1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang

180 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang
Tác giả Nguyễn Duy Lam
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đức Lương, GS.TSKH. Trần Thế Tục
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận án tiến sỹ nông nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 17,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang”,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

NGUYỄN DUY LAM

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG GIỐNG CAM SÀNH TẠI HUYỆN HÀM YÊN, TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 62 62 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SỸ NÔNG NGHIỆP

Hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN ĐỨC LƯƠNG

2 GS.TSKH TRẦN THẾ TỤC

THÁI NGUYÊN - 2011

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, chưa từng được ai sử dụng và công bố trong bất cứ công trình nào khác

Luận án đã sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin này đều được trích dẫn rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Nguyễn Duy Lam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học

và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ của các cơ quan, các nhà khoa học, các cán bộ và các hộ nông dân ở địa phương mà đề tài đã triển khai, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, khoa Nông học, khoa Tài nguyên & Môi trường, các đơn vị chức năng cùng các đồng nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Ban giám hiệu, khoa Kỹ thuật Nông Lâm, các đơn vị chức năng và các đồng nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật,

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong những năm qua

Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đức Lương

và GS.TSKH Trần Thế Tục - những thầy giáo hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, truyền tải những kinh nghiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè thân hữu trong và ngoài cơ quan, người thân trong gia đình luôn hết lòng động viên, khích lệ và giúp đỡ

vô tư, nhiệt tình dành cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này

Tác giả

Nguyễn Duy Lam

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Các chữ viết tắt viii

Danh mục các bảng ix

Danh mục các sơ đồ xi

Danh mục các đồ thị xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

4 Những đóng góp mới của luận án 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5.1 Đối tượng nghiên cứu 5

5.2 Phạm vi nghiên cứu 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 6

1.2 Nguồn gốc và lịch sử trồng cam quít trên thế giới 7

1.3 Một số đặc điểm thực vật học chính của cam quít 13

1.3.1 Đặc điểm rễ cam quít 13

1.3.2 Đặc điểm thân, cành 14

1.3.3 Đặc điểm lá cam quít 15

1.3.4 Đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả ở cam quít 16

1.3.5 Ảnh hưởng của quá trình thụ phấn đến năng suất, chất lượng quả 18

1.3.6 Hiện tượng đa phôi ở cam quít 19

Trang 5

1.4 Một số yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cam quít 20

1.4.1 Nhiệt độ 20

1.4.2 Nước 20

1.4.3 Đất đai 21

1.4.4 Ánh sáng 21

1.4.5 Dinh dưỡng đối với cam quít 22

1.5 Sâu bệnh hại cam quít và các biện pháp phòng trừ 25

1.5.1 Tình hình sâu bệnh hại cam quít 25

1.5.2 Các biện pháp phòng, trừ sâu bệnh hại trên cam quít 27

1.6 Tuyển chọn giống cam quít 30

1.6.1 Chọn giống 30

1.6.2 Tuyển chọn và nhân giống cam quít ở Việt Nam 33

1.7 Tóm tắt tổng quan tài liệu trong mối quan hệ với nội dung đề tài 38

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Vật liệu nghiên cứu 39

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39

2.3 Nội dung nghiên cứu 39

2.3.1 Khái quát đặc điểm chính về điều kiện tự nhiên trong mối quan hệ với sản xuất cây ăn quả và sản xuất cam sành ở Hàm Yên 39

2.3.1.1 Vị trí địa lý 39

2.3.1.2 Đặc điểm khí hậu 39

2.3.1.3 Đặc điểm đất đai 39

2.3.1.4 Đặc điểm địa hình 39

2.3.1.5 Một số nhận xét chung về điều kiện tự nhiên trong mối quan hệ với sản xuất cây ăn quả và sản xuất cam sành 39

2.3.2 Điều tra tình hình sản xuất giống cam sành ở vùng Hàm Yên 39

2.3.2.1 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp 39

2.3.2.2 Tình hình sản xuất cam sành 39

2.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của giống cam sành 39

Trang 6

2.3.3.1 Đặc điểm về hình thái 39

2.3.3.2 Đặc điểm về sinh trưởng phát triển 40

2.3.4 Điều tra đánh giá tuyển chọn cây cam sành ưu tú 40

2.3.4.1 Kết quả tuyển chọn cây cam sành ưu tú 40

2.3.4.2 Theo dõi một số đặc điểm sinh vật học của cây cam sành ưu tú 40

2.3.5 Áp dụng biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong sản xuất cam sành 40

2.3.5.1 Xác định lượng phân Đạm thích hợp kết hợp với các biện pháp kỹ thuật tổng hợp 40

2.3.5.2 Xác định lượng phân Lân thích hợp kết hợp với các biện pháp kỹ thuật tổng hợp 40

2.3.5.3 Xác định lượng phân Kali thích hợp kết hợp với các biện pháp kỹ thuật tổng hợp 40

2.4 Phương pháp nghiên cứu 40

2.4.1 Các chỉ tiêu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất 40

2.4.2 Nghiên cứu các chỉ tiêu về đặc điểm sinh vật học 43

2.4.3 Tuyển chọn cây ưu tú 45

2.4.4 Áp dụng biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm khắc phục các yếu tố hạn chế trong sản xuất cam sành 47

2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 50

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51

3.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên huyện Hàm Yên có liên quan với sản xuất cam quít 51

3.1.1 Vị trí địa lý 51

3.1.2 Đặc điểm khí hậu huyện Hàm Yên 51

3.1.3 Địa hình 53

3.1.4 Đặc điểm đất đai 53

3.1.5 Một số nhận xét chung về điều kiện tự nhiên 54

3.1.5.1 Những thuận lợi 54

Trang 7

3.1.5.2 Những hạn chế 54

3.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và sản xuất cam sành 55

3.2.1 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp 55

3.2.2 Kết quả nghiên cứu về hiện trạng sản xuất cam sành 58

3.2.2.1 Tình hình sản xuất 58

3.2.2.2 Một số đặc điểm về hiện trạng sản xuất cam sành 59

3.3 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học cam sành Hàm Yên 70

3.3.1 Đặc điểm hình thái 70

3.3.1.1 Đặc điểm thân cành 70

3.3.1.2 Đặc điểm của lá 71

3.3.1.3 Đặc điểm của hoa 72

3.3.1.4 Đặc điểm quả 72

3.3.1.5 Đặc điểm hạt 73

3.3.2 Một số đặc điểm về sinh trưởng 74

3.3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và mối liên hệ giữa các đợt lộc 74

3.3.2.2 Một số nhận xét từ những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học cam sành 82

3.4 Kết quả tuyển chọn và theo dõi một số đặc điểm năng sinh học cây cam sành ưu tú 83

3.4.1 Kết quả tuyển chọn cây cam sành ưu tú 83

3.4.2 Một số đặc điểm sinh vật học của cây cam sành ưu tú 86

3.5 Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tổng hợp 91

3.5.1 Kết quả xác định mức phân Đạm kết hợp với một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp đối với cam sành 91

3.5.2 Kết quả xác định mức bón phân Lân kết hợp với một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp đối với cam sành 97

3.5.3 Kết quả xác định mức bón phân Kali kết hợp với một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp đối với cam sành 102

3.5.4 Một số nhận xét chung rút ra từ 03 thí nghiệm 107

Trang 8

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 108

I Kết luận 108

1 Đặc điểm sản xuất cam sành vùng Hàm Yên 108

2 Đặc điểm nông sinh học giống cam sành trồng trọt ở vùng Hàm Yên 108

3 Tuyển chọn cây cam sành ưu tú 108

4 Áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp 109

II Đề nghị 109

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐD : Cây đầu dòngNAA : Naphtalene acetic acid IAA : Indole acetic acid

GA3 : Giberrelin PRC : Polymerase Chain Reaction ELISA : Enzyme Linked Immuno Assay RRA : Rapid Rural Appraisal

PRA : Participatory Rapid Rural Appraisal ĐHCT : Đại học Cần Thơ

ĐHNN I : Đại học Nông nghiệp I VNC : Viện Nghiên cứu CAQ : Cây ăn quả KHKTNN : Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

NPK : Phân vô cơ tổng hợp

P205 : Lân nguyên chất K20 : Kali nguyên chất PTNT : Phát triển nông thôn UBND : Ủy ban nhân dân NXBNN : Nhà xuất bản Nông nghiệp NXB Hà Nội : Nhà xuất bản Hà Nội

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

B ảng 1.1: Các loài cam quít thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 10

B ảng 1.2: Tên gọi của các nhóm con lai (hybrids) 10

B ảng 1.3: Mức phân bón đối với cam quít 23

B ảng 1.4: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam quít 24

B ảng 1.5: Một số giống cam quít nhập nội vào Việt Nam những năm gần đây 31

B ảng 1.6: Kết quả điều tra các giống cam quít ở Việt Nam 32

B ảng 1.7: Kết quả tuyển chọn tập đoàn cây có múi sạch bệnh 34

B ảng 3.1: Một số loại đất chính huyện Hàm Yên 53

B ảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất huyện Hàm Yên năm 2005; 2007 và 2009 55

B ảng 3.3: Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp năm 2005; 2007 và 2009 56

B ảng 3.4: Diện tích một số cây ăn quả chính năm 2005; 2007 và năm 2009 57

B ảng 3.5: Tình hình sản xuất cam sành từ năm 2001 đến năm 2008 58

B ảng 3.6: Một số tính chất của đất huyện Hàm Yên 60

B ảng 3.7: Hiện trạng sử dụng đất trồng cam sành 61

B ảng 3.8: Năng suất cam sành trung bình theo độ tuổi và cấp độ dốc 61

B ảng 3.9: Hình thức nhân giống sản xuất cam sành ở Hàm Yên 62

B ảng 3.10: Nguồn gốc xuất xứ giống cam sành trồng ở Hàm Yên 63

B ảng 3.11: Các loại sâu, bệnh hại chính và mức độ phổ biến 64

B ảng 3.12: Thời gian phát sinh gây hại nhiều của các loại sâu, bệnh chính 66

B ảng 3.13: Đặc điểm thân cành cây cam sành 71

B ảng 3.14: Một số đặc điểm của lá cam sành 72

B ảng 3.15: Một số chỉ tiêu về đặc điểm quả cam sành 72

B ảng 3.16: Một số chỉ tiêu về chất lượng quả cam sành 72

B ảng 3.17: Một số chỉ tiêu về thành phần sinh hoá quả cam sành 73

B ảng 3.18: Đặc điểm hạt cam sành 73

B ảng 3.19: Đặc điểm sinh trưởng các đợt lộc cam sành 75

B ảng 3.20: Tỷ lệ các loại cành xuân cam sành 77

B ảng 3.21: Nguồn gốc phát sinh các đợt lộc cam sành 79

Trang 11

B ảng 3.22: Đặc điểm cành mang hoa và quả cam sành 80

B ảng 3.23: Kết quả đánh giá, tuyển chọn năm thứ nhất 84

B ảng 3.24: Kết quả đánh giá, tuyển chọn cây ưu tú năm thứ hai 84

B ảng 3.25: Kết quả tuyển chọn 11 cây ưu tú ở năm thứ ba 85

B ảng 3.26: Năng suất và địa chỉ của các cây ưu tú 85

B ảng 3.27: Một số đặc điểm về hình thái các cây ưu tú 86

B ảng 3.28: Tỷ lệ các đợt lộc trong năm của các cây ưu tú 87

B ảng 3.29: Một số đặc điểm về lộc xuân của các cây ưu tú 87

B ảng 3.30: Một số đặc điểm về lộc hè của các cây ưu tú 88

B ảng 3.31: Một số đặc điểm về lộc thu của các cây ưu tú 88

B ảng 3.32: Một số đặc điểm về lộc đông của các cây ưu tú 89

B ảng 3.33: Tỷ lệ đậu quả và năng suất của các cây ưu tú 89

B ảng 3.34: Một số chỉ tiêu sinh hóa trong dịch quả của các cây ưu tú 90

B ảng 3.35: Ảnh hưởng của thí nghiệm đến một số chỉ tiêu sinh trưởng 91

B ảng 3.36: Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và phân Đạm đến tình hình ra lộc của cây 92

B ảng 3.37: Các biện pháp kỹ thuật và phân Đạm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả 93

B ảng 3.38: Các biện pháp kỹ thuật và phân Đạm ảnh hưởng đến năng suất 94

B ảng 3.39: Sơ bộ hạnh toán hiệu quả kinh tế thí nghiệm phân Đạm 96

B ảng 3.40: Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng 97

B ảng 3.41: Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến sự ra lộc 98

B ảng 3.42: Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả 99

B ảng 3.43: Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến năng suất 100

B ảng 3.44: Sơ bộ hạnh toán kinh tế thí nghiệm với phân Lân 101

B ảng 3.45: Tác động thí nghiệm phân Kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng 102

B ảng 3.46: Các biện pháp kỹ thuật và phân Kali ảnh hưởng đến sự ra lộc của cây 103

B ảng 3.47: Các biện pháp kỹ thuật và phân Kali ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả 104

B ảng 3.48: Các biện pháp kỹ thuật và phân Kali ảnh hưởng đến năng suất 105

B ảng 3.49: Sơ bộ hạnh toán về hiệu quả kinh tế các công thức thí nghiệm 106

Trang 12

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

S ơ đồ 3.1: Tỷ lệ các loại cành của lộc xuân năm thứ nhất 77

S ơ đồ 3.2: Tỷ lệ các loại cành của lộc xuân năm thứ hai 77

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Nhiệt độ, lượng mưa và ẩm độ trung bình 5 năm huyện Hàm Yên 52

Hình 3.2: Nhiệt độ trung bình 5 năm huyện Hàm Yên 52

Hình 3.3: Diện tích một số cây ăn quả chính 57

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với những công cuộc đấu tranh: khám phá, chinh phục, giải phóng, khai thác và cải tạo thiên nhiên, nhằm thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng các loại sản phẩm sinh học

Sản phẩm hoa quả là một trong những loại sản phẩm có ý nghĩa quan trọng và không thể thiếu được trong tiêu dùng hàng ngày của con người Khi

xã hội càng phát triển thì nhu cầu đó cũng ngày càng tăng Trong các loại sản phẩm về hoa quả, thì sản phẩm cây ăn quả có múi, nhất là cam quít luôn có một vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất

Việt Nam được xác định là quê hương của cam quít (Bùi Huy Đáp [22], [23] và nhiều các tài liệu khác (Hume H.H (1957) [99]; Swingle, W (1967) [111]; [104]; [112] có cùng chung nhận định), ngoài những giống cam quít của địa phương và nhập nội, hiện nay còn tìm thấy nhiều loài hoang dại thuộc

họ cam quít Hiện nay cam quít trở thành một trong những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống gồm khoảng gần 200 giống khác nhau (Viện nghiên cứu Rau Quả Hà Nội (2000) [76])

Việt Nam tuy là nước trồng nhiều cam quít và có lịch sử trồng trọt từ lâu, nhưng năng suất, chất lượng và các sản phẩm của cam quít hiện nay còn

ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Nguyên nhân, do Việt Nam còn thiếu bộ giống tốt, công tác giống chưa thực sự được chú trọng và quản lý tốt, điều kiện kinh

tế còn hạn hẹp, trình độ dân trí còn thấp, tập quán sản xuất còn mang nặng tính quảng canh Các địa phương còn thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn thực

sự có năng lực cũng như trình độ khoa học

Trang 14

Vùng Trung du - Miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu

và nguồn gen phong phú cho phép phát triển tốt về cây ăn quả Cam quít, trên thực tế đã là cây trồng phổ biến, nhiều nơi trồng thành những vùng tập trung từ vài trăm đến vài nghìn hec ta như ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), Bắc Quang, Vị Xuyên (Hà Giang), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Bạch Thông (Bắc Kạn) Trong tập đoàn giống cam quít ở vùng Trung du - Miền núi phía Bắc, cam sành

(Citrus nobilis Lour) là một giống lai giữa cam và quít (C.reticulata x C.sinensis)

(Do Dinh Ca (1995) [96]) được người dân trồng trọt lâu năm và hiện nay đang

có diện tích trồng trọt lớn nhất so với các giống khác

Huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang), nổi tiếng có vùng cam sành rộng lớn, thương hiệu cam sành Hàm Yên chính thức xuất hiện và được công bố rộng rãi tháng 12/2007 (UBND huyện Hàm Yên [75]) Theo số liệu thống kê của Trung tâm cây ăn quả Hàm Yên năm 2010 [75], toàn huyện hiện có hơn 2.500 hộ trồng cam, trong đó có 2.255 hộ có diện tích trồng dưới 2 ha, 240 hộ

có diện tích từ 2 - 3 ha, 43 hộ có diện tích từ 3 - 5 ha và 10 hộ có diện tích hơn 5ha Cây cam hiện đang chiếm vị trí quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nơi đây (Việt Anh (2010) [1]) Chính từ loại cây này, Hàm Yên đã xuất hiện những “triệu phú cam sành” là người dân tộc thiểu số như Chúng A Sính; Chúng A Lỷ - thôn Thọ xã Phù Lưu, năm 2010 trừ chi phí còn lãi trên 300 triệu đồng, ngoài ra còn khá nhiều hộ nông dân khác đã trở thành triệu phú từ trồng cam

Tuy nhiên, vùng cam sành Hàm Yên - Tuyên Quang những năm gần đây có nhiều diễn biến cần quan tâm là: diện tích trồng trọt tăng mạnh, năng suất bình quân được cải thiện, tình hình sâu bệnh hại nghiêm trọng diễn ra phổ biến trên diện rộng, tuổi thọ của cây và vườn ngắn, giống bị thoái hoá và đang có nguy cơ bị mất đi nguồn gen quý Bên cạnh đó cũng chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu chi tiết kỹ thuật trồng trọt giống này Tác giả Đỗ Đình Ca (1995) [11] khi nghiên cứu khả năng phát triển vùng cam quít tại Hà Giang

Trang 15

đưa ra kết luận: Mỗi vùng đều có những đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên,

kinh t ế xã hội, kể cả về loại giống cây trồng, vật nuôi, bởi vậy khi xem xét, nghiên c ứu các loại cây trồng nói chung và cam quít nói riêng phải đặt nó trong t ừng điều kiện sinh thái, điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể Sẽ không có đề

xu ất có ý nghĩa nếu như trong một điều kiện chung

Với thực tế nêu trên, việc chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật

học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang” là rất cần thiết

2 Mục tiêu của đề tài

- Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất, nhằm đánh giá khả năng thích ứng của giống, cũng như hiệu quả của việc sản xuất giống cam sành trong điều kiện sinh thái vùng Hàm Yên Xác định những hạn chế và những căn nguyên của nó do phương thức canh tác mà nông dân trong vùng đang áp dụng để có những đề xuất thích hợp giúp sản xuất có hiệu quả

- Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học giống cam sành trồng tại Hàm Yên, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm phát huy những đặc điểm di truyền của giống trong điều kiện sinh thái của vùng

- Điều tra, đánh giá và tuyển chọn những cây ưu tú trong quần thể cam sành trồng trọt ở địa phương, kết quả tuyển chọn sẽ là vật liệu khởi đầu cho nghiên cứu và sản xuất giống chất lượng

- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm khắc phục một số hạn chế đang tồn tại từ thực trạng canh tác ở địa phương, giúp cho ngành sản xuất cam sành của địa phương có hiệu quả bền vững

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung những tư liệu khoa học về đặc điểm nông sinh học của giống cam sành trồng ở khu vực miền núi phía Bắc, góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu về cam quít nói chung ở Việt Nam

Trang 16

- Các vật liệu tuyển chọn từ công trình này có ý nghĩa bảo vệ và duy trì nguồn gen bản địa loài cây ăn quả quí mang tính đặc sản của Tuyên Quang cũng như ở vùng miền núi phía Bắc

- Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập cũng như chỉ đạo sản xuất tại các

cơ sở Miền núi vốn còn đang lạc hậu và kém phát triển

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả điều tra, đánh giá và phân tích về điều kiện tự nhiên, tình hình sản xuất nhằm xác định rõ những hạn chế và những căn nguyên của nó do phương thức canh tác phổ biến trong vùng Kết quả áp dụng một số biện pháp kỹ thuật góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất cam sành vùng Hàm Yên cũng như khu vực Miền núi phía Bắc đạt hiệu quả hơn

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho công tác xây dựng định hướng, kế hoạch, quản lý, chỉ đạo sản xuất cam quít nói chung và cây cam sành nói riêng đạt hiệu quả hơn trong điều kiện đặc thù của địa phương cũng như các vùng có có điều kiện tương tự

- Kết quả tuyển chọn những cá thể cam sành ưu tú từ công trình này đặc biệt có ý nghĩa với công tác sản xuất giống chất lượng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất ở trong vùng

4 Những đóng góp mới của luận án

- Là công trình khoa học đề cập có hệ thống giữa nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đánh giá tiềm năng phát triển giống cam sành vùng Hàm Yên

- Tuyên Quang Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và có ý nghĩa thiết thực

để tham khảo trong công tác xây dựng định hướng phát triển sản xuất giống này ở những vùng có điều kiện sinh thái tương tự thuộc vùng núi phía Bắc

- Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của giống cam sành góp phần đi sâu nghiên cứu bổ sung về giống cam sành trồng tại Việt Nam nói chung và giống cam sành trồng ở vùng núi phía Bắc nói riêng

Trang 17

- Đề tài đã tuyển chọn được 03 cây cam sành ưu tú (CĐDCAMSANH 17-01; CĐDCAMSANH 17-02; CĐDCAMSANH 17-03) trong quần thể cam sành bản địa, kết quả sẽ rất có ý nghĩa đối với công tác bảo trì nguồn gen của giống cũng như với công tác nghiên cứu và sản xuất giống đảm bảo chất lượng phục vụ mở rộng sản xuất có hiệu quả

- Tổng hợp những kết quả điều tra về thực trạng sản xuất đã xác định rõ những hạn chế và những căn nguyên cơ bản đang tồn tại phổ biến trong sản xuất Trên cơ sở đó đã xác định việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp (bón vôi, bón phân vi lượng, tưới nước, tỉa cành, tỉa lộc, tỉa quả ) kết hợp với mức phân bón 40kg P/C + 1,5 kg đạm Urê + (2-2,5) kg phân lân Suppe + 1,0

kg Kali cho cam sành ở thời kỳ sản xuất kinh doanh (từ 5 đến 7 tuổi) đạt hiệu quả sản xuất cao

- Những tư liệu thu thập được của đề tài là những thông tin khoa học có

ý nghĩa trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như trong công tác quản lý, quy hoạch và chỉ đạo sản xuất

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Giống cam sành trồng ở Hàm Yên

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài bắt đầu từ năm 2005 đến năm 2009 tại các

xã vùng cam huyện Hàm Yên Chủ yếu đi sâu nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học, làm cơ sở cho việc chọn tuyển cây ưu tú và áp dụng các biện pháp

kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng giống cam sành trồng ở Hàm Yên

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu tiềm năng cây ăn quả Việt Nam (Bùi Huy Đáp (1960)[23], Nguyễn Minh Châu (1997)[14], Trần Thế Tục (1967)[67], và nhiều tác giả khác [8], [30], [32], [81], ) cùng có chung nhận định, khu vực miền núi phía Bắc bao gồm các tỉnh: Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn là vùng có tiềm năng phát triển cam quít lớn, đặc biệt có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng

mở rộng diện tích và có tập đoàn giống phong phú, đa dạng Khí hậu ở vùng này ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cam quít, còn

có ưu thế nổi bật so với một số vùng khác trong nước là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả cam quít đẹp, chất lượng tốt, thể hiện đặc trưng của giống, vì vậy quả cam quít ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở phía Nam, quả ít hạt hơn, thịt mềm, mọng nước và ít xơ bã Ngoài những ưu thế nổi bật trên, sản xuất cam quít vùng này còn gặp một số hạn chế rất cơ bản là:

- Địa bàn phân tán, ít vùng có điều kiện sản xuất tập trung lớn

- Địa hình dốc, hiện tượng xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh làm cho đất chóng nghèo kiệt dẫn tới tuổi thọ của cam quít ngắn, nếu như không có biện pháp bảo vệ đất và chăm sóc tốt

- Cơ sở hạ tầng kém phát triển, khó khăn trong việc đầu tư lớn Giao thông đi lại khó khăn, hạn chế về tiếp thị thị trường, mở rộng vùng sản xuất

- Trình độ dân trí thấp, trình độ quản lý và chuyên môn của đội ngũ cán

bộ còn hạn chế Việc áp dụng khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất chưa nhiều, tiến độ chậm Đây là một trong những hạn chế mang tính

xã hội cao và cực kỳ quan trọng vì phong tục tập quán của người dân vùng này còn nặng nề, tính thích ứng với cơ chế thị trường sản xuất hàng hoá chậm

Trang 19

- Tình trạng sâu bệnh hại phát triển trên diện rộng, đặc biệt là những bệnh nghiêm trọng như Greening, Tresteza,

- Sản phẩm nông nghiệp nói chung, cam quít nói riêng chưa theo kịp sự

cạnh tranh với cơ chế thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu

Cam quít được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng,

ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố: các yếu tố về nội tại (di truyền), các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng, đất đai ) và các yếu tố về kỹ thuật canh tác Trong đó, các yếu tố về sinh thái ít có sự thay đổi, có thay đổi cũng mang tính quy luật và thường diễn ra trong khoảng thời gian dài, chính

vì vậy những đặc tính ưu việt của giống (các yếu tố nội tại) biểu hiện ở quá trình sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao, phẩm chất tốt chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố về biện pháp kỹ thuật canh tác Tổng hợp những kết quả đã nghiên cứu cam, quít của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả

Đỗ Đình Ca (1995) [11] nhận định: “Không thể có một kỹ thuật nào, một

gi ống nào chung cho tất cả các vùng trên thế giới cũng như ở trong nước trong vi ệc sản xuất Cam, Quít” Vì vậy, mỗi vùng sinh thái đặc trưng cần phải

xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với yêu cầu (nội tại) của từng giống

1.2 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ TRỒNG CAM QUÍT TRÊN THẾ GIỚI

Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quít có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất Có nhiều kết quả nghiên cứu nói về nguồn gốc của cam quít (Bùi Huy Đáp (1960) [23]; Trần Thế Tục (1967) [67]; Haa A.R.C (1984) [97]; Reuther, W (1973) [110]; Wakana, A., (1988) [114]; Walter Reuther et al [115], [116]; …) phần lớn đều thống nhất cam quít có nguồn gốc

ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây (Huang C.H, (1990) [100]; R.B.Singh (1993) [107]; Wakana A Kira (1998) [114]) nhận định, tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quít quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất

Trang 20

nhiều loài cam quít hoang dại Loài chanh yên, phật thủ (Citrus medica) có

nguồn gốc tại miền nam Trung Quốc, là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ 1 sau công nguyên, những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở Bắc Phi đến mức làm nhiều

người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây Các loài chanh vỏ mỏng (Lime,

C Auranlifolia Swingle) được xác định) có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc và miền tây Ấn Độ, sau đó được các thuỷ thủ đi biển mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải và châu Âu, v.v

Các loài chanh núm (Lemon, Citrus lemon) chưa xác định được nguồn

gốc, nhưng những kỹ thuật di truyền hiện đại gần đây cho thấy có thể chanh

núm là con lai tự nhiên giữa Citrus medica và Citrus Aurantifolia, chính vì

vậy mà chanh núm có dạng hình thái trung gian giữa hai loại vừa kể trên Chanh núm được xác định sử dụng như một loại quả sớm nhất vào năm 1150

ở bắc Phi, vùng biển Địa Trung Hải và châu Âu

Cam ngọt (Citrus Sinensis L.) được xác định có nguồn gốc ở miền nam

Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonecia, sau đó cũng giống như loài

Citrus medica được các thuỷ thủ và những người lính viễn chinh mang về trồng

ở châu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 (Walter Reuther et

al (1989) [117] Giống cam nổi tiếng thế giới "Washington Navel", ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là dạng đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Bahia Brazil, lần đầu tiên trồng ở

Úc năm 1824, ở Florida (Mỹ) năm 1835, ở Califolia năm 1870 và sau đó ở Washinhton nó trở nên rất nổi tiếng với tên gọi cam Washinhton Navel (Raymond, P.P (1979) [106] Giống Washinhton Navel được du nhập và trồng

ở khắp các vùng cam quít trên thế giới

Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo (theo tác giả Bùi Huy Đáp

(1960) [22]; Walter Reuther el al [114]) có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900

Trang 21

sau công nguyên và tiếp theo mới đến các nước ở châu Âu Bưởi chùm

(Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền tây Ấn Độ,

tiếp theo là trồng ở Bang Florida (Mỹ) vào năm 1809, sau đó lan rộng và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ Các giống quít cũng được xác định có nguồn gốc ở miền nam châu Á, gồm miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó được những người đi biển mang đến

trồng ở Ấn Độ Quít (Citrus reticulata) được trồng ở vùng Địa Trung Hải, châu

Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác, vào khoảng năm 1805 Tóm lại, cam quít có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quít trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây

* Các loài trong họ cam quít

Theo tác giả Swingle, W T và Reece, P C (1967) [111], cam quít

thuộc họ Rutaceae có chung những đặc điểm phân loại như: cây có mang

tuyến dầu (chủ yếu phân bố ở lá), bầu mọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả gồm 2 hay nhiều noãn bên trong

Họ Rutaceae, được phân chia thành 130 giống (genus) nằm trong 7 họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ Aurantirideae có ý nghĩa nhất Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citreae (28 genus) và tộc phụ Citrinae (13 genus), 3 nhóm: “tiền cam quít”, “gần cam quít” và nhóm “cam quít thực sự” (true citrus group) được phân nhóm từ Citreace và tộc phụ Citrnae Sự phân loại cam quít khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều

giống (cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của các giống này (hybrids), đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó

khăn cho phân loại cam quít

Tác giả Wakana A Kira (1988) [113] tổng hợp, hiện nay tồn tại 2 hệ thống phân loại cam quít được áp dụng nhiều là Swingle phân chia cam quít ra

thành 16 loài (species) và Tanaka (Nhật Bản) phân chia cam quít gồm 160 -

Trang 22

162 loài Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (cultivars)

cam quít qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở thành giống mới, căn cứ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị và ông phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka Bảng phân loại của Swingle đơn giản hơn nên được sử dụng nhiều, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quít vì bảng phân loại này chi tiết đến tên từng giống Có 10 loài quan trọng nhất trong

nhóm “True citrus group” (bảng 1.1) và và tên của một số nhóm con lai phổ

biến (bảng 1.2), đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, cụ thể được mô tả như sau:

* Các loài cam quít có ý nghĩa trong sản xuất

Bảng 1.1: Các loài cam quít thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Citron Lime Tritoliate (poncirus) Kumquat

Cam ngọt Cam chua Quít Bưởi chùm Bưởi Chanh ta Chanh núm Chanh vỏ mỏng có núm Chanh đắng (chanh 3 lá) Quất

Bảng 1.2: Tên gọi của các nhóm con lai (hybrids)

Poncirus × sweet orange Poncirus × grapefruit Lime × kumquat

Trang 23

Bưởi (C grandis): Quả to nhất trong các loài cam quít, vị chua hoặc

ngọt, bầu có từ 13 - 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay các giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi, và được trồng chủ yếu ở các nước nhiệt đới như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Trung Quốc Việt Nam có rất nhiều giống bưởi nổi tiếng (Vũ Công Hậu [33]) như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi, bưởi Diễn, v.v

Bưởi chùm (C paradisi): Được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của

bưởi (C grandis) (theo Swinge [111] và Walter reuther [115], [116]), vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi (C.grandis) nhưng lá nhỏ hơn, eo lá

cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ Bưởi chùm có những giống ít hạt (giống Duncan), phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng rất được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cả cùi cắt thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng bang Florida Mỹ chiếm 70 % sản lượng bưởi chùm của thế giới Ở Việt Nam vào những năm 60 đã nhập nội một số giống bưởi chùm như Duncan, marsh, forterpink, v.v cho năng suất khá, tuy nhiên bưởi chùm chưa được ưa chuộng thực sự ở Việt Nam (Bùi Huy Đáp [23])

Cam ngọt (C sinensis): Cam ngọt quả to hơn các loài cam khác, mùi

vị tinh dầu ở lá các loài cam quít là một đặc điểm để phân loại, lá quít có mùi cay đậm hơn các loại lá khác Đặc điểm cam ngọt là có vị rất ngọt, quả có từ 9

- 13 múi, vỏ mỏng và mịn, cam ngọt chiếm tới 2/3 sản lượng cam quít trên thế giới, là sản phẩm được ưa chuộng nhất trong các loại quả có múi Cam ngọt được chia làm rất nhiều nhóm giống như cam Navel, cam Valencia, cam vàng, cam máu, v.v (Richard Ray Lance Walheim (1980) [109])

Quít (C Reticulata): Tuyến dầu của quít có múi đặc trưng giúp có thể

phân biệt được với các loài khác, quả quít nhỏ, vỏ nhẵn, rất rễ bóc vỏ, lá có răng cưa khá điển hình, ở một số giống, mặt dưới lá màu xanh nhạt, hoa mọc đơn hoặc chùm nhưng không bao giờ mọc thành chùm có nhánh, màu sắc vỏ

Trang 24

quả rất hấp dẫn từ vàng đến vàng - đỏ, đỏ Quít cũng được chia thành các nhóm khác nhau như quít Sasuma (trồng phổ biến ở Nhật Bản, còn được gọi

là quít Unshiu hay quít Ôn Châu), quít Kinh hay còn gọi theo tiếng Nhật Bản

là quít Kunenbo, quít vàng, nhóm quít không hạt trong đó có quít Dancy, Clementine v.v (H.H.Hume (1957) [99]; Walter Reuther el al (1989))[117]

Các loại chanh: Bao gồm có Chanh núm (C medica), chanh núm vỏ

mỏng (C aurantifolia), chanh ta (C limon) Các giống chanh được chia chủ

yếu thành 2 nhóm chanh chua và chanh không chua (acidless) Hạt chanh đa

số là hạt đa phôi, múi tinh dầu của lá cũng đặc trưng cho từng loài, chanh chua độ acid có thể lên đến 7 - 8 % Hoa của chanh núm và chanh vỏ mỏng có màu tím trước khi nở rất đặc trưng, gân lá của 3 loại chanh kể trên cũng rất khác nhau, dựa vào đó có thể phân biệt được từng loại khi không có quả trên

cây Ở Việt Nam thấy có cả 3 loại bao gồm: Chanh yên, phật thủ (C medica), chanh giấy, chanh vỏ mỏng có núm (C aurantifolia), chanh ta (C limon) v.v

(Walter Reuther et al (1989) [116], [117])

Cam sành: Phân loại khoa học, tác giả Hume H.H (1957) [99] cho

rằng, cam sành thuộc Giới (regnum): Plantae; ngành (divisio): Angiospermae; Lớp (class): Eudicots; Bộ (ordo): Sapindales; Họ (familia): Rutaceae; Chi (genus): Citrus; Loài (species): C reticulata x maxima Cam sành thuộc chi

Cam chanh, quả gần như quả cam, có nguồn gốc từ Việt Nam Cam sành được gắn nhiều tên khoa học khác nhau như Citrus nobilis; Citrus reticulata

hay Citrus sinensis, trên thực tế cam sành là giống lai tự nhiên: C reticulata x

C sinensis (tên tiếng Anh: King mandarin) (Hume H.H (1957) [99])

Cam sành là một trong những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam, sản phẩm cam sành được gắn liền với tên địa danh trồng trọt Ở Miền Bắc (Vũ Mạnh Hải (2001) [30]) có Cam sành Bố Hạ (Bố Hạ

- Yên Thế - Bắc Giang), hiện nay vùng cam này đã bị xoá sổ do bệnh vàng lá Greening; Cam sành Bắc Quang (Bắc Quang - Hà Giang); Cam sành Hàm Yên

Trang 25

(Hàm Yên -Tuyên Quang) đây là vùng cam chủ yếu của các tỉnh phía Bắc, ngoài ra còn một số vùng trồng tập trung nhưng diện tích nhỏ hơn như: Yên Bái, Bắc Kạn, Nghệ An, v.v quả được thu hoạch vào dịp Tết Nguyên Đán và

vỏ quả có màu vàng cam Tại miền Nam (Nguyễn Minh Châu (2009)[15]), cam sành được trồng nhiều ở Tam Bình, Trà Ôn (Vĩnh Long); Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (Cần Thơ) quả thu hoạch từ tháng

8 đến tháng 12 hàng năm, vỏ quả có màu xanh sẫm

1 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CHÍNH CỦA CAM QUÍT

1.3.1 Đặc điểm rễ cam quít

Rễ cam quít nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza), nấm Micorhiza

sống cộng sinh trên lớp biểu bì của rễ, có vai trò như những lông hút ở các cây trồng và thực vật khác, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu

cơ cho cây, cây cung cấp hydrat carbon cho nấm (Trần Thế Tục (1990) [68], Viện Bảo vệ thực vật (2001) [78])

Do những đặc điểm trên mà cam quít không ưa trồng sâu, vì rễ cam quít chủ yếu là rễ bất định, phân bố rất nông (10-30cm), phân bố tương đối rộng và tập trung ở tầng đất mặt Tuy nhiên, mức độ phân bố sâu hay rộng phụ thuộc vào loại đất, đặc tính của giống, cách nhân giống, chế độ chăm bón, tầng canh tác và mực nước ngầm Đặc biệt là biện pháp kỹ thuật canh tác như: làm đất, bón phân, phương pháp nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng

Nghiên cứu sự phát triển của bộ rễ cam trên một số loại đất ở vùng

Phủ Quỳ Nghệ An, tác giả Trần Thế Tục [68] nhận xét: “Trên ba loại đất

tr ồng cam: đất Bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy trên đất bazan rễ cam ăn sâu và xa nhất Cùng trồng trên một loại đất và cùng có chế độ chăm sóc, các gi ống cam khác nhau có sự phân bố bộ rễ khác nhau Giống cam có

b ộ tán khoẻ tương ứng, có bộ rễ phát triển tốt và ngược lại”

Nhìn chung rễ cam quít hoạt động mạnh ở thời kỳ 1- 8 năm tuổi sau trồng, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém Trong một năm cam quít có

Trang 26

3 thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành xuân (tháng 2 đến đầu tháng 3); sau rụng quả sinh lý lần 1 (lúc cành hè xuất hiện) và cành thu đã sung sức (tháng 9-10) Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quít: nhiệt độ thích hợp trên dưới 260C; đất thoáng và đủ ẩm (60%); độ chua pH = 4-8 và tối thích là 5,5-6,5, nhiều mùn, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng, v.v (Haas A.R (1940) [98]

1.3.2 Đặc điểm thân, cành

Theo tác giả Phạm Thừa (1965) [63]: Đặc điểm thân, cành tuỳ thuộc giống, tuổi cây, điều kiện sinh sống, hình thức nhân giống mà cây có chiều cao và hình thái khác nhau Tán cây cam quít rất đa dạng: có loại tán thưa, tán rộng, có loại phân cành hướng ngang, có loại phân cành hướng ngọn Có loại tán hình cầu, hình bán cầu, hình tháp, hoặc hình chổi xể Cành có thể có gai hoặc không gai, có thể còn non thì có gai và gai bị rụng khi về già, v.v Trong một năm cam quít có thể ra nhiều đợt lộc tuỳ vào từng vùng sinh thái, giống, tuổi cây và những tác động kỹ thuật của con người (Phạm Thừa (1965) [63]; Chapman H.D and S.M Brow (1950) [92]; Quyang Tao (1990) [105]), thông thường có từ 2 - 4 hoặc 5 đợt lộc Loại cành mẹ và số đợt lộc trong năm liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm Ở những loài cây càng nhiều đợt lộc trong năm, tuổi thuần thục của cành mẹ để có thể sinh ra cành quả càng ngắn thì hiện tượng ra quả cách năm càng ít hoặc không có, đó cũng là lý

do có thể giải thích vì sao quất và một số giống chanh có thể cho quả quanh năm Cành cam quít sau khi mọc một thời gian, khi đã gần đến độ thuần thục thì tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng các auxin giảm đột ngột làm cho các tế bào đỉnh sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh trưởng bị chết Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng “tự rụng ngọn” nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục, sau đó các mầm từ nách

lá lại mọc ra và phát triển thành đợt lộc mới xuân, hạ, thu, đông Chính vì vậy cành cam quít không có thân chính rõ rệt, cành lá sum xuê rậm rạp

Trang 27

Cành của cam quít gồm các loại cành chính đó là cành mẹ, cành dinh dưỡng, cành quả Sự phân loại này theo chức năng của từng loại cành Mối liên

hệ giữa các loại cành và các đợt lộc khá khăng khít Cành dinh dưỡng có thể trở thành cành mẹ, hoa mọc ở mầm bất định trên thân chính hoặc cành dinh dưỡng cao tuổi làm cho tuổi của cành mẹ, của cành quả có độ dao động lớn Những năm ít hoa, hoa mọc từ cành cao tuổi vẫn có thể cho đậu quả rất tốt Nhìn tổng quan một năm ra lộc của cam quít cho thấy lộc xuân thường được mọc từ cành năm trước hoặc mầm ngủ trên thân chính, lộc xuân có ý nghĩa (cành quả) nhất

là lộc mọc từ cành hè, thu năm trước Lộc hè có thể mọc từ cành xuân, cành đông và cành thu năm trước Lộc thu cũng có thể mọc từ cành xuân (cành quả

vô hiệu) hoặc cành đông, thu năm trước Tuy nhiên mỗi điều kiện sinh thái khác nhau mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm cũng có thay đổi

Kết quả nghiên cứu ở Trại cam Xuân Mai - Hoà Bình (Lâm Quang Phổ (1980) [53]) cho thấy, cam Bố Hạ và xã Đoài cành thu là cành mẹ tốt nhất để cho cành quả năm sau, tuy vậy kết quả nghiên cứu này cũng chưa xác định được tuổi chính xác của cành mẹ có ý nghĩa nhất là mấy tháng tuổi Nghiên cứu của tác giả Wakana (1988) [114] thì có tới 90 % cành mẹ của cành quả năm sau ở giống quít Ôn Châu là cành hè và cành thu Trong khi đó ở giống bưởi Tosa vào những năm cây ít quả có tới 40 - 50 % cành mẹ là cành trên 1 năm tuổi Việc xác định tuổi của cành mẹ thích hợp nhất vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, mặc dù việc xác định chính xác tuổi thích hợp của cành mẹ

sẽ giúp xây dựng các biện pháp kỹ thuật như canh tác, cắt tỉa cành, sử dụng chất điều hoà sinh trưởng nhằm tạo ra đợt cành mẹ có ý nghĩa nhất

1.3.3 Đặc điểm lá cam quít

Bộ lá của cam quít được khá nhiều tác giả nghiên cứu: Lê Đình Sơn (1993) [55]; Batra R.C Sharma S.C (1998) [85] và một số tác giả khác [3], [82], [101] Lá cam quít thuộc loại lá đơn, phần lớn mép lá có hình răng cưa,

lá có eo Độ lớn của eo lá, hình dạng, kích thước lá, màu sắc lá, mật độ khí

Trang 28

khổng, mật độ túi tinh dầu, v.v tuỳ thuộc vào giống, vào mùa vụ Bình quân trên mặt lá có từ 400-500 khí khổng/mm2 Cây cam quít trưởng thành thường

có từ 150.000 -200.000 lá, tương ứng với tổng diện tích khoảng 200m2 Tuổi thọ lá 2-3 năm tuỳ theo vùng sinh thái, vị trí và tình trạng sinh trưởng của cây

và cành mang lá, vị trí của cấp cành Những lá hết thời gian sinh trưởng thường rụng nhiều vào mùa thu và mùa đông

Bộ lá trên cành quả và cành mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất của cam quít Theo Wakana [114], quít Ôn Châu có năng suất cao thì ít nhất phải có từ 40 lá trung bình cho một quả Tác giả Turrall cho rằng, ở cam quít 9 tuổi cần phải có ít nhất 2,3 m2 lá để sản xuất 1 kg quả (trích theo tác giả Batra R.C [85] và Huang Mingdu [101]) Tác giả Reuther [109] nhận xét: ở giai đoạn đầu để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho hoa đậu quả, cành mẹ đóng vai trò quan trọng, sau khi quả lớn thì tổng diện tích lá bình quân trên 1 quả sẽ là yếu tố quyết định năng suất và phẩm chất quả Tuy nhiên mối liên hệ giữa số lá, sự sinh trưởng của lá và năng suất ở cam quít cần được nghiên cứu kỹ hơn nhằm xây dựng hệ thống các biện pháp kỹ thuật cần thiết

1.3.4 Đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả ở cam quít

Cam quít phân hoá hoa từ sau khi thu hoạch đến trước khi nảy lộc xuân (đa số từ tháng 11 đến đầu tháng 2 năm sau) Hoa cam quít phần lớn có mùi thơm Xét về hình thái có 2 loại hoa: hoa phát triển đầy đủ và hoa dị hình (Swingle, W T and Reece, P C (1967) [111] Hoa đầy đủ có cánh dài màu trắng và có công thức cấu tạo: K5; C5; A(20-40 ; G(8-15), thường thì số nhị gấp 4 lần

số cánh hoa và xếp thành 2 vòng, nhị hợp Hoa dị hình: là những hoa bị thiếu khuyết 1 trong các bộ phận của hoa

Về hoa tự cũng có 2 loại: hoa đơn và hoa chùm Hoa đơn có 2 dạng: dạng cành đơn có nhiều lá và 1 hoa ở đầu cành, dạng này có khả năng đậu quả cao nhất, trong điều kiện được chăm sóc tốt thì cây sẽ có nhiều loại cành này;

Trang 29

dạng cành không có lá, thường có nhiều cành quả/1 cành mẹ, cuống ngắn dễ lẫn với dạng hoa chùm

Hoa chùm: có 3 dạng: dạng trên cành ở mỗi nách lá có 1 hoa và 1 hoa ở ngọn cành, trên mỗi cành có từ 3-7 hoa và khả năng đậu từ 1-2 quả; dạng trên ngọn cành có 1 hoa và mỗi nách lá có 1 hoa và có 1 số lá không hoàn chỉnh, chỉ

ở dạng vảy, dạng này tỷ lệ đậu quả không cao; dạng hoa chùm không có lá có

từ 4-5 hoa, loại này tỷ lệ đậu quả rất thấp hoặc không đậu

Đa số các giống quít có dạng hoa đơn nên tỷ lệ đậu quả của quít thường cao hơn cam Theo Wakana A Kia [113]: Cam quít thường ra hoa tập trung nhưng tỉ lệ đậu quả tương đối thấp vì tất cả các hoa, nụ và quả nhỏ đều bị rụng trước khi quả tăng trưởng Những cây cam ở vị trí độc lập, tỉ lệ đậu quả

từ 2,33 - 5,33% (giống Shamouti) Yếu tố ảnh hưởng đến rụng quả là nhiệt độ cao trên 370C trong tháng 6 Tác giả Chapot H [93] nhận định: Sự rụng quả xảy ra trong thời gian 1 - 2 ngày ngay sau khi hình thành quả và tăng dần đến tháng 6 Hiện tượng trên được các nhà khoa học nghiên cứu và cùng thống nhất, đó là hiện tượng rụng quả sinh lý Trong năm, quá trình phát triển quả

có 2 đợt rụng quả sinh lý:

- Đợt 1 (rụng cả cuống): Sau khi ra hoa 1 tháng (tháng 3 và đầu tháng 4)

- Đợt 2: Rụng khi quả đạt 3- 4cm (cuối tháng 4 trở đi), để lại cuống Sau 2 đợt rụng quả sinh lý quả lớn rất nhanh (tốc độ trung bình đường kính quả tăng 0,5 - 0,7mm/ngày), trước khi hình thành hạt tốc độ chậm lại ít ngày, sau đó lại tăng nhanh đến khi đạt kích thước tối đa

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của quả:

- Điều kiện ngoại cảnh:

+ Nước: Nước cần suốt trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây, nhưng cần nhất là thời kỳ quả đang lớn nhanh, nếu thiếu nước do sự cạnh tranh lẫn nhau quả sẽ bị rụng nhiều dẫn tới năng suất và phẩm chất sẽ bị ảnh hưởng + Nhiệt độ: Nhiệt độ thấp quả lớn chậm, có xu hướng quả nhỏ và cao thành

Trang 30

- Chất kích thích sinh trưởng: Quả lớn được là nhờ có sự kích thích của các chất sinh trưởng, các chất này được tạo ra từ vách của tử phòng (với các giống kết quả đơn tính), hoặc từ hạt sau khi hạt hình thành Sử dụng phun thêm chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA, GA3 ) cho cây khi đang hình thành quả có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả (Quyang Tao (1990) [105]

1.3.5 Ảnh hưởng của quá trình thụ phấn đến năng suất, chất lượng quả

Chất lượng quả cam quít được đánh giá bởi nhiều chỉ tiêu: Vị quả, màu sắc quả, tỷ lệ thịt quả, độ mềm thịt quả và số lượng hạt, hàm lượng dinh dưỡng Mục tiêu rất lớn của các nhà chọn tạo giống là chọn giống có quả không hạt (Hà Thị Thuý (2005) [64]; Ngo Xuan Binh (2001) [89]; J.A.Samson (1977) [102]), quả cam quít có số lượng hạt ít hoặc không hạt sẽ được đánh giá rất cao Quả không hạt ở cam quít là kết quả của các hiện tượng: Cây bị bất dục đực hoặc bất dục cái, bất dục cả đực và cái, cây ở thể đa bội lẻ (3n), (5n) Các nghiên cứu gần đây cho biết, quả không hạt còn là kết quả một số giống khi cho tự thụ hoặc giao phấn với nguồn hạt phấn khác nhau (Ngo Xuan Binh (2001) [89] [90] Nagai và Tanigawa sử dụng 20 giống cam quít tự thụ và giao phấn đã cho kết quả

có 4 giống khi tự thụ cho quả không hạt (trích dẫn theo Ngô Xuân Bình [90]), tuy nhiên công thức giao phấn tác giả chưa tìm được tổ hợp lai cho quả không hạt Giáo sư Robest Soost của đại học Califonia (trích theo Ngô Xuân Bình [90]) khi nghiên cứu về quá trình tự thụ và giao phấn, có nhận xét: trong công thức tự thụ tìm được 3 giống cam quít cho quả không hạt, ở công thức giao phấn cũng tìm thấy 3 tổ hợp lai cho quả không hạt Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu trên mới chỉ dừng ở mức độ kiểm tra về tỷ lệ đậu quả, số lượng hạt mà chưa đi sâu tìm hiểu về chất lượng quả Cũng trong thời gian đó nhà khoa học Reece [108] và cộng sự của ông đã nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn hạt phấn khác nhau đến khả năng đậu quả và chất lượng của cam quít cho thấy: nguồn hạt phấn khác nhau có tỷ lệ đậu quả và số lượng hạt/quả khác nhau, kích thước quả có thay đổi đôi chút, các chỉ tiêu chất lượng khác cũng

Trang 31

có thay đổi nhưng không nhiều Điều này chứng tỏ nguồn hạt phấn ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng quả, ở khả năng nâng cao tỷ lệ đậu quả và khả năng tạo quả không hạt Tác giả Ngô Xuân Bình [90] năm 2001 điều tra ở 111 giống cam quít gồm bưởi và một số con lai giữa cam và quít, bưởi và cam đã cho kết quả là trong số đó có 94 giống cho quả không hạt khi tự thụ

1.3.6 Hiện tượng đa phôi ở cam quít

Đa phôi là hiện tượng sinh học của cây trồng, xét về bản chất tiến hoá của thực vật, hiện tượng tạo quả không hạt khi cho tự thụ phấn và hiện tượng

đa phôi là 2 quá trình cùng tồn tại giúp cho sinh vật tiến hoá và duy trì nòi giống Hiện tượng quả không có hạt khi cho tự thụ có thể giải thích là cơ thể

tự bảo vệ để chống lại sự thoái hoá do giao phấn gần ở thực vật Chính nhờ cơ chế này mà thực vật luôn tiến hoá và qua chọn lọc tự nhiên sẽ chỉ tồn tại những loài mới có khả năng thích nghi với điều kiện sống, trái lại hiện tượng

đa phôi sẽ giúp cho thực vật duy trì được nòi giống ít bị biến động qua nhiều thế hệ (Đỗ Năng Vịnh (2005) [79])

Hạt đa phôi ở cam quít phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Các tính chất di truyền cho thế hệ sau

- Số lượng phôi có trên một hạt phụ thuộc vào giống, tuổi cây và điều kiện ngoại cảnh

- Hạt đa phôi khi gieo thì tỷ lệ cây hữu tính rất thấp

- Tỷ lệ hạt đơn phôi của giống có hạt đa phôi phụ thuộc vào từng giống

và có tính chất di truyền

- Trong những điều kiện cụ thể phôi hữu tính có thể phân biệt được bằng mắt thường

Giai đoạn đầu của sự hình thành quả, phôi hữu tính hình thành trước sau

đó bị phôi vô tính hình thành sau lấn át và phần lớn bị chết hoặc rất yếu khi hạt vào giai đoạn chín sinh lý Nhiều tác giả nước ngoài đã nghiên cứu khá tỉ mỉ hiện tượng đa phôi, sự phát triển của phôi hữu tính và phôi vô tính của hạt đa phôi ở cam quít Trên cơ sở đó, đã xây dựng thành công các phương pháp cứu

Trang 32

hạt phôi hữu tính trong hạt đa phôi phục vụ cho công tác chọn tạo giống, đồng thời phương pháp này có thể tạo giống mới bằng cách tạo đột biến ở phôi vô tính trong phòng thí nghiệm, dựa trên cơ sở của phương pháp nuôi cấy mô tế bào nhằm tạo ra một quần thể cây con đồng đều với số lượng lớn theo ý muốn

Ở Việt Nam hiện tượng đa phôi ở cam quít chưa được nghiên cứu, tuy nhiên về điều tra đánh giá hạt đa phôi làm cơ sở để tạo gốc ghép đồng đều hoặc cứu phôi hữu tính trong lai tạo là điều rất cần thiết

1.4 MỘT SỐ YÊU CẦU SINH THÁI VÀ DINH DƯỠNG CỦA CAM QUÍT 1.4.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ phù hợp cho cam quít phát triển là từ 27 - 320C (theo Swingle W.T [111], Walter Reuther [116]), tác giả Chapot, H [93] lại cho rằng nhiệt độ thích hợp nhất với cam quít là từ 26 - 300C Nhiệt độ và biên độ nhiệt ngày đêm có ảnh hưởng khá lớn đến phẩm chất cam quít, thông thường cam quít vùng á nhiệt đới lạnh có chất lượng, mã quả tốt hơn so với cam quít vùng nhiệt đới Nhiệt độ cao ở vùng xứ nóng thường làm vỏ cam quít vẫn còn xanh khi quả đã chín Biên

độ nhiệt độ ngày đêm cũng ảnh hưởng khá lớn đến phân hoá chồi hoa, khi nhiệt

độ ban ngày và đêm là 20 - 150C thì tỷ lệ chồi hoa nhiều hơn so với nhiệt độ ngày đêm là 20 - 180C hoặc 21 - 170C Khi nhiệt độ xuống dưới -30C hoặc -40C thì lá bắt đầu bị chết do rét, Nếu xuống dưới -70C thì cây bị chết hoàn toàn, tuy nhiên nhiệt độ cao lại thuận lợi cho việc ra lộc Cam ngọt Valencia ở nhiệt độ trung bình

30 - 320C chỉ cần 20 - 30 ngày là ra xong một đợt lộc mới, trong khi đó nếu ở nhiệt độ 200C thì cần 40 - 50 ngày (Phí Văn Ba (1976) [3]; Malavolta [47])

1.4.2 Nước

Ẩm độ không khí là một yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cam quít Ẩm độ không khí quá cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh hại phát triển, như bệnh thối gốc, bệnh ghẻ, bệnh rám quả do nấm ẩm

độ quá cao sẽ hấp thu nhiều tia tử ngoại làm màu sắc cam quít ít tươi thắm hơn, nhiệt độ cùng với ẩm độ quá cao làm quả phồng xốp chất lượng kém (Nguyễn Mạnh Chinh (2005) [17]; Reuther, W (1973) [110] Ẩm độ không

Trang 33

khí phù hợp nhất vào khoảng 70 - 75 %, nước rất cần cho cam quít đặc biệt vào các giai đoạn ra chồi, ra hoa và quả đang đậu vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 và giai đoạn phình quả đến khi quả chuẩn bị chín

Lượng mưa thích hợp cho trồng cam quít từ 1000 - 2400 mm/năm, tối thuận là 1200 mm (Reuther W (1973) [110]) Các vùng trồng cam quít trên thế giới để có sản lượng cao đều có các phương pháp tưới hợp lý không phụ thuộc vào nước trời Ở những vùng trồng cam quít có kỹ thuật cao người ta có dùng biện pháp tưới nước để điều khiển sự phân hoá hoa, tỷ lệ nở hoa, hoa nở sớm hoặc muộn và nhất là chất lượng quả

1.4.3 Đất đai

Các yếu tố đất đai quan trọng khi lựa chọn đất trồng cam quít đó là tầng sâu đất, đất dễ thoát nước, mực nước ngầm sâu hoặc mực nước ngầm ổn định Mực nước ngầm trong đất nếu hơi cao một chút nhưng ổn định, không lên xuống thất thường thì cũng ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cam quít Mực nước ngầm đảm bảo an toàn cho cây phải tối thiểu sâu 1,5m dưới mặt đất Độ pH thích hợp với sinh trưởng của cam quít từ 5,5 - 6,5, đất quá chua

sẽ có nhiều dinh dưỡng bị rửa trôi, và cũng có thể gây ngộ độc do một số nguyên tố như đồng (Cu) Đất quá kiềm, cây khó hút một số nguyên tố và thường có biểu hiện thiếu kẽm (Zn), sắt (Fe) Nhìn chung đất phù hợp với cam quít là đất phù sa, phù sa cổ, đất bồi tụ, đất đỏ bazan, đất mùn đá vôi, v.v (Lê Đình Định (1990) [25]; Haas A.R (1940) [98]), đất có hàm lượng mùn cao, tỷ lệ khoáng cân đối sẽ là loại đất phù hợp với trồng cam quít

1.4.4 Ánh sáng

Ánh sáng tự nhiên vùng nhiệt đới, á nhiệt đới đảm bảo nhu cầu về ánh sáng của cam quít Tuy nhiên độ sáng vào khoảng 1800 - 2000 lux là phù hợp nhất Ánh sáng cũng là nhân tố quan trọng quyết định phẩm chất quả, ở vùng nhiệt đới cần che bóng cho cây khi cường độ ánh sáng quá mạnh nhằm giảm tác hại cho cây và quả (Reuther, W (1973) [110])

Trang 34

1.4.5 Dinh dưỡng đối với cam quít

Mặc dù cam quít là cây ăn quả có nhu cầu dinh dưỡng không cao, để đảm bảo cây cho năng suất cao và chất lượng tốt, việc bón đầy đủ và hợp lý các loại phân bón là rất quan trọng (Nguyễn Quốc Hiếu (1993) [34],Chapman H.D (1950) [92])

Đạm: Là nguyên tố không thể thiếu trong quá trình sinh trưởng của

cây, có vai trò quan trọng quyết định đến phẩm chất và năng suất Đạm còn xúc tiến hoặc kìm hãm việc hấp thụ các nguyên tố dinh dưỡng khác như Canxi, Magiê Đạm tập trung ở lá nhất là lá non và đọt non Thiếu Đạm thân cành phát triển kém, ít ra lá non do vậy ra hoa kết quả kém Thừa Đạm lá xanh đậm, to và dày hơn bình thường, vỏ quả dày, phẩm chất quả kém

Lân: Lân có vai trò thúc đẩy quá trình phân chia tế bào, quá trình phân hoá mầm hoa, có tác dụng làm giảm lượng a xít trong quả, làm vỏ quả mỏng Hiệu quả của việc bón Lân cho cam quít phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau:

Độ chua của đất, lượng thiếu hụt hoặc đầy đủ Ca2+ Mg2+ Lân thường tập trung trong hạt cam, quít, trong lá tỷ lệ Lân thay đổi tuỳ tuổi lá và lượng Lân bón cho cây Thiếu Lân lá có màu đồng, không có vẻ bóng đặc trưng của lá và

có những đốm khô ở ngọn lá và mép lá Thừa Lân ảnh hưởng xấu đến phẩm chất quả, tác giả Takashaki (trích theo Trần Thị Áng (1995) [2]) tổng kết nghiên cứu từ năm 1931-1965 việc bón Lân cho cam quít cho biết, Lân ảnh hưởng tốt đến phẩm chất quả, hàm lượng a xít trong quả giảm, do vậy tỷ lệ đường/a xít tăng làm cho quả ngọt hơn

Kali: Kali cần cho cam quít trong thời kỳ ra lộc và giai đoạn mang quả Kali có vai trò quyết định đến phẩm chất quả và trọng lượng quả Bón đủ Kali hàm lượng đường và a xít trong quả đều tăng (Malavolta (1973) [47]) Thiếu Kali những mầm mới nẩy lá nhỏ bé và không bám chặt vào cành, thân cây có hiện tượng chảy gôm, quả dễ rụng, cây kém chịu lạnh Thừa Kali cành lá sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây hấp thụ Ca2+, Mg2+ kém, quả to nhưng mã quả xấu,

vỏ dày (Hoàng Ngọc Thuận (1994) [60]; Malavolta (1973) [47])

Phân vi l ượng: Phân vi lượng chứa những nguyên tố cần thiết cho sinh

trưởng của cây với một lượng rất nhỏ Hầu hết chúng tham gia tạo thành các

Trang 35

coenzim hoặc tham gia hoạt động vào các enzyme trong thực vật (Chapman H.D (1950) [92] Ở các nước phát triển (Mỹ, Anh và các nước Đông Nam Á khác) bón phân vi lượng cho cam quít là việc bắt buộc để khắc phục tình trạng thiếu vi lượng trong đất Người ta đã lập bản đồ vi lượng trong toàn quốc, xác định các vùng thiếu vi lượng, đồng thời các nhà máy sản xuất phân vi lượng ra đời với công suất hàng triệu tấn/năm

Sử dụng phân vi lượng có hiệu quả, có ba phương pháp: Xử lý hạt, phun lên lá và bón trực tiếp vào đất Đối với các cây ăn quả, cây có bộ khung tán lớn nên dùng phương pháp phun lên lá (Quyang Tao (1990) [105]

Việt Nam chưa có bản đồ vi lượng và trong toàn quốc cũng chưa có nhà máy nào chuyên sản xuất phân vi lượng Hướng nghiên cứu hiệu quả của phân vi lượng đối với cây trồng được bắt đầu ở Việt Nam vào những năm 60, với các công trình của các giáo sư Cao Liêm, Phạm Đình Thái (trích theo Chu Đình Lâm, Vũ Cao Thái (1980) [38])

Li ều lượng phân bón: Để làm cơ sở cho việc xác định liều lượng phân

bón cho cây có múi, hiện nay người ta áp dụng nhiều phương pháp:

Dựa vào tuổi cây: Đã có nhiều đề xuất, nhưng các đề xuất này không hoàn toàn đồng nhất Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006) [8], cho biết (bảng 1.3):

Bảng 1.3: Mức phân bón đối với cam quít

(năm) N/cây (gam) P (gam) 2 0 5 /cây K (gam) 2 0/cây

Việt Nam: Các đề xuất

40-80 80-165 50-140 100-200 50-100 150-200

45

75 50-80 100-300

Trang 36

Dựa vào kết quả phân tích lá: Các tác giả Malavolta (1973) [47], Chapman H.D (1950) [92] và một số tác giả khác, đã nghiên cứu và đề xuất

Ng ưỡng dinh dưỡng thông qua việc phân tích lá cam quít để quyết định tăng

hoặc giảm lượng phân bón, cụ thể như bảng 1.4

Bảng 1.4: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam quít

Các nguyên tố đa lượng

Đủ 2.50-2.70 0.12-0.16 1.20-1.70 0.30-0.49 3.00-4.90 0.20-0.39 Cao 2.80-3.00 0.17-0.29 1.80-2.30 0.50-0.70 5.00-7.00 0.40-0.60 Ngộ độc >3.00 >0.30 >2.40 >0.80 >7.00 >0.60

Trang 37

sở khác nhau để đề xuất mức phân bón phù hợp, hiệu quả nhất vẫn cần những kết luận từ thực nghiệm thì đề xuất mới có ý nghĩa

1.5 SÂU BỆNH HẠI CAM QUÍT VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1.5.1 Tình hình sâu bệnh hại cam quít

Cam quít được trồng rộng rãi trên thế giới, những vùng cam quít phát triển nhiều thì sâu bệnh hại cũng rất phong phú về chủng loại và mức độ hại Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được các nhà khoa học trên thế giới đề cập và công bố (Trần Thị Bình (1997) [5]; Viện bảo vệ thực vật (1997) [77]; Butani Dhamo K (1991) [88]; Capoor S.P (1967) [91]; Chen D.m (1988) [94] và nhiều tác giả khác [4], [6], [13], [16], [18], [19], [20], [27], [35], 36], [39], [40], [41], [42], [49], [51], [52], [54], [73], [86], [103], v.v

Tác giả Trần Thị Bình (1997) [5] cho biết: Nhật Bản đã công bố có tới

240 loài côn trùng và nhện nhỏ gây hại trên cam quít, trong đó có 217 loài côn trùng thuộc 8 bộ, 54 họ Malayxia điều tra và thu thập được 174 loài sâu hại thuộc 57 họ của 10 bộ côn trùng và 01 bộ của lớp nhện Indonecia cũng phát hiện được 68 loài thuộc 32 họ tập trung ở 7 bộ côn trùng và 2 loài nhện hại cam quít Myanmar cũng công bố có 20 loài sâu gây hại trên cam quít, trong

đó có 2 loài gây hại nghiêm trọng là Ruồi đục quả và Bướm Phượng chấm đỏ

Ở Trung Quốc, theo Huang Minhdu [101] đã điều tra được 101 loài sâu hại cam quít Theo Li Li Ying (1997) [103] và cộng sự ghi nhận có 489 loài hại trên cam quít ở 14 tỉnh Nam Trung Quốc, trong đó có 25 loài gây hại nghiêm trọng Phòng kiểm dịch tại Đài Loan cùng đã thu thập được 167 loài sâu hại đối với cam quít

Tác giả B.Aubert (1989) [83] và nhiều tác giả khác tổng hợp: trên cam quít có hai dạng bệnh: bệnh truyền nhiễm và bệnh không truyền nhiễm Bệnh truyền nhiễm do các loài vi khuẩn, nấm, virus gây nên Bệnh không truyền nhiễm thường được gây ra do tác động của môi trường, đột biến gen, dinh

Trang 38

dưỡng và phương pháp canh tác Các bệnh truyền nhiễm thường phát sinh phát triển qua công tác nhân giống và phân ra 4 nhóm:

Nhóm gây hại nặng, có côn trùng trung gian truyền bệnh gồm: Bệnh

Tristeza do virus Triteza, bệnh Greening do vi khuẩn Liberobacter sp, bệnh Stubborn do Spiroplasma Citri, bệnh vàng lá do Xylellafastidsa Nhóm bệnh

này ảnh hưởng nghiêm trọng tới các đặc tính ưu việt của giống, không hoặc khó có biện pháp tối ưu đặc trị chúng, đặc biệt là bệnh Greening đã và đang là hiểm hoạ đối với nhiều vùng sản xuất cam quít trên thế giới, hiện nay chưa có biện pháp đặc trị khi mà cây đã nhiễm bệnh

Nhóm gây hại trung bình, lây truyền qua đường cơ học như: bệnh Vảy

vỏ do Viroid Excortis, bệnh Cachexia do Vioroid Cachexia, v.v

Nhóm bệnh hoàn toàn kiểm soát được, lây nhiễm qua nhân giống

(chiết, ghép): Bệnh Mồng gà Cristacortis, bệnh chảy mủ vỏ thân do Viroid,

bệnh rỗ thân, nứt vỏ do virus, v.v gây nên

Nhóm bệnh do côn trùng truyền trung gian nhưng thiệt hại không đáng

kể như bệnh Veinenatir do virus

Việt Nam được ghi nhận cũng là một trong những địa danh nguồn gốc của cam quít Việt Nam có điều kiện sinh thái phù hợp đối với cam quít sinh trưởng, phát triển và cam quít được trồng khắp mọi nơi trong cả nước, chính

vì vậy sâu bệnh hại cam quít ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, trong vài chục năm gần đây tình hình sâu bệnh hại đã và đang là mối đe doạ, thách thức nghiêm trọng trong nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất

Tác giả Vũ Khắc Nhượng ([51], [52]) tổng hợp tình hình điều tra nghiên cứu sâu bệnh hại cam quít ở Việt Nam cho biết: Trong các năm 1962 - 1963 đoàn Chuyên gia của Liên Xô cũ do Viện sĩ L.A.Canchaveli đã thống kê được hơn 60 loài côn trùng, nấm gây hại trên cam quít ở Việt Nam Trong những năm 1967 -

1968 Bộ Nông nghiệp công bố về sâu bệnh hại trên cam quít đã ghi nhận được

105 loài gồm 67 loài côn trùng, trong đó có 30 loài thuộc bộ Cánh đều

Trang 39

(Homoptera), 11 loài bộ Cánh vảy (Lepidoptera), 11 loài bộ Cánh cứng (Coleoptra), 10 loài bộ Cánh nửa (Hemiptera), 4 loài bộ Cánh thẳng (Ortoptera)

và 1 loài bộ hai cánh (Diptera) Nấm có 21 loài, trong đó có 13 loài thuộc lớp Bất toàn (Deuteromycetes) và 7 loài thuộc lớp Tử nang (Phytopthora)

Tác giả Trần Thị Bình (2005) [5], điều tra thành phần sâu hại cam quít tỉnh

Hà Giang ghi nhận có 33 loài côn trùng và nhện hại thuộc 7 bộ và 20 họ Rầy chổng cánh, Bọ xít xanh, Bọ nhớt, Câu cấu, Bướm phượng chấm đỏ, Sâu vẽ bùa, Ruồi đục quả, Nhện đỏ, Nhện trắng to được đánh giá là mức độ hại phổ biến Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về sâu bệnh hại cam quít đều khẳng định bệnh Greening là bệnh nguy hại nhất, gây thiệt hại đáng kể cho nhiều quốc gia, nhiều vùng Các vùng trồng cam quít ở Việt Nam đã

và đang đối diện về mức độ phổ biến cũng như tác hại do bệnh Greening gây hại Điều tra về bệnh Greening trên cam quít ở Việt Nam đã có một số công trình công bố như: Nguyễn Thu Cúc [18]; Lê Xuân Cuộc [20]; Lê Thị Thu Hồng [35];

Tạ Hồng [36], [38]; Đỗ Thành Lâm [39]; Hoàng Chúng Lằm [42]; Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Danh Cần [49]; Vũ Khắc Nhượng [52], Cao Hồng Phú [54], v.v các công trình trên đều khẳng định năng suất và chất lượng cam quít phụ thuộc nhiều yếu tố, xong sự giảm thiểu về năng suất và chất lượng khó khắc phục nhất là do bệnh Greening gây nên

1.5.2 Các biện pháp phòng, trừ sâu bệnh hại trên cam quít

Tổng hợp những nghiên cứu về sâu, bệnh hại cam quít, các nhà khoa học trên thế giới đều nhận định: sâu, bệnh hại trên cam quít là nhân tố làm giảm thiểu quan trọng đến quá trình sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả (nhất là bệnh hại) Sâu, bệnh làm cho tuổi vườn ngắn, hiệu quả kinh tế của giống bị ảnh hưởng, không những ảnh hưởng trực tiếp mà ảnh hưởng

cả lâu dài do mầm mống gây bệnh tiềm ẩn không phát hiện và kiểm soát được Những biện pháp kỹ thuật được xác định có hiệu quả nhất do các nhà khoa học đề xuất, tóm tắt như sau [13], [78], [91], [94]:

Trang 40

* Nguyên lý chung

- Ngăn chặn là phương pháp mang lại hiệu quả cao nhất Ngăn chặn tốt trước hết phải kể đến đó là công tác quản lý giống và nhân giống Công tác quản lý giống cần phải tạo ra những giống có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, chống chịu tốt với sự thay đổi của môi trường Cần phải kiểm soát, kiểm định giống trước khi đưa ra sản xuất, không du nhập tuỳ tiện những giống không rõ nguồn gốc để trồng xen và trồng lẫn trong vùng sản xuất

- Quy hoạch vùng sản xuất: lựa chọn địa điểm để sản xuất cây giống cũng là một phần quan trọng trong việc ngăn ngừa sâu bệnh Cây giống phải được chăm sóc tốt, hoàn toàn cách ly với môi trường có khả năng sâu bệnh hại lây lan Vùng sản xuất phải tập trung, phải tuân thủ đúng kỹ thuật chăm sóc đã được các nhà khoa học đề xuất

- Biện pháp phòng trừ sinh học tổng hợp cần được quan tâm đặc biệt, cần phải tạo những điều kiện thuận lợi cho hệ thiên địch tự nhiên phát triển tốt, nhờ hệ thiên địch tự nhiên này kiềm chế sự phát triển của sâu bệnh hại trên cây cam quít

- Sử dụng thuốc hoá học để chế ngự sâu bệnh hại chỉ là phương pháp được sử dụng cuối cùng cần thiết khi không còn phương pháp nào khác tối ưu hơn Vì thuốc hoá học ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tự nhiên và sức khoẻ của con người, một số loại thuốc sẽ còn tồn dư trong sản phẩm làm giảm giá trị kinh tế của sản phẩm, mặt khác, thuốc hoá học cũng tiêu diệt cả hệ thiên địch tự nhiên có lợi

- Một biện pháp cũng cần hết sức quan tâm đặc biệt, nhất là những vùng trình độ dân trí còn thấp, cần cung cấp đầy đủ những thông tin bằng nhiều cách khác nhau, giúp cho người dân trực tiếp sản xuất hiểu biết về sâu bệnh hại và các phương pháp phòng trừ được coi là hiệu quả đối với cam quít

* Một số biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cam quít ở Việt Nam

Vi ện nghiên cứu Bảo vệ thực vật [78]:

- Để đạt hiệu quả cao cần sử dụng biện pháp phòng trừ đồng bộ và diện rộng trong vùng

Ngày đăng: 05/10/2023, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thị Áng (1995), “Nghiên cứu và thử nghiệm hiệu quả sử dụng phân vi lượ ng đa thành phần đối với một số cây trên một số loại đất”, Đề tài KN-01-10, Kết quả nghiên cứu về phân bón, Viện nông hoá thổ nhưỡng, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và thử nghiệm hiệu quả sử dụng phân vi lượ ng đa thành phần đối với một số cây trên một số loại đất
Tác giả: Trần Thị Áng
Nhà XB: Viện nông hoá thổ nhưỡng
Năm: 1995
3. Phí Văn Ba (1976), Con đường trao đổi chất trong sinh học, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường trao đổi chất trong sinh học
Tác giả: Phí Văn Ba
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1976
4. Đặng Thị Bình (1999), Biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh (Diaphorina citri) côn trùng môi giới truyền bệnh Greening cam quít, Báo cáo khoa học, Viện bảo vệ thực vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh (Diaphorina citri) côn trùng môi giới truyền bệnh Greening cam quít
Tác giả: Đặng Thị Bình
Nhà XB: Viện bảo vệ thực vật
Năm: 1999
5. Trần Thị Bình (1997), “Thành phần sâu hại cam, quít ở Tỉnh Hà Giang”, Tạp chí Bảo vệ thực vật số 5, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần sâu hại cam, quít ở Tỉnh Hà Giang
Tác giả: Trần Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Bảo vệ thực vật
Năm: 1997
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), “Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện chương trình rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2000”, Hội nghị sơ kết ngày 15/4/2004, Tài liệu nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện chương trình rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2000
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2004
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1999), Đề án phát triển rau quả, hoa và cây cảnh giai đoạn 1999- 2010, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển rau quả, hoa và cây cảnh giai đoạn 1999- 2010
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1999
9. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), Công nghệ và Tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ và Tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2005
10. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009), “Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển cây ăn quả các tỉnh phía Bắc”, Báo cáo Cục Trồng trọt tháng 2/2009, Tài liệu nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển cây ăn quả các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Báo cáo Cục Trồng trọt
Năm: 2009
11. Đỗ Đình Ca (1995), Khả năng và phát triển cây quít và một số cây ăn quả có múi khác ở vùng Bắc Quang, Hà Giang, Luận án phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp, trường ĐHNN I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng và phát triển cây quít và một số cây ăn quả có múi khác ở vùng Bắc Quang, Hà Giang
Tác giả: Đỗ Đình Ca
Nhà XB: Trường ĐHNN I Hà Nội
Năm: 1995
13. Nguyễn Văn Cảm và cộng tác viên (1999), “Sử dụng dầu khoáng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây có múi ở nông trường cam Cao Phong, Hoà Bình”, Tạp chí Bảo vệ thực vật (5), NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng dầu khoáng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây có múi ở nông trường cam Cao Phong, Hoà Bình
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm, cộng tác viên
Nhà XB: Tạp chí Bảo vệ thực vật
Năm: 1999
14. Nguyễn Minh Châu (1997), “Kết quả bước đầu điều tra, bình tuyển và du nhập giống cây ăn quả”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 6, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu điều tra, bình tuyển và du nhập giống cây ăn quả
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Năm: 1997
15. Nguyễn Minh Châu (2009), Giới thiệu các giống cây ăn quả phổ biến ở miền Nam, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu các giống cây ăn quả phổ biến ở miền Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2009
19. Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), Côn trùng và nhện gây hại cây ăn trái vùng Đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng và nhện gây hại cây ăn trái vùng Đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2000
21. Nguyễn Hữu Doanh (1998), Kinh nghiệm chọn giống cây ăn quả, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm chọn giống cây ăn quả
Tác giả: Nguyễn Hữu Doanh
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1998
22. Bùi Huy Đáp (1960), Cây ăn quả nhiệt đới, tập 1, NXB Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây ăn quả nhiệt đới, tập 1
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1960
25. Lê Đình Định (1990), “Tình hình dinh dưỡng đất trồng cam ở chu kỳ 1 của một số loại đất chính vùng Phủ Quỳ - Nghệ Tĩnh”, Một số kết quả nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990
Tác giả: Lê Đình Định
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1990
26. Lê Đình Định (1990), “Một số kết quả trồng thử 2 giống cam Hamlin và Orlinda Valencia ở Phủ Quỳ - Nghệ Tĩnh”, Một số kết quả Nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả Nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990
Tác giả: Lê Đình Định
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1990
27. Nguyễn Văn Đĩnh (1992), “Nhện trắng hại cây trồng”, Tạp chí bảo vệ thực vật (4), NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhện trắng hại cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh
Nhà XB: Tạp chí bảo vệ thực vật
Năm: 1992
31. Vũ Mạnh Hải, Trần Thế Tục (1988), “Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến năng suất cam vùng Phủ Quỳ”, Tạp chí KHKTNN- 10, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến năng suất cam vùng Phủ Quỳ
Tác giả: Vũ Mạnh Hải, Trần Thế Tục
Nhà XB: Tạp chí KHKTNN- 10, NXBNN
Năm: 1988
32. Lê Quang Hạnh, Lê Đình Sơn, Lê Đình Định (1990), “Giống cam bù”, Một số kết quả NCKH trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây hiếu 1960-1990, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả NCKH trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây hiếu 1960-1990
Tác giả: Lê Quang Hạnh, Lê Đình Sơn, Lê Đình Định
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Nhiệt độ, lượng mưa và ẩm độ trung bình 5 năm huyện Hàm Yên - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Hình 3.1 Nhiệt độ, lượng mưa và ẩm độ trung bình 5 năm huyện Hàm Yên (Trang 64)
Hình  3.2: Nhiệt độ trung bình 5 năm huyện Hàm Yên - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
nh 3.2: Nhiệt độ trung bình 5 năm huyện Hàm Yên (Trang 64)
Bảng 3.20: Tỷ lệ các loại cành xuân cam sành - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.20 Tỷ lệ các loại cành xuân cam sành (Trang 89)
Bảng 3.21: Nguồn gốc phát sinh các đợt lộc cam sành   Nguồn gốc - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.21 Nguồn gốc phát sinh các đợt lộc cam sành Nguồn gốc (Trang 91)
Bảng 3.38: Các biện pháp kỹ thuật và phân Đạm ảnh hưởng đến năng suất - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.38 Các biện pháp kỹ thuật và phân Đạm ảnh hưởng đến năng suất (Trang 106)
Bảng 3.41: Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến sự ra lộc - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.41 Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến sự ra lộc (Trang 110)
Bảng 3.42: Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.42 Các biện pháp kỹ thuật và phân Lân ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả (Trang 111)
Bảng 3.45: Tác động thí nghiệm phân Kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.45 Tác động thí nghiệm phân Kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng (Trang 114)
Sơ đồ 1.1: Hệ thống sản xuất và bảo tồn cây giống có múi sạch bệnh - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Sơ đồ 1.1 Hệ thống sản xuất và bảo tồn cây giống có múi sạch bệnh (Trang 143)
Bảng 1.8:  Năng suất cam quít một số nước châu Á 5 năm gần đây (tạ/ha) - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 1.8 Năng suất cam quít một số nước châu Á 5 năm gần đây (tạ/ha) (Trang 151)
Bảng 1.9: Sản lượng cam quít một số nước châu Á 5 năm gần đây (tấn) - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 1.9 Sản lượng cam quít một số nước châu Á 5 năm gần đây (tấn) (Trang 152)
1  Hình dạng và bề mặt vỏ - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
1 Hình dạng và bề mặt vỏ (Trang 161)
Bảng 3.2: Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp  năm 2005; 2007 và 2009 - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp năm 2005; 2007 và 2009 (Trang 165)
Sơ đồ 3.1: Mối liên hệ các đợt cành của cam sành 2 năm liên tục - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Sơ đồ 3.1 Mối liên hệ các đợt cành của cam sành 2 năm liên tục (Trang 174)
Bảng 3.19: Lượng phân nguyên chất các thí nghiệm về  phân bón - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống cam sành tại hàm yên, tuyên quang
Bảng 3.19 Lượng phân nguyên chất các thí nghiệm về phân bón (Trang 180)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm