1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh

139 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Trọng Luân
Người hướng dẫn GS.TS. Trần Quốc Thành
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện mục tiêu định hướng nghề nghiệp và phân luồng cho học sinh THCS, giáo dục hướng nghiệp ở THCS không chỉ giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp theo xu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN TRỌNG LUÂN

QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG

Ở HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN TRỌNG LUÂN

QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG

Ở HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Quốc Thành

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về luận văn của mình

Thái nguyên, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Trọng Luân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:

Các Thầy Cô lãnh đạo Khoa, các Thầy Cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục và các Thầy Cô khác của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin cảm ơn Giáo sư - Tiến sĩ Trần Quốc Thành, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn rất tận tình, chu đáo, nghiêm túc trong quá trình tôi thực hiện luận văn

Cảm ơn các đồng chí trong Ban giám hiệu và giáo viên các trường THCS, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT Gia Bình huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi có thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy giáo, Cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm tới luận văn này

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Trọng Luân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 6

1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 8

1.2.1 Quản lý 8

1.2.2 Quản lý giáo dục 9

1.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp 10

1.3.1 Khái niệm hướng nghiệp 10

1.3.2 Quản lý giáo dục hướng nghiệp 12

1.3.3 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 18

1.4 Phân luồng 19

1.4.1 Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 19

1.4.2 Quản lý phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 20

Trang 6

1.4.3 Công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 21

1.4.4 Nội dung công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 23

1.4.5 Hình thức phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 24

1.5 Mối quan hệ giữa hoạt động GDHN và phân luồng HS sau THCS 27

1.6 Quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS theo định hướng phân luồng 31

1.6.1 Khái niệm quản lý GDHN theo định hướng phân luồng 31

1.6.2 Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng 32

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh 33

1.7.1 Thị trường lao động 33

1.7.2 Giáo dục đào tạo 33

1.7.3 Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 34

1.7.4 Phụ huynh học sinh 34

1.7.5 Các tổ chức xã hội 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG Ở HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH 37

2.1 Khái quát về kinh tế-xã hội ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 37

2.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội 37

2.1.2 Đặc điểm Giáo dục và Đào tạo 38

2.2 Thực trạng phân luồng học sinh THCS trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 39

2.2.1 Thực trạng nhận thức về phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 41

2.2.2 Nội dung phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 44

2.2.3 Hình thức phân luồng học sinh sau trung học cơ sở 45

2.3 Thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 54

2.3.1 Thực tế quản lý GDHN tại các trường THCS đã khảo sát 55

2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề của HS 60

2.3.3 Thực trạng khó khăn trong tổ chức quản lý GDHN hiện nay 62

2.3.4 Thực trạng kết quả quản lý GDHN 63

Kết luận chương 2 66

Trang 7

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO

HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN

LUỒNG Ở HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH 67

3.1 Nguyên tắc để xây dựng biện pháp 67

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả 67

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 67

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 68

3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 68

3.2.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng trong nhà trường phổ thông 68

3.2.2 Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, chuyên viên tư vấn hướng nghiệp, phân luồng về chuyên môn, nghiệp vụ 72

3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp 74

3.2.4 Thành lập bộ phận tư vấn hướng nghiệp, phân luồng ngay trong trường THCS 77

3.2.5 Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong hoạt động hướng nghiệp, phân luồng HS sau THCS 81

3.2.6 Huy động các nguồn lực xã hội tham gia giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh 83

3.3 Khảo sát tính cần thiết, tính khả thi 87

3.3.1 Đối tượng khảo sát 87

3.3.2 Nội dung khảo sát và cách thức tiến hành 87

3.3.3 Kết quả khảo sát 87

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Khuyến nghị 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát 41

Bảng 2.2 Mức độ nhận thức về phân luồng học sinh sau THCS 42

Bảng 2.3 Nội dung phân luồng học sinh sau THCS 44

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát CBQL, GV và CMHS về công tác hướng nghiệp 46

Bảng 2.5 Kết quả khảo sát HS về công tác hướng nghiệp 48

Bảng 2.6 Kết quả khảo sát CBQL, GV và CMHS về công tác tuyển sinh 50

Bảng 2.7 Kết quả khảo sát HS về công tác tuyển sinh 53

Bảng 2.7 Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát 55

Bảng 2.9 Kết quả khảo sát về yếu tố ảnh hưởng lựa chọn ngành nghề 60

Bảng 2.10 Kết quả khảo sát về khó khăn trong tổ chức quản lý GDHN 62

Bảng 2.11 Tổng hợp khảo sát kết quả quản lý GDHN 63

Bảng 3.1 Tổng hợp khảo sát tính cần thiết của các biện pháp được đề xuất 87

Bảng 3.2 Tổng hợp khảo sát tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 89

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1 Nhận thức về phân luồng học sinh sau THCS 43 Biểu đồ 2.2 Nhận định về thực hiện các nội dung phân luồng HS sau THCS 45

Sơ đồ:

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS 30

Trang 11

Thực hiện mục tiêu định hướng nghề nghiệp và phân luồng cho học sinh THCS, giáo dục hướng nghiệp ở THCS không chỉ giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp theo xu thế phân công lao động xã hội mà còn hướng tới việc sử dụng hợp lí tiềm năng, khả năng của học sinh, đưa các em vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp phù hợp với các em giúp các em chọn đúng hướng đi phù hợp với khả năng của chính mình Với ý nghĩa như vậy, việc thực hiện tốt công tác giáo dục hướng nghiệp ở THCS sẽ phát huy tối đa hiệu quả của nó, đảm bảo tốt cho việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS

Tuy đã có những yêu cầu cụ thể trong công tác hướng nghiệp và phân luồng ở cấp THCS, nhưng công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS vẫn còn nhiều hạn chế Có nhiều nguyên nhân khiến cho giáo dục hướng nghiệp ở THCS trong thời gian qua chưa đạt được mục tiêu mong muốn Một trong những nguyên nhân đó là quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS chưa hiệu quả do chưa nhận thức đầy đủ về các qui luật của quản lý giáo dục, của giáo dục hướng nghiệp để có những biện pháp quản

lý giáo dục hướng nghiệp THCS phù hợp với qui luật khách quan

Để giáo dục hướng nghiệp THCS thiết thực góp phần định hướng phân luồng cho học sinh sau tốt nghiệp THCS và phát huy ưu thế của giáo dục hướng nghiệp THCS trong nhiệm vụ này, quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS cần được định hướng cụ thể hơn bởi các phương thức phù hợp làm cho giáo dục phổ thông thực hiện đúng yêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS theo định hướng phân luồng là một đòi hỏi cấp thiết nhằm tăng cường công tác

Trang 12

quản lý đối với hoạt động GDHN ở trường THCS, coi như là khâu đột phá nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo phục vụ nhu cầu của xã hội

Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/ 2011 của Bộ Chính trị về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, tăng cường PLHS sau THCS và xóa mù chữ cho người lớn Chỉ thị đã nêu rõ quan điểm chỉ

đạo của Đảng về công tác phân luồng học sinh sau THCS là “Kiên trì thực hiện chủ

trương phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, tạo chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh hợp lý cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội” và mục tiêu “đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh, triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau THCS Trong đó đáng chú ý nhất là việc đẩy mạnh phân luồng sau THCS phải làm ngay khi học sinh còn học trong chương trình THCS chứ không phải sau khi tốt nghiệp Các trường THCS cần định hướng tốt cho học sinh không nên để các em tự bơi trong muôn vàn hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS Để công tác phân luồng có hiệu quả thì việc quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS là điều cần được thực hiện tốt và có hiệu quả" [7 , tr.25]

Từ những lí do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý giáo dục hướng

nghiệp học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, đề xuất các biện pháp quản lí giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở các trường THCS của huyện

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS với việc định hướng phân luồng học sinh sau THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học

Công tác giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS ở huyện Gia Bình đã được quan tâm Các trường cũng đã chú ý đến việc phân luồng học sinh sau THCS Vì vậy, kết quả giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác này cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập cần giải quyết Nếu xác lập được mối liên hệ giữa giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS với yêu cầu phân luồng học sinh ở huyện Gia Bình thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý tác động đến các thành tố mục tiêu, nội dung, hình thức giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS theo định hướng phân luồng thì kết quả giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng sẽ được cải thiện

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác lập cơ sở lý luận của quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng

phân luồng cho học sinh cho các trường THCS

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường

THCS và công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS huyện Gia Bình, tình Bắc Ninh

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh trung học

cơ sở theo định hướng phân luồng trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh ở các trường THCS công lập của huyện Gia Bình

Các số liệu đề tài sử dụng của các trường THCS của huyện chỉ từ năm học từ 2014-2015 đến nay

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Các phương pháp như phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo liên quan đến

đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu các văn bản của Đảng, Nhà nước, của ngành GD&ĐT, các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp, phân luồng

Trang 14

7.2 Nhóm các phương pháp thực tiễn

7.2.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trên cơ sở thu thập thông tin của các trường THCS trong huyện, tổng kết kinh nghiệm tổ chức, quản lý về giáo dục hướng nghiệp, phân luồng của các trường THCS trong huyện Những kinh nghiệm được tổng kết sẽ là một trong những cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lí giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Thiết kế các mẫu phiếu hỏi phù hợp để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh về hoạt động quản lý giáo dục hướng nghiệp, phân luồng ở các trường THCS trong huyện đồng thời cũng nắm bắt được tính khả thi, cần thiết của các giải pháp đưa ra

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi với giáo viên và học sinh về cách thức quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân luồng trong nhà trường, những khó khăn, vướng mắc,…

7.3 Phương pháp xử lí số liệu: sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các

số liệu phục vụ công tác nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

văn được trình bày gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS

theo định hướng phân luồng

Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo

định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo

định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Trang 15

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân Từ năm 1918 đến 1939, N.K.Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp

Đầu thế kỷ 20, Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đều xuất hiện cơ sở dịch vụ hướng nghiệp Ở Nga, những thập kỉ đầu thế kỉ 20, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấy giờ

Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, trong nửa đầu thế kỉ 20, do tăng trưởng nền công nghiệp hóa, nhiều tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1900, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở

Bỉ năm 1911,1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và

1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kì và Châu Âu

Ở Anh: mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức Ông đã miêu tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng

Các nước đều chú trọng đến giáo dục “tiền nghề nghiệp” cho học sinh ngay ở bậc học phổ thông; phân luồng học sinh sớm ngay từ lớp 9, chủ yếu 2 nhánh học nghề

Trang 16

và lên THPT (như ở Ba Lan, Cộng hòa Pháp); ở Đức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông sớm hơn ngay ở bậc tiểu học

Các nước Châu Á chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước phân luồng học sinh theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THPT, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, công nghệ, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia) Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn)

Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò đối với sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia Nhờ có sự đầu tư và phát triển cho nguồn nhân lực mà một số nước chỉ trong thới gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,… GD&ĐT, trong đó có phần giáo dục nghề nghiệp góp phần hết sức to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Về lĩnh vực hướng nghiệp dạy nghề phổ thông thể hiện ngay trong quan điểm giáo dục của Đảng ta, Bác Hồ đã sớm chỉ ra: Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động, lý luận đi với thực hành; cần cù đi với tiết kiệm

Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và quản

lý Những kết quả nghiên cứu của hai nhóm dưới sự chỉ đạo của Phạm Tất Dong

và Đặng Danh Ánh đã tạo cơ sở cho chính phủ ra quyết định số 126 - CP về

“Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp

ra trường” ngày 19/06/1981

Đề tài mã số B98-52-TĐ17 (8/2000): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực

hiện phân luồng học sinh sau THCS có tính chất vĩ mô toàn quốc” của tác giả Lê Vân

Anh, học sinh sau THCS đi vào các luồng: lên THPT, vào Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), vào các trường dạy nghề dài hạn, học nghề ngắn hạn, học tại các trung tâm

Trang 17

giáo dục thường xuyên (GDTX), tham gia vào thị trường lao động Đề tài đã nêu được một số vấn đề chung về phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta [1]

Ngoài ra còn có một số tham luận trong hội nghị, hội thảo khoa học ở các địa phương và trên một số tạp chí chuyên ngành gần đây cũng đề cập đến nhiều vấn đề như: các nhân tố tác động đến phân luồng học sinh sau THCS và dự báo xu hướng phân luồng học sinh; thực trạng, dự báo, biện pháp về phổ cập và phân luồng học sinh Nhìn chung, trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn, các bài viết đã trình bày khá thuyết phục về các biện pháp phân luồng học sinh ở một số địa phương

Những nghiên cứu chuyên sâu về công tác hướng và quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới góp độ giáo dục học và tâm lý học nghề nghiệp Có thể dẫn ra một số nghiên cứu cơ bản của một số tác giả sau đây như: Phạm Tất Dong (1987, 2000), Đặng Danh Ánh (1985, 2002), Nguyễn Văn Hộ (1998), Nguyễn Bá Dương (1994), Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hồ Văn Thống (2011),… Các nghiên cứu này đã giải quyết tương đối có hệ thống về lý luận công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông Một số nghiên cứu khác dưới góc

độ quản lý giáo dục đã giải quyết được một số vấn đề về thực tiễn quản lý công tác này đối với khách thể là học sinh trung học và học nghề Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta hiện nay còn ít được quan tâm nghiên cứu

Trong những năm gần đây, công tác Hướng nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc hướng học, hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS, nhằm mục đích đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội và theo định hướng phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Tuy nhiên, hoạt động quản lý GDHN cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập

Theo tác giả Phạm Tất Dong, đa số thanh niên không kiếm được việc làm là do

không biết nghề và nhấn mạnh: “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp

cho thế hệ trẻ để tự họ tìm ra việc làm”, đồng thời: “tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh Đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản” [14]

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đặng Danh Ánh xác định: “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã thay đổi tận gốc lao động, và do đó thay đổi những đặc

Trang 18

điểm và cách đào tạo con người ở trong nhà trường Cần phải trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức và kỹ thuật công nghệ nhất định mà còn hình thành có hiệu quả phương tiện phát triển tư duy sáng tạo kỹ thuật, tính độc lập trí óc, hình thành kỹ năng, trong thời gian tối thiểu thu được lượng thông tin tối đa và năng lực tự học” Công trình

khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ

thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [25, tr.35] Tác giả đã xây dựng

luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông

Công tác GDHN và phân luồng học sinh ở Việt Nam đã được một số nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục quan tâm nghiên cứu với các đề tài cụ thể như sau:

- Tác giả Phạm Tất Dong với đề tài “Đổi mới công tác hướng nghiệp phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [15]

- “Phân luồng học sinh sau THCS và THPT góp phần nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực tỉnh Đồng Tháp trong thời kỳ hội nhập” của tác giả Hồ Văn Thống [37]

- “Phân luồng học sinh sau THCS - một biện pháp quan trọng nâng cao hiệu

quả xã hội của phổ cập giáo dục” của tác giả Phạm Văn Khanh (dẫn theo [30])

Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Danh Ánh như “Tư vấn

nghề và phân luồng học sinh phổ thông sau trung học” (Báo cáo tại Hội thảo về Tư vấn nghề do ĐHQG Hà Nội tổ chức tháng 01/2005), “Cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa” (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba) hay “Dạy nghề thách thức và giải pháp”

[3], “Vấn đề và hướng đi cho Giáo dục Hướng Nghiệp Việt Nam” [5] đã xây dựng luận chứng cho công tác phân luồng và quản lý phân luồng học sinh ở Việt Nam từ trước đến nay Tuy nhiên, cho đến nay, công trình nghiên cứu về quản lý GDHN, phân luồng học sinh sau THCS ở một địa phương cụ thể hầu như chưa có

1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Quản lý

Quản lý là những tác động liên tục có định hướng, có kế hoạch của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng bị quản lí) trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định

Trang 19

Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối một cách tối ưu các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất trong điều kiện biến động của môi trường

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý

đến người bị quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể QLGD lên các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, tài lực, vật lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Ở cấp vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng

xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể đến khách thể, đối tượng quản lý trong hoạt động giáo dục Quản lý giáo dục là một dạng quản lý xã hội trong đó diễn ra các hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực; các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), sự

ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục

Để tổ chức được một hoạt động giáo dục trong nhà trường có hiệu quả, trước hết, cần xác định rõ mục tiêu mà hoạt động đó cần đạt tới Trên cơ sở mục tiêu đề ra, các nhà quản lý xây dựng những nội dung giáo dục phù hợp để đạt tới mục tiêu đó, đồng thời chỉ

ra các cách thức thực hiện để triển khai các nội dung đã được xác định Để đảm bảo cho quá trình triển khai đạt kết quả, cần phải chỉ nhân sự, về chương trình, tài liệu, cơ sở vật

Trang 20

chất, thiết bị, tài chính là các điều kiện tiên quyết và việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục

sẽ là những yếu tố quan trọng đảm bảo cho hoạt động giáo dục đạt kết quả mong muốn Cần nhận thức rõ giáo dục là một hoạt động có tổ chức Vì vậy, trong quá trình triển khai, cần phải đảm bảo tất cả các khâu của chu trình quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện

1.3 Quản lý giáo dục hướng nghiệp

1.3.1 Khái niệm hướng nghiệp

Có nhiều quan niệm khác nhau về hướng nghiệp Sự khác nhau này là do bắt nguồn từ những góc độ chuyên môn khác nhau:

- Các nhà giáo dục học cho rằng: “Hướng nghiệp là một hoạt động của các tập

thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp cho học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, hứng thú, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu nhân lực của xã hội Hướng nghiệp là một

bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục - học tập trong nhà trường” [14]

- Trong tâm lý học: "hướng nghiệp được coi là hệ thống các biện pháp tâm lý -

sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân Đó là quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lý đó chính là tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động" []

- Các nhà kinh tế thì nói: “Hướng nghiệp là những mối quan hệ kinh tế giúp cho

mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội” []

* Hiểu hướng nghiệp trên bình diện xã hội:

Toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường các cơ quan quản

lý kinh tế và quản lý nhà nước, cơ quan đoàn thể chính trị và xã hội đều cần những người có năng lực và những phẩm chất nhân cách phù hợp Để chọn được người theo đúng tiêu chuẩn đã định, cơ quan tổ chức nói trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện công tác của cơ quan mình, giúp họ tìm hiểu những nghề nghiệp chuyên môn mà cơ quan mình cần tuyển chọn Cuối cùng, các

cơ quan, cơ sở sản xuất phải tuyển chọn người trên cơ sở nguyện vọng và dự định nghề nghiệp của người đó

Trang 21

Có thể nói rằng, hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia Trong những điều kiện lý tưởng, các em cần được hướng nghiệp liên tục và thường xuyên bằng nhiều hình thức, nhiều con đường Nếu xã hội biết tận dụng các câu lạc bộ, nhà văn hóa, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, nhà xuất bản, thư viện, công nghệ thông tin, vào công tác hướng nghiệp, tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với các em

sẽ rất lớn

Không nên để các em chọn nghề một cách tự phát, cũng không nên để việc chọn nghề nghiệp của mỗi học sinh phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên Hướng nghiệp là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho họ phát huy được hết năng lực lao động nghề nghiệp

Như vậy, hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống tác động của xã hội về

giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học, nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân

* Hiểu hướng nghiệp trên bình diện trường phổ thông:

Trong trường phổ thông, hướng nghiệp được xem là một dạng hoạt động giáo dục Hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên có mục đích giáo dục học sinh trong việc chon nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực

của các ngành sản xuất trong xã hội Như vậy, hướng nghiệp trong nhà trường phổ

thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho các em chọn được nghề phù hợp

Với cách hiểu này, hướng nghiệp là nhiệm vụ của bất kỳ thành viên nào trong tập thể sư phạm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ phụ trách các đoàn thể trong nhà trường,

Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn

nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất; hướng nghiệp là một

hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển đồng thời lại phù hợp với hứng thú , năng lực cá nhân

Trang 22

1.3.2 Quản lý giáo dục hướng nghiệp

1.3.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục hướng nghiệp

Quản lý giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của quản lý giáo dục, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản

lí đến đối tượng quản lí nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh Quản lí giáo dục hướng nghiệp bao gồm những yếu tố cơ bản như: Chủ thể quản lý; Đối tượng quản lý; Công cụ quản lý; Phương pháp quản lý

Chủ thế quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý

và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác hướng nghiệp tại địa bàn, đơn vị đang quản lý Trong quản lý giáo dục hướng nghiệp, chủ thể quản lý là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách hướng nghiệp của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường Trên

cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bằng phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý giáo dục hướng nghiệp để đạt mục tiêu

Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ giáo dục

hướng nghiệp, bao gồm các GV và cán bộ phụ trách hướng nghiệp, tập thể HS ở các trường THCS, các tổ chức, đoàn thể xã hội như Hội cha mẹ học sinh, hội Liên hiệp phụ

nữ, các doanh nghiệp… Đối tượng quản lí còn bao gồm các hình thức giáo dục hướng nghiệp, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục cho hướng nghiệp

Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ quản lý hướng nghiệp sử dụng

trong quá trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân hướng nghiệp và HS trong việc thực hiện mục tiêu công tác hướng nghiệp Công cụ chủ yếu để quản lý giáo dục hướng nghiệp là các quy định của Nhà nước, Bộ GD&ĐT đối với công tác hướng nghiệp, là các cơ chế và chính sách cho công tác hướng nghiệp

Phương pháp quản lí là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau

của cán bộ quản lý hướng nghiệp đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản

lý Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lí và lựa

Trang 23

chọn cách thức tác động của cán bộ quản lý hướng nghiệp tới đối tượng quản lý

1.3.2.2 Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông

a Công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông có nhiệm vụ:

- Giáo dục thái độ lao động đúng đắn

- Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề

- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp

- Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hóa

b Yêu cầu đối với thực hiện nhiệm vụ hướng nghiệp:

*Tiến hành định hướng nghề cho học sinh:

Định hướng nghề là việc thông tin cho học sinh biết về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần nhiều lao động, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập thể và tư nhân Nhà trường cũng cần cung cấp những thông tin nói trên cho cha mẹ học sinh nhằm mục đích phối hợp hướng nghiệp cho học sinh

Sau việc thông tin nghề nghiệp phải tạo điều kiện cho học sinh làm quen với một số nghề, để từ đó học sinh kiểm nghiệm hứng thú năng lực bản thân, tự giác lựa chọn và đi vào một lĩnh vực nghề phù hợp nhất

* Tư vấn nghề đối với từng học sinh:

Công việc chủ yếu của tư vấn nghề là khảo sát đặc điểm tâm lý của từng học sinh, đối chiếu các thuộc tính cơ bản nhất như hứng thú, năng lực, hoàn cảnh gia đình của cá nhân học sinh với đặc điểm, yêu cầu hoạt động của các nghề để xác lập mức độ phù hợp nghề trên cơ sở đó người làm tư vấn cho học sinh những lời khuyên về chọn nghề

c Tạo điều kiện cho tuyển chọn nghề nghiệp một cách khoa học:

Việc tuyển chọn nghề nghiệp không thuộc chức năng của nhà trường phổ thông, nhưng có liên quan với công việc định hướng nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, phân luồng Nhà trường phổ thông có nhiệm vụ tư vấn nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp, lưu trữ tư liệu, ví dụ qua hình thức “Sổ hướng nghiệp” để làm cứ liệu khi tuyển học sinh vào các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp hoặc trực tiếp tuyển chọn lao đông

Trang 24

1.3.2.3 Nội dung dạy hướng nghiệp ở THCS

Thực hiện theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo

Bảng 1.1 Chương trình dạy hướng nghiệp ở THCS Chủ đề /

1/1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc

chọn nghề có cơ sở khoa học

1 Cơ sở khoa học của việc chọn nghề

2 Những nguyên tắc chọn nghề

3.Ý nghĩa của việc chọn nghề

2/1 Định hướng phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước và địa phương

1 Một số đặc điểm của quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta

2 Những việc làm có tính cấp thiết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

3 Phát triển những lĩnh vực kinh tế-xã hội

3/1 Thế giới nghề nghiệp quanh ta

1 Tính đa dạng phong phú của thế giới nghề nghiệp

2 Phân loại nghề

3 Những dấu hiệu cơ bản của nghề thường được trình bày kĩ trong các bản mô tả nghề

4 Bản mô tả nghề

4/1 Tìm hiểu thông tin về một số

nghề ở địa phương Tìm hiểu nghề của địa phương

5/1 Thông tin về thị trường lao động

1 Việc làm và nghề nghiệp

2 Thị trường lao động

3 Thị trường lao động

6/1

Tìm hiểu năng lực bản thân và

truyền thống nghề nghiệp của

đào tạo nghề của trung ương và

địa phương (tuyển sinh trình độ

THCS trở lên)

1 Hệ thống đào tạo nghề

2 Thông tin các trường dạy nghề

8/1 Các hướng đi sau khi tốt

Trang 25

1.3.2.4 Những con đường hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông

a Hướng nghiệp cho học sinh qua hoạt động "giáo dục hướng nghiệp"

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp là con đường chính, có tầm quan trọng đặc biệt trong hướng nghiệp cho học sinh phổ thông vì nó cung cấp cho học sinh những thông tin nghề nghiệp, hệ thống đào tạo và thị trường lao động một cách có hệ thống,

có chủ đích Đồng thời qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp, các em biết được về năng lực cá nhân, điều kiện và truyền thống gia đình để định hướng lựa chọn nghề trong thế giới nghề nghiệp, chọn hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS một cách có ý thức,

có cơ sở khoa học nhằm đạt được ước mơ đích thực của mình

Trong định hướng về phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở thì các em sẽ được tổ chức để tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp qua nhiều dạng hoạt động như:

+ Tìm hiểu nghề qua nhiều con đường khác nhau: qua bản mô tả nghề, nghe giới thiệu về nghề, điều tra xã hội,

+ Thảo luận tìm ra cách thức giải quyết những vấn đề về chọn nghề phù hợp; về các cơ hội, con đường học tập để đạt được ước mơ của bản thân sau khi tốt nghiệp THCS; về cách thức vượt qua những khó khăn trong những giai đoạn chuyển tiếp trong học tập, tìm việc làm và ngay cả khi không đạt được ước mơ của mình

+ Trao đổi với phụ huynh học sinh về việc định hướng nghề, phân luồng cho học sinh

+ Giao lưu với những điển hình, những gương vượt khó trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, học tập Giao lưu giữa các lớp, cụm trường về chủ đề hướng nghiệp

+ Tham quan ngoại khóa theo các chủ đề

+ Thực tập lao động nghề qua học nghề phổ thông

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp sẽ được tổ chức theo chủ đề từng tháng được qui định tại chương trình với thời lượng 9 tiết/ lớp/ năm học, bình quân 1 tiết/ lớp / tháng ở bậc THCS

b Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các bộ môn văn hoá, khoa học cơ bản: Trong nhà trường, các môn văn hóa, khoa học cơ bản giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Chúng đặt nền tảng cho sự hiểu biết các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, cung cấp những

cơ sở khoa học cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp; giúp cho việc xây dựng và phát

Trang 26

huy những năng lực sở trường đa dạng của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống và lao động nghề nghiệp

Môn học nào cũng cần và cũng có khả năng hướng nghiệp cho học sinh Tuy nhiên, đây là việc làm khó khăn đòi hỏi người cán bộ quản lý trường học và người giáo viên phải có quan điểm, nhận thức đúng đắn về giáo dục hướng nghiệp, đồng thời luôn

có ý thức quán triệt tinh thần hướng nghiệp trong từng bài dạy văn hóa, khoa học cơ bản

Biết quán triệt tinh thần hướng nghiệp trong từng môn học chất lượng giảng dạy

và học tập sẽ được nâng cao Vấn đề là biết khai thác những tư liệu nói về nghề nghiệp

và biết vận dụng vào nội dung bài học như thế nào

c Hướng nghiệp qua dạy - học môn "Công nghệ", dạy nghề phổ thông và giáo dục lao động

- Hướng nghiệp qua dạy - học môn "Công nghệ": môn “Công nghệ” là tên gọi của

môn kỹ thuật trước đây, nay được dùng trong chương trình đổi mới của giáo dục phổ thông

ở bậc trung học cơ sở Chương trình môn công nghệ bao gồm kỹ thuật phục vụ, kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật công nghiệp

Qua đó cho thấy môn công nghệ có khả năng hướng nghiệp rất lớn Mặc dù học sinh chưa thật sự đi sâu vào kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng qua việc học kỹ thuật các ngành nghề thuộc kỹ thuật phục vụ, nông nghiệp, công nghiệp, các em có điều kiện hiểu

về những nghề thuộc các ngành này trong xã hội Nếu đảm bảo khâu thực hành được tiến hành một cách đầy đủ nghiêm túc, học sinh sẽ được thử sức mình với hoạt động kỹ thuật

cụ thể, qua đó các em sẽ phát hiện và đánh giá đúng hơn năng lực kỹ thuật của bản thân mình, hứng thú kỹ thuật được phát triển mạnh và ngày càng bền vững Đó là điều kiện rất thuận lợi cho việc định hướng nghề nghiệp của các em

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy nghề phổ thông:

Giáo dục nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, một bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện

Giáo dục nghề phổ thông chuẩn bị một số kỹ năng lao động có kỹ thuật cho học sinh và góp phần định hướng nghề để học sinh có thể vận dụng vào cuộc sống lao động

và lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh củng cố và vận dụng những hiểu biết và kỹ năng được trang bị ở môn công nghệ và các môn học khác vào những điều kiện thực tiễn cụ thể

Trang 27

Giáo dục nghề phổ thông chính là một con đường để hướng nghiệp cho học sinh

Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông qua hoạt động giáo dục lao động:

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các khái niệm về giáo dục lao động đều có chung những điểm sau:

+ Giáo dục lao động là một bộ phận cơ bản của giáo dục phổ thông xã hội chủ nghĩa và là một nội dung giáo dục toàn diện

+ Giáo dục lao động không chỉ đơn thuần tổ chức cho học sinh tham gia lao động mà có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho học sinh kiến thức, rèn luyện kỹ năng,

kỹ xảo về lao động và giáo dục thái độ lao động Thông qua đó, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, giúp học sinh có đủ năng lực và phẩm chất, sẵn sàng về tâm thế để tham gia vào cuộc sống lao động sau khi rời ghế nhà trường

+ Giáo dục lao động gắn bó hữu cơ với giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp

d Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá:

Hoạt động ngoại khóa có khả năng hướng nghiệp to lớn Thông qua hoạt động ngoại khóa, học sinh có thể thu nhận được những thông tin về các ngành nghề, về nhu cầu nhân lực của xã hội; qua các hình thức sinh hoạt ngoại khóa, sự phát triển năng khiếu cũng như sự phân hóa năng lực sẽ diễn ra rất mạnh, đồng thời các em cũng có điều kiện thử sức mình với những ngành nghề mà các em định chọn, nhờ đó giúp cho khuynh hướng nghề nghiệp ngày càng rõ, càng chính xác

Có nhiều hình thức hoạt động ngoại khóa về hướng nghiệp ở trong và ngoài nhà trường:

+ Xây dựng các tổ ngoại khóa, đặc biệt là các tổ ngoại khóa về kỹ thuật, nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh

+ Xây dựng góc hoặc phòng hướng nghiệp

+ Tổ chức cho học sinh đọc sách báo, nghe đài, xem ti vi, xem phim , tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ giáo dục hướng nghiệp

+ Có thể tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi hướng nghiệp giúp các em làm quen dần với hoạt động nghề nghiệp của xã hội

+ Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động hướng nghiệp của các đoàn thể, của cơ sở sản xuất, các cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường tổ chức

Các con đường hướng nghiệp nêu trên có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau, vì thế khi tổ chức hoạt động GDHN trong trường học, cần phải tiến hành đồng

bộ các con đường hướng nghiệp đã nêu trên

Trang 28

Như vậy: Quản lý giáo dục hướng nghiệp là quá trình tiến hành những hoạt

động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến các thành tố của giáo dục hướng nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết của giáo dục hướng nghiệp trong môi trường kinh tế- xã hội luôn biến động

1.3.3 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

1.3.3.1 Ý nghĩa giáo dục

Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục xã hội chủ nghĩa

Về phương diện này, hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội Kinh nghiệm cho thấy, sự chọn nghề một cách tự phát của thanh, thiếu niên thường không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và ngành nghề trong xã hội Vì vậy, tác động giáo dục trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt Kết quả cuối cùng cần đạt là mỗi học sinh phải tự giác chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của sự phát triển sản xuất lên trên những nguyện vọng cá nhân

Hướng nghiệp với ý nghĩa giáo dục sẽ là một hoạt động góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông Trong giai đoạn hiện nay, trường phổ thông phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể Tốt nghiệp trường phổ thông, học sinh phải có năng lực tham gia một nghề ở địa phương hoặc sẽ tiếp tục học để sau này làm tốt một nghề Như vậy, quá trình hướng nghiệp trong nhà trường không dừng lại ở sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp chung chung, mà phải hướng học sinh đi vào nghề nghiệp cụ thể

1.3.3.2 Ý nghĩa kinh tế

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước, từ đó nâng cao năng suất lao động của xã hội Đưa thanh, thiếu niên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực, sở trường lao động, phát triển cao những hứng thú nghề nghiệp, làm nảy nở óc sáng tạo trong lao động là việc làm hết sức quan trọng đối với hướng nghiệp Để đảm bảo ý nghĩa kinh tế của hướng nghiệp, trường phổ thông phải gắn mục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế - xã hội, bám sát với sự chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội: Sự

Trang 29

phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất Tóm lại, hướng nghiệp là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động nghề nghiệp, phân bố lại lực lượng lao động xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi

1.3.3.3 Ý nghĩa chính trị

Nói hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông, có nghĩa là công tác hướng nghiệp có chức năng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, hiện thực hóa đường lối giáo dục trong đời sống xã hội Hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động - yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội Hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng

và hiệu quả giáo dục

Làm tốt công tác hướng nghiệp, chúng ta sẽ có những lớp người đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tóm lại, công tác hướng nghiệp có ý nghĩa đối với sự triển khai chiến lược con người - một bộ phận của chiến lược kinh tế, khoa học và công nghệ

để xã hội sử dụng hết lực lượng học sinh phổ thông ra trường trong lĩnh vực kinh tế, kể

cả kinh tế quốc doanh, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế gia đình

1.4 Phân luồng

1.4.1 Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

Phân luồng là sự phân hoá theo nhóm lớn đối với học sinh sau THCS Đó là những nhóm HS có cùng định hướng, cùng nguyện vọng sau THCS

Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ

sở thực hiện hướng nghiệp trong trường THCS, tạo điều kiện để HS sau khi tốt nghiệp THCS, tiếp tục học ở THPT, học TCCN, học trung cấp nghề, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội Đó còn là việc lựa chọn, sắp xếp mang tính xã hội để HS sau khi tốt nghiệp tiếp tục được theo những

Trang 30

khuynh hướng và ngành học khác nhau phù hợp với nguyện vọng, năng lực HS và nhu cầu xã hội hoặc tham gia lao động sản xuất

Học sinh sau tốt nghiệp THCS được phân chia theo các luồng khác nhau đó là: Giáo dục phổ thông (luồng chính); GDTX, giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất (các luồng phụ)

Xu thế hiện nay cần giảm học sinh vào luồng chính đến một tỉ lệ phù hợp, tăng

tỷ lệ học sinh các luồng phụ ở mức cần thiết, riêng đối với luồng lao động sản xuất phải giảm xuống càng ít càng tốt

1.4.2 Quản lý phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

Quản lý phân luồng học sinh sau THCS là những tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cấp quản lý giáo dục vào việc tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hoạt động hướng nghiệp, cơ sở của công tác phân luồng, trong và ngoài trường THCS (với sự hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả của các lực lượng xã hội) nhằm định hướng, giúp cho học sinh sau THCS được tiếp tục học ở THPT, học TCCN, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội

Có thể nói quản lý việc phân luồng học sinh đã được đề cập từ rất lâu nhưng thực tế việc triển khai lại chưa hiệu quả Đây là một vấn đề lớn của xã hội, của toàn Đảng và toàn dân Ngay sau khi có nghị quyết TƯ 2 năm 1998 về đổi mới giáo dục và đào tạo, Bộ GD&ĐT đã đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học nghề tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế

Chỉ thị số 10 -CT/TƯ ngày 5-12-2011 của Bộ chính trị cũng nêu rõ “đến năm

2020 phấn đấu có ít nhất 30% số học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề” nhưng thực

tế đến nay chỉ có 3,5% số học sinh tốt nghiệp THCS tham gia học nghề một tỷ lệ rất thấp so với mục tiêu đặt ra

Thực tế cơ cấu thị trường lao động Việt Nam chỉ cần 13-15% người lao động

có trình độ đại học, 50% người lao động có trình độ cao đẳng trung cấp , 20% sơ cấp

và khoảng 17% không qua đào tạo nghề Năm học 2016 - 2017 học sinh tốt nghiệp THCS thi lên THPT khoảng 76%, vào học tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên khoảng 7%, vào trung cấp chuyên nghiệp khoảng 3%, trung cấp nghề khoảng 5%, đi làm khoảng 9%.Vì vậy đã đến lúc chúng ta phải đẩy mạnh công

Trang 31

tác phân luồng, không chỉ có nói không mà phải có những việc làm cụ thể, có những chính sách phù hợp (tạo ra những rào cản kỹ thuật) để việc phân luồng được thuận lợi

1.4.3 Công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

1.4.3.1 Mục tiêu công tác phân luồng học sinh sau THCS

Phân luồng học sinh sau THCS là nhằm phát huy năng lực của người học tốt nhất theo khả năng, hoàn cảnh, điều kiện mà họ có được Công tác phân luồng học sinh sau THCS sẽ định hướng và giúp cho HS có thêm thông tin, tự mình định hướng cho phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH của quê hương, đất nước Việc học lên cao là nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của mỗi học sinh đã được qui định tại Luật giáo dục Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta nên biết tự lượng sức mình và dựa vào điều kiện cho phép để theo học tới đâu và phải theo học luồng nào cho phù hợp Vì vậy, có thể nói rằng, được bình đẳng về cơ hội ở các luồng trong học tập nhưng thật khó bình đẳng như nhau về sức học phân luồng học sinh sau THCS như cuộc thi marathon, mỗi cá nhân học sinh có một sức chạy khác nhau, không thể bình đẳng về đường dài và tốc độ Nếu chọn sai, chúng ta sẽ lỡ mất cơ hội tiến thân và sự chọn lựa chọn sai lầm đó sẽ theo ta suốt đời

1.4.3.2 Ý nghĩa của công tác phân luồng học sinh sau trung học sở

Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp hợp lý hoá xu hướng phân hoá của

HS sau THCS trên cơ sở năng lực học tập, nguyện vọng của HS và nhu cầu xã hội Phân hoá trong giáo dục là xu hướng tất yếu trong việc phát triển năng lực, hình thành nhân cách của HS sau một quá trình giáo dục, rèn luyện

Thật vậy, trong giáo dục phổ thông, sau mỗi lớp học, cấp học sự phân hóa sẽ chia HS thành những nhóm khác nhau về học lực, về sở thích, nguyện vọng, xu hướng nghề nghiệp Có sự khác biệt giữa phân luồng với phân hóa Đối với HS sau THCS, phân hóa giúp cho phân luồng được đa dạng và cụ thể hơn Trong mỗi luồng có sự phân hóa theo luồng, thí dụ trong luồng THPT có trường THPT chuyên, trường “không chuyên”, các trường năng khiếu khác nhau hoặc phân hóa nhỏ hơn (theo nhóm môn hoặc theo môn học tự chọn) như các ban khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản, khoa học

xã hội nhân văn… trong trường THPT “phân ban” Trong giáo dục nghề nghiệp có

Trang 32

trường TCCN, trường trung cấp nghề, sơ cấp nghề với nhiều ngành, nghề đào tạo khác nhau Trong GDTX có hình thức học tập trung, vừa học vừa làm, tự học có đăng ký, học theo lớp phổ cập… Cuối cấp THCS, HS chuẩn bị bước vào tuổi vị thành niên, tuổi lao động cho nên sự phân hoá trong HS cũng đa dạng và đủ lớn để phải tiến hành phân luồng sau THCS Đó là nguyện vọng của một bộ phận đông đảo HS, là yêu cầu cần thiết của xã hội Như vậy, phân luồng học sinh sau THCS cũng là yêu cầu khách quan

Phân luồng học sinh sau THCS làm đa dạng hoá phương thức học, luồng học cho người học, tạo điều kiện thích hợp cho nhiều người học và cho cả việc học lên chứ không làm triệt tiêu các cơ hội học lên của HS Nếu HS có nhu cầu nguyện vọng và năng lực thì việc học lên có nhiều cơ hội - như học liên thông, liên kết, từ xa, vừa học vừa làm…

Phân luồng học sinh sau THCS là phân luồng sớm, tích cực nhằm giải quyết nhu cầu nguyện vọng của người học và của xã hội Khác với phân luồng học sinh sau THPT

là chỉ có luồng giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất, phân luồng học sinh sau THCS ngoài giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất, người học còn có luồng tiếp tục học vấn phổ thông với mức độ phù hợp với trình độ, điều kiện của người học theo chương trình GDTX Ở Việt Nam, chúng ta vô tình xô đẩy một bộ phận đông đảo HS sau THCS yếu thế về học lực và hoàn cảnh, điều kiện gia đình không được tiếp tục học mà phải nghỉ học, phải tham gia lao động sản xuất mà trong tay không

có nghề qua đào tạo Phân luồng học sinh sau THCS cũng không phải là ép buộc những

HS sau THCS yếu thế về học lực và hoàn cảnh kinh tế về phía những phương thức học tập bất lợi mà là tạo ra phương thức học phù hợp và cơ hội học tập có hiệu quả đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng được học, nguyện vọng có nghề nghiệp của họ Thực hiện phân luồng học sinh sau THCS lành mạnh, đúng hướng thông thoáng thực chất là nâng cao hiệu quả giáo dục và hiệu quả xã hội: mặt bằng chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên, cơ cấu nhân lực được cải thiện, tránh được lãng phí xã hội trong giáo dục…

Phân luồng là làm cho cơ cấu tuyển sinh, cơ cấu đào tạo, cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu nguồn nhân lực của địa phương, đáp ứng nhu cầu nhân lực của các cơ

sở sản xuất, kinh doanh; qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế, bảo đảm cho kinh tế phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế khác trong

xu thế toàn cầu hoá hiện nay

Trang 33

Phân luồng cũng sẽ tạo ra cho mọi công dân những cơ hội học tập không ngừng, học tập liên tục, học tập suốt đời Mặt khác, phân luồng còn là cầu nối giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giữa giáo dục phổ thông với giáo dục ĐH và giữa đào tạo với việc làm Nói cách khác, phân luồng là cầu nối giữa người học với thị trường giáo dục - đào tạo và thị trường lao động Nếu chúng ta có chính sách phân luồng đúng đắn thì cơ cấu tuyển sinh và cơ cấu đào tạo sẽ được cân đối, dẫn tới cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, đủ các cấp độ, các trình độ, đủ năng lực đáp ứng được sự cạnh tranh trong toàn cầu của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy toàn xã hội phát triển

Ngoài ra công tác phân luồng có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc và nó còn có

ý nghĩa tôn trọng quyền của mọi công dân được sống, học tập, làm việc theo sở trường, nguyện vọng và năng lực làm việc của bản thân

1.4.4 Nội dung công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

1.4.4.1 Phân luồng giáo dục trung học phổ thông

Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [22]

1.4.4.2 Phân luồng giáo dục thường xuyên

“Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội

Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập” [17]

1.4.4.3 Phân luồng giáo dục nghề nghiệp

Luật Giáo dục 2005 quy định Giáo dục nghề nghiệp bao gồm [31]:

1 Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người

có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;

2 Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với trình độ sơ cấp, từ một đến

ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng

Trang 34

“Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức

kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc

Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo”

1.4.5 Hình thức phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

1.4.5.1 Giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở

Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội [19]

Nói cách khác, hướng nghiệp được bắt đầu từ khi HS đến trường đến khi các

em có một nghề trong tay mà trọng tâm vẫn là ở trường phổ thông và nền tảng của hướng nghiệp vẫn là hướng nghiệp ở trường THCS

Giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn HS, ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đồng thời phù hợp với năng lực cá nhân [7]

Giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông có nghiệm vụ: Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho HS làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên HS đi vào những nghề, những nơi đang cần [7]

Hướng nghiệp được tiến hành qua 4 giai đoạn: giáo dục nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề, thích ứng nghề Trách nhiệm chính ở 2 giai đoạn đầu là nhà trường phổ thông, còn 2 giai đoạn cuối là trách nhiệm của các trường DN, TCCN, CĐ, ĐH Nhưng

Trang 35

các trường CĐ, ĐH và TCCN phải giúp trường phổ thông làm công tác hướng nghiệp gắn chặt với trách nhiệm của toàn xã hội

Giáo dục nghề nghiệp được thực hiện thông qua 4 con đường: qua chương trình hướng nghiệp, qua các môn khoa học cơ bản, qua môn công nghệ và lao động sản xuất, qua tham quan, sinh hoạt ngoại khoá Nhưng dù qua con đường nào cũng đều hướng tới một mục đích chung là hình thành hứng thú, khuynh hướng và năng lực nghề cho

HS

Đại hội IX của Đảng đã khẳng định phải coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Việt Nam đang ở trong bối cảnh cạnh tranh cực kỳ khốc liệt và gay gắt của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xu thế hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao được bố trí theo

cơ cấu hợp lý để làm ra nhiều sản phẩm tốt, mẫu mã đẹp, giá thành hạ đủ sức cạnh tranh trên thương trường khu vực và quốc tế Đây cũng là trách nhiệm nặng nề đặt lên vai ngành GD&ĐT trong đó công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh có ý nghĩa cực kỳ to lớn [19]

1.4.5.2 Tuyển sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở

Giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [34] Tốt nghiệp THCS, HS sẽ có 3 sự lựa chọn thông qua 3 hình thức tuyển sinh: vào THPT, vào giáo dục nghề nghiệp hoặc vào GDTX

Mục đích tuyển sinh sau THCS nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cơ sở giáo dục, thực hiện phân luồng đào tạo sau khi HS học hết chương trình THCS

a Tuyển sinh vào trung học phổ thông:

Quy chế tuyển sinh THPT quy định:

- Có 3 phương thức: Xét tuyển, thi tuyển, kết hợp thi tuyển với xét tuyển

- Căn cứ tuyển sinh: Việc tuyển sinh được căn cứ vào kết quả rèn luyện, học tập

Trang 36

của 4 năm học ở THCS, nếu lưu ban lớp nào thì lấy kết quả năm học lại của lớp đó; điểm bài thi (đối với các phương thức có thi tuyển); điểm cộng thêm cho đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên, khuyến khích

Đối tượng tuyển sinh THPT là người đã tốt nghiệp THCS hoặc tốt nghiệp bổ túc THCS

b Tuyển sinh vào giáo dục nghề nghiệp:

Quy chế tuyển sinh TCCN quy định việc tuyển sinh đối tượng tốt nghiệp THCS như sau:

Điều kiện dự tuyển: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, nam, nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế nếu có đủ các điều kiện sau đây đều được dự tuyển vào TCCN:

+ Căn cứ vào kế hoạch tuyển sinh được Bộ GD&ĐT thông báo hằng năm, người

dự tuyển ghi nguyện vọng đăng ký dự tuyển vào trường phù hợp với khả năng và điều kiện của mình;

+ Thí sinh có thể đăng ký dự tuyển vào một hoặc nhiều trường theo mẫu phiếu đăng ký tuyển sinh thống nhất của Bộ GD&ĐT

- Trúng tuyển: Thí sinh đã dự thi đủ số môn quy định hoặc đã nộp đủ hồ sơ xét tuyển (đối với trường xét tuyển), nếu đạt điểm tuyển vào trường đã dự tuyển cho từng đối tượng, theo từng khu vực của từng ngành (nếu trường tuyển theo ngành), không có môn nào bị điểm không (0) thì trúng tuyển vào trường đã dự tuyển

- Tuyển sinh TCCN gồm các hình thức: Xét tuyển, thi tuyển và cử tuyển

- Hằng năm, các trường có chỉ tiêu đào tạo tiến hành tổ chức tuyển sinh để tuyển chọn chọn HS vào trường

- Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý nhà nước và chỉ đạo thống nhất đối với các trường về công tác tuyển sinh TCCN trong toàn quốc

Bên cạnh Quy chế tuyển sinh TCCN, Quy chế tuyển sinh học nghề cũng quy định việc tuyển sinh đối tượng tốt nghiệp THCS như sau:

Trang 37

- Tuyển sinh học nghề được thực hiện một hoặc nhiều lần trong năm theo quy định sau: Tuyển sinh học nghề trình độ sơ cấp thực hiện theo hình thức xét tuyển; Tuyển sinh học nghề trình độ trung cấp thực hiện theo hình thức xét tuyển:

+ Xét tuyển học nghề trình độ sơ cấp: Những người có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với nghề cần học, nếu nộp hồ sơ đăng ký học nghề trình độ sơ cấp đúng thủ tục theo quy định của cơ sở dạy nghề nào thì được cơ sở dạy nghề đó tuyển vào học nghề trình độ sơ cấp

+ Xét tuyển học nghề trình độ trung cấp: Tuỳ thuộc vào đối tượng tuyển sinh của từng nghề được thực hiện theo một trong các căn cứ sau: Điểm xét tốt nghiệp THCS; Điểm tổng kết các môn học của 4 năm học THCS; Điểm tổng kết các môn học lớp cuối THCS

c Tuyển sinh vào giáo dục thường xuyên:

Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX [9] quy định:

- Trung tâm GDTX có nhiệm vụ:

+ Tổ chức thực hiện các chương trình GDTX cấp THPT

+ Tổ chức các lớp học theo chương trình GDTX cấp THPT theo kế hoạch hằng năm của địa phương Ngoài ra, Trung tâm GDTX còn tổ chức liên kết đào tạo với trường TCCN và cơ sở giáo dục ĐH

- Hình thức học tập tại Trung tâm GDTX bao gồm: vừa làm vừa học, học từ xa

và tự học có hướng dẫn Với hình thức vừa làm vừa học được tổ chức theo lớp học

- Học viên học hết chương trình GDTX cấp THPT có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được giám đốc sở GD&ĐT cấp bằng tốt nghiệp THPT

1.5 Mối quan hệ giữa hoạt động GDHN và phân luồng HS sau THCS

Giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh có những đặc điểm và mục tiêu riêng, song lại quan hệ với nhau chặt chẽ và tạo điều kiện cho nhau thực hiện mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” với yêu cầu cao về chất lượng và hiệu quả

Trong hội nghị khu vực về Mô hình mới của giáo dục phổ thông trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI do UNESCO tổ chức tại Thái Lan tháng 8/1991, một trong những định hướng quan trọng là đa dạng hóa và nghề nghiệp hóa giáo dục trung học (Diversification and Vocationalisation) Điều đó tạo ra mục tiêu kép: học hỏi và yêu

Trang 38

cầu đáp ứng phát triển kinh tế-xã hội Để thực hiện mục tiêu kép có thể giải quyết theo các hướng (chính khóa hay tự chọn): đưa vào chương trình phổ thông một số phân môn như công nghệ, kinh tế gia đình,

Biện pháp giáo dục hướng nghiệp được thực hiện rõ nhất ở xây dựng chương trình giáo dục đào tạo với sự tiếp nối hợp lý và tránh trùng lập theo quan điểm tích hợp

Ví dụ: môn Lý, Hóa, Sinh được hình thành đảm bảo liên thông dọc trong các cấp học

từ dưới lên Đồng thời chú ý mặt bằng chung của từng môn thể hiện ở khoảng 70% phần cốt lõi, để khi chuyển đổi loại hình đào tạo đạt chuẩn Nghĩa là chuẩn kiến thức,

kỹ năng môn học của người tốt nghiệp THCS, THPT, TCCN hoặc đào tạo nghề khi vào học tiếp đại học phải tương đương nhau

Phân luồng giúp cho học sinh chủ động lựa chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó phù hợp với hoàn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội Phân luồng học sinh là yêu cầu khách quan, là xu thế phát triển hệ thống giáo dục của mọi quốc gia Tùy thuộc trình độ phát triển giáo dục và các điều kiện thực tế của mỗi nước mà lựa chọn phân luồng từ các cấp học, bậc học khác nhau Phân luồng học sinh được hiểu là sau khi tốt nghiệp mỗi bậc học thuộc hệ thống giáo dục chính quy hoặc không chính quy, học sinh lựa chọn những con đường khác nhau để đi tiếp, bao gồm: tiếp tục học lên trong hệ thống giáo dục theo Luật Giáo dục năm 2005; hoặc không học tiếp trong

hệ thống đó, ra trường tìm kiếm việc làm hoặc học nghề tại các trung tâm dạy nghề

Phân luồng học sinh nhằm phát triển cân đối, hợp lý hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề, tạo cơ hội cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ và những người lao động

có điều kiện được học tập nâng cao dân trí, đào tạo về nghề nghiệp để tham gia vào thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Phân luồng học sinh sau THCS sẽ nâng cao chất lượng giáo dục THPT, đồng thời tạo điều kiện phát triển các trường TCCN, dạy nghề Hiện nay, cả nước đang tiến hành công tác phổ cập giáo dục THCS, số học sinh sau THCS là rất lớn, nếu không có phân luồng tốt sẽ dẫn đến quá tải học sinh vào THPT, kéo theo khó khăn về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên

Thực tế cho thấy hầu hết học sinh sau THCS đều vào con đường chính là tiếp tục học lên THPT nên chất lượng bậc phổ thông giảm sút, số học sinh trúng tuyển vào

Trang 39

các trường CĐ-ĐH không cao Bên cạnh đó, các trường chuyên nghiệp do không tuyển được học sinh vào học, không tuyển được đủ số lượng chỉ tiêu; phần lớn học sinh các trường này đã tốt nghiệp THPT Nhận thức của các em và các bậc PHHS cho rằng vào các trường chuyên nghiệp chỉ là giải quyết tình thế để sau đó tạo cánh cửa học tiếp lên CĐ-ĐH Như vậy việc phân luồng tốt sẽ là cơ hội phát triển, mở rộng các trường TCCN

và dạy nghề; đảm bảo cho việc phát triển giáo dục chuyên nghiệp đi đúng hướng về phát triển nguồn nhân lực, theo yêu cầu CNH-HĐH đất nước như nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “…Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người; yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Mục đích của phân luồng học sinh: Phân luồng học sinh trong hệ thống giáo dục nhằm phát triển cân đối, hợp lý hệ thống giáo dục phổ thông, chuyên nghiệp, đại học, tạo mọi người có điều kiện được học tập nâng cao trình độ và năng lực nghề nghiệp để tham gia có hiệu quả vào thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Phân luồng học sinh hợp lý sẽ đáp ứng phát triển sự nghiệp CNH-HĐH đất nước trong những năm tới, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực được coi là vấn đề cốt lõi có tính chiến lược hướng tới mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” với chất lượng và hiệu quả cao Do sự khác nhau về tâm lý, điều kiện kinh tế gia đình, hoàn cảnh xã hội nên các em có những định hướng khác nhau, có sự lựa chọn con đường học vấn hoặc đi vào các nghề nghiệp khác nhau, giáo dục hướng nghiệp có vai trò tích cực trong định hướng nghề nghiệp tương lai cho các

em

Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS: Lên THPT; vào trung cấp chuyên nghiệp; vào các trường đào tạo nghề sơ cấp, nghề thường xuyên; học nghề trung cấp; học tại các trung tâm GDTX; tham gia vào thị trường lao động

THPT

GDTX

Trang 40

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS

Tác động hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào phát triển nguồn lao động: Chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức để học sinh có định hướng nghề nghiệp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức, kỹ năng để các em đi vào lao động đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân Giáo dục hướng nghiệp không chỉ tác động vào nhận thức cá nhân đối với nghề định chọn mà còn làm cho cá nhân đó hiểu được giá trị của nghề, hình thành hứng thú, say mê nghề nghiệp và cống hiến cuộc đời cho nghề đã chọn

Thực hiện mục tiêu đào tạo ở trường THCS: công tác giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo ở trường THPT Một mặt hướng nghiệp giúp điều chỉnh động cơ chọn nghề nghiệp của học sinh, mặt khác hướng nghiệp hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước Giáo dục hướng nghiệp giúp họ phát huy hết năng lực, sở trường lao động, phát triển khả năng sáng tạo trong lao động Từ đó, giúp học sinh xác định nghề nghiệp không chỉ để kiếm sống mà là nơi thể hiện nhân cách, phát triển tài năng, cống hiến sức lực trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước

Làm đồng bộ nguồn nhân lực, phân bố hợp lý lực lượng lao lao động: thực tiễn cho thấy sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào lao động sản xuất, đi vào sự phân công trong phạm vi cả nước và từng địa phương giáo dục hướng nghiệp là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ

Ngày đăng: 05/10/2023, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Vân Anh (1999), “Vấn đề phân luồng học sinh sau trung học cơ sở”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân luồng học sinh sau trung học cơ sở
Tác giả: Lê Vân Anh
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu giáo dục
Năm: 1999
3. Đặng Danh Ánh (1999), Dạy nghề; thách thức và giải pháp, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nghề; thách thức và giải pháp
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1999
4. Đặng Danh Ánh (2002), "Hướng nghiệp trong trường phổ thông", Tạp chí Giáo dục, số 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2002
5. Đặng Danh Ánh (2005), Vấn đề và hướng đi cho Giáo dục Hướng nghiệp Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Đối thoại Pháp Á”, Hà Nội tháng 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề và hướng đi cho Giáo dục Hướng nghiệp Việt Nam, "Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Đối thoại Pháp Á
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2005
6. Đặng Quốc Bảo (1998), Một số khái niệm về quản lý giáo dục - Trường Cán bộ quản lý GD&ĐT Trung ương I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1998
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục hướng nghiệp qua giáo dục nghề phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp qua giáo dục nghề phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Tổ chức tư vấn hướng nghiệp và tư vấn tuyển sinh cho nhóm lớn học sinh cấp trung học phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức tư vấn hướng nghiệp và tư vấn tuyển sinh cho nhóm lớn học sinh cấp trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
14. Phạm Tất Dong (1982), "Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông", Tạp chí đại học và trung học chuyên nghiệp, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 1982
15. Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất (2000), Tư vấn hướng nghiệp, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp
Tác giả: Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
16. Phạm Tất Dong (2001), Vấn đề hướng nghiệp trong văn kiện Đại hội IX, tài liệu tập huấn, Trung tâm lao động hướng nghiệp Hà Nội, trang 12 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hướng nghiệp trong văn kiện Đại hội IX
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2001
17. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
18. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung Ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung Ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1996
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương (Khóa IX), Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương (Khóa IX)
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội
Năm: 2002
21. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
24. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới bước vào thế kỷ 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới bước vào thế kỷ 21
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
25. Nguyễn văn Hộ (1988), Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp, Luận án Tiến sĩ Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp
Tác giả: Nguyễn văn Hộ
Năm: 1988
27. Trần Kiểm (2008), Khoa học Quản lý giáo dục Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học Quản lý giáo dục Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w