1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật

201 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Tác giả Đoàn Thị Thu Trang
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Hiếu Học, TS. Phạm Thị Kim Ngọc
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP (22)
    • 1.1 Tổng hợp cách tiếp cận của các nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp (22)
      • 1.1.2 Cách tiếp cận đặc điểm xã hội học – nhân khẩu học (24)
      • 1.1.3 Cách tiếp cận hành vi (26)
      • 1.1.4 Cách tiếp cận tổng hợp (27)
    • 1.2 Một số nghiên cứu điển hình ở Việt Nam về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp (28)
    • 1.3 Nhận định khoảng trống lý thuyết của luận án (33)
    • 1.4 Tóm tắt chương 1 (36)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP (37)
    • 2.1 Khởi nghiệp: các hình thức, các lĩnh vực và quá trình phát triển (37)
      • 2.1.1 Khởi nghiệp (37)
      • 2.1.2 Các hình thức khởi nghiệp (38)
      • 2.1.3 Các lĩnh vực khởi nghiệp chủ yếu (39)
      • 2.1.4 Quá trình phát triển hoạt động khởi nghiệp (41)
    • 2.2 Ý định khởi nghiệp và vai trò của ý định khởi nghiệp trong quá trình khởi nghiệp (43)
      • 2.2.1 Ý định (43)
      • 2.2.2 Ý định khởi nghiệp (44)
      • 2.2.3 Vai trò của ý định khởi nghiệp trong quá trình khởi nghiệp (45)
    • 2.3 Các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp (47)
    • 2.4. Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp (50)
      • 2.4.1 Nhóm mô hình xem xét các yếu tố tác động bên trong cá nhân (50)
      • 2.4.2 Nhóm mô hình xem xét các yếu tố tác động bên ngoài cá nhân (53)
      • 2.4.3 Đánh giá về các mô hình nghiên cứu và lựa chọn các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam (54)
    • 2.5 Tóm tắt chương 2 (57)
  • CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT (58)
    • 3.1. Tổng quan về hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam (58)
      • 3.1.1. Các chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo (58)
      • 3.1.2 Một số kết quả về hoạt động khởi nghiệp sáng tạo (60)
      • 3.1.3 Những hạn chế của hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và một số nguyên nhân cơ bản (62)
    • 3.2 Tổng quan về sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam và thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp khối ngành kỹ thuật Việt Nam (68)
      • 3.2.1 Tổng quan về sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam (68)
      • 3.2.2 Thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp khối ngành kỹ thuật Việt Nam (71)
    • 3.3 Ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam (72)
      • 3.3.2 Hoạt động nâng cao ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam (75)
      • 3.3.3 Một số mô hình hiệu quả nâng cao ý định khởi nghiệp sáng tạo cho sinh viên khối ngàn h kỹ thuật tại Việt Nam (77)
    • 3.4 Vai trò của sinh viên kỹ thuật trong hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam (82)
    • 3.5 Tóm tắt chương 3 (83)
  • CHƯƠNG 4. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM (85)
    • 4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất (85)
      • 4.1.1 Căn cứ xây dựng mô hình (85)
      • 4.1.2 Mối quan hệ giữa các thành phần của mô hình (88)
      • 4.1.3 Các giả thuyết của mô hình nghiên cứu (89)
    • 4.2 Thiết kế nghiên cứu (94)
      • 4.2.1 Quy trình nghiên cứu (94)
      • 4.2.2 Thiết lập thang đo các nhân tố trong mô hình (97)
    • 4.3 Chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu (101)
      • 4.3.1 Về đối tượng điều tra (101)
      • 4.3.2 Về cỡ mẫu (101)
      • 4.3.3 Về khung lấy mẫu (101)
    • 4.4 Phương pháp phân tích dữ liệu (104)
      • 4.4.1 Phân tích dữ liệu thứ cấp bằng các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích (104)
      • 4.4.2 Phân tích dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp định lượng (105)
      • 4.4.3 Phân tích dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp định tính (108)
    • 4.5 Tóm tắt Chương 4 (109)
  • CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM 89 (110)
    • 5.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (110)
    • 5.2 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo (10)
      • 5.2.1 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với nhân tố “Giá trị mong đợi của cá nhân” (113)
      • 5.2.2 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Thái độ đối với việc khởi nghiệp” (113)
      • 5.2.3 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Niềm tin về chuẩn mực xã hội” (114)
      • 5.2.4 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Chuẩn chủ quan” (114)
      • 5.2.5 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Cảm nhận về năng lực bản thân” (114)
      • 5.2.6 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” (115)
      • 5.2.7 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Cảm nhận về may mắn” (116)
      • 5.2.8 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo với yếu tố “Ý định khởi nghiệp” (116)
    • 5.3 Kết quả đánh giá chính thức thang đo (117)
      • 5.3.1 Kết quả phân tích khẳng định nhân tố với mô hình đo lường (117)
      • 5.3.2 Kết quả phân tích khẳng định nhân tố với mô hình tới hạn (119)
      • 5.3.3 Kết quả phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H7 (119)
      • 5.3.5 K ết quả phân tích Bootstrap kiểm định tính bền vững của mô hình (122)
      • 5.3.7 Kết quả đánh giá của sinh viên về từng yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp và mức độ ý định khởi nghiệp (0)
      • 5.3.8. Kết quả so sánh ý định khởi nghiệp của các nhóm sinh viên khác nhau (127)
    • 5.4 Tổng kết các kết quả nghiên cứu (130)
    • 5.5 Tóm tắt chương 5 (134)
  • CHƯƠNG 6. BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU (135)
    • 6.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu (135)
      • 6.1.1 Về điểm đánh giá từng yếu tố trong mô hình nghiên cứu (136)
      • 6.1.2 Về mức độ tác động và bản chất tác động của từng yếu tố tới ý định khởi nghiệp (138)
      • 6.1.3 So sánh sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố trong mô hình tới ý định khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên khác nhau (140)
      • 6.1.4 So sánh ý định khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên khác nhau (140)
    • 6.2 Một số đề xuất từ kết quả nghiên cứu nhằm nuôi dưỡng và thúc đẩy việc nâng cao ý định khởi nghiệp cho sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam (143)
      • 6.2.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước (144)
      • 6.2.2 Đối với các trường đại học (145)
      • 6.2.3 Đối với sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam (148)
    • 6.3 Điểm đóng góp mới của luận án (149)
    • 6.4 Một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (149)
    • 6.5. Tóm tắt Chương 6 (150)
  • KẾT LUẬN (122)

Nội dung

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

Tổng hợp cách tiếp cận của các nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp thể hiện sự quan tâm của cá nhân đối với hoạt động này và có khả năng dự đoán chính xác hành vi trong tương lai Do đó, việc tìm hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là rất quan trọng để lý giải hành vi này Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra và xác minh nhiều yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp.

• Nhóm yếu tố nhân khẩu học (Demographic factors) như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tôn giáo, quốc tịch, truyền thống kinh doanh của gia đình [67]

Nhóm nhân tố về năng lực cá nhân bao gồm trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh, cùng với kinh nghiệm lãnh đạo và khởi nghiệp.

Nhóm đặc điểm tính cách cá nhân bao gồm mong muốn đạt được thành tựu, quyền kiểm soát, chấp nhận rủi ro, chấp nhận sự không chắc chắn và khát khao độc lập.

Các yếu tố xã hội, bao gồm vai trò, vị trí và tầm ảnh hưởng của nhà khởi nghiệp trong cộng đồng, cũng như sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình khởi nghiệp.

Nhóm yếu tố văn hoá bao gồm chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể, sự chấp nhận hoặc không chấp nhận sự bất ổn định, hệ tư tưởng Nho giáo, cùng với văn hoá vật chất.

• Nhóm các yếu tố môi trường (Environmental factors) gồm nguồn lực về kinh tế, cơ hội việc làm, thể chế chính trị [110] [140]

• Nhóm yếu tố về giáo dục nói chung và các chương trình đào tạo khởi nghiệp nói riêng (Education and Entreprenuership Education Programs) [147] [220] [168] [139]

Theo Weber, R., trong lịch sử nghiên cứu về ý định khởi nghiệp, có bốn cách tiếp cận cơ bản để phân tích các yếu tố tác động đến ý định này.

(1) Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân (trait approach) trả lời câu hỏi: Ai sẽ là doanh nhân

(2) Cách tiếp cận đặc điểm xã hội học - nhân khẩu học (demographic-sociological approach) trả lời câu hỏi: Môi trường nào hình thành doanh nhân

(3) Cách tiếp cận hành vi (behavioral approach) trả lời câu hỏi: Tại sao một số cá nhân lựa chọn theo đuổi hành trình khởi nghiệp

(4) Cách tiếp cận tổng hợp với quan điểm ý định khởi nghiệp chịu sự tác động của tổng hoà nhiều nhóm yếu tố khác nhau

1.1.1 Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân Ở giai đoạn đầu của lịch sử nghiên cứu về ý định khởi nghiệp, các nhà nghiên cứu tập trung chủ yếu vào tiếp cận đặc điểm cá nhân nhằm xây dựng bộ đặc điểm tính cách cần thiết ở một cá nhân có xu hướng nảy sinh ý định khởi nghiệp cao hơn so với những người khác [171] Theo quan điểm của nhóm học giả này, chỉ một số cá nhân với các đặc điểm tính cách nhất định mới có

Ý định khởi nghiệp thường gắn liền với những đặc điểm tính cách như mong muốn kiểm soát, tính sáng tạo, khả năng độc lập và tự chủ trong quyết định, cùng với sự tham vọng và chấp nhận rủi ro.

Dựa trên lập luận này, nhiều mô hình đặc điểm tính cách cá nhân đã được phát triển và áp dụng trong nghiên cứu tiềm năng khởi nghiệp cá nhân, trong đó Mô hình Đặc điểm nổi bật là một ví dụ điển hình.

Mô hình 5 yếu tố tính cách (FFM) được phát triển từ các nghiên cứu độc lập vào cuối thập niên 1950, bao gồm năm đặc điểm chính: Cầu thị (Openness to experience) thể hiện tư duy sáng tạo và sự thích khám phá; Tận tâm (Conscientiousness) phản ánh sự chăm chỉ và trách nhiệm; Hướng ngoại (Extroversion) liên quan đến tính mạnh mẽ và sự nhiệt tình trong giao tiếp; Đồng thuận (Agreeableness) cho thấy sự tin tưởng và hợp tác; và Nhiễu tâm (Neuroticism), thường được thay thế bằng ổn định cảm xúc (Emotional stability), thể hiện khả năng bình tĩnh và thư giãn trong cuộc sống.

Mô hình ASA (Thu hút, Lựa chọn, Tiêu hao) do Schneider phát triển vào năm 1987 đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu khởi nghiệp để khám phá ảnh hưởng của cá tính cá nhân đến ý định khởi nghiệp Mô hình này chỉ ra rằng những cá nhân sở hữu các đặc điểm tính cách nhất định thường bị thu hút nhiều hơn vào hoạt động khởi nghiệp Hơn nữa, các bên thứ ba như nhà đầu tư và khách hàng cũng có xu hướng lựa chọn các chủ doanh nghiệp dựa trên những đặc điểm tính cách này Đặc biệt, những cá nhân với bộ đặc điểm tính cách phù hợp thường cảm thấy việc khởi nghiệp đáp ứng nhu cầu và mong muốn cá nhân, từ đó tạo ra sự gắn bó lâu dài trong việc thiết lập doanh nghiệp.

Nhà nghiên cứu David C McClelland, trong tác phẩm "The Achieving Society" (1961), đã chỉ ra rằng nhu cầu thành đạt là yếu tố quyết định tiềm năng khởi nghiệp của cá nhân Nghiên cứu của Schumpeter cũng nhấn mạnh rằng tư duy sáng tạo là tính cách trung tâm của mọi doanh nhân khởi nghiệp Đồng thời, Robinson khẳng định rằng sự tự tin và thỏa mãn bản thân là những yếu tố quyết định quan trọng trong quá trình này.

Bảng 1.1 tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về cách tiếp cận các yếu tố đặc điểm tính cách cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp

Bảng 1.1: Tổng hợp nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tính cách, đặc điểm cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp

Mong muốn đạt được thành tựu, quyền kiểm soát, chấp nhận rủi ro, chấp nhận sự không chắc chắn, mong muốn được độc lập [162] [76] [128] [156]

Sự tự tin, sự năng động nhạy bén, có hoài bão, khuynh hướng tự chủ cao và sẵng sàng chấp nhận rủi ro [127] [226]

Năng lực cá nhân như trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh, kinh nghiệm lãnh đạo và khởi nghiệp [199] [148] [59] [217]

(Nguồn: Nghiên cứu sinh tổng hợp)

Trong suốt 15 năm phát triển phương pháp tiếp cận ý định khởi nghiệp dựa trên đặc điểm tính cách cá nhân, nhiều thành tựu đáng ghi nhận đã xuất hiện Tuy nhiên, vào cuối những năm 1980, sự thiếu hụt tính nhất quán trong các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã đặt ra nhiều thách thức cho phương pháp này.

Ba nghiệm, các mô hình và lý thuyết nghiên cứu về ý định khởi nghiệp theo cách tiếp cận tính cách cá nhân thường bị giới học giả phản bác.

Nghiên cứu hiện đại cho thấy rằng việc đánh giá ý định khởi nghiệp dựa vào tính cách cá nhân chỉ giải thích được khoảng 10% kết quả, trong khi 90% còn lại phụ thuộc vào các yếu tố khác Với tỷ lệ dự đoán thấp như vậy, nghiên cứu về tính cách cá nhân trong bối cảnh ý định khởi nghiệp trở nên không khả thi Do đó, các học giả hiện nay đang chuyển sang áp dụng những phương pháp tiếp cận khác, thay thế cho việc dựa vào đặc điểm tính cách của các doanh nhân khởi nghiệp tiềm năng.

1.1.2 Cách tiếp cận đặc điểm xã hội học – nhân khẩu học

Một số nghiên cứu điển hình ở Việt Nam về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp

Khởi nghiệp vẫn còn là khái niệm mới mẻ tại Việt Nam, chưa được nhiều người hiểu rõ Từ năm 2016, "khởi nghiệp" được đề cập trong dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, đánh dấu sự chuyển mình trong nhận thức của Chính phủ về tầm quan trọng của khởi nghiệp Năm 2016 cũng chính thức được công nhận là "Năm quốc gia khởi nghiệp", thể hiện quyết tâm xây dựng một xã hội khởi nghiệp tại Việt Nam.

Vào năm 2017, khái niệm "khởi nghiệp sáng tạo" bắt đầu được chú trọng, mặc dù nghiên cứu về ý định khởi nghiệp chỉ mới phát triển gần đây Trước đó, các văn kiện của Nhà nước chỉ đề cập đến khởi nghiệp một cách chung chung Tuy nhiên, đến tháng 6/2017, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được Quốc hội thông qua, chính thức tạo ra nền tảng pháp lý cho việc hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Phần lớn các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào khởi nghiệp chung mà chưa làm rõ khởi nghiệp sáng tạo Mặc dù vậy, số lượng nghiên cứu về ý định khởi nghiệp đang gia tăng và áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau, với các yếu tố tác động đa dạng.

Nhóm tác giả Bùi Duy và cộng sự nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp bằng cách áp dụng mô hình Entrepreneur Scan (E-Scan) do Driessen và Zwart phát triển, cùng với các nghiên cứu liên quan khác Đối tượng nghiên cứu là sinh viên trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh Nhóm đã kế thừa các yếu tố tính cách cá nhân từ các nghiên cứu trước và kết hợp với mô hình E-scan để xây dựng mô hình nghiên cứu, xác định 10 yếu tố tác động tích cực đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm nhu cầu thành đạt, nhu cầu tự chủ, nhu cầu quyền lực, định hướng xã hội, sự tự tin, tính nhẫn nại, chấp nhận rủi ro, khả năng am hiểu thị trường, khả năng sáng tạo và khả năng thích ứng.

Nghiên cứu chỉ ra rằng bảy yếu tố tính cách cá nhân ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên, trong đó nhu cầu thành đạt, khả năng am hiểu thị trường và khả năng thích ứng có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp Thông qua phân tích ANOVA, nhóm nghiên cứu so sánh sự khác biệt về các đặc tính cá nhân và tiềm năng khởi nghiệp giữa sinh viên khối kỹ thuật và kinh tế từ các trường đại học khác nhau Kết quả nghiên cứu cung cấp các hàm ý quản lý cho các nhà quản lý giáo dục trong việc thiết kế chương trình nhằm khơi dậy và phát triển ý định khởi nghiệp cho sinh viên.

Vào năm 2014, tác giả Hoàng Thị Thương đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Lao Động – Xã hội Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hiểu rõ hơn về động lực và rào cản trong việc khởi nghiệp của sinh viên.

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thương về 211 sinh viên cho thấy ba yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi Bên cạnh đó, tác giả cũng bổ sung thêm ba yếu tố quan trọng khác gồm Cảm nhận môi trường giáo dục đại học, Điều kiện môi trường tài chính và Tính cách cá nhân, như thể hiện trong Hình 1.2.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm chuẩn mực xã hội, cảm nhận sự khát khao, cảm nhận tính khả thi, môi trường giáo dục đại học, điều kiện thị trường tài chính và tính cách cá nhân Trong đó, cảm nhận sự khát khao khởi nghiệp được xác định là yếu tố quan trọng nhất Từ đó, tác giả đề xuất các chính sách cho Trường Đại học Lao Động – Xã hội nhằm giáo dục tinh thần doanh nhân cho sinh viên thông qua việc phát triển môi trường giáo dục và xây dựng các chương trình khóa học phù hợp Đồng thời, các nhà quản lý, kinh tế, chính phủ và hệ thống ngân hàng cần tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh và cung cấp nguồn vốn hỗ trợ cho sinh viên khởi nghiệp.

Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp Sinh viên Trường ĐH Lao Động – Xã hội [15]

Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thu Thuỷ nghiên cứu tác động của môi trường xúc cảm và trải nghiệm cá nhân đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của gần 700 sinh viên đại học khối ngành kinh tế và kỹ thuật tại Hà Nội Nghiên cứu này kết hợp hai nhóm nhân tố để phát triển mô hình ảnh hưởng đến khả năng khởi nghiệp của sinh viên.

Hình 1.3: Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp Sinh viên Thành Phố Hà Nội [27]

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trải nghiệm trong quá trình học đại học và mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa kinh doanh ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên, trong khi ngành học không tác động đến mong muốn khởi nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu không đi sâu vào ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật mà xem xét cả hai nhóm ngành kinh tế và kỹ thuật Hơn nữa, hình thức khởi nghiệp sáng tạo không được đề cập, mà chỉ tập trung vào khởi sự doanh nghiệp chung.

Năm 2015, Phan Anh Tú và Nguyễn Thanh Sơn thực hiện nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên kinh tế tốt nghiệp tại Cần Thơ Dữ liệu thu thập từ 180 sinh viên chưa từng khởi sự kinh doanh cho thấy có sáu nhân tố chính tác động đến ý định khởi nghiệp: Động lực trở thành doanh nhân, Nền tảng gia đình, Chính sách chính phủ và địa phương, Tố chất doanh nhân, Khả năng tài chính, và Đặc điểm cá nhân Nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần cải thiện chương trình giáo dục khởi sự doanh nghiệp và chính sách của chính phủ địa phương.

Nhóm tác giả Phan Anh Tú và Giảng Thị Cẩm Tiên đã nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại trường đại học Cần Thơ, thu thập dữ liệu từ 233 sinh viên năm nhất và năm hai thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện Nghiên cứu áp dụng mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch, xem xét ba yếu tố tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp: Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi, cùng với ba yếu tố bổ sung là Giáo dục, Nguồn vốn và Nhu cầu thành đạt.

Hình 1.4: Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp sinh viên kinh tế – Trường ĐH Cần Thơ [38]

Năm yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên bao gồm thái độ và tự hiệu quả, giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, nguồn vốn, quy chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi Nghiên cứu này nhằm đóng góp tích cực vào chương trình giáo dục khởi nghiệp cho sinh viên.

Năm 2016, tại thành phố Cần Thơ, nhóm nghiên cứu do Nguyễn Quốc Nghi dẫn dắt đã tiến hành áp dụng phương pháp phân tích định lượng trên 400 sinh viên ngành quản trị kinh doanh.

Nghiên cứu đã được thực hiện tại 11 trường đại học và cao đẳng trên địa bàn thành phố, áp dụng ba yếu tố từ Lý thuyết hành vi có kế hoạch và bổ sung các yếu tố cá nhân như kinh nghiệm làm việc, giáo dục, đam mê và sự sẵn sàng kinh doanh Kết quả cho thấy có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, và giáo dục Trong đó, thái độ và sự đam mê là yếu tố có tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp sinh viên ngành QTKD tại TP Cần Thơ [31]

Nhận định khoảng trống lý thuyết của luận án

Tổng quan về nghiên cứu ý định khởi nghiệp cho thấy rằng việc tiếp cận dựa trên đặc điểm tính cách cá nhân không mang lại kết quả thực nghiệm cao Thay vào đó, phương pháp dựa trên đặc điểm nhân khẩu và xã hội học có tính khả thi, nhưng chỉ đóng vai trò bổ trợ cho các phương pháp khác để cung cấp cái nhìn tổng quát hơn Hiện nay, xu thế nghiên cứu ý định khởi nghiệp dựa trên hành vi thông qua các mô hình ý định đang được áp dụng phổ biến, trong đó Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen được đánh giá là có tính ứng dụng cao nhất.

Luận án này nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại Việt Nam, dựa trên cách tiếp cận hành vi và áp dụng lý thuyết TPB Mặc dù TPB đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, nhưng vẫn còn một số khoảng trống cần được giải quyết trong các nghiên cứu trước đây.

Tác động của các tiền tố trong Thuyết hành vi dự định (TPB) đến ý định khởi nghiệp cá nhân vẫn là một vấn đề gây tranh cãi Các nghiên cứu hiện đại áp dụng TPB đã chỉ ra rằng yếu tố này có sự ổn định đáng kể trong việc hình thành ý định khởi nghiệp.

Thái độ đối với khởi nghiệp và nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp Ngược lại, mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan và ý định khởi nghiệp không cho kết quả đồng nhất Do đó, việc kiểm định lại mối quan hệ này rất quan trọng để khẳng định giá trị và khái quát hóa lý thuyết.

Việc luận án áp dụng Thuyết hành vi lý trí (TPB) làm cơ sở xây dựng mô hình được xem là mới mẻ trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, nơi mà ý định khởi nghiệp thường xuất phát từ nhu cầu sinh tồn và duy trì thu nhập, khác với các nước phát triển Các nghiên cứu trước đây chủ yếu được thực hiện tại các quốc gia phát triển, không thể áp dụng trực tiếp cho Việt Nam và các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu của Liủỏn & Chen chỉ ra rằng mức độ tác động của các tiền tố đến ý định khởi nghiệp khác nhau giữa các nền văn hóa và bối cảnh xã hội, điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu riêng cho thị trường Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu của Zhang & Yang cũng cho thấy mặc dù các yếu tố trong mô hình giải thích khoảng 50% biến ý định, nhưng mức độ tác động của từng yếu tố thay đổi theo bối cảnh nghiên cứu Với Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đây là một môi trường nghiên cứu mới mẻ, khác biệt so với các nghiên cứu trước đây tập trung vào các nước phát triển.

Phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam khi áp dụng lý thuyết hành vi dự kiến (TPB) chỉ tập trung vào ba yếu tố tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp, nhưng nhiều nghiên cứu lại thiếu bằng chứng cho các mối quan hệ này Luận án này không chỉ xem xét các yếu tố trực tiếp mà còn bổ sung các biến tác động gián tiếp, bao gồm cảm nhận về may mắn và các yếu tố điều khiển như đặc trưng nhân khẩu học, kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp Nghiên cứu của Koe nhấn mạnh rằng việc thêm các biến khác vào mô hình có thể cải thiện độ chính xác trong việc dự đoán ý định khởi nghiệp, vì hành động không chỉ phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân hay ý kiến từ người xung quanh Thực tế cho thấy TPB chỉ giải thích được từ 30% đến 50% ý định khởi nghiệp, và ngay cả người sáng lập TPB cũng khuyên nên xem xét các biến khả thi khác Do đó, các học giả hiện nay thường kết hợp ba yếu tố của TPB với các biến khác để có cái nhìn chính xác và phù hợp hơn với bối cảnh nghiên cứu.

Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp trong sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam, còn hạn chế và chưa được khai thác sâu Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các đối tượng khác như bác sĩ hay sinh viên khối ngành kinh tế, trong khi ý định khởi nghiệp của sinh viên kỹ thuật vẫn chưa được đánh giá đầy đủ Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thu Thủy chỉ giới hạn ở TP Hà Nội và không đi sâu vào khối ngành kỹ thuật Điều này tạo ra khó khăn trong việc xây dựng chính sách khuyến khích khởi nghiệp và phát triển văn hóa doanh nhân trong nhóm sinh viên này Hơn nữa, các nghiên cứu hiện tại chưa chú trọng đến hình thức khởi nghiệp sáng tạo, mặc dù sinh viên kỹ thuật được xem là nhóm có tiềm năng lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế trong kỷ nguyên số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Do đó, cần có sự quan tâm và hỗ trợ từ Nhà nước và xã hội để phát triển thế hệ startup Việt Nam mới, góp phần quan trọng vào sự thay đổi diện mạo nền kinh tế trong tương lai.

Luận án không chỉ xem xét sáu yếu tố nhận thức cá nhân theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) mà còn bổ sung một biến phụ thuộc là Cảm nhận về may mắn, cùng hai biến điều khiển từ môi trường bên ngoài: Đặc trưng nhân khẩu học và Các chương trình đào tạo khởi nghiệp trong trường đại học Mục tiêu là nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan hơn về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp cá nhân, phù hợp với bối cảnh nghiên cứu và đối tượng của luận án Đây là một trong những điểm mới nổi bật của nghiên cứu so với các công trình đã thực hiện ở Việt Nam và trên thế giới.

Luận án sẽ đo lường tác động trực tiếp và gián tiếp của 7 yếu tố nhận thức cá nhân tới ý định khởi nghiệp, nhằm xác định những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất và hình thức tác động của chúng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ phân tích sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố này.

Bài viết phân tích bảy yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên dựa trên đặc trưng nhân khẩu học, cũng như kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp Kết quả này sẽ cung cấp cơ sở cho luận án đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học và sinh viên ngành kỹ thuật tại Việt Nam trong việc phát triển và hiện thực hóa ý định khởi nghiệp sáng tạo Qua đó, hình thành văn hóa khởi nghiệp và tạo ra một cộng đồng, mạng lưới khởi nghiệp sáng tạo, năng động và hiệu quả.

Tóm tắt chương 1

Chương 1 trước hết tập trung tìm hiểu các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp được sử dụng trong nghiên cứu, từ đó làm rõ có 4 cách tiếp cận vấn đề ý định khởi nghiệp và các yếu tố tác động tới việc hình thành, phát triển của ý định khởi nghiệp cá nhân mà khoa học áp dụng bao gồm:

• Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân trả lời câu hỏi: Ai sẽ là doanh nhân

• Cách tiếp cận đặc điểm xã hội học-nhân khẩu học trả lời câu hỏi: Môi trường nào hình thành doanh nhân

• Cách tiếp cận hành vi trả lời câu hỏi: Tại sao một số cá nhân lựa chọn theo đuổi hành trình khởi nghiệp

• Cách tiếp cận tổng hợp với quan điểm ý định khởi nghiệp chịu sự tác động của tổng hoà nhiều nhóm yếu tố khác nhau

Luận án khảo sát lịch sử phát triển của các phương pháp tiếp cận khởi nghiệp, phân tích điểm mạnh và yếu của từng cách, cùng với quan điểm của các học giả toàn cầu Xu hướng hiện nay cho thấy việc nghiên cứu ý định khởi nghiệp thông qua phương pháp tiếp cận hành vi đang được ưa chuộng, nhằm giải thích lý do tại sao một số cá nhân chọn theo đuổi con đường khởi nghiệp Luận án cũng bổ sung một số biến tác động phù hợp với bối cảnh nghiên cứu và áp dụng phương pháp này trong phân tích.

Chương 1 đã khám phá các nghiên cứu điển hình về ý định khởi nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng tại Việt Nam, đồng thời đưa ra nhận xét tổng quát về nội dung của các nghiên cứu này Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hình thức khởi nghiệp chung và khởi sự doanh nghiệp, trong khi nhóm sinh viên ngành kỹ thuật chưa được nghiên cứu nhiều, chủ yếu là sinh viên ngành kinh tế Quy mô các nghiên cứu còn hạn chế, chỉ thực hiện tại một hoặc vài trường đại học Dù thời gian xuất hiện ngắn, số lượng nghiên cứu về ý định khởi nghiệp đã tăng lên đáng kể, áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau với các nhóm tiền tố tác động đa dạng.

Luận án đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và nhấn mạnh sự cần thiết phải điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên ngành kỹ thuật trên toàn quốc, nhằm đóng góp vào môi trường nghiên cứu tại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

Khởi nghiệp: các hình thức, các lĩnh vực và quá trình phát triển

Theo từ điển tiếng Việt, khởi nghiệp là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới

Khái niệm khởi nghiệp tại Việt Nam rất đa dạng, từ việc bắt đầu kinh doanh nhỏ với các ngành nghề truyền thống như bán bánh mì, xôi, chè mà không cần đăng ký, cho đến việc thành lập các doanh nghiệp công nghệ sáng tạo nhằm tạo ra sự đột phá trong tăng trưởng và cạnh tranh Mặc dù khởi nghiệp sáng tạo đã được đề cập gần đây, nhưng khái niệm này vẫn chưa được cộng đồng hiểu rõ và công nhận một cách chính xác.

Theo quan điểm của khoa học hiện đại, khởi nghiệp phải gắn liền với việc thành lập một doanh nghiệp mới có tư cách pháp nhân, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo Thuật ngữ khởi nghiệp được công nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế như một hoạt động kết hợp giữa việc thành lập doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo, thường được gọi là khởi nghiệp dựa trên công nghệ (TBE) Các học giả như Drucker nhấn mạnh rằng khởi nghiệp luôn liên quan chặt chẽ đến đổi mới sáng tạo, trong khi nhà kinh tế học Schumper và nhà nghiên cứu Robinson chỉ ra rằng sự khác biệt giữa giám đốc và nhà khởi nghiệp nằm ở chỗ nhà khởi nghiệp là người cải cách sáng tạo Nghiên cứu của Shane định nghĩa khởi nghiệp là hoạt động khám phá, đánh giá và khai thác cơ hội để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới hoặc cách thức điều hành doanh nghiệp chưa từng có Theo nghiên cứu của Barbara và cộng sự, khởi nghiệp chỉ ra sự hình thành doanh nghiệp mới dựa trên kết quả khoa học công nghệ.

Khởi nghiệp được xem là giai đoạn đầu tiên trong vòng đời của doanh nghiệp, khi người sáng lập hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh Nhiều người hiểu khởi nghiệp là việc theo đuổi những quyết định mạo hiểm, một phần không thể thiếu trong kinh doanh Tuy nhiên, do tính chất rủi ro, không phải doanh nghiệp nào khởi nghiệp cũng đạt được thành công.

Trong kinh tế học, khởi nghiệp liên quan đến hai khái niệm chính: thành lập doanh nghiệp mới (startup) và tinh thần khởi nghiệp (entrepreneurship) Thành lập doanh nghiệp mới là quá trình khởi tạo và quản lý một doanh nghiệp, trong khi tinh thần khởi nghiệp được hiểu là năng lực và động lực của cá nhân trong việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới Tinh thần khởi nghiệp, hay tinh thần doanh nhân, đòi hỏi những người sáng lập phải có hoài bão vượt qua khó khăn, chấp nhận rủi ro và thể hiện sự đổi mới, sáng tạo Những doanh nhân thực thụ dũng cảm đối mặt với những thất bại về vật chất và tinh thần trong quá trình khởi nghiệp.

Nhà kinh tế học Mỹ Peter F Drucker định nghĩa “tinh thần doanh nhân khởi nghiệp” là hành động của những doanh nhân khởi nghiệp, những người có khả năng chuyển hóa những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành các sản phẩm hàng hóa.

Tinh thần khởi nghiệp là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra các tổ chức mới và tái tạo những tổ chức cũ, thể hiện qua việc xây dựng doanh nghiệp mới Nó không chỉ mang tính đổi mới và sáng tạo mà còn thúc đẩy doanh nhân tìm hiểu nhu cầu của khách hàng tiềm năng, góp phần vào sự phát triển của xã hội hiện đại Theo nghiên cứu của Nabi & Holden, khởi nghiệp phản ánh quan điểm cá nhân về lựa chọn nghề nghiệp và hành động hướng tới việc thành lập doanh nghiệp mới.

Nghiên cứu của Bruyat & Julien chỉ ra rằng khởi nghiệp có thể được hiểu theo nhiều cách, từ việc bắt đầu một doanh nghiệp mới đến quan điểm rộng hơn về nghề nghiệp tự làm chủ và chấp nhận rủi ro Tương tự, Zhang & Yang định nghĩa khởi nghiệp không chỉ là việc hình thành doanh nghiệp mới mà còn là một quá trình dài, bao gồm khám phá, đánh giá và khai thác cơ hội, trong đó luôn có sự kết hợp giữa việc tạo ra doanh nghiệp mới và thực hiện các hành vi kinh doanh.

Khởi nghiệp được hiểu là việc thành lập và làm chủ một doanh nghiệp mới, đây là định nghĩa được nhiều nghiên cứu hiện đại trên thế giới thống nhất.

Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật, những người có tri thức và nền tảng vững chắc về khoa học công nghệ Khởi nghiệp được hiểu là việc cá nhân tự làm chủ hoặc đồng làm chủ một doanh nghiệp mới, dựa trên việc áp dụng hoặc sáng tạo khoa học công nghệ nhằm tạo ra sự đổi mới sáng tạo, được gọi là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Theo Điều 3 của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, khởi nghiệp sáng tạo là thành lập doanh nghiệp mới để khai thác ý tưởng sáng tạo, có thể bao gồm tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và khả năng tăng trưởng nhanh Nhóm doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc đưa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào thực tiễn, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước.

2.1.2 Các hình th ức khởi nghiệp

Khởi nghiệp được phân loại thành hai loại dựa trên số lượng cá nhân tham gia: Khởi nghiệp độc lập, nơi một cá nhân duy nhất thành lập, làm chủ và điều hành doanh nghiệp; và khởi nghiệp hợp tác, trong đó hai hoặc nhiều cá nhân cùng nhau thành lập, làm chủ và phối hợp điều hành doanh nghiệp mới.

Khởi nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận là việc thành lập doanh nghiệp để làm giàu và kiếm lợi từ hoạt động kinh doanh Động lực chính của nhiều doanh nhân khi bắt đầu khởi sự kinh doanh thường xuất phát từ sự hấp dẫn về tiền bạc Kiếm lợi nhuận và gia tăng giá trị doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu của họ.

Khởi nghiệp không vì mục tiêu lợi nhuận là một xu hướng ngày càng phổ biến, trong đó các chủ doanh nghiệp tập trung vào việc tạo ra giá trị cho xã hội thay vì lợi ích cá nhân Những doanh nghiệp này, được gọi là doanh nghiệp xã hội, phát triển các sản phẩm và dịch vụ với mục đích nhân đạo, không chỉ nhằm thu lợi nhuận Thành công của họ được đánh giá qua những đóng góp tích cực cho cộng đồng và những tiến bộ xã hội mà họ mang lại, thay vì chỉ dựa vào con số lợi nhuận.

Căn cứ vào môi trường khởi nghiệp, có hai hình thức chính: khởi nghiệp độc lập và khởi nghiệp trong nội bộ doanh nghiệp Khởi nghiệp độc lập diễn ra khi một hoặc nhiều cá nhân tự thành lập doanh nghiệp của riêng mình Ngược lại, khởi nghiệp trong nội bộ doanh nghiệp, theo định nghĩa của GEM, là khi nhân viên của các tổ chức kinh doanh tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp cho công ty, bao gồm việc thành lập công ty con, mở rộng sang lĩnh vực mới, hoặc phát triển sản phẩm mới Để khởi nghiệp trong doanh nghiệp thành công, cần có môi trường, văn hóa và cơ chế khuyến khích từ các doanh nghiệp đang hoạt động, giúp nhân viên theo đuổi các ý tưởng kinh doanh.

Căn cứ vào lý do khởi nghiệp, nghiên cứu đã chia ra hai loại hình khởi nghiệp: khởi nghiệp cơ hội (Opportunity entrepreneurship) và khởi nghiệp do nhu cầu Khởi nghiệp cơ hội thường xuất phát từ đam mê, mong muốn khẳng định bản thân, gia tăng thu nhập hoặc nhận thức về những cơ hội kinh doanh tiềm năng, được gọi là pull factors Hình thức này được phân thành ba loại dựa trên mục đích và lý do khởi nghiệp.

 Khởi nghiệp để tăng thêm thu nhập

 Khởi nghiệp để duy trì thu nhập

 Khởi nghiệp để độc lập hơn

Tại các quốc gia phát triển, sự sáng tạo và đổi mới là yếu tố chủ chốt, với nhiều khởi nghiệp nhằm đạt được sự độc lập Khởi nghiệp cấp thiết, hay còn gọi là khởi nghiệp vì nhu cầu, xuất hiện khi đó là con đường duy nhất để tồn tại và kiếm sống hàng ngày, thường được thúc đẩy bởi các yếu tố đẩy.

Ý định khởi nghiệp và vai trò của ý định khởi nghiệp trong quá trình khởi nghiệp

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Anh Oxford do nghiên cứu [226] trích dẫn, ý định là kế hoạch hay mong muốn làm một việc gì đó

Bird định nghĩa ý định là một trạng thái tâm lý mà trong đó cá nhân tập trung sự chú ý vào một đối tượng, mục tiêu hoặc hành trình cụ thể, nhằm đạt được kết quả có ý nghĩa với bản thân.

Theo tài liệu [65], ý định không chỉ phản ánh động lực thực hiện hành vi trong tương lai mà còn là chỉ số quan trọng thể hiện nỗ lực của cá nhân Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ý định là yếu tố dự đoán chính xác nhất về hành vi khởi nghiệp, bác bỏ quan điểm cho rằng tính cách hay đặc điểm nhân khẩu học là chỉ báo chính xác nhất.

Trong văn học tâm lý, ý định được xem là yếu tố quan trọng để hiểu các động lực ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân Nó phản ánh mức độ nỗ lực và cố gắng mà mỗi người bỏ ra trong các tình huống khác nhau.

Để đạt được kết quả mong đợi trong tương lai, cần thực hiện 23 hành động nhằm nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi.

Trong tâm lý học hành vi, Lý thuyết Hành vi có kế hoạch của Ajzen chỉ ra rằng ý định là yếu tố dự đoán chính xác nhất hành vi tương lai của cá nhân, với khả năng dự đoán thành công lên đến hơn 30%, vượt trội so với 10% của các đặc điểm cá nhân khác.

Trong tâm lý xã hội, ý định là yếu tố dự đoán duy nhất cho bất kỳ hành vi nào, ngay cả khi hành vi đó hiếm gặp hoặc khó quan sát Ý định có thể đo lường mà không bị ảnh hưởng bởi độ trễ thời gian hay các yếu tố bên ngoài Nói chung, ý định càng cao thì xác suất thực hiện hành động càng lớn Nó là chỉ báo chính xác nhất cho các hành vi có kế hoạch, đặc biệt là những hành vi khó thực hiện và đòi hỏi nỗ lực cao Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cá nhân không bao giờ khởi nghiệp một cách ngẫu hứng; thay vào đó, họ thường xem xét và chuẩn bị kỹ lưỡng cho hành động này.

Các nghiên cứu [137] [149] khẳng định ý định là một chỉ số thể hiện nỗ lực mà một cá nhân thực hiện để đạt được một mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu của Ajzen cho thấy rằng ý định là chỉ báo quan trọng cho hành vi quy hoạch trong mô hình của ông, đặc biệt khi hành vi này khó thực hiện và cần nhiều nguồn lực.

2.2.2 Ý định khởi nghiệp Ý định được giả định là trạng thái nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng tới việc thực hiện hành vi Do vậy ý định khởi nghiệp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp Theo nghiên cứu [108], ý định hành vi là “xác suất chủ quan của một người mà ông sẽ thực hiện một số hành vi”

Theo định nghĩa nổi tiếng của Bird, Krueger đã xác định ý định khởi nghiệp là cam kết thành lập và quản lý một doanh nghiệp mới Ý định khởi nghiệp cũng đã được định nghĩa và nghiên cứu trong nhiều công trình nghiên cứu khác.

[91] thừa kế là quá trình tìm kiếm thông tin để thực hiện mục tiêu thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp của Theo Armitage & Conner đại diện cho động lực mà cá nhân nỗ lực thực hiện hành động theo kế hoạch hoặc quyết định đã đưa ra Điều này nhấn mạnh rằng ý định khởi nghiệp là yếu tố then chốt trong việc lập kế hoạch và thực hiện các bước để mở một doanh nghiệp.

Thompson định nghĩa ý định khởi nghiệp là sự khẳng định của cá nhân về việc làm chủ doanh nghiệp mới và xây dựng kế hoạch thực hiện hành động trong tương lai Ý định khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là câu hỏi có hay không, mà còn thể hiện ở nhiều mức độ từ thấp đến rất cao Định nghĩa này tương thích với quan điểm của Ajzen, cho rằng ý định càng cao thì khả năng thực hiện hành vi càng lớn, do đó, ý định khởi nghiệp đóng vai trò trung gian, hay chất xúc tác cho hành động thực tế.

Ý định khởi nghiệp của một cá nhân được định nghĩa là ước mơ thành lập một doanh nghiệp mới trong tương lai, đồng thời phản ánh trạng thái ý thức tâm lý trước khi hành động.

Ý định khởi nghiệp là một yếu tố quan trọng, phản ánh hành vi lập nghiệp Qua việc khám phá ý định, chúng ta có thể nhận diện hành vi khởi sự doanh nghiệp Theo Bird, ý định khởi sự doanh nghiệp đóng vai trò nền tảng cho các hành động khởi nghiệp trong tương lai.

Khởi nghiệp được xác định là một hành vi có kế hoạch, đòi hỏi nỗ lực cá nhân để thực hiện Ý định khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi này, đặc biệt đối với sinh viên đại học, những người đang trong giai đoạn định hướng nghề nghiệp tương lai.

Trong nghiên cứu này, ý định khởi nghiệp được hiểu theo quan điểm của Krueger, đó là sự cam kết nhận thức về việc thành lập và làm chủ một doanh nghiệp sáng tạo trong tương lai gần Điều này được lý giải bởi hai lý do: thứ nhất, nghiên cứu của Krueger là mô hình đã được kiểm định cho khởi nghiệp; thứ hai, lý thuyết này đã chứng minh hiệu quả trong việc thúc đẩy ý định của con người qua nhiều thực nghiệm với các kỹ thuật khác nhau.

2.2.3 Vai trò của ý định khởi nghiệp trong quá trình khởi nghiệp

Các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp

Quá trình hình thành doanh nghiệp mới bắt đầu từ ý định khởi nghiệp, phản ánh sự quan tâm của cá nhân đối với hoạt động này Ý định khởi nghiệp có thể dự đoán chính xác khả năng thực hiện hành vi trong tương lai, vì vậy việc tìm hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là rất quan trọng để lý giải hành vi khởi nghiệp Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra và chứng minh các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp.

Nhóm yếu tố nhân khẩu học, bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tôn giáo, quốc tịch và truyền thống kinh doanh của gia đình, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp Theo Drennan và cộng sự, truyền thống kinh doanh của gia đình có ảnh hưởng lớn đến quyết định khởi nghiệp của cá nhân, và những trải nghiệm trong thời thơ ấu liên quan đến sự phát đạt của gia đình sẽ là động lực thúc đẩy cá nhân theo đuổi đam mê khởi nghiệp.

[95] Alsos & cộng sự cũng đồng ý với nhận định rằng truyền thống gia đình làm kinh doanh sẽ khuyến khích cá nhân mong muốn lập nghiệp [57]

Nhóm yếu tố về năng lực cá nhân bao gồm trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh, cùng với kinh nghiệm lãnh đạo và khởi nghiệp.

Nhóm đặc điểm tính cách cá nhân và cá tính của doanh nhân khởi nghiệp bao gồm mong muốn đạt được thành tựu, quyền kiểm soát, chấp nhận rủi ro, chấp nhận sự không chắc chắn và mong muốn được độc lập Theo Chye (1996), những cá nhân này sở hữu các đặc điểm cần thiết để thành lập và làm chủ doanh nghiệp, và chúng ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp Hornaday (1982) đã phát triển học thuyết Đặc điểm cá nhân với 40 đặc điểm của doanh nhân khởi nghiệp, trong khi Meredith và cộng sự (trích trong Wilbard, 2009) đã cô đọng thành 5 đặc điểm chính, bao gồm sự tự tin, năng động nhạy bén, hoài bão, khuynh hướng tự chủ cao và sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Nhóm các yếu tố xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí và tầm ảnh hưởng của nhà khởi nghiệp trong cộng đồng Sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội không chỉ thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững.

Nhóm yếu tố văn hoá bao gồm chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa tập thể, sự chấp nhận hay không chấp nhận sự bất ổn định, hệ tư tưởng Nho giáo và văn hoá vật chất Những yếu tố này ảnh hưởng mạnh mẽ tới ý định khởi nghiệp, đặc biệt là ở các quốc gia thu nhập cao tại Châu Âu Dữ liệu từ báo cáo GEM-Andalucia trong các năm 2007 đến 2010 cho thấy người dân có cái nhìn tích cực về khởi nghiệp.

Mặc dù có 27% người trẻ có ý định khởi nghiệp, nhưng phần lớn lại không có kế hoạch thực hiện điều này do thiếu văn hóa khởi nghiệp tại các quốc gia này Điều này dẫn đến việc sinh viên ưu tiên tìm kiếm việc làm tại các doanh nghiệp thay vì khám phá cơ hội khởi nghiệp.

Các yếu tố môi trường như nguồn lực kinh tế, cơ hội việc làm và thể chế chính trị đóng vai trò quan trọng trong khởi nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ sinh thái khởi nghiệp, bao gồm thể chế kinh tế, văn hóa và xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp của cá nhân Van Gelderen và cộng sự cũng nhấn mạnh rằng môi trường xung quanh mỗi cá nhân là yếu tố quyết định trong việc hình thành và nâng cao ý định khởi sự doanh nghiệp Thêm vào đó, các cơ hội kinh doanh thường cao hơn và khả thi hơn trong các nền kinh tế có quy định linh hoạt, thị trường tự do và ít rào cản.

Ở những quốc gia có chính sách không ổn định, việc thành lập doanh nghiệp mới trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động dựa trên nền tảng khoa học công nghệ Điều này xuất phát từ bản chất của việc khởi đầu một phương thức hoạt động mới trong nhóm doanh nghiệp này.

Giáo dục và các chương trình đào tạo khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp Nghiên cứu của Kwong và cộng sự cho thấy cá nhân có bằng đại học tham gia vào hoạt động khởi nghiệp sớm hơn và sở hữu các công ty có mức tăng trưởng cao hơn so với những người không có bằng cấp Trình độ học vấn được khẳng định là yếu tố quyết định đến ý định khởi nghiệp, đặc biệt là nền tảng giáo dục chuyên ngành kỹ thuật, giúp cá nhân phát triển tầm nhìn kỹ thuật Samantha nhấn mạnh tầm quan trọng của các chương trình đào tạo khởi nghiệp trong việc tạo ra cá nhân khởi nghiệp và thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp trong xã hội Douglas và các nghiên cứu khác cũng xác nhận mối quan hệ tích cực giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp, với Kolvereid & Moen chỉ ra rằng sinh viên tham gia các chương trình khởi nghiệp có ý định khởi nghiệp cao hơn Bảng 1.2 tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, với nhiều tác giả cho rằng ý định này chịu tác động từ nhiều nhóm yếu tố khác nhau, dẫn đến việc xây dựng các mô hình nghiên cứu để phân tích sâu hơn về các yếu tố này trong luận án.

• Robinson & cộng sự cho rằng đặc điểm cá nhân kết hợp với môi trường bên ngoài tác động tới ý định khởi nghiệp của một cá nhân [192]

Theo Ajzen, ý định khởi nghiệp chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố bên trong, bao gồm thái độ đối với khởi nghiệp và niềm tin vào khả năng thành công của bản thân; và nhóm yếu tố bên ngoài, liên quan đến chuẩn chủ quan.

Nhà nghiên cứu Weber và cộng sự đã xác định hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, bao gồm nhóm yếu tố cơ bản (background factors) và nhóm yếu tố môi trường (accompanying environment factors).

Nghiên cứu của Fayolle & Gailly xác định hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên Nhóm thứ nhất bao gồm các chương trình đào tạo khởi nghiệp, với các yếu tố như nội dung, phương thức giảng dạy, đối tượng và địa điểm giảng dạy Nhóm thứ hai liên quan đến kinh nghiệm khởi nghiệp đã tích lũy và các đặc trưng nhân khẩu học, chẳng hạn như việc tham gia hoạt động khởi nghiệp trước đó hoặc có cha mẹ làm chủ doanh nghiệp.

Theo Bird nhấn mạnh rằng cách suy nghĩ cá nhân của mỗi người được hình thành từ nhiều yếu tố như xã hội, chính trị, kinh tế, lịch sử và tính cách cá nhân, cùng với các yếu tố thể hiện năng lực cá nhân.

Tác giả Learned cho rằng ý định khởi nghiệp được hình thành từ sự tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và những trải nghiệm tích cực liên quan đến việc khởi sự doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp

Các nhà nghiên cứu đã phát triển nhiều mô hình về ý định khởi nghiệp nhằm hiểu rõ hơn các điều kiện thuận lợi cho hành vi khởi nghiệp diễn ra Những mô hình này được xem là phương pháp hứa hẹn để giải thích hành vi khởi nghiệp từ nhiều góc độ khác nhau Theo Krueger, các mô hình này cung cấp một khung lý thuyết rõ ràng và logic, giúp chúng ta nắm bắt quá trình khởi nghiệp một cách hiệu quả.

Hiện nay, có hai nhóm mô hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp: nhóm thứ nhất tập trung vào các yếu tố tác động bên trong cá nhân, trong khi nhóm thứ hai xem xét các yếu tố tác động từ bên ngoài cá nhân.

2.4.1 Nhóm mô hình xem xét các yếu tố tác động bên trong cá nhân

Mô hình xu hướng thái độ kinh doanh của Robinson & cộng sự (1991) nhấn mạnh tầm quan trọng của thái độ doanh nhân trong việc giải thích ý định khởi nghiệp Theo mô hình này, ý định khởi nghiệp bị ảnh hưởng bởi sự thành đạt, khả năng đổi mới và khả năng kiểm soát cá nhân, thể hiện qua ba phản ứng chính: tình cảm, nhận thức và ý muốn.

Theo Theo Robinson, thái độ là yếu tố dự đoán hành vi kinh doanh hiệu quả hơn tính cách, vì thái độ có khả năng thay đổi dẫn đến hành vi thay đổi, trong khi tính cách thường khó thay đổi Do đó, Robinson khuyến nghị cần chú trọng vào mối tương quan giữa thái độ (yếu tố dự báo) và ý định khởi nghiệp (biến phụ thuộc).

Hình 2.3: Mô hình xu hướng thái độ kinh doanh Nguồn: Robinson & cộng sự (1991)[192]

Mô hình sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) là một khung lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu hành vi khởi nghiệp, nhấn mạnh rằng hành vi này bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính: những sự kiện tích cực, tiêu cực hoặc trung tính trong cuộc sống cá nhân và nhận thức của cá nhân về tính khả thi cũng như mong muốn khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp sẽ hình thành khi cá nhân nhận ra một cơ hội khả thi mà họ muốn theo đuổi Tuy nhiên, để biến ý định này thành hành động thành lập doanh nghiệp, cần có những yếu tố hỗ trợ khác.

Khởi nghiệp cần có sự tác động từ những thay đổi trong cuộc sống và quá trình lao động, học tập hàng ngày Một cá nhân chỉ thực hiện hành động khởi nghiệp khi có hai yếu tố quan trọng: sự kiện thay đổi cuộc sống và nhận thức về khả năng khởi nghiệp của bản thân cùng với mong muốn, khát khao khởi nghiệp Nếu thiếu một trong hai yếu tố này, hoạt động khởi nghiệp sẽ không thể diễn ra.

Hình 2.4: Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh (Nguồn: Shapero và Sokol) [202]

Mô hình tiềm năng khởi nghiệp của Krueger & Brazeal (1994) được xây dựng dựa trên lý thuyết khởi nghiệp của Shapero & Sokol, cho rằng cá nhân có mong muốn khởi nghiệp và niềm tin vào khả năng thành công của mình sẽ phát triển tiềm năng khởi nghiệp Tiềm năng này sẽ chuyển thành ý định khởi nghiệp dưới ảnh hưởng của các yếu tố kéo đẩy, như mô hình đã chỉ ra.

Hình 2.5: Mô hình tiềm năng khởi nghiệp (Nguồn: Krueger & Brazeal, 1994) [146]

• Mô hình Lý thuyết hành vi kế hoạch TPB của Ajzen (1991): Năm 1991, Ajzen hoàn thiện

Lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB), phát triển từ mô hình Hành động hợp lý (TRA), cho rằng hành vi của một người được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Ý định này phụ thuộc vào ba yếu tố chính: Thứ nhất, thái độ, phản ánh đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi, bị ảnh hưởng bởi niềm tin và cách đánh giá kết quả hành động Thứ hai, ảnh hưởng xã hội, đề cập đến sức ép từ môi trường xung quanh, bao gồm niềm tin và mong muốn của những người có ảnh hưởng Cuối cùng, thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận, thể hiện mức độ dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện hành vi, phụ thuộc vào sự sẵn có của nguồn lực và cơ hội.

Thái độ cá nhân đối với hành vi phản ánh cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực khi thực hiện hành vi đó, và bị ảnh hưởng bởi giá trị mong đợi của bản thân Chuẩn chủ quan liên quan đến nhận thức của cá nhân về cảm nhận của người khác, như gia đình và bạn bè, về hành vi mà họ thực hiện, đồng thời chịu tác động từ niềm tin vào các chuẩn mực xã hội Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến khả năng của cá nhân trong việc thực hiện hành vi, phản ánh sự tự tin và nguồn lực mà họ có Năng lực kiểm soát hành vi bị chi phối bởi nhận thức về khả năng của mỗi cá nhân.

Theo nguyên tắc chung, khi thái độ và quy tắc chủ quan tích cực kết hợp với sự kiểm soát cảm nhận mạnh mẽ, ý định thực hiện hành vi sẽ trở nên mạnh mẽ hơn.

Hình 2.6: Mô hình Lý thuyết hành vi kế hoạch TPB

Mô hình ý định khởi nghiệp của Linan (2004) bao gồm ba yếu tố chính: cảm nhận sự khát khao, cảm nhận tính khả thi và chuẩn mực xã hội Linan chỉ ra rằng cảm nhận cơ bản bao gồm cảm nhận tính khả thi và cảm nhận sự khát khao, được hình thành từ ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và xã hội thông qua hệ thống giá trị cá nhân Ngoài ra, chuẩn mực xã hội cũng có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp, được đo lường bằng mức độ quan tâm của xã hội đối với hành vi khởi nghiệp.

Hình 2.7: Mô hình ý định khởi nghiệp của Linan

2.4.2 Nhóm mô hình xem xét các yếu tố tác động bên ngoài cá nhân

Mô hình Thực hiện Ý tưởng Khởi nghiệp của Barbara Bird, được phát triển vào năm 1988, nhấn mạnh tầm quan trọng của ý định trong việc phát triển doanh nghiệp và triển khai các ý tưởng kinh doanh Tác giả cho rằng ý định là sự kết hợp của lý trí, phân tích, suy nghĩ nguyên nhân – kết quả và trực quan, đồng thời yêu cầu tư duy theo ngữ cảnh Mô hình này đã được tiếp tục hoàn thiện và phát triển qua các nghiên cứu sau đó.

Hình 2.8: Mô hình thực hiện ý định khởi nghiệp của Bird (Nguồn: Bird, 1988) [70]

Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp của Lüthje & Franke (2003) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích ý định khởi nghiệp ở sinh viên, từ đó góp phần nâng cao năng lực phát triển ý định khởi nghiệp.

Cảm nhận sự khát khao

Cảm nhận tính khả thi

Theo nghiên cứu của Lüthje & Franke, ý định khởi nghiệp của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính: các yếu tố nội tại như tính cách cá nhân và các yếu tố bên ngoài như môi trường giáo dục và thị trường tài chính Hai tác giả nhấn mạnh rằng môi trường bên ngoài, đặc biệt là điều kiện thị trường và cảm nhận về môi trường giáo dục đại học, có tác động lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, với môi trường giáo dục đại học có ảnh hưởng trực tiếp nhất.

Hình 2.9: Mô hình ý định khởi nghiệp (Nguồn: Lüthje & Franke, 2003) [156]

2.4.3 Đánh giá về các mô hình nghiên cứu và lựa chọn các yếu tố tác động tới ý định khởi nghi ệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam

Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã đề cập tới các vấn đề cở sở lý luận liên quan tới khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp như: khởi nghiệp, các hình thức khởi nghiệp, quá trình phát triển hoạt động khởi nghiệpvà ý định khởi nghiệp Đặc biệt, chương 2 đã xem xét vai trò quan trọng của ý định khởi trong quá trình phát triển hoạt động khởi nghiệp

Chương 2 tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cá nhân, đồng thời giới thiệu các mô hình liên quan đến ý định khởi nghiệp và các yếu tố tác động Các mô hình này được phân loại thành hai nhóm chính.

• Nhóm mô hình xem xét các yếu tố tác động bên ngoài cá nhân

• Nhóm mô hình xem xét các yếu tố tác động bên ngoài cá nhân

Luận án nhận xét các yếu tố chính tác động tới ý định khởi nghiệp, khẳng định mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB do Azjen (1991) là mô hình phổ biến nhất trong nghiên cứu này Đồng thời, luận án trích dẫn ý kiến của các học giả hiện đại, đề xuất bổ sung một số biến độc lập và biến điều khiển để có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp Xu hướng này phản ánh sự phát triển trong nghiên cứu về ý định khởi nghiệp cá nhân hiện nay Do đó, luận án áp dụng TPB làm mô hình chính, điều chỉnh các biến cho phù hợp với môi trường nghiên cứu tại Việt Nam, tập trung vào ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Nghiên cứu xem xét 09 yếu tố bên trong và bên ngoài cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp.

Áp dụng 06 yếu tố tác động bên trong cá nhân theo Lý thuyết TPB, bao gồm thái độ cá nhân, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan, giá trị mong đợi, niềm tin với chuẩn mực xã hội và cảm nhận về năng lực bản thân, giúp hiểu rõ hơn về hành vi của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội.

Cảm nhận về may mắn là một yếu tố quan trọng tác động đến khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam, phản ánh thực trạng và quan điểm từ các nghiên cứu đương đại Những người khởi nghiệp thường tin rằng may mắn có thể ảnh hưởng đến thành công của họ, tạo ra động lực và niềm tin trong quá trình phát triển ý tưởng và thực hiện kế hoạch kinh doanh Việc nhận thức đúng đắn về vai trò của may mắn có thể giúp các doanh nhân định hình chiến lược và tận dụng cơ hội, từ đó nâng cao khả năng thành công trong môi trường khởi nghiệp đầy cạnh tranh.

Bài viết bổ sung hai yếu tố tác động bên ngoài cá nhân ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, dựa trên mô hình Bird, bao gồm đặc trưng nhân khẩu học Đồng thời, theo mô hình Lüthje & Franke, các chương trình đào tạo khởi nghiệp trong trường đại học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM 89

BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 05/10/2023, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[16] H ữu Tuấn (2016) Xót ru ột những dự án khởi nghiệp sáng giá 'ăn cơm Việt Nam, khai sinh nước ngoài . http://www.baomoi.com. Truy cập ngày 16.7.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xót ruột những dự án khởi nghiệp sáng giá 'ăn cơm Việt Nam, khai sinh nước ngoài
Tác giả: H ữu Tuấn
Nhà XB: Báo Mới
Năm: 2016
[17] K.Linh (2017). S ố lượng bằng sáng chế của Việt Nam chỉ bằng một phần nghìn của Hàn Qu ốc, Trung Quốc. https://laodong.vn/kinh-te/so-luong-bang-sang-che-cua-viet-nam-chi-bang-mot-phan-nghin-cua-han-quoc-trung-quoc-665848.bld.Truy cập ngày 11.7.2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: S ố lượng bằng sáng chế của Việt Nam chỉ bằng một phần nghìn của Hàn Qu ốc, Trung Quốc
Tác giả: K.Linh
Năm: 2017
[18] Kiều Châu (2017). Trường đại học nào là “cái nôi” của các nhà sáng lập startup Việt?https://bizlive.vn/song/infographic-truong-dai-hoc-nao-la-cai-noi-cua-cac-nha-sang-lap-startup-viet-3081546.html.Truy cập ngày 10.7.2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường đại học nào là “cái nôi” của các nhà sáng lập startup Việt
Tác giả: Kiều Châu
Nhà XB: Bizlive
Năm: 2017
[19] Khu Công nghệ phần mềm ĐHQG-HCM (2018) Kết quả nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên ngành CNTT . http://www.vnu-itp.edu.vn/en/startups/315-ket-qua-nghien-cuu-ve-tinh-than-khoi-nghiep-cua-sinh-vien-nganh-cntt.html. Truy cập 29.6.2018 [20] Lam Vân (2016) Đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên ngành CNTT
Tác giả: Khu Công nghệ phần mềm ĐHQG-HCM
Năm: 2018
[21] Lê Văn (2017) Nh ững con số "biết nói" về giáo dục đại học Việt Nam.www.vietnamnet.vn. Truy cập ngày 27.6.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: biết nói
[22] Lương Minh Hà, Đỗ Thu Hằng, Vương Thu Trang (2015) Kh ởi nghiệp Việt Nam: Từ niềm tin t ới thực tế . T ạp chí Kinh tế và Dự báo, số 19/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghiệp Việt Nam: Từ niềm tin tới thực tế
[23] Mai Việt Dũng (2015) Vấn đề phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam hiện nay. T ạp chí Lý lu ận chính trị số 7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam hiện nay
[24] Minh H ạnh (2017) Doanh nghi ệp khởi nghiệp sáng tạo chật vật với thủ tục hành chính . https://vov.vn/kinh-te/doanh-nghiep-khoi-nghiep-sang-tao-chat-vat-voi-thu-tuc-hanh-chinh-706841.vov. Truy c ập ngày 24.8.2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghi ệp khởi nghiệp sáng tạo chật vật với thủ tục hành chính
Tác giả: Minh H ạnh
Năm: 2017
[25] M.H. (2016) Ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp ngành kỹ thuật . T ạp chí Thông tin Khoa h ọc và Công nghệ (STINFO), số 8/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp ngành kỹ thuật
Tác giả: M.H
Nhà XB: Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ (STINFO)
Năm: 2016
[26] Nguy ễn Đặng Tuấn Minh (2016) Kh ởi nghiệp kinh doanh trong sinh viên: Cảnh báo về nh ững cơn hoang tưởng (Kỳ 1) . http://tiasang.com.vn . Truy cập ngày 24.12.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghiệp kinh doanh trong sinh viên: Cảnh báo về những cơn hoang tưởng (Kỳ 1)
Tác giả: Nguyễn Đặng Tuấn Minh
Nhà XB: Tia Sáng
Năm: 2016
[27] Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2007) Nghiên cứu thị trường. NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thị trường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
[28] Nguyễn Đình Thọ (2011) Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh: Thiết kế và thực hiện. NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh: Thiết kế và thực hiện
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
[29] Nguy ễn Quân (2016) Vi ệt Nam có trở thành Quốc gia khởi nghiệp? . http://www.hhtp.gov.vn/ . Truy cập ngày 15.2.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam có trở thành Quốc gia khởi nghiệp
Tác giả: Nguyễn Quân
Năm: 2016
[30] Nguy ễn Hải Quang, Cao Nguyễn Trung Cường 2017 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khoa Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Kinh tế – Luật. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Trà Vinh, số 25,3.2017, 10-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khoa Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Kinh tế – Luật
Tác giả: Nguyễn Hải Quang, Cao Nguyễn Trung Cường
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Trà Vinh
Năm: 2017
[31] Nguy ễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016) Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị Kinh doanh tại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị Kinh doanh
Tác giả: Nguy ễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh
Năm: 2016
[32] Nguyễn Quốc Nam (2017) Các nhân t ố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Luận văn thạc sỹ Trường ĐH Kinh tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
[33] Nguy ễn Thị Ngọc Oanh (2011) Tìm hi ểu hoạt động kinh doanh và văn hóa kinh doanh của c ổ truyền của người Việt Nam . T ạp chí Triết học, số 3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hoạt động kinh doanh và văn hóa kinh doanh của cổ truyền của người Việt Nam
[34] Nguy ễn Thu Thuỷ (2014) Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học. Luận án Tiến sĩ trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học
[35] Nhật Nam (2016) Qu ốc gia khởi nghiệp-vận hội nào cho Việt Nam? http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Quoc-gia-khoi-nghiepvan-hoi-nao-cho-Viet-Nam/281377.vgp. Truy cập ngày 1.4.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc gia khởi nghiệp-vận hội nào cho Việt Nam
Tác giả: Nhật Nam
Nhà XB: Báo Điện tử Chính phủ
Năm: 2016
[36] Nhĩ Anh (2016) Hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Vi ện Chiến lược và Chính sách khoa h ọc và công nghệ. http://nistpass.gov.vn. Truy cập ngày 15.2.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 : Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp Sinh viên Trường ĐH Lao Động – Xã hội [15] - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp Sinh viên Trường ĐH Lao Động – Xã hội [15] (Trang 30)
Hình 1.4 : Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp sinh viên kinh tế – Trường ĐH Cần Thơ [38] - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp sinh viên kinh tế – Trường ĐH Cần Thơ [38] (Trang 31)
Hình 1.6 : Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp sinh viên kinh tế - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 1.6 Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp sinh viên kinh tế (Trang 33)
Hình 2.5 :  Mô hình tiềm năng khởi nghiệp (Nguồn: Krueger & Brazeal, 1994)  [146] - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 2.5 Mô hình tiềm năng khởi nghiệp (Nguồn: Krueger & Brazeal, 1994) [146] (Trang 51)
Hình 2.8:  Mô hình thực hiện ý định khởi nghiệp của Bird (Nguồn: Bird, 1988)   [70] - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 2.8 Mô hình thực hiện ý định khởi nghiệp của Bird (Nguồn: Bird, 1988) [70] (Trang 53)
Hình 2.10: Tổng hợp khung lý thuyết mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 2.10 Tổng hợp khung lý thuyết mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp (Trang 54)
Hình 3.1 :  Số lượng các thương vụ đầu tư vào DNKN  tại VN qua từng năm - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 3.1 Số lượng các thương vụ đầu tư vào DNKN tại VN qua từng năm (Trang 61)
Hình 3.2 : Định hướng sáng tạo trong các hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam  (Đơn vị: %) - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 3.2 Định hướng sáng tạo trong các hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam (Đơn vị: %) (Trang 64)
Hình 3.4 : Ý định khởi nghiệp ở Việt Nam 2015 (%)  ( Nguồn: Khảo sát người trưởng thành trên toàn cầu năm, GEM 2015 [11]) - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 3.4 Ý định khởi nghiệp ở Việt Nam 2015 (%) ( Nguồn: Khảo sát người trưởng thành trên toàn cầu năm, GEM 2015 [11]) (Trang 66)
Hình 3.5 : Danh sách các nước có nhiều sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật nhất - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 3.5 Danh sách các nước có nhiều sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật nhất (Trang 72)
Hình 4.2  Quy trình nghiên cứu luận án  ( Nguồn: Nghiên cứu sinh đề xuất) - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 4.2 Quy trình nghiên cứu luận án ( Nguồn: Nghiên cứu sinh đề xuất) (Trang 95)
Hình 4.4: Ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 4.4 Ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ (Trang 104)
Hình 5.6 : Phân loại mẫu theo các hoạt động làm thêm, NCKH, đào tạo khởi nghiệp - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 5.6 Phân loại mẫu theo các hoạt động làm thêm, NCKH, đào tạo khởi nghiệp (Trang 112)
Hình 5.7  Kết quả mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 5.7 Kết quả mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp (Trang 131)
Hình 6.2 : Top 6 lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo được đầu tư nhiều nhất (Nguồn: VCCI,  2017)   [49] - Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên việt nam: nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật
Hình 6.2 Top 6 lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo được đầu tư nhiều nhất (Nguồn: VCCI, 2017) [49] (Trang 142)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w