường gặp trong cuộc sống Đây được xem là một bước ngoặt cơ bản, đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong theo cơ chế nhập tâm dựa vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng trong cuộc sống Do nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh nên bên cạnh sự phát triển tư duy trực quan hình tượng vẫn mạnh mẽ như trước đây còn xuất hiện thêm một kiểu tư duy trực quan hình tượng mới phù hợp với khả năng và nhu cầu phát triển của trẻ, đó là kiểu tư duy trực quan sơ đồ Kiểu tư duy này giúp trẻ lĩnh hội tri thức ở trình độ khái quát cao từ đó hiểu được bản chất của sự vật

Sự phát triển tư duy làm cho trẻ đạt tới trình độ tư duy ở bình diện bên trong, giúp trẻ nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng, đây gọi là giai đoạn chuyển từ tư duy hình tượng lên một kiểu tư duy mới khác về chất là tư

Trang 26

duy lôgic Tư duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn trẻ đến ngưỡng của tư duy trừu tượng giúp trẻ hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát mà sau này sự hình thành khái niệm sẽ được tiến hành dựa trên đó

Những đặc điểm trên đã tạo điều kiện thuận lợi để trẻ cảm thụ tốt những hình tượng đẹp được xây dựng nên trong các tác phẩm nghệ thuật Đồng thời, chúng cũng tạo ra những tiền đề cần thiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của tư duy trừu tượng ở trẻ

Tưởng tượng: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có trí tưởng tượng rất phong phú,

chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong, trí tưởng tượng có thể dựa vào những biểu tượng không giống nhau, thậm chí khác hẳn nhau để thay thế Sự biến đổi hiện thực trong trí tưởng tượng của trẻ không chỉ diễn ra bằng cách kết hợp các biểu tượng mà còn diễn ra bằng cách gán cho các đối tượng những thuộc tính mà chúng không có [10]

Tưởng tượng của trẻ 5 đến 6 tuổi phần lớn là không chủ định, những hình ảnh tưởng tượng trong sáng, tràn đầy xúc cảm Đến cuối độ tuổi, tưởng tượng

có chủ định mới được hình thành, đặc biệt là trong các hoạt động mang tính sáng tạo như vẽ, nặn, lắp ghép xây dựng… trẻ có khả năng hành động theo mục đích đã

tự đặt ra từ trước Song do vốn kinh nghiệm, vốn ngôn ngữ còn hạn chế nên tưởng tượng của trẻ mang tính chất tái tạo, thụ động

Tình cảm: nhờ việc mở rộng quan hệ xã hội, hiểu biết, khám phá được thế

giới xung quanh mà đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo có một bước chuyển biến mạnh mẽ, phong phú và sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước Trẻ mẫu giáo rất nhạy cảm trước hiện thực, xúc cảm của trẻ nảy sinh nhanh chóng nhưng chưa

ổn định và bền vững Tình cảm của trẻ bộc lộ rất chân thực, hồn nhiên, phát triển theo xu hướng ngày càng ổn định phong phú và sâu sắc Ở lứa tuổi này, các loại tình cảm cấp cao như tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm nghĩa vụ cũng đang được hình thành và phát triển

Tự ý thức: Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác

đã được hình thành ở cuối tuổi nhà trẻ Cuối tuổi mẫu giáo trẻ đã hiểu được về bản thân mình với những phẩm chất và khả năng, thái độ ứng xử của những

Trang 27

người xung quanh đối xử với trẻ và nguyên nhân tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác…Tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong việc trẻ tự đánh giá sự thành công hay thất bại, đánh giá về những ưu điểm hay khuyết điểm, về

khả năng và sự bất lực của mình

Trẻ mẫu giáo thường lĩnh hội chuẩn mực và quy tắc hành vi như là thước

đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân nhưng do tình cảm còn chi phối mạnh nên không cho phép trẻ dùng thước đo ấy để đánh giá một cách khách quan Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn và cũng là

cơ sở để trẻ noi gương người tốt, việc tốt

Tự ý thức của trẻ mẫu giáo được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính

Tự ý thức của trẻ mẫu giáo được xác định rõ ràng, giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của bản thân cho phù hợp với chuẩn mực, qui tắc xã hội, từ đó

mà hành vi của trẻ mang tính xã hội; tính chủ thể trong nhân cách đậm nét hơn trước giúp trẻ thực hiện các hành động một cách chủ tâm hơn, các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt, trẻ đã biết đặt mục đích và lập kế hoạch hành động Nhờ đó, khả năng tự điều khiển và điều chỉnh hành vi của trẻ bởi một mục đích đã được ý thức bắt đầu được hình thành ở cuối độ tuổi - là cơ sở và điều kiện tất yếu

để trẻ tham gia vào hoạt động học tập ở trường phổ thông

1.4 Một số vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.4.1 Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo

Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Vui chơi chiếm phần lớn thời gian hoạt động trong ngày của trẻ Vui chơi chi phối các hoạt động khác của trẻ ở lứa tuổi này Vì vậy nó có ý nghĩa quan trọng đối với

sự phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo

Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển thể chất cho trẻ: Việc tổ

chức trò chơi vận động, trò chơi dân gian trong và ngoài lớp học với sự huy

Trang 28

động, phối hợp của các quá trình sinh học, hệ vận động giúp trẻ tăng cường sức khỏe, bảo đảm sự tăng trưởng hài hoà, cân đối; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cơ bản và những phẩm chất vận động

Vui chơi là phương tiện để phát triển não bộ và giáo dục trí tuệ cho trẻ:

Vui chơi giúp định hình cấu trúc phát triển của não bộ: Cảm giác gắn bó an toàn và sự kích thích là những phương diện quan trọng trong sự phát triển não bộ; Vui chơi tạo ra sự khám phá tích cực giúp hình thành và củng cố sự vận hành của não bộ; Vui chơi giúp cho bộ não gia tăng “sự linh hoạt và các tiềm năng

quan trọng cho sự học về sau” (Lester & Russell, 2008, p.9) Trò chơi cho phép

trẻ được khám phá, nhận biết, thỏa thuận, dấn thân và tạo lập ý nghĩa; trẻ càng được tham gia vào những trải nghiệm vui chơi có chất lượng sẽ càng phát triển mạnh kĩ năng ghi nhớ, ngôn ngữ, biết điều chỉnh hành vi, từ đó nâng cao sự thích

ứng với trường lớp và học thuật (Bodrova & Leong 2005) Tổ chức trò chơi học

tập, trò chơi đóng vai theo chủ đề, lắp ghép xây dựng giúp trẻ củng cố, chính xác hóa, làm phong phú vốn hiểu biết về cuộc sống xung quanh và về bản thân; phát triển nhu cầu, xúc cảm trí tuệ và hứng thú nhận thức; ngôn ngữ

Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển quan hệ xã hội, tình cảm đạo đức cho trẻ: Trò chơi không tồn tại vô định mà phải diễn ra trong một

không gian vật chất hay không gian xã hội Một trong những lợi ích lớn nhất của vui chơi đó là hỗ trợ sự phát triển các năng lực xã hội Trẻ có thể thiết lập các mối quan hệ, học cách giải quyết mâu thuẫn, đàm phán và điều chỉnh hành

vi Trong trò chơi, trẻ được gia tăng cảm giác thành công và lạc quan khi được hành động với khả năng và lựa chọn của mình Trò chơi cũng là một cách giảm căng thẳng, có liên quan đến trạng thái tinh thần của trẻ Tâm thế học tập, như:

Tò mò, ham hiểu biết, cởi mở, lạc quan, tập trung, sáng tạo cũng được hình thành và phát triển Vui chơi có mối quan hệ với sự phát triển tính bền bỉ, kiên cường và hình thành sự đồng cảm khi trẻ bắt đầu quan điểm của người khác

Chơi tạo điều kiện hướng trẻ đến với cái đẹp trong hành vi giao tiếp, ứng

xử, từ đó, trẻ dễ tiếp nhận các quy tắc đạo đức và thực hiện nó một cách tự

Trang 29

giác; qua hoạt động vui chơi, một số phẩm chất đạo đức cần thiết của con người trong hoạt động tập thể cũng được hình thành: thông cảm, chia sẻ, hòa nhập, đoàn kết, nhân ái, dũng cảm

Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển thẩm mỹ cho trẻ: Tạo điều

kiện để trẻ cảm nhận cái đẹp trong tự nhiên, nghệ thuật và cuộc sống Trong hoạt động vui chơi, trẻ có điều kiện để đến với cái đẹp, thể hiện năng lực sáng tạo cái đẹp

Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển lao động cho trẻ: Hình

thành cho trẻ nhận thức về lao động của người lớn; hình thành những phẩm chất của người lao động như biết tôn trọng, yêu quý người lao động, giữ gìn sản phẩm lao động; giáo dục trẻ biết sử dụng, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu lao động; giáo dục một số kĩ năng lao động giản đơn: Lao động

tự phục vụ, lao động thủ công, lao động trực nhật và lao động tập thể

1.4.2 Mục tiêu giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi

Tổ chức hoạt động vui chơi giúp trẻ phát triển nhân cách theo mục tiêu của giáo dục mầm non Cụ thể:

a Mục tiêu chung của độ tuổi: Giáo dục giúp trẻ em từ 5 đến 6 tuổi phát triển

hài hòa về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, đạo đức, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học

b Mục tiêu của các lĩnh vực giáo dục phát triển

Phát triển thể chất:

- Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi;

- Thực hiện được các vận động cơ bản vững vàng, đúng tư thế;

- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian;

- Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay;

- Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống đối với sức khoẻ;

Trang 30

- Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm bảo sự an toàn của bản thân

Phát triển nhận thức:

- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh;

- Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ định;

- Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau;

- Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (bằng hành động, hình ảnh, lời nói ) với ngôn ngữ nói là chủ yếu;

- Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh

và một số khái niệm sơ đẳng về toán

Phát triển ngôn ngữ:

- Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày;

- Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…);

- Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hàng ngày;

- Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện;

- Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi;

- Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết

Phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội:

- Có ý thức về bản thân;

- Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh;

- Có một số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực;

- Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ;

- Thực hiện một số qui tắc, qui định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi

Trang 31

- Yêu thích, hào hứng tham gia các hoạt động nghệ thuật

1.4.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động vui chơi

- Đảm bảo tính mục đích giáo dục: Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường mầm non nhằm mục đích giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt

- Đảm bảo tính phát triển: đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng của từng trẻ; Tích hợp các nội dung phát triển; Khai thác kinh nghiệm thực tế của trẻ, tận dụng môi trường sẵn có và tạo điều kiện cho trẻ thực hành được càng nhiều càng tốt và phát triển tối đa các tiềm năng

- Đảm bảo tính tự nguyện của trẻ: Nguyên tắc này được thể hiện các hoạt động được lựa chọn trong mỗi trò chơi luôn phải được tổ chức theo trình tự hợp

lý vừa phản ánh được mỗi quan hệ bản chất giữa các hoạt động chơi lại thể hiện được tính thống nhất về quan điểm, về mục đích của việc GD trẻ Với mỗi trò chơi luôn là sự kế thừa tiếp nối có mở rộng nâng cao các trí thức đã có ở trẻ, tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ có sự chuẩn bị những kiến thức cho những trò chơi mới; Trẻ được tự lựa chọn trò chơi và bạn chơi…

- Đảm bảo tính an toàn: Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ phải đảm bảo

an toàn tuyệt đối về thể chất, đáp ứng nhu cầu vui chơi và phù hợp với mục đích giáo dục; Tuân thủ nghiêm túc các quy định trong trường mầm non

- Đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo: Tiến hành hoạt động đa dạng như thí nghiệm, tham quan, hội thoại, trình bày ý kiến, hát Bố trí cho trẻ được làm việc theo cá nhân, nhóm nhỏ và nhóm lớn; Cân đối, hài hòa các hoạt động trong lớp và ngoài trời, tĩnh và động, hoạt động do trẻ khởi xướng và hoạt động

do giáo viên khởi xướng; Linh hoạt theo hình thức địa phương (truyền thống văn hoá, tôn giáo)

Trang 32

1.4.4 Nội dung hoạt động vui chơi và phân loại trò chơi của trẻ

1.4.4.1 Nội dung hoạt động vui chơi của trẻ

Nội dung hoạt động vui chơi của trẻ chính là sự phản ảnh thế giới xung quanh vào trong các trò chơi Trẻ mô phỏng lại các hoạt động của con người vào trò chơi bằng trí tưởng tượng sáng tạo và hồn nhiên Các trò chơi mô phỏng, tái hiện xoay quanh chủ đề gắn với các mối quan hệ xã hội, trò chơi đóng vai theo chủ đề, đóng kịch, làm ca sĩ… Trẻ chơi với thế giới tự nhiên như: chăm sóc cây hoa, giữ gìn mỗi trường, gieo hạt,… chăm sóc các con vật nuôi và khám phá, tìm hiểu môi trường động vật, thực vật…

1.4.4.2 Các loại trò chơi của trẻ

Có rất nhiều cách phân loại trò chơi Xét theo chủ đề, có thể phân loại trò chơi như sau: Trò chơi đóng vai theo chủ đề và trò chơi không có chủ đề Nếu chia theo tính chất sử dụng đồ dùng học tập ta có thể chia thành: trò chơi với đồ vật, trò chơi với tranh ảnh và trò chơi dùng lời Nếu phân loại theo luật chơi, ta có: trò chơi đố đoán, trò chơi giấu - tìm, trò chơi giao nhiệm vụ như sắp xếp lắp đặt đồ vật theo luật và các trò chơi sáng tạo Phân theo nhiệm vụ nhận thức, ta

có trò chơi phát triển giác quan, trò chơi phát triển ngôn ngữ, trò chơi hình thành biểu tượng sơ đẳng, trò chơi gắn với thiên nhiên, trò chơi phát triển trí nhớ, tuy nhiên, căn cứ vào các quá trình tâm lý được huy động để giải quyết nhiệm vụ chơi có thể phân loại trò chơi như sau:

- Trò chơi đóng vai theo chủ đề:

Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng của cuộc sống trong xã hội bằng việc nhập vai (đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ

Được gọi là trò chơi ĐVTCĐ trước hết là vì hành động chơi của người

tham gia trò chơi này bao giờ cũng xoay quanh một chủ đề nhất định Đó là

một mảng cuộc sống được phản ánh vào trò chơi dựa trên biểu tượng sinh động của chính trẻ em về cuộc sống đang diễn ra hàng ngày như sinh hoạt gia đình,

Trang 33

trường học,… Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì chủ đề chơi càng phong phú bấy nhiêu và trẻ càng lớn thì chủ đề chơi càng trở nên sâu rộng hơn

Trò chơi ĐVTCĐ bao giờ cũng có vai chơi và hành động chơi Trẻ đóng vai, tức là ướm mình vào vị trí của một người nào đó rồi bắt chước hành động của họ để thực hiện các chức năng xã hội Trò chơi ĐVTCĐ không phải là trò chơi từng người riêng lẻ, chơi một mình mà là chơi theo nhóm; Trong trò chơi, các mối quan hệ được bộc lộ rõ rệt, sức sống của trò chơi là tạo ra mối quan hệ giữa các vai Thông qua các vai chơi trẻ hiểu được các qui tắc xã hội, đối xử đúng mực với mọi người; giúp trẻ hiểu và thực hiện những qui tắc của cuộc sống xã hội như mua hàng phải trả tiền, có khách vào nhà thì phải chào hỏi,… Khi trẻ tự nguyện thực hiện các chuẩn mực của đời sống xã hội bằng việc nhập vai, trẻ chuyển dần những chuẩn mực đó vào bên trong đời sống tâm lý của mình thì sẽ dần dần tạo ra một nhân cách của xã hội có phẩm chất nhất định; Trò chơi ĐVTCĐ mang tính biểu trưng cao và là trò chơi chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động vui chơi, chi phối các dạng trò chơi khác cùng tồn tại trong giai đoạn này, làm cho chúng mang dáng dấp của trò chơi ĐVTCĐ

- Trò chơi ghép hình lắp xây dựng:

Trò chơi ghép hình lắp xây dựng là loại trò chơi biểu hiện khả năng tạo hình của trẻ, từ những khối gỗ, khối nhựa, hộp giấy…với những hình dạng kích thước khác nhau, trẻ có thể lắp ghép xây dựng nên những công trình như: công viên, trường học hoặc từ những vật liệu thiên nhiên như vỏ sò, hến, ốc, đá, sỏi trẻ xây nên những vườn trường, vườn cây Trong những công trình đó, sáng kiến của trẻ được bộc lộ rõ nét, tùy theo hoàn cảnh sống, vốn sống và khả năng tưởng tượng, mỗi trẻ đều có những khả năng riêng biệt và được biểu hiện trong các công trình của mình Qua trò chơi trẻ thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về đặc điểm, tính chất của thế giới đặc biệt là thế giới đồ vật xung quanh trẻ; rèn luyện khả năng lắp ghép xây dựng, đồng thời phát triển trí tưởng tượng, ý thức tình cảm, tính tò mò, tính ham hiểu biết và đó cũng là những phẩm chất cần thiết của con người

Trang 34

dễ dàng hơn khi chơi, nội dung chơi có sẵn, quan hệ giữa các nhân vật trong trò chơi đã được định trước và xác định những hình động của nhân vật trong khi chơi Mặt khác, điều quan trọng trong trò chơi này là các nhân vật phải được miêu tả, phản ánh y hệt như chúng vốn có những trong tác phẩm cùng với tất cả những nét đặc trưng của họ trong hành vi, trong lời nói Trò chơi đóng kịch là trò chơi trong đó trẻ chỉ biểu diễn những chủ đề có sẵn trên cơ sở những tác phẩm văn học (truyện cổ tích, truyện thần thoại, ngụ ngôn những hoàn cảnh, những câu chuyện ngắn) Nội dung chơi và hành vi chơi, lời nói của nhân vật được xác định trước, dựa theo cốt truyện có sẵn Trò chơi đóng kịch mang tính chất sáng tạo nó gần với hoạt động nghệ thuật cụ thể là kịch nói, ngoài ra đóng kịch còn gần giống nội dung đóng vai theo chủ đề, trẻ 5-6 tuổi có những đặc điểm phát triển hơn lứa tuổi trước nên kịch bản cho lứa tuổi này dài hơn, ngôn ngữ trong kịch phong phú giàu hình ảnh, mang nhiều sắc thái hơn; hành động, tính cách nhân vật đa dạng, kịch tính để trẻ có thể tạo diễn xuất theo tính cách của các nhân vật, số lượng nhân vật tham gia một vở kịch có nhiều hơn

Trò chơi đóng kịch giúp trẻ phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, phát huy khả năng ghi nhớ chủ đích và khả năng tưởng tượng của trẻ

- Trò chơi vận động:

Trò chơi vận động là loại trò chơi trong đó trẻ giải quyết nhiệm vụ vận động như một nhiệm vụ thực hành dưới hình thức vui chơi, qua đó giúp trẻ phát triển thể chất

Trò chơi vận động là loại trò chơi sử dụng toàn bộ cơ bắp và toàn bộ cơ thể; phát triển cả vận động thô và tinh, sự kiểm soát các cơ và kỹ năng phối hợp;

Trang 35

Thường phù hợp với không gian bên ngoài hơn trong phòng học; Trẻ có thể thực hiện chuỗi động tác và phối hợp nhịp nhàng theo nhóm đông

Cấu trúc của trò chơi vận động, gồm: Nội dung chơi (nhiệm vụ vận động), hành động vận động và luật chơi

- Trò chơi dân gian:

Là một dạng của trò chơi vận động, trò chơi dân gian là những trò chơi được lưu truyền trong dân gian và tổ chức cho trẻ chơi qua đó nhằm phát triển thể chất cho trẻ; Là những trò chơi mang đậm bản sắc văn hoá dân gian; Phần lớn là những trò chơi có lời đồng dao, trẻ vừa hát vừa chơi; Cấu trúc trò chơi, gồm: Nội dung chơi (nhiệm vụ chơi), hành động chơi và luật chơi Đặc điểm cơ bản của dạng trò chơi này là các luật chơi phần lớn mang tính ước lệ, tạm thời Trong quá trình chơi, tùy theo trình độ, vốn kinh nghiệm của trẻ, mức độ của từng trò chơi, giáo viên có thể thay đổi luật chơi cho phù hợp, hấp dẫn

Là phương tiện giáo dục và phát triển thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ cho trẻ

- Trò chơi học tập:

Trò chơi học tập là loại trò chơi do người lớn nghĩ ra, có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, kết hợp trò chơi với các yếu tố dạy học Cấu trúc, gồm: Nội dung chơi (là nhiệm vụ học tập, có tính chất như một bài toán mà trẻ phải giải dựa trên những điều kiện đã cho); Hành động chơi (hành động trẻ thể hiện trong khi chơi, hành động chơi của trẻ mẫu giáo 5 đến 6 tuổi phải có sự liên hệ lẫn nhau giữa hành động của các trẻ trong nhóm chơi, có tính liên tục và tính tuần tự); Luật chơi có ý nghĩa quan trọng trong xác định tính chất của trò chơi, phương pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành động cùng các mối quan

hệ giữa các trẻ trong khi chơi; Luật chơi của trò chơi học tập là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi của trẻ là đúng hay sai; luật chơi cho phép mọi trẻ đều được đóng các vai như nhau, có vị trí như nhau; là tiêu chuẩn khách quan để đánh giá khả năng của mọi trẻ) Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định,

đó là lúc kết thúc trò chơi, trẻ hoàn thành một nhiệm vụ nhận thức nào đó (đoán được câu đố, nói đúng tên và công dụng của một đồ vật, tìm ra và xếp đúng

Trang 36

tranh, ) Kết quả trò chơi có tác dụng kích thích trẻ tham gia tích cực ở các trò chơi tiếp theo Kết quả trò chơi luôn là chỉ tiêu về mức độ thành công hoặc sự lĩnh hội những tri thức của trẻ

1.4.5 Hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ

Các nội dung chơi và các dạng trò chơi được trẻ phản ánh thông qua hoạt động vui chơi theo các chủ đề giáo dục ở trường mầm non, gồm có: Trẻ tự chơi theo các chủ đề giáo viên định trước trong hoạt động ở các góc, trong hoạt động học, trong hoạt động ngoài trời… Ngoài ra, chơi theo chủ đề còn có hoạt

động chơi dưới dạng các sự kiện, ngày lễ hội…

1.4.5.1 Tổ chức hoạt động vui chơi trong giờ đón trẻ

- Thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ giúp trẻ có tâm trạng vui vẻ, phấn khởi, hứng thú, tính tích cực để bước vào 1 ngày mới

- Quản lý đảm bảo sự an toàn ổn định trẻ

- Chọn những trò chơi nhẹ nhàng mà trẻ biết vì trong thời điểm này giáo viên vừa đón trẻ, vừa tổ chức cho trẻ chơi nên không có điều kiện tổ chức cho trẻ những trò chơi mới

- Chọn những trò chơi không phải chuẩn bị nhiều đồ chơi, không yêu cầu vận động nhiều vì trẻ mới ăn sáng Ví dụ: Trò chơi ghép hình…

- Cách thức tiến hành: Giáo viên vừa đón trẻ, vừa gợi ý các đồ chơi, trò chơi trẻ thích để trẻ chơi

- Bày sẵn một số đồ chơi ở các góc để thu hút hứng thú chơi của trẻ; giáo viên hình thành cho trẻ thói quen xây dựng môi trường hoạt động chơi (chia không gian, lấy đồ dùng, đồ chơi theo ý thích, chọn bạn chơi, tự chơi cá nhân hiệu quả hoặc chơi phối hợp nhóm tích cực)

- Vừa đón trẻ mới đến vừa bao quát trẻ đến trước chơi, động viên và khen ngợi kịp thời khi trẻ có biểu hiện tốt như: Thực hiện đúng hành động với đồ chơi, có

kĩ năng chơi cùng bạn, nhường đồ chơi cho bạn, chơi sáng tạo

- Hướng dẫn trẻ kết thúc chơi trước 5 phút để chuyển sang nội dung hoạt động điểm danh, báo ăn, thể dục sáng

Trang 37

Rèn luyện cho trẻ thói quen lấy và cất đồ chơi theo đúng nơi quy định, hình thành cho trẻ thói quen xây dựng môi trường hoạt động chơi (chia không gian, lấy đồ dùng, đồ chơi theo ý thích, chọn bạn chơi, tự chơi cá nhân hiệu quả hoặc chơi phối hợp nhóm tích cực)

1.4.5.2 Tổ chức hoạt động vui chơi trong hoạt động học

+ Những trò chơi có nội dung là nội dung củng cố, phát triển của nội dung trọng tâm (Ví dụ: Sử dụng trò chơi học tập - gắn lôtô hình/dạng hình/quả

để củng cố biểu tượng về số, phép đếm, dạng hình trong nội dung hoạt động học hình thành biểu tượng toán);

+ Những trò chơi có nội dung tích hợp các nội dung thuộc lĩnh vực giáo dục phát triển khác (Ví dụ: Sử dụng trò chơi âm nhạc, trò chơi vận động trong hoạt động học có nội dung trọng tâm là hình thành biểu tượng toán)

-Hình thức tiến hành

+ Chọn trò chơi: Phù hợp với mục tiêu giáo dục, đặc điểm của trẻ, đặc điểm hoạt động học; chủ đề Nếu hoạt động học có nội dung tĩnh nên chọn trò chơi động và ngược lại;

+ Thiết kế giáo án có sử dụng trò chơi chi tiết; xác định rõ mục tiêu giáo dục của tổ chức trò chơi; chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, cách thức hướng dẫn trẻ chơi, thời điểm tổ chức (trong hoạt động tạo hứng thú hoặc hoạt động củng cố sau hoạt động trọng tâm hoặc hoạt động kết thúc); không gian và những điều kiện khác;

+ Tổ chức trò chơi: Thông báo rõ tên, cách chơi, luật chơi (nếu có); tổ chức cho trẻ chơi tích cực, chủ động; giáo viên bao quát, hướng dẫn trẻ chơi đúng, những trò chơi có luật cần giám sát chặt chẽ việc thực hiện luật chơi ở trẻ, có thể tổ chức cho trẻ khác làm trọng tài; tạo yếu tố thi đua và hứng thú, vui

vẻ trong quá trình chơi Dừng chơi đúng thời điểm (khi trẻ còn hứng thú, chưa mệt mỏi, phù hợp khung thời gian);

+ Kết thúc trò chơi: Cho trẻ nhận xét, thể hiện quan điểm, cảm xúc và đánh giá kết quả theo hình thức cá nhân hoặc nhóm Gắn nội dung giáo dục của hoạt động học vào nội dung trò chơi một cách tự nhiên để giáo dục trẻ

Trang 38

Lưu ý: Trò chơi phải đảm bảo thực hiện hoặc góp phần thực hiện tốt hơn nội dung trọng tâm của hoạt động học; đảm bảo tính vừa sức đối với trẻ; thể hiện nhiều dạng, nhiều hình thức; an toàn

1.4.5.3 Tổ chức hoạt động vui chơi ở các góc

- Góc phân vai: Chơi các trò chơi đóng vai các nhân vật trong xã hội

- Góc lắp ghép, xây dựng: Chơi các trò chơi lắp ghép, xây dựng phù hợp chủ đề và sở thích, nhu cầu của trẻ

- Góc học tập, sách truyện: Chơi trò chơi làm album; kể truyện theo tranh, giải câu đố;

- Góc nghệ thuật: Chơi trò chơi biểu diễn văn nghệ, trò chơi đóng kịch

- Góc thiên nhiên, khoa học: Chơi trò chơi chăm sóc con vật nuôi, cây trồng; thực hiện thí nghiệm-thử nghiệm đơn giản

- Góc dân gian: Chơi các trò chơi dân gian

Khi tổ chức cho trẻ chơi theo chủ đề, giáo viên hướng dẫn trẻ chơi ở các góc theo lô gic:

+ GV giới thiệu các góc chơi;

+ GV hướng dẫn trẻ chọn góc chơi, phân công các nhóm chơi theo sự lựa chọn của trẻ, phân chia số lượng trẻ chơi cho phù hợp;

+ Nhanh chóng ổn định các nhóm chơi, GV giới thiệu các góc chơi, nội dung chơi, lưu ý cần đàm thoại với trẻ về vai chơi, ý đồ chơi của trẻ (đặt biệt những trò chơi có yếu tố kiến thức, kĩ năng mới);

+ GV cho trẻ về các góc chơi, quan sát trẻ đến hết giờ chơi, xử lí các tình huống xảy ra trong khi chơi, giáo dục trẻ nề nếp khi chơi, đặc biệt hướng dẫn trẻ chơi phù hợp theo độ tuổi;

+ Nhận xét về buổi chơi

1.4.5.4 Tổ chức hoạt động chơi ngoài trời

- Tổ chức hoạt động quan sát theo nhu cầu của trẻ và quan sát có chủ đích;

- Tổ chức chơi phát triển thể chất, gồm: Trò chơi vận động hoặc trò chơi dân gian;

Trang 39

- Chơi tự do: Tùy thuộc vào sở thích, nhu cầu và hứng thú của trẻ, giáo viên có thể lựa chọn những nội dung chơi tự do với đồ chơi ngoài trời (đu quay, cầu trượt ); Chơi với bóng, vòng, phấn; Chơi với các nguyên vật liệu thiên nhiên như cát, nước, sỏi, hột hạt, lá cây…

Giáo viên bao quát trẻ chơi, kịp thời tác động khi cần thiết để duy trì hứng thú chơi cho trẻ, không để trẻ chạy nhảy, la hét, đuổi bắt , điều đó không

có lợi cho sức khỏe của trẻ và dễ xảy ra tai nạn; Giáo viên chú ý đến những trẻ trầm, ít vận động để khuyến khích, động viên trẻ tham gia trò chơi, tránh tình trạng

để trẻ ngồi yên một chỗ trong suốt thời gian các bạn chơi;

Đối với những trò chơi trẻ chưa thành thạo, giáo viên có thể tham gia chơi cùng trẻ để gây hứng thú chơi và giúp trẻ biết cách chơi

Nên luân chuyển trò chơi để tránh sự nhàm chán; cần chuẩn bị đồ chơi phù hợp, tránh tình trạng ngày nào trẻ cũng chỉ chơi cầu trượt hoặc đu quay sẵn

có ở trường; Đảm bảo an toàn về không gian, đồ dùng, đồ chơi và cường độ vận động cho trẻ; tính luân đổi các loại trò chơi làm cho trẻ hứng thú, phát triển vận động và khả năng sáng tạo, khám phá thế giới xung quanh

1.4.5.5 Tổ chức hoạt động vui chơi trong hoạt động chuyển tiếp

- Giáo viên tổ chức cho trẻ tự nhiên, không gò bó, áp đặt trẻ

- Trẻ có thể chơi 1-2 lần tùy theo hứng thú, trẻ có thể chơi cá nhân, chơi theo nhóm hay chơi tập thể tùy thuộc vào yêu cầu trò chơi mà giáo viên lựa chọn

- Tổ chức từ 1 đến 2 trò chơi trong thời gian là 6-10 phút

- Chọn những trò chơi đơn giản về khâu chuẩn bị đồ chơi, khâu tổ chức, thời gian chơi ngắn

- Giáo viên lựa chọn trò chơi vào thời điểm chuyển tiếp phải đảm bảo nguyên tác động - tĩnh Nếu hoạt động trước có tính chất động thì trò chơi chuyển tiếp phải chọn là trò chơi mang tính chất tĩnh và ngược lại

1.4.5.6 Tổ chức hoạt động vui chơi trong hoạt động chiều

- Tổ chức, hướng dẫn trò chơi mới, ôn luyện, củng cố những trò chơi chưa thành thạo hoặc trò chơi cũ

Trang 40

- Tổ chức hướng dẫn trò chơi mới: trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi phân vai, trò chơi đóng kịch, trò chơi lắp ghép xây dựng

- Tùy thuộc vào đặc điểm chơi và yêu cầu đối với trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi khác nhau mà giáo viên lựa chọn nội dung và phương pháp hướng dẫn cho trẻ chơi phù hợp để thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ, đồng thời phát huy được vai trò của trò chơi đối với sự phát triển và giáo dục trẻ mẫu giáo

- Giáo viên nên có kế hoạch dành thời gian luyện tập, bổ sung cho những trẻ có kĩ năng chơi yếu, những trẻ nhút nhát, trầm trong lớp

- Giáo viên nên trao đổi trò chơi cho trẻ trong các buổi sinh hoạt chiều để tránh sự nhàm chán

1.4.5.7 Tổ chức hoạt động vui chơi trong giờ trả trẻ

Chọn những trò chơi nhẹ nhàng, không mất nhiều thời gian chuẩn bị, những trò chơi đã đã biết và những trò chơi ít vận động mạnh: trò chơi học tập, trò chơi dân gian, trò chơi xây dựng lắp ghép, trò chơi với sách truyện

1.4.6 Các bước tiến hành tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo

1.4.6.1 Chuẩn bị

Lựa chọn trò chơi: Phù hợp với mục tiêu giáo dục và hình thức tổ chức; trò chơi phải hấp dẫn để kích thích tính tự lập và tính tích cực của trẻ; phải phù hợp với những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà trẻ có; trò chơi phải phong phú về nội dung, hình thức thể hiện, các hành động chơi phải được phức tạp hóa dần; phù hợp với điều kiện giáo dục; Các trò chơi sử dụng trong hoạt động học phải phục vụ cho nội dung hoạt động học; Các trò chơi sử dụng trong giờ chơi tự do cần theo một hệ thống nhất định và giáo viên phải chú ý hướng dẫn trẻ chơi

Lập kế hoạch tổ chức trò chơi: Mục đích của việc sử dụng trò chơi trong từng dạng hoạt động và từng hình thức tổ chức sẽ quy định cách lập kế hoạch

cụ thể Thông thường những trò chơi sử dụng trong hoạt động học, hoạt động vui chơi ở các góc yêu cầu tính chi tiết, khoa học, cụ thể của việc lập kế hoạch; những trò chơi sử dụng trong hoạt động chơi tự do không yêu cầu giáo viên lập

Ngày đăng: 05/10/2023, 15:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Thị Bích Thủy (2013), Một số biện pháp quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ ở các trường mầm non quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sí giáo dục, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ ở các trường mầm non quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thủy
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 2013
16. Trung tâm Từ điển học (2007), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm Từ điển học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2007
17. Nguyễn Ánh Tuyết (2008), Tâm lý học trẻ em, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
18. Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
19. V.X.Mukhina (1980), Tâm lý học mẫu giáo, Tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học mẫu giáo, Tập 1
Tác giả: V.X.Mukhina
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1980
20. Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2010
21. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1999
22. Penny Warner (2000), Preschool Play and Learn: 150 Fun Games and Learning Activitis for Preschoolers from Three to Six Year, Printed in the United States of America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preschool Play and Learn: 150 Fun Games and Learning Activitis for Preschoolers from Three to Six Year
Tác giả: Penny Warner
Nhà XB: Printed in the United States of America
Năm: 2000
23. Kernan, M. (2007). Playasacont ext for Early Learning and Development, Aresearch paper. National Council for Curriculum and Assessment. Retrieve dfromCác trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Playasacont ext for Early Learning and Development
Tác giả: Kernan, M
Nhà XB: National Council for Curriculum and Assessment
Năm: 2007
24. file:///D:/MOI%20TRUONG%20HOC%20QUA%20VUI%20CHOI.pdf 25. http://giaoan.violet.vn/present/show/entry_id/1526890 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MOI TRUONG HOC QUA VUI CHOI

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Nhận thức của CBQL và GV về khái niệm vui chơi, về tổ chức  hoạt động vui chơi, biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.1. Nhận thức của CBQL và GV về khái niệm vui chơi, về tổ chức hoạt động vui chơi, biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ (Trang 53)
Bảng 2.2. Đánh giá nhận thức về ý nghĩa tổ chức hoạt động vui chơi đối với - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.2. Đánh giá nhận thức về ý nghĩa tổ chức hoạt động vui chơi đối với (Trang 54)
Bảng 2.3.  Nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết tổ chức các loại trò  chơi cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.3. Nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết tổ chức các loại trò chơi cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng (Trang 55)
Bảng  2.4. Đánh giá của GV về ưu thế của từng loại trò chơi trong giáo dục  trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
ng 2.4. Đánh giá của GV về ưu thế của từng loại trò chơi trong giáo dục trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường MN huyện Peck tỉnh Xiêng Khoảng (Trang 56)
Bảng 2.5. Thực trạng các loại trò chơi được tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.5. Thực trạng các loại trò chơi được tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 (Trang 58)
Bảng 2.6. Thực trạng các trò chơi được giáo viên tổ chức cho trẻ MG 5-6 - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.6. Thực trạng các trò chơi được giáo viên tổ chức cho trẻ MG 5-6 (Trang 60)
Hình  thành  cho  trẻ  thói quen xây dựng  môi  trường  hoạt  động  chơi  (chia  không  gian,  lấy  đồ  dùng,  đồ  chơi  theo - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
nh thành cho trẻ thói quen xây dựng môi trường hoạt động chơi (chia không gian, lấy đồ dùng, đồ chơi theo (Trang 65)
Hình  thức  tổ  chức  hoạt  động  vui  chơi  là  một  trong  những  yếu  tố  ảnh  hưởng  đến  hiệu  quả  tổ  chức  vui  chơi  cho  trẻ - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
nh thức tổ chức hoạt động vui chơi là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức vui chơi cho trẻ (Trang 67)
Bảng 2.9. Thực trạng xây dựng và sử dụng môi trường tổ chức hoạt động  vui chơi cho trẻ ở các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.9. Thực trạng xây dựng và sử dụng môi trường tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở các trường MN huyện Peck, tỉnh Xiêng Khoảng (Trang 69)
Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của giáo viên trong - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của giáo viên trong (Trang 71)
Bảng 2.11. Thực trạng kết quả tham gia các loại trò chơi trong hoạt động - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.11. Thực trạng kết quả tham gia các loại trò chơi trong hoạt động (Trang 73)
Bảng 2.12. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động - Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5   6 tuổi ở các trường mầm non huyện peck, tỉnh xiêng khoảng, nước chdcnd lào
Bảng 2.12. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức hoạt động (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w