1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9

151 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
Tác giả Lưu Thị Lan
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
Trường học Đại Học Thái Nguyên - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các tác giả mới chỉ đưa ra các phương pháp dạy và học văn nói chung và văn nghị luận nói riêng chứ chưa có một hệ thống bài tập để phát triển từng kĩ năng năng lực cụ thể trong

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy Các nội dung nghiên

cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất

kỳ hình thức nào

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Lưu Thị Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ

tận tình của các Thầy Cô giáo và Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm - Đại học

Thái Nguyên Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy Cô và cô giáo

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy đã hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo

huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; các thầy cô trong Ban Giám hiệu và các đồng nghiệp

Trường THCS Cao Đức, Trường THCS Vạn Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ nhiệt

tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu đề tài

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ, động viên

tác giả hoàn thành khóa học và luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 05 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Lưu Thị Lan

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học của đề tài 5

7 Cấu trúc đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Văn bản nghị luận 6

1.1.2 Các năng lực tạo lập văn bản nghị luận 9

1.1.3 Bài tập và hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 12

1.1.4 Đặc điểm năng lực nhận thức của HS lớp 9 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Nội dung các bài học về văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn lớp9 15

1.2.2 Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn lớp 9 và tài liệu tham khảo 19

1.2.3 Thực trạng dạy và học phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 24

Tiểu kết 28

Trang 6

Chương 2 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC TẠO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HS LỚP 9 29

2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 29

2.1.1 Phù hợp với mục tiêu của môn học 29

2.1.2 Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng và phong phú 29

2.1.3 Phù hợp với thực tiễn dạy học ở THCS, phù hợp với đặc điểm HS THCS 29

2.1.4 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS 30

2.2 Phân loại bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 30

2.3 Đề xuất hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn nghị luận cho HS lớp 9 32

2.3.1 Bài tập tìm hiểu đề 32

2.3.2 Bài tập tìm ý 39

2.3.3 Bài tập lập dàn ý 56

2.3.4 Bài tập dựng đoạn 76

2.3.5 Đọc lại và sửa chữa 81

2.4 Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS 87

2.4.1 Vận dụng trong bài đọc - hiểu văn bản 87

2.4.2 Vận dụng trong các bài học lí thuyết về văn bản nghị luận 90

2.4.3 Vận dụng trong các tiết thực hành làm văn 93

2.4.4 Vận dụng trong kiểm tra đánh giá 94

2.4.5 Vận dụng trong việc hỗ trợ HS tự học ở nhà 99

Tiểu kết 104

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 105

3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 105

3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 105

3.3 Nội dung thực nghiệm 106

3.4 Hình thức thực nghiệm 106

3.5 Kết quả thực nghiệm 107

Trang 7

3.5.1 Kết quả thực nghiệm thăm dò 107

3.5.2 Kết quả thực nghiệm dạy học 108

3.6 Kết luận chung về thực nghiệm 111

3.6.1 Về thực nghiệm thăm dò 111

3.6.2 Về thực nghiệm dạy học 111

Tiểu kết 112

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng:

Bảng 2.1 Khảo sát các lỗi HS hay mắc phải trong bài làm văn nghị luận 82

Bảng 3.1 Kết quả bài tập: Tìm hiểu đề 107

Bảng 3.2 Kết quả bài tập: Tìm ý 107

Bảng 3.3 Kết quả các bài tập: Dựng đoạn 108

Bảng 3.4 Kết quả bài tập: Lập dàn ý 108

Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm với các lớp đối chứng 109

Bảng 3.6 Kết quả điểm bài làm văn ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng 110

Biểu đồ: Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm với lớp đối chứng 109

Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả bài làm văn của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 110

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thành tựu khoa học và công nghệ đổi mới rất nhanh chóng Nhà trường phổ thông không chỉ trang bị cho HS những kiến thức đã có của nhân loại mà còn bồi dưỡng, hình thành ở HS tính năng động, tư duy sáng tạo và năng lực thực tiễn Bắt kịp xu hướng phát triển của xã hội, Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, hướng vào phát triển năng lực cho người học, trong đó năng lực áp dụng thực hành, tư duy sáng tạo quan trọng nhất

1.2 Văn nghị luận là một loại văn trong đó người nói, người viết đứng trên một quan điểm nào đó và dựa vào sự hiểu biết nhất định của mình về xã hội, chính trị, đời sống, văn học, khoa học dùng lí lẽ và dẫn chứng, dùng ngôn ngữ trực tiếp để trình bày lập luận, phân tích, giảng giải, so sánh, phê phán nhằm giải quyết một vấn

đề xã hội, đời sống, tư tưởng, văn học, làm cho người đọc người nghe hiểu, có nhận thức đúng đắn và hành động đúng đắn Văn nghị luận ngày càng có vai trò quan trọng đối với HS, khi nó chiếm phần lớn trong cấu trúc đề thi vào lớp 10 và kì thi trung học phổ thông quốc gia Hơn nữa học sinh THCS là đối tượng bước đầu tiếp xúc và dần hình thành kiến thức và những kĩ năng làm văn nghị luận nên việc xây dựng hệ thống bài tập làm văn nghị luận là cần thiết để củng cố kiến thức và phát triển năng lực làm văn nghị luận cho HS Văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, giúp cho phát triển tư duy, nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong cuộc sống Làm văn nghị luận là rèn luyện tư duy bằng ngôn ngữ, cách trình bày vấn

đề, cách diễn đạt chính xác, cách dùng từ đúng chỗ, cách thuyết phục người khác Do

đó làm văn nghị luận rất cần thiết cho mọi người, đặc biệt trong xã hội ngày nay càng quan trọng đối với HS để khẳng định mình, để hội nhập trở thành một công dân toàn cầu Hệ thống bài tập góp phần giúp HS củng cố hình thành các kĩ năng, năng lực làm văn nghị luận

1.3 Hiện nay chưa có một hệ thống bài tập giúp các em hình thành từng năng lực tạo lập văn bản nghị luận ở Ngữ văn 9 Hệ thống bài tập trong sách giáo khoa chưa đủ đáp ứng nhu cầu luyện tập của HS để có thể thành thạo các năng lực làm văn nghị luận Các bài tập nguồn bên ngoài chưa chú trọng việc phát triển từng năng lực,

mà hầu hết tập trung làm một bài văn nghị luận hoàn chỉnh Như vậy rất khó khăn cho HS THCS bước đầu làm quen với văn nghị luận, cách tạo lập một bài văn nghị luận Hệ thống bài tập phát triển năng năng lực tạo lập văn bản nghị luận ở THCS sẽ giúp HS phát triển từng năng lực làm văn như: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn văn nghị luận và cách viết Có hệ thống bài tập thực hành sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của HS, phù hợp với quan điểm dạy học mới hiện nay

Trang 11

Từ những lí do trên và thực tế giảng dạy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài

“Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS lớp 9”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu văn nghị luận

Văn nghị luận ở nước ta có từ lâu đời và có giá trị to lớn gắn liền với lịch sử, chính trị và văn học Ở thời kì Trung đại văn học nghị luận được tồn tại dưới các dạng nghị luận cổ có nguồn gốc Trung Hoa: Chiếu, Biểu, Cáo, Hịch Về nội dung đều là các việc quan trọng, to lớn có sức ảnh hưởng đến quốc gia, xã tắc; Về nghệ thuật mang văn phong chính luận, ngôn từ sắc bén, trạng trọng, lập luận chặt chẽ giàu sức thuyết phục Có thể kể từ Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn; Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn; Đại cáo bình Ngô (1428) của Nguyễn Trãi; Trích diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lương; Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba (Bài kí khắc bia năm 1484) của Thân Nhân Trung; Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm; Ở thế kỉ XX văn nghị luận càng phát triển mạnh

mẽ với tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ, tiêu biểu là Hồ Chí Minh với các tác phẩm chính luận: Bản án chế độ thực dân (1925-1926), Tuyên ngôn độc lập (1945) Bên cạnh đó là các nhà chính luận như Phan Bội Châu với tác phẩm “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư”; Phan Châu Trinh với các tác phẩm: Đạo đức và luân lí đông tây; Đầu Pháp chính phủ thư (Gửi toàn quyền Beau sau khi ông đi Nhật về); Huỳnh Thúc Kháng: Bài phú Danh sơn Lương Ngọc; Ngô Đức Kế: Luận về chánh học và tà thuyết (Đăng trên báo Hữu Thanh, tháng 9, năm 1924) và các nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng biết bao nhà văn viết văn nghị luận nổi tiếng sau này như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh Văn nghị luận được đề cập từ lâu trong chương trình và sách giáo khoa Đó là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc các vấn

đề, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong đời sống, trong xã hội và trong văn học Từ lâu nghị luận đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả

Trong cuốn Làm văn các tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu, Nguyễn

Thành Thi đã nghiên cứu về văn nghị luận ở các khía cạnh như: Khái niệm văn nghị luận, đặc điểm của văn nghị luận, cách làm văn nghị luận…

Giáo trình Phương pháp dạy học Văn của Phan Trọng Luận và Trương Dĩnh đã

bàn về phương pháp dạy học các phân môn của Ngữ văn, trong đó ở phần Làm văn đi sâu vào phương pháp dạy lí thuyết và dạy thực hành

Giáo trình Làm văn của tác giả Đình Cao - Lê A đã nghiên cứu những vấn đề

cơ bản về văn nghị luận và việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, trong đó đi sâu vào nghiên cứu phương pháp và kĩ năng làm văn nghị luận Đó là những kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn văn, viết câu, dùng từ

Trang 12

Giáo trình Phương pháp dạy và học làm văn của tác giả Mai Thị Kiều Phượng,

gồm hai phần:

Phần 1: Những vấn đề chung về phương pháp dạy và học làm văn Phần này là

những kiến thức mang tính đại cương của bộ môn, khái quát về những khái niệm cơ bản của việc dạy và học môn làm văn ở trường trung học cơ sở Tác giả đã chú trọng đến sự cần thiết và nội dung của việc đổi mới phương pháp dạy và học môn văn; sau

đó là đổi mới chương trình và sách giáo khoa ở môn ngữ văn nói chung và phân môn

làm văn nói riêng Phần 2: Phân loại các phương pháp dạy và học làm văn Phần này

đã đi sâu vào các phương pháp từ truyền thống đến hiện đại, từ lý thuyết đến các kinh nghiệm, mẹo luật của người dạy và học môn làm văn Trên tất cả những điều đó, tác giả đã đề xuất một phương pháp dạy và học làm văn theo định hướng của sự đổi mới Theo tôi, đây quả là một hướng nghiên cứu và tiếp cận vấn đề rất khoa học của tác giả Trên cơ sở đó, tác giả công trình đề ra những luận thuyết của mình Riêng ở chỗ này, cuốn sách của TS Mai Thị Kiều Phượng đã thuyết phục được người đọc bởi những luận điểm, luận cứ và luận chứng được đưa ra một cách có hệ thống, cả từ hai hướng tiếp cận là thực tiễn và lý luận Là một cuốn giáo trình bộ môn, đồng thời là

một công trình nghiên cứu khoa học, Giáo trình phương pháp dạy và học làm văn đã

đem đến cho người dạy và học môn làm văn ở cấp THCS những kiến thứ mới mà bản thân tác giả đã rút ra được từ quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học của mình Và

đó chính là những đóng góp khoa học và thực tiễn của tác giả

Tuy nhiên các tác giả mới chỉ đưa ra các phương pháp dạy và học văn nói chung và văn nghị luận nói riêng chứ chưa có một hệ thống bài tập để phát triển từng

kĩ năng (năng lực) cụ thể trong tạo lập văn bản nghị luận ở THCS

2.2 Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9

Có thể nói rằng hệ thống bài tập làm văn đã xuất hiện trong các SGK từ khá lâu, tất cả các SGK làm văn đều có bài tập làm văn Tuy nhiên việc nghiên cứu và xây dựng các hệ thống bài tập bổ sung, phát triển từng kĩ năng làm văn nghị luận chưa được quan tâm nhiều Để phát triển được năng lực làm văn nói chung và năng lực làm văn nghị luận nói riêng cần phải thực hành nhiều, tức là cần có các hệ thống bài tập phù hợp với từng kĩ năng làm văn

Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy với đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện

kĩ năng lập ý cho HS THPT ở kiểu bài nghị luận xã hội” (2013) đã đi sâu vào hệ

thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho dạng văn nghị luận xã hội Với đề tài này tác đã đóng góp vào việc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý ở THPT

Đề tài Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS trong dạy học bài “Thao

tác lập luận so sánh” (SGK, Ngữ văn 11) của tác giả Nguyễn Thị Dung và đề tài “Từ thực tế viết văn nghị luận của HSTHPT xây dựng hệ thống bài tập sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng làm văn” của tác giả Nguyễn Thị Li Na đã đưa ra hệ thống bài tập làm

Trang 13

văn trong SGK Ngữ văn THPT Đồng thời các tác giả đã đề xuất được hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng làm văn đối với HSTHPT

Căn cứ vào tình hình thực tế trên, chúng tôi nhận thấy chưa có một hệ thống bài tập thống nhất, đa dạng phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS Với mong muốn đóng góp một phần dù là rất nhỏ nhằm đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học, hướng tới mục tiêu PTNL toàn diện cho HS, chúng tôi mạnh dạn đưa ra hệ thống bài tập nhằm củng cố, nâng cao kiến thức, năng

lực làm văn nghị luận của HS lớp 9 THCS thông qua đề tài "Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9"

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực làm văn nghị luận cho HS lớp 9 THCS nhằm góp phần rèn luyện cho HS những kĩ năng làm văn nghị luận, giúp các em làm tốt các bài văn nghị luận hoàn chỉnh, phát huy được tính chủ động sáng tạo Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở Trường THCS, tạo nền tảng tốt cho các em có kiến thức kĩ năng vững vàng cho bậc học THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực làm văn nghị luận cho HS THCS

- Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS lớp 9 THCS

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 ở THCS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS

- Đề tài đi sâu vào những yêu cầu, cách thức xây dựng, hệ thống bài tập xây dựng một số bài tập cụ thể và định hướng sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học Ngữ văn 9 THCS

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 14

5.1 Phương pháp hồi cứu tư liệu

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu trước đó có

đề cập đến văn nghị luận, năng lực viết văn nghị luận, hệ thống bài tập sử dụng trong dạy học văn nghị luận nhằm nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lí luận của đề tài

5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu lí luận; phân tích, tổng hợp các kết quả khảo sát và thực nghiệm tại trường THCS

5.3 Phương pháp thống kê phân loại

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để thống kê các bài tập làm văn nghị luận trong SGK Ngữ văn lớp 9 THCS Thống kê, xử lí các số liệu thu thập được, sau khi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm

5.4 Phương pháp điều tra khảo sát

Điều tra, trưng cầu ý kiến của GV và HS, khảo sát giáo án, dự giờ giáo viên THCS để nắm bắt được thực trạng dạy và học phân môn Tập làm văn và cụ thể là văn nghị luận Khảo sát hệ thống bài tập trong SGK Ngữ văn lớp 9 THCS để đánh giá thực trạng và xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với sự phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận

5.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong thực nghiệm dạy học Chúng tôi đã sử dung hệ thống các bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS lớp 9 THCS tại các trường THCS Cao Đức - Bắc Ninh, trường THCS Vạn Ninh - Bắc Ninh

6 Giả thuyết khoa học của đề tài

Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS còn hạn chế, chưa đầy đủ và hệ thống Nếu đề xuất được một hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS sẽ góp phần thúc đẩy dạy học và nâng cao chất lượng DH văn nghị luận cho HS lớp 9 THCS

7 Cấu trúc đề tài

Đề tài này gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS lớp 9

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Tài liệu tham khảo

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Văn bản nghị luận

1.1.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Văn nghị luận là một lĩnh vực lớn của đời sống xã hội, của tư duy về đời sống Suy cho cùng mọi ý kiến, lí lẽ của con người về con người, cuộc sống, xã hội, thế giới đều là nghị luận Văn bản nghị luận là một trong loại văn bản được chú trọng trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn phổ thông nói chung và sách giáo khoa ngữ văn THCS nói riêng

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó là nghị luận luận lí” Trong cuốn Làm văn của Lê A - Nguyễn Trí có định nghĩa về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết

đưa ra những lí lẽ dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thống qua cách thức bàn luận

mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình va hành động theo những điều mà mình đã đề xuất” Hay trong cuốn Làm văn của Đỗ Ngọc Thống có

viết: “Văn nghị luận là một thể văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý

chí và khát vọng của cả một dân tộc Nói một cách khái quát văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục ”

Trong sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2 có trình bày định nghĩa về văn nghị

luận khá ngắn gọn, đơn giản như sau: “Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác

lập cho người đọc, người nghe một quan điểm, tư tưởng nào đó”

Như vậy khái niệm về văn nghị luận được trình bày ở nhiều tài liệu khác nhau, các tài liệu đều cố gắng định nghĩa một cách cụ thể, dễ hiểu để độc giả và người học

có thể hình dung rõ ràng về loại văn quan trọng này Nhìn chung các tài liệu đều có

sự thống nhất như sau:

- Là loại văn trong đó người viết bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về một vấn đề nào đó và dùng các dẫn chứng, lí lẽ để thuyết phục người đọc, người nghe đồng tình với quan điểm của mình

- Văn nghị luận được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc và giàu sức thuyết phục

Trang 16

1.1.1.2 Đặc trưng của văn bản nghị luận

Nếu như trong văn miêu tả mọi sự vật hiện tượng, con người đều được vẽ ra

bằng các chi tiết, hình ảnh cụ thể nhờ ngôn ngữ; trong văn tự là trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa, thì văn nghị luận chủ yếu tác động vào lí trí, trí tuệ của người đọc, người nghe Trước một vấn đề nghị luận, người viết (nói) luôn ý thức nhiệm vụ thuyết phục đối tượng gia tiếp Đây là mục đích cuối cùng của văn bản nghị luận Muốn thực hiện được mục đích ấy, quá trình tạo lập văn bản không thể thiếu cách thức lập luận Sức thuyết phục của văn bản nhiều hay ít, cao hay thấp đều xuất phát từ cách thức lập luận Lập luận càng chặt chẽ, sức thuyết phục càng cao Vì thế nét riêng của văn bản nghị luận là sự kết hợp các đặc điểm: lập luận chặt chẽ, sức thuyết phúc cao, tính công khai

* Tính lập luận chặt chẽ

Quá trình nghị luận là quá trình người nói (viết) tìm ra cái lí để thuyết phục người khác Khái niệm lập luận có thể hiểu là tạo lập cái lí trong văn bản nghị luận Lập luận nhằm khẳng định hay phủ định một vấn đề nào đó Dù khẳng định hay phủ định, dù đồng tình hay bác bỏ, người viết cũng phải làm rõ cái lý Tức là phải trình bày, giải thích, chứng mình, phân tích, đánh giá vì vậy lập luận trở thành một đặc trưng quan trọng của văn bản nghị luận Trong văn nghị luận, người viết phải dựa vào cái lí để để thuyết phục người khác Vấn đề là độ tin cây của cái lí đó ở mức nào, cách trình bày cái lí ra sao Mỗi lí lẽ được nêu ra cần phải xác thực, rõ ràng và có hệ thống Tất cả phải thể hiện sự thống nhất, hợp logic Lập luận không chặt chẽ sẽ bị đối phương bắt bẻ

Muốn lập luận được chặt chẽ phải kết hợp nhiều thao tác lập luận: thao tác lập luận chứng minh, thao tác lập luận giải thích, thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận so sánh, thao tác lập luận bình luận, thao tác tập luận bác bỏ Quá trình nghị luận là quá trình người viết (người nói) tìm ra cái lý để thuyết phục người khác Mỗi lí lẽ đều phải xác thực, rõ ràng và có hệ thống Tất cả phải thể hiện sự thống nhất và hợp logic

* Tính thuyết phục cao

Văn nghị luận là loại văn bản vận dụng kiểu tư duy logic Việc chọn lọc và trình bày lí lẽ, dẫn chứng phải hợp lí Khi lí lẽ được làm sáng tỏ thì người nghe tự nhiên chấp nhận quan điểm của mình đưa ra, điều đó chứng tỏ vấn đề đã được thuyết phục thành công Sức thuyết phục của văn bản nghị luận được thể hiện ở thái độ “tâm phục, khẩu phục”, đối tượng giao tiếp hoàn toàn chấp nhận và bằng lòng với những lí

lẽ, dẫn chứng của người viết (người nói) đưa ra

Ngoài việc chú ý đến cái lí là chủ yếu, người viết còn phải chú ý đến cái tình Tình cảm trong văn nghị luận là một phương diện rất quan trọng Tình cảm và lí lẽ

Trang 17

bổ sung cho nhau Lí lẽ vững chắc lại hội tụ được cái tình thì lập luận càng trở nên mạnh mẽ

* Tính công khai

Văn bản nghị luận được tạo lập nhằm trình bày quan điểm của người viết về một vấn đề trong đời sống xã hội Đối tượng chung của văn bản nghị luận là toàn thể cộng đồng với nhiều gia tần khác nhau Mục đích chung của văn nghị luận là thuyết phục các đối tượng này cho nên cần công khai

Tính công khai còn được thể hiện qua thái độ của người viết đối với vấn đề đang được bàn tới Tác phẩm nghị luận xuất hiện công khai trước cộng đồng, ở những thời điểm và địa điểm khác nhau, thậm chí ở những thời điểm quyết định vận mệnh của quốc gia, dân tộc Do đó ngôn ngữ được sử dụng trong văn nghị luận không chấp nhận cách nói tùy tiện của khẩu ngữ hay cách nói đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật

Nó cũng không cho phép sử dụng tiếng địa phương, tiếng lóng những điều này góp phần thể hiện sự trang trọng của các tác phẩm nghị luận

Về nội dung: “Trong văn nghị luận, những yếu tố về nội dung là những khái

niệm phán đoán hợp thành những lí lẽ, dẫn chứng, vận dụng những quy tắc của tư duy logic, tạo nên những luận điểm, luận cứ, tuân theo những hình thức suy luận và những quy luật cơ bản của tư duy logic” [2, tr.6] Mỗi bài văn nghị luận cần phải có

một hệ thống luận điểm, hệ thống luận điểm này phải làm sao thể hiện được quan điểm của người viết và tính lập luận chặt chẽ được cụ thể hóa bằng các luận cứ và lập luận

- Luận điểm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận

Một bài văn thường có các luận điểm: luận điểm chính, luận điểm xuất phát, luận điểm khai triển, luận điểm kết luận Hệ thống luận điểm chính là nền tảng, là cơ sở của nội dung văn bản Bài nghị luận nào nêu được luận đề mà không xây dựng được

hệ thống luận điểm coi như chưa giải quyết được vấn đề, bài làm như vậy thực chất

là chưa có nội dung, không thuyết phục được người khác theo quan điểm, ý kiến của mình

Các yêu cầu đối với luận điểm:

+ Luận điểm phải được tổ chức hợp logic và có tính hệ thống

+ Luận điểm phải cân đối hài hòa

+ Luận điểm phải có tính mục đích cao

- Luận cứ: là những lí lẽ và dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm Luận điểm là kết luận của những lí lẽ và dẫn chứng đó

+ Có hai loại luận cứ: Luận cứ được lấy từ trong đời sống thực tế và luận cứ được lấy từ văn học dùng để làm dẫn chứng Luận cứ phải chân thực, xác đáng và toàn diện Luận cứ trả lời cho các câu hỏi: Vì sao phải nêu luận điểm? Nêu ra để làm gì? Luận điểm ấy có đáng tin cậy không?

Trang 18

+ Lí lẽ là điều nêu ra làm căn cứ để quyết định đúng sai, trái phải Các lí lẽ thường được nêu ra trong văn nghị luận là các nguyên lí, chân lí, ý kiến đã được công nhận

+ Mối quan hệ giữa luận điểm và luận cứ rất chặt chẽ, khăng khít Luận cứ là

sự triển khai của luận điểm, phục vụ cho mục đích của luận điểm, và ngược lại luận điểm được công nhận là đúng đắn phải dựa vào luận cứ

- Lập luận: Trình bày hệ thống luận điểm, luận cứ một cách chặt chẽ, rành mạch, logic nhằm làm thuyết phục người đọc người nghe theo quan điểm của mình

+ Cấu trúc của một lập luận: Luận điểm + Luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng) -> Kết luận + Một số phương pháp lập luận thường được dùng trong văn nghị luận là: Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp lập luận nhân quả, phương pháp loại suy, phương pháp so sánh

+ Những điểm lưu ý khi lập luận:

 Lập luận phải chặt chẽ

 Lập luận phải sắc bén

 Lập luận phải nắm vững quan điểm lịch sử và có tính khoa học

1.1.2 Các năng lực tạo lập văn bản nghị luận

1.1.2.1 Năng lực là gì?

Có rất nhiều định nghĩa về năng lực của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, phần lớn định nghĩa về năng lực của các tài liệu nước ngoài quy năng lực vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possibility) Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới

(OECD) quan niệm năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu

phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”

Hay theo cách hiểu thông thường: Năng lực là sự kết hợp giữa tư duy, kĩ năng

và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân tổ chức

để thực hiện thành công nhiệm vụ Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ánh ức mức độ năng lực của người đó

Ở Việt Nam nhiều tài liệu quy năng lực vào phạm trù khác nhau và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, bằng sự lựa chọn loại dấu hiệu khác nhau

- Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực được định nghĩa: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hoạt động

nào đó; phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một công việc nào đó với chất lượng cao”

- Theo cuốn giáo trình Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm thì “Năng lực

là tập hợp các tính chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”

- Cuốn “Xây dựng chương trình GDPT theo hướng tiếp cận năng lực” của Đỗ Ngọc Thống, năng lực được định nghĩa như sau: “Năng lực có thể định nghĩa như là

Trang 19

một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn năng lực Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như kinh nghiệm học sinh những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy

cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [9, tr.16]

- Dự thảo Đề án đổi mới CT&SGK giáo dục phổ thông sau 2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển CT theo định hướng năng lực Năng lực

được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với

thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng

tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có,

đó là các năng lực chung cốt lõi Yếu tố năng lực cốt lõi xuyên suốt mọi hoạt động cơ

bản của con người Định hướng xây dựng chương trình GDPT sau 2015 đã xác định một số năng lực chung cốt lõi mà mọi học sinh (HS) Việt Nam đều cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển xã hội Các năng lực này liên quan đến nhiều môn học, theo đó, mỗi môn học, với đặc trưng và thế mạnh riêng của mình, sẽ tập trung hướng đến một số năng lực, để cùng với những môn học khác sẽ có mục tiêu hình thành và phát triển một số năng lực chung cốt lõi cần thiết đối với mỗi HS

Các năng lực chung, cốt lõi được sắp xếp theo các nhóm sau:

- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:

+ Năng lực tự học

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực sáng tạo

+ Năng lực quản lý bản thân

- Năng lực xã hội, bao gồm:

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực hợp tác

- Năng lực công cụ, bao gồm:

+ Năng lực tính toán

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ

+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT)

Trong định hướng phát triển CT sau 2015, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực

Trang 20

tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học

Như vậy có thể thấy có rất nhiều định nghĩa về năng lực được đưa ra, nhưng nhìn chung khái niệm “năng lực” có điểm chung sau đây: là sự kết hợp của nhiều kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó Năng lực của người học

có thể chia ra làm hai loại: năng lực chung và năng lực riêng biệt Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực hay môn học nào đó Đây là dạng năng lực chuyên sâu, góp phần giúp mọi người giải quyết các việc chuyên môn trong lĩnh vực công tác hẹp của mình

1.1.2.2 Các năng lực tạo lập văn bản nghị luận

Làm văn là một trong ba phân môn của Ngữ văn Nó góp phần hình thành và phát triển một số năng lực chuyên biệt như năng lực tạo lập văn bản Năng lực tạo lập văn bản là khả năng sắp xếp, tổ chức những từ ngữ cấu trúc có tính liên kết, mạch lạc các ý tưởng một cách logic và thống nhất Hay đó còn là tri thức về hệ thống liên kết các đơn vị ngôn ngữ thành các phát ngôn nói và viết

Cuốn Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông của Nguyễn Quốc Siêu có nêu: “Quá

trình làm văn bao gồm bốn khâu, đó là: giai đoạn thu thập, giai đoạn cấu tứ, giai đoạn biểu đạt, giai đoạn sửa chữa Xét về làm văn nghị luận, trong quá trình trên rõ ràng có

ba nhân tố cùng vận động, đó là: toàn bộ thế giới và hiện thực cuộc sống (khách thể) được phản ánh, người viết (chủ thể) và văn chương (sản phẩm dung hòa chủ thể và khách thể) Ba nhân tố này trong quá trình vẫn tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau

và cuối cùng toàn bộ tiêu biến trong bài viết hoàn thành” [12, tr.250]

Để viết được một bài văn nghị luận hay, HS cần có những năng lực sau:

- Năng lực nắm bắt vấn đề: HS cần xác định đúng vấn đề mà đề bài yêu cầu

nghị luận, đồng thời HS cũng phải hiểu sâu, hiểu phong phú về những vấn đề đó, có thể làm sáng rõ vấn đề Để làm được điều đó HS phải có các năng lực như: năng lực

phân tích, năng lực quan sát, năng lực biểu tượng, năng lực cảm nhận

- Năng lực cấu tứ: Năng lực này giúp HS biết lập ý, lựa chọn cách triển khai ý

cho bài làm của mình HS cần tìm được các luận điểm, luận cứ và sắp xếp chúng theo một trật tự hợp logic, tạo nên những lập luận chặt chẽ, làm sáng tỏ vấn đề Một bài văn hay không chỉ đủ ý mà đôi khi còn thể hiện sự độc đáo, mới lạ, sáng tạo trong cấu

tứ Để có năng lực này, HS cần có năng lực nắm bắt vấn đề, hiểu rõ logic nội tại của đối tượng nghị luận, có tư duy logic, hệ thống, sáng tạo, có khả năng lập luận sáng rõ,

thuyết phục người đọc, người nghe theo quan điểm của mình

- Năng lực hành văn: Hành văn phải đúng phong cách, phù hợp với nội dung bài

viết Người viết phải biết triển khai các luận điểm rõ ràng, hợp logic, mạch lạc; luận cứ

phải xác thực, đáng tin cậy; lập luận phải sắc bén, chặt chẽ giàu sức thuyết phục

Trang 21

HS không chỉ diễn đạt đúng mà cần tới diễn đạt hay, có nghệ thuật thể hiện ở việc sử dụng các biện pháp tu từ, cách sử dụng từ ngữ độc đáo, sáng tạo, câu văn linh hoạt giàu hình ảnh

- Năng lực sửa chữa bài sau khi viết: Người viết phải có khả năng nhận xét, tự

đánh giá chính bài viết của mình, từ đó nhận ra những hạn chế trong bài làm và điều chỉnh bài viết của mình Sau khi được sửa chữa, bài văn sẽ trau truốt, mạch lạc hơn

Các năng lực này được cụ thể hóa thành các bước bài làm văn nghị luận:

- Bước 1: Tìm hiểu đề

- Bước 2: Tìm ý

- Bước 3: Lập dàn ý

- Bước 4: Viết bài

- Bước 5: Đọc lại và sửa chữa

1.1.3 Bài tập và hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9

1.1.3.1 Khái niệm hệ thống bài tập

Xoay quanh khái niệm về bài tập cũng có những quan niệm, định nghĩa khác

nhau Theo Nguyễn Hữu Châu: “Bài tập (Assigment) là những nhiệm vụ, công việc

được giao cho mỗi nhóm hoặc cá nhân trong khuôn khổ một chương trình học tập nhằm rèn luyện kĩ năng hay tăng cường kiến thức cho người học” [2, tr.19] Theo

định nghĩa này, bài tập được hiểu là dạng bài học mô phỏng lại kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu nhằm mục đích vận dụng lí thuyết và rèn luyện kĩ năng cần thiết theo chương trình môn học Theo đó, bài tập được sử dụng chủ yếu trong hoạt động thực hành mà nhiệm vụ giải bài tập là một hình thức thực hành Tuy nhiên, trước xu hướng đổi mới phương pháp dạy nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, tự giác trong nhận thức của người học thì phạm vi ứng dụng của bài tập rộng hơn nhiều Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng bài tập không chỉ dùng với mục đích giúp người học vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện những kĩ năng tương ứng mà còn giúp họ hình thành tri thức và phát triển các kĩ năng khác

Khái niệm về “Hệ thống bài tập” trong cuốn “từ điển Từ và ngữ Hán Việt” Khái niệm “hệ thống” được hiểu là: tập hợp những bộ phận có liên liên hệ chặt chẽ với nhau; thứ tự sắp xếp có quy củ; sự liên tục Bản chất cốt lõi của khái niệm “hệ thống” được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất là mối quan hệ nội tại có tính logic rất

rõ ràng của từng thành tố riêng biệt với những thành tố bộ phận cùng loại hay có cùng chức năng Như vậy, khái niệm “hệ thống” được hiểu là tập hợp những thành tố có liên hệ, quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể mới Và hệ thống bài tập là một tập hợp với nhiều bài tập khác nhau được xếp thành các nhóm (trong mỗi nhóm có thể có những nhóm nhỏ hơn) theo một trình tự có chủ đích nhất định

Trang 22

Rèn luyện và phát triển kĩ năng cho người học là một mục tiêu rất quan trọng trong quá trình dạy học Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, để nâng cao năng lực cho bản thân, người học cần lĩnh hội những tri thức đã tiếp thu được và chuyển hóa chúng thành các kĩ năng Những kĩ năng này sẽ được vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ, các tình huống xuất hiện trong thực tế cuộc sống Người làm chủ được kĩ năng phải vừa nắm vững những kiến thức lí thuyết về hành động, phương pháp hành động vừa phải biết vận dụng những điều đó vào thực tế một cách hiệu quả Nghĩa là người thực hành không chỉ làm tốt mà còn hiểu được nguyên nhân của kết quả tốt

đó là do đâu, tại sao mình lại làm như vậy mà không làm khác đi? Vì kĩ năng được thực hiện dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện của

cá nhân (tâm lí, sinh học), thể hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hành động nên muốn phát triển kĩ năng cho người học phải bám vào thao tác của hành động, cách thức thực hiện hành động và các tình huống trong thực tế Con đường hiệu quả nhất để phát triển kĩ năng là thực hành, luyện tập Các hoạt động này được cụ thể hóa bằng một hệ thống bài tập và khi thực hiện tốt những yêu cầu của mỗi bài tập người học sẽ được trải nghiệm để nắm vững lí thuyết hơn, sẽ có thêm kinh nghiệm,

sự khéo léo trong quá trình thực hiện để đạt được quả nhất định Giải quyết toàn bộ những yêu cầu của hệ thống bài tập sẽ giúp cho người học phát triển được các kĩ năng tương ứng

Như vậy “Hệ thống bài tập” có vai trò quan trọng trong việc tạo ra những tình huống học tập để HS phát triển tư duy năng lực, đồng thời bài tập còn là công cụ để

HS củng cố, vận dụng tri thức, kĩ năng đã được học đúng hướng và đúng cách, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, tự giác trong nhận thức của người học, rèn luyện những kĩ năng tương ứng mà còn giúp họ hình thành tri thức và phát triển các

kĩ năng khác

1.1.3.2 Yêu cầu của hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9

Yêu cầu của hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS lớp 9 THCS đảm bảo những nguyên tắc chung của việc xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học Ngữ văn nói chung:

- Phù hợp với mục tiêu môn học

- Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng, tính phong phú

- Phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn

- Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học

Đồng thời hệ thống bài tập tập trung vào việc phát triển năng lực riêng biệt trong tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS

Trang 23

1.1.4 Đặc điểm năng lực nhận thức của HS lớp 9

Lứa tuổi THCS (thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần Đặc biệt, HS lớp 9 là ở cuối giai đoạn thiếu niên để chuyển lên một giai đoạn trưởng thành - thanh niên Nên các em đang dần hoàn thiện những đặc điểm tâm sinh lí, nhận thức và nhân cách

1.1.4.1 Đặc điểm tâm lí của HS THCS

Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động của các em Đặc biệt ở độ tuổi HS lớp 9, các em đang dần hình thành và định hình tính người lớn Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, giáo dục, sự ảnh hưởng của gia đình, điều kiện sống của bản thân tất cả đưa các em có tính độc lập và tự chủ hơn

Đặc biệt trong giai đoạn này các em có sự biến đổi nhiều về sinh lí, rất dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như gia đình, xã hội, nhà trường Các em trải qua thời kì dậy thì với nhiều thay đổi về sinh lí và ngoại hình Sự phát dục cùng với những sự chuyển biến trong sự phát triển cơ thể của thiếu niên có một ý nghĩa không nhỏ trong sự nảy sinh những cấu tạo tâm lí mới: cảm giác về tính người lớn thật sự của mình; cảm giác về tình cảm giới tính mới lạ, quan tâm đến người khác giới

Nói chung đây là một thời kì nhạy cảm và nhiều biến động về mặt tâm lí của các em Và với đối tượng HS lớp 9, giai đoạn cuối thời kì thiếu niên này các em đã dần ổn định hơn về mặt tâm lí, bắt đầu ổn định về tính cách, có những cảm nhận riêng, quan điểm riêng về yêu, ghét, cái đẹp

1.1.4.2 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 9

Đặc điểm nhận thức của HS lớp 9 cũng có nhiều thay đổi:

Về tri giác: Các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiện tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn

Về trí nhớ: HS THCS, đặc biệt là HS lớp 9 có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ những tài liệu trừu tượng, từ ngữ Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn Đặc điểm cơ bản của trí nhớ ở độ tuổi này

là sự tăng cường tính chất chủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải thiện, hiệu suất ghi nhớ được nâng cao

Về hoạt động tư duy và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Các em có những kĩ năng tổ chức hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu Nhưng hình phần của tưu duy hình tượng - cụ thể vẫn được

Trang 24

tiếp tục phát triển, nó giữ vai trò quan trọng của cấu trúc tư duy Ở độ tuổi này tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, các em biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức

Sự phát triển năng lực nhận thức của HS là rất cần thiết, bởi trong quá trình phát triển các năng lực tạo lập văn nghị luận đòi hỏi HS việc phát triển tư suy logic, nhận thức, khái quát hóa, nêu ý kiến bản thân để giúp HS chủ động tiếp cận và giải quyết vấn đề

1.1.4.3 Nhu cầu phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận của HS lớp 9

Ở độ tuổi này các em đã bộc lộ sự tự nhận thức tầm quan trọng của việc học để định hướng nghề nghiệp cho tương lai Trong chương trình làm văn lớp 9, văn nghị luận chiếm một phần vô cùng quan trọng (nó chiếm 16 tiết trong tổng số 24 tiết làm văn của chương trình ngữ văn 9, tập 2) Đồng thời đây là giai đoạn các em bước vào

kì thi chuyển cấp quan trọng, văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc

đề thi

Mặt khác nhiều em có nhu cầu, hứng thú tìm hiểu các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế mang tính thời sự, có tác động đến đời sống của người dân trong nước và thế giới Đồng thời các em muốn bày tỏ thái độ, quan điểm, nhận định, đánh giá và ý kiến của mình và mong muốn được ghi nhận ý kiến, quan điểm của mình Thực chất các em đã tạo lập một văn bản nghị luận để trình bày, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình, và thuyết phục người nghe theo ý kiến quan điểm của mình đưa ra Như vậy chính trong bản thân HS đã có sẵn nhu cầu tạo lập văn bản nghị luận

Với nhu cầu phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận của HS, đòi hỏi HS phải có các kiến thức về văn học, về xã hội, có chính kiến bản thân, tư duy tốt để giải quyết các vấn đề, phân biệt được tốt - xấu, đúng - sai từ đó hoàn thiện và làm trong sáng bản thân, xây dựng một xã hội lành mạnh

Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị cho HS lớp

9 THCS có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố các kiến thức và kĩ năng của các em,

đã được học Đồng thời hình thành thêm nhiều năng lực mới, rèn luyện một cách toàn diện cho các em: khả năng giao tiếp tốt hơn thông qua việc phát biểu ý kiến bằng lời văn rõ ràng, trôi chảy, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, khả năng đánh giá các vấn

đề nhằm hướng tới chân - thiện - mĩ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung các bài học về văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn lớp9

Các bài học trong phần Làm văn SGK Ngữ văn 9, tập 2 chú trọng đến việc mở rộng và nâng cao kiến thức về văn nghị luận đã được học trong lớp 7, lớp 8, đồng thời

Trang 25

cung cấp phương pháp làm các kiểu bài văn nghị luận SGK Ngữ văn 9 đã phân bố tiết dạy về văn bản nghị luận tương ứng với các bài học:

- Bài “Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống” [sgk, tr.20] SGK Ngữ

văn 9 tập 2 được cấu trúc với nội dung: Tìm hiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

+ Phần Tìm hiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống đưa ra một ngữ liệu, yêu cầu HS trả lời các câu hỏi (với bốn câu hỏi) nhằm rút ra những kiến

thức của bài học Ngữ liệu: “Bệnh lề mề”

+ Câu hỏi a: Trong văn bản trên, tác giả bàn luận về hiện tượng gì trong đời sống? Hiện tượng ấy có những biểu hiện như thế nào? Tác giả có nêu rõ được vấn đề đáng quan tâm cảu hiện tượng đó không? Tác giả đã làm thế nào để người đọc nhận

ra hiện tượng ấy?

+ Câu b: Có thể có những nguyên nhân nào tạo nên hiện tượng đó?

+ Câu c: Bệnh lề mề có những tác hại gì? Tác giả đã phân tích những tác hại của bệnh lề mề như thế nào? Bài viết đã được đánh giá hiện tượng đó ra sao?

+ Câu d: Bố cục của bài viết có mạch lạc và chặt chẽ không? Vì sao?

+ Nội dung bài học:

 HS biết như thế nào được gọi là nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội

 Những yêu cầu về nội dung của bài nghị luận: Phải nêu rõ được sự việc, hiện tượng có vấn đề; phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó; chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết

 Những yêu cầu về hình thức: bài viết phải có bố cục rõ ràng mạch lạc; luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sống động

+ Phần luyện tập bao gồm hai bài tập nhằm giúp HS xác định được vấn đề nghị luận trong đời sống và xã hội

- Bài “Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống” [ngữ văn

9, tập 2, tr.22] có cấu trúc gồm hai phần: Đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống; Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

+ Phần Đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống: đưa ra 3 đề văn với hai câu hỏi:

 Câu a: Các đề bài trên có điểm gì giống nhau? Chỉ ra những điểm giống nhau đó

 Câu b: Mỗi em tự nghĩ một đề bài tương tự

+ Phần Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống bao gồm: 4 bước:

 Tìm hiểu đề và tìm ý

Trang 26

- Viết bài tập làm văn số 5 - Nghị luận xã hội [SGK Ngữ văn 9, tập 2, tr.33]

- Bài “Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí” [SGK Ngữ văn 9, tập 2,

tr.34], có cấu trúc hai phần:

+ Phần 1: Tìm hiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí SGK đã đưa ra một văn bản ngữ liệu “Tri thức là sức mạnh”, thông qua việc tìm hiểu ngữ liệu bằng cách trả lời các câu hỏi HS rút ra được kiến thức của bài: Như thế nào là nghị luận về một

tư tưởng đạo lí, yêu cầu về nội dung và hình thức của bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí

+ Phần 2: Luyện tập

- Trả bài tập làm văn số 5

- Bài “Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí” [SGK Ngữ văn

9, tập 2/51] Trong bài này, HS tìm hiểu các đơn vị kiến thức:

+ Đề bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

+ Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí: bao gồm 4 bước:

 Tìm hiểu đề và tìm ý

 Lập dàn bài

 Viết bài

 Đọc lại bài viết và sửa chữa

+ Bố cục của bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí:

 Mở bài: Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

 Thân bài: Giải thích chứng minh nội dung vấn đề tư tưởng, đạo lí; nhận định, đánh giá vấn đề tư tưởng đạo lí đó trong bối cảnh cuộc sống riêng chung

 Kết bài: Kết luận, tổng kết, nêu nhận thức mới, tỏ ý khuyên bảo hoặc tỏ ý hành động

+ Phần luyện tập yêu cầu HS lập dàn bài cho đề 7 ở mục I

- Bài “Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)” [SGK Ngữ văn 9, tập

2/61], bao gồm hai phần:

+ Phần 1: Tìm hiểu về bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) + Phần 2: Luyện tập, HS được rèn luyện về xác định vấn đề nghị luận, xác định các luận điểm chính của bài

- Bài “Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)” [SGK/64]

Bao gồm ba phần:

Trang 27

+ Đề bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

+ Các bước làm bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích:

 Tìm hiểu đề và tìm ý

 Lập dàn bài:

Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình

Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; có

phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực

Kết bài: Nêu nhận định đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện (hoặc

đoạn trích)

 Viết bài

 Đọc lại bài viết và sửa chữa

+ Luyện tập: Bao gồm chỉ có một bài, yêu cầu của bài tập “Cho đề bài: Suy

nghĩ của em về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao Hãy viết phần mở bài và một đoạn phần thân bài”

- Bài “Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

[SGK/68]

- Bài “Viết bài tập làm văn số 6 - Nghị luận văn học” (Bài làm ở nhà)

- Bài “Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” [SGK Ngữ văn 9, tập 2/76] Bao

gồm hai phần:

+ Tìm hiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

+ Luyện tập, củng cố thêm các kĩ năng tìm luận điểm

- Bài “Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” [SGK Ngữ văn 9, tập

2/79], bao gồm ba phần:

+ Đề bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

+ Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ bao gồm bốn bước:

 Tìm hiểu đề và tìm ý

 Lập dàn bài

Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét, đánh giá của

mình (Nếu phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó)

Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệ

thuật của đoạn thơ, bài thơ

Kết bài: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ

Trang 28

- Bài “Viết bài tập làm văn số 7 - Nghị luận văn học” [SGK Ngữ văn 9, tập 2/99]

- Bài “Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” [SGK Ngữ văn 9, tập 2/112]

- Bài “Trả bài tập làm văn số 7” [SGK Ngữ văn 9, tập 2/122]

Qua việc khảo sát SGK Ngữ văn 9, chúng tôi thấy một số vấn đề cần được chú

ý khi đề xuất hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS của mình:

Phần Làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 chương trình chỉnh lý, hợp nhất năm 2000 có phần lý thuyết và thực hành đan xen nhau Mỗi một bài học luôn bao gồm phần bài học là các đơn vị kiến thức và phần luyện tập Bên cạnh việc đưa ra những lý thuyết của văn nghị luận như: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, Nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nghị luận về một tác phẩm truyện (hay đoạn trích), nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề, tư tưởng, đạo lí, cách làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), cách làm bài nghị luận

về một đoạn thơ, bài thơ

Về phần luyện tập số lượng các bài tập không nhiều, đa số chỉ đang dừng lại ở việc vận dụng lí thuyết, bài tập phát hiện và rèn luyện một vài kĩ năng Trong khi đó làm văn cần thực hành tổng hợp, cần đặt cao yêu cầu kĩ năng thực hành

Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống bài tập để hình thành và rèn luyện năng

lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS cũng ít được quan tâm Do đặc thù có tính chất

công cụ, SGK cũng chỉ nêu lên những định hướng dạy học làm văn nghị luận giúp

GV và HS tiếp cận, có sự hiểu biết cơ bản về văn bản nghị luận, còn hình thành và rèn luyện năng lực tạo lập văn bản nghị luận một cách có hệ thống thì SGK vẫn chưa

có điều kiện đi sâu tìm hiểu

1.2.2 Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn lớp 9 và tài liệu tham khảo

1.2.2.1 Thực trạng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9

BẢNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PTNL TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

TRONG CHƯƠNG TRÌNH SGK NGỮ VĂN 9

Trang 29

STT BÀI HỌC NỘI DUNG BÀI TẬP GHI CHÚ

Bài 2 (SGK NV9-II/21):

Một cuộc điều tra 2000 thanh niên nam

ở Hà Nội năm 1981 cho thấy: từ 11 đến 15 tuổi: 25% các em đã hút thuốc lá; từ 16 đến 20 tuổi: 52%; trên 20 tuổi: 80% Tỉ lệ này ngang với các nước châu Âu Trong số các em hút thuốc lá, có đến 80% lâu lâu có triệu chứng như ho hen, khạc đờm, đau ngực, còn trong số những em không hút thuốc chỉ có không đến 1% có các triệu chứng ấy (theo Nguyễn Khắc Viện) Hãy cho biết đây có phải là hiện tượng đáng viết một bài văn nghị luận không? Vì sao?

tự trọng của Nguyễn Hiền biểu hiện ra sao? Em có thể học tập Nguyễn Hiền ở những điểm nào?)

ra luận điểm chính của nó?

c Phép lập luận chủ yếu trong bài này

là gì? Cách lập luận trong bài có sức thuyết phục như thế nào?

Trang 30

STT BÀI HỌC NỘI DUNG BÀI TẬP GHI CHÚ

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Vấn đề nghị luận của đoạn văn là gì?

Đoạn văn nêu lên những ý kiến chính nào? Các ý kiến ấy giúp ta hiểu thêm

gì về nhân vật Lão Hạc?

“Từ việc miêu tả hoạt động của các nhân vật Ý nghĩa của câu chuyện chủ yếu được phát sáng từ điểm then chốt này.”

(Theo Văn Giá, Chiều sâu truyện “Lão Hạc”)

6 Cách làm bài nghị luận

về tác phẩm truyện

(hoặc đoạn trích)

Bài tập: (SGK NV9-II/68)

Cho đề bài: Suy nghĩ của em về truyện

ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao Hãy

viết phần Mở bài và một đoạn phần Thân bài

7 Nghị luận về một

đoạn thơ, bài thơ

Bài tập: (SGK NV9-II/79)

Ngoài các luận điểm đã nêu về hình

ảnh mùa xuân trong bài Mùa xuân nho

nhỏ ở văn bản trên, hãy suy nghĩ và

nêu thêm các luận điểm khác nữa về bài thơ đặc sắc này

- Lập dàn ý chi tiết theo các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.)

Trang 31

Thông qua Bảng hệ thống các bài tập PTNLLV trong SGK NV9-II ta thấy hệ

thống bài tập làm văn trong chương trình SGK đã hướng vào các kĩ năng thực hành

và phải lấy việc rèn luyện các kĩ năng làm mục đích Tên gọi của phần bài tập này đã

có sự thống nhất trong các bài học của chương trình, chỉ có một tên đề mục là “Luyện tập” Hệ thống bài tập này hoàn toàn không có lí thuyết những tri thức cần HS nắm vững đã được tóm tắt khái quát, ngắn gọn với ngôn từ đơn giản, dễ nhớ, dễ học trong phần ghi nhớ ở cuối bài học

Về bài tập luyện tập, ở đây chủ yếu là hai dạng bài tập: bài tập nhận diện và

bài tập tạo lập, chủ yếu là kiểu bài tập khái quát, rèn luyện tổng hợp, gần như yêu cầu

HS hoàn thành cả một bài văn mà không có (hoặc rất ít) kiểu bài tập rèn luyện những

kĩ năng cụ thể, riêng biệt là loại bài tập vừa sức đối với HS Trong hệ thống này bài tập rèn luyện các thao tác, kĩ năng làm văn nghị luận thông qua việc phân tích ngữ liệu chiếm phần lớn Loại vài tập này có sự tương thích, ăn khớp và thống nhất với cách dạy học quy nạp, theo nguyên tắc thực hành trong các bài học làm văn SGK đã

đi từ việc phân tích ngữ liệu để rút ra những kết luận về mục đích yêu cầu, ý nghĩa và những việc phải làm cho từng thao tác, kĩ năng làm văn nghị luận cụ thể Đối với HS THCS, cụ thể là lớp 9, những kiến thức về văn nghị luận không hoàn toàn mới và các

em đã được rèn luyện các kĩ năng về làm văn nghị luận

Tuy nhiên, trên thực tế các em vẫn còn nhiều yếu kém về tất cả các kĩ năng làm văn, điều này thể hiện rất rõ trên các bài làm của HS, ngay ở cả những bài viết khá tốt vẫn tồn tại nhiều thiếu sót không đáng có Vì vậy vẫn rất cần phải có những

hệ thống bài tập riêng cho từng đối tượng HS khác nhau, ở những nơi, những lớp học khác nhau phù hợp với thực tế và khả năng làm văn của các em Việc sử dụng bài tập làm văn trong dạy học làm văn đối với đa số các môn học, bài tập là tiêu chuẩn đánh giá tình hình nắm bắt nội dung bài Đối với dạy học làm văn, vì là môn học thực hành nên hệ thống bài tập có một vai trò đặc biệt, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học

cả bộ môn Ngữ văn, nó là phần luyện tập cho khâu cuối cùng của cả quá trình học Ngữ văn, đòi hỏi HS phải vận dụng cả năng lực tư duy và năng lực ngôn ngữ để thực hiện một số kĩ năng quan trọng nào đó để chuẩn bị cho việc hoàn thành một bài văn

Vì vậy phải có một hệ thống bài tập vừa sức, phù hợp với trình độ và năng lực thì HS mới có thể thực hiện được, có làm được thì mới thành thạo, thành thạo khiến cho HS

tự tin, tự tin thì sẽ có hứng thú, hứng thú khi học thì sẽ có kết quả tốt Đó chính là con đường thành công của nhiều môn học, cũng là con đường dẫn đến những bài văn đạt chất lượng cao và xa rộng hơn là những công dân có trình độ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Như vậy có thể khẳng định rằng, chỉ có bài tập làm văn trong SGK thì chưa đủ -

dù là một hệ thống bài tập rất tốt Cho nên rất cần những hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn mới, riêng biệt cho những đối tượng HS khác nhau

Trang 32

Mặt khác theo như khảo sát của chúng tôi, GV và HS rất khó có thể tìm được những cuốn sách về các dạng bài tập rèn luyện năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS, mà chủ yếu là các dạng sách với các bài làm mẫu tham khảo

Theo như hướng đề xuất và quan niệm của luận văn thì hệ thống bài tập này được xây dựng trên cơ sở khảo sát, xác định những năng lực cần có để tạo lập văn bản nghị luận Hệ thống bài tập mới này quan trọng và cần thiết trước hết vì nó gắn liền với thực tế, gần gũi với HS Nó giúp các em củng cố kiến thức lí thuyết về văn nghị luận, rèn luyện các kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận, giúp các em nhận ra những yếu kém của mình và xác định được phương hướng cần phải thực hành, luyện tập thêm Nếu chỉ có các bài tập luyện tập trên lớp thì không đủ cho HS luyện tập củng cố, nâng cao kĩ năng, không đủ để thầy cô sửa lỗi và hướng dẫn lại cho từng bài viết Những vấn đề cần luyện tập thực hành được tập trung lại và xây dựng thành một

hệ thống có sự thống nhất, liên kết chặt chẽ với nhau và trước hết cần tập trung rèn luyện những kĩ năng làm văn còn nhiều yếu kém của HS, sửa lỗi và giúp HS nắm vững các kĩ năng như: xác định vấn đề nghị luận; lập lý; lập dàn ý; dựng đoạn; phát hiện sửa chữa những lỗi sai… Hệ thống bài tập này vừa phải có sự thống nhất, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, vừa rèn luyện một cách toàn diện các

kĩ năng làm văn, vừa phải có sự phân hóa cho những đối tượng HS khác nhau khi sử dụng cùng một hệ thống bài tập, những HS nào cần tập chung rèn luyện những kĩ năng nào còn yếu kém có thể cho số lượng bài tập nhiều hơn những HS đã vững vàng

kĩ năng hoặc với mức độ yêu cầu khác nhau, linh hoạt cho từng đối tượng Nếu chúng

ta xác định được đúng năng lực, đúng xuất phát điểm và những vấn đề cần rèn luyện của HS làm cơ sở để xây dựng, thiết kế được hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn bổ sung phù hợp, vừa sức cho HS thì chất lượng làm văn sẽ được cải thiện một cách đáng kể Đó cũng là một đóng góp cho hệ thống phương pháp dạy học làm văn một cách riêng biệt, cụ thể, thể hiện được tâm huyết và năng lực của người GV dạy văn SGK là sự thể hiện mặt bằng chung về sự phát triển tư duy, nhận thức và tâm lý của HS, sự khác biệt SGK không thể bao quát hết được Tuy nhiên, khi thiết kế, xây dựng hệ thống bài tập bổ sung, GV cũng cần phải chú ý đến mối quan hệ giữa hệ thống bài tập trong SGK với hệ thống bài tập mới được xây dựng, giữa chúng phải có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau, cùng hướng tới một mục đích chung: Giúp HS nắm vững các kĩ năng làm văn, có trình độ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề xã hội và các vấn đề văn học Mục đích của mỗi hệ thống bài tập bổ sung cũng tùy thuộc vào năng lực của từng đối tượng HS cụ thể và tùy vào những vấn đề cần sửa chữa, rèn luyện Tóm lại, hệ thống bài tập bổ sung phải được xây dựng trên sự thống nhất với những yêu cầu chung của làm văn và với SGK Nhưng đó là một sự riêng biệt, từ mục đích, yêu cầu, đến nội dung Phương pháp là

Trang 33

những cách thức cụ thể và những đóng góp về phương pháp cũng rất cụ thể Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn nghị luận có một ý nghĩa đóng góp quan trọng

cả về mặt lí luận và thực tiễn trong dạy học làm văn Về lí luận, đó là một quan niệm mới về hệ thống bài tập và việc thực hiện bài tập trong dạy học làm văn Về thực tiễn,

đó là những hệ thống bài tập rèn luyện các năng lực tạo lập văn bản nghị luận rất riêng biệt cụ thể, chỉ dành cho những lớp học cụ thể Bổ sung vào hệ thống bài tập chung những yêu cầu riêng, những vấn đề cần luyện tập riêng cho những đối tượng

HS có trình độ không ngang bằng nhau

1.2.2.2 Đánh giá về hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghi luận cho HS lớp 9

Hiện nay hệ thống bài tập trong SGK đã bám sát vào việc rèn các năng lực tạo lập văn nghị luận cho HS theo từng kiểu bài, dạng bài nghị luận Tuy nhiên hệ thống bài tập đó còn ít về số lượng, chưa phong phú, chưa chú trọng rèn luyện từng kĩ năng riêng biệt, hệ thống bài tập chưa sắp theo mức độ nhận biết của HS, chưa hệ thống và đặc biệt chưa đáp ứng được nhu cầu rèn luyện cho HS

1.2.3 Thực trạng dạy và học phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9

Tập làm văn là một phân môn có tính tổng hợp và sáng tạo cao Chính vì vậy tập làm văn được coi là một phân môn khó đối với GV và HS Trong đó văn nghị luận thuộc kiểu văn khó dạy và khó học hơn cả, do nó đòi hỏi tổng hợp nhiều về kiến thức và kĩ năng

1.2.3.1 Thực trạng dạy học tạo lập văn bản nghị luận ở nhà trường THCS

- Khảo sát giáo án của giáo viên (Giáo án khảo sát ở phần phụ lục)

- Phiếu điều tra giáo viên (Phần phụ lục)

* Kết quả khảo sát

Qua khảo sát giáo án chúng tôi thấy:

- Phần mục tiêu bài học, GV xác định còn sơ sài, chung chung chưa chỉ ra được cần tập trung vào một năng lực nào cụ thể

- Về mặt nội dung: Qua dự giờ và khảo sát giáo án, chúng tôi thấy GV bám sát vào sách giáo khoa, sách giáo viên đề soạn bài Giáo án đi theo các bước lên lớp, bám sát vào trọng tâm của bài học GV đã tổ chức được các hoạt động học

Trang 34

để học sinh lĩnh hội được các tri thức Tuy nhiên, hệ thống bài tập luyện tập còn chưa đa dạng, chủ yếu là lấy bài tập trong sách giáo khoa Khâu hướng dẫn HS tự ở nhà còn hạn chế, đó là do GV ít giao bài tập bên ngoài cho HS Vì thế hiệu quả giờ học chưa cao HS mới chỉ dừng lại ở bước lĩnh hội các kiến thức lí thuyết chứ chưa được thực hành nhiều

- Về phương pháp: GV kết hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học linh hoạt, phù hợp với nội dung dạy học và nhận thức của HS Tuy nhiên, hệ thống bài tập còn chưa phong phú, đa dạng, đa số đều là các bài tập được lấy từ sách giáo khoa

Qua khảo sát phiếu điều tra giáo viên, chúng tôi thấy:

Phần lớn GV có tâm lý ngại dạy văn nghị luận, hiệu quả giảng dạy văn nghị luận ở trường THCS không cao, do nhiều nguyên nhân:

- Nhiều GV chưa hiểu bản chất của việc dạy văn nghị luận, không nắm chắc quy trình của từng kiểu loại, nên không có cách hướng dẫn HS thích hợp và đạt hiệu quả cao

- Nhiều GV chưa chú trọng rèn luyện cho HS từng năng lực chuyên biệt nên năng lực của HS yếu, khi vào bài viết hoàn chỉnh, HS lúng túng và bộc lộ nhiều mặt hạn chế của mình

- Nhiều GV chưa có sự đầu tư và tìm hiểu sâu về các vấn đề xã hội Các ví dụ, các dẫn chứng đưa ra chưa gắn với đời sống thực tế, chưa phản ánh tính cập nhật của thời sự

GS Phan Trọng Luận đã phân tích những nguyên nhân về “sự xuống cấp chất lượng bài văn của HS”: “Nguyên nhân một phần là do thày cô giáo ít rèn học sinh Dạy văn là rèn người, rèn văn, rèn chữ Giáo viên mà lỏng tay, nhẹ tay thì hậu quả

về sau rất to lớn” Nếu chúng ta đã kì vọng nhiều vào sự đổi mới, từ đổi mới phương pháp dạy học, đến đổi mới SGK… thì nên chăng cũng có hy vọng về những điều cụ thể, riêng biệt mà người GV trực tiếp đứng lớp có thể làm được cùng với sự hợp tác và ý thức tự giác của HS, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học

bộ môn

1.2.3.2 Thực trạng học và năng lực tạo lập văn bản nghị luận của HS lớp 9

* Tiến hành khảo sát

Để khảo sát khảo hoạt động học của HS, chúng tôi đã tiến hành khảo sát quá

trình học trên lớp của các em, thông qua việc quan sát hoạt động của các em trong tiết học và khảo sát thông qua phiếu điều tra Từ kết quả đó, chúng tôi tổng hợp và phân tích số liệu (Nội dung phiếu khảo sát ở phần Phụ lục)

* Kết quả khảo sát

Tổng số phiếu phát ra: 151

Tổng số phiếu thu về: 151

Trang 35

Câu hỏi Trả lời

nào?

A Tìm hiểu đề, lập dàn ý, viết bài

B Tìm hiểu đề, lập dàn ý, viết bài

C Tìm hiểu đề, tìm ý, viết bài, đọc lại và sửa chữa

D Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài, đọc lại và sửa chữa

luận hay không?

luận hay không?

dễ hiểu hay không?

nào?

Trang 36

Câu hỏi Trả lời

nào?

A Chỉ làm bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và

bài tập do giáo viên yêu cầu

B Tìm thêm bài tập bên ngoài để làm

130

21

86% 14%

Câu 10: Trong quá trình làm bài văn nghị luận em hay mắc

phải lỗi nào?

sợ học văn nghị luận Đa số các em đều nắm được các bước làm một bài văn nghị luận, tuy nhiên rất ít học sinh hình thành thói quen làm bài theo các bước Kĩ năng làm bài trong từng bước còn hạn chế Việc luyện tập thông qua các bài tập còn hạn chế, chủ yếu là làm bài tập theo trách nhiệm chứ chưa định hình được mục đích rèn luyện các kĩ năng làm văn nghị luận

Qua việc dự giờ các tiết học chúng tôi còn nhận thấy rằng HS chưa thực sự hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động do GV tổ chức tổ chức trên lớp Một phần do GV chưa khơi gợi được tinh thần học tập, niềm yêu thích môn học của HS Chính vì vậy kết quả trong những làm văn trên lớp, bài kiểm tra và thi kết thúc học kì điểm của các em không cao Dần dần hình tâm lí sợ học văn nghị luận, ngại làm văn nghị luận

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi nhận thấy cần xây dựng một hệ thống bài tập để HS rèn luyện các kĩ năng làm văn nghị luận Từ đó củng cố lí thuyết về văn nghị luận, rèn luyện các kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận, khơi gợi hứng thú, niềm yêu thích bộ môn Đặc biệt còn giúp HS ứng dụng vào trong cuộc sống giao tiếp xã hội hằng ngày, HS tự tin, có đủ năng lực trình bày và bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình trước đám đông

Trang 37

Tiểu kết

Qua việc nghiên cứu cơ sở lí thuyết và thực tiễn chúng tôi nhận thấy rằng việc xây dựng hệ tống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS là rất cần thiết Nó xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu phát triển năng lực của người học

Muốn hình thành và phát triển năng lực tạo lập văn nghị luận cho HS nếu chỉ cung cấp kiến thức lí thuyết và thực hành bài tập trong SGK và SBT là chưa đủ Mà

HS cần phải rèn luyện tỉ mỉ từng bước một trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận Bên cạnh đó việc nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người học mà còn phục

vụ nhu cầu cho GV trong quá trình dạy học văn nghị luận lớp 9 THCS, cần có một hệ thống bài tập củng cố, rèn luyện từng bước làm văn một cách tỉ mỉ hơn nữa

Kết quả nghiên cứu của chương 1 sẽ làm cơ sở để chúng tôi nghiên cứu và đề

xuất Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho

HS lớp 9 THCS

Trang 38

Chương 2

ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

TẠO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HS LỚP 9

2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập

2.1.1 Phù hợp với mục tiêu của môn học

Ở cấp độ vĩ mô, mục tiêu dạy học Ngữ văn hiện nay là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp Mục tiêu dạy học Ngữ văn cũng được cụ thể hóa ở từng cấp học, lớp học, phân môn Chẳng hạn, ở cấp

THCS: “Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn THCS là hình thành và rèn

luyện cho HS năng lực đọc - hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản Chính vì thế, chương trình được đào tạo theo hai trục tích hợp: Đọc văn và Làm văn” [15, tr.10]

Ở cấp độ vi mô, mục tiêu dạy học được cụ thể hóa đến từng bài học, tiết học Phần đầu mỗi bài học trong sách giáo khoa đều có ghi mục tiêu cần đạt Là một bộ phận của quá trình dạy học Ngữ văn, hệ thống bài tập cũng góp một phần vào việc đảm bảo thực hiện mục tiêu môn học Các bài tập được xây dựng phải phù hợp với nội dung chương trình và SGK Ngữ văn và phải cùng hướng tới việc hoàn thành mục tiêu môn học đã được đặt ra

2.1.2 Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng và phong phú

Hệ thống bài tập Ngữ văn cũng mang đầy đủ các đặc trưng của một hệ thống:

đó là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố có liên quan với nhau và giá trị của một yếu tố được xác định bởi quan hệ của nó với các yếu tố khác trong cùng một hệ thống (yếu

tố ở đây chính là loại, kiểu, dạng bài tập) Những mối quan hệ giữa các yếu tố trong

hệ thống không phải đơn tuyến, một chiều, theo đường thẳng mà tác động lẫn nhau theo nhiều chiều Bên cạnh đó, giống như các hệ thống khác, hệ thống bài tập này cũng có tính cấp bậc Mỗi bậc có một tên gọi quy ước như: nhóm (bậc 1), loại (bậc 2), kiểu (bậc 3), dạng (bậc 4),

2.1.3 Phù hợp với thực tiễn dạy học ở THCS, phù hợp với đặc điểm HS THCS

Xây dựng hệ thống bài tập Ngữ văn cần xuất phát từ thực tiễn dạy học Ngữ văn ở THPT để có các bài tập đúng đắn, thích hợp cả về tính sư phạm và tính khoa học Hệ thống bài tập Ngữ văn sẽ giúp HS ý thức hóa và hoàn thiện điều các em đã biết, đồng thời bổ sung những điều các em chưa biết hoặc chưa nắm chắc, đặc biệt giúp các em biết vận dụng nhuần nhuyễn kiến thức đọc hiểu, tiếng Việt trong bài làm của các em

Trang 39

Việc xây dựng hệ thống bài tập cần phải phù hợp với đặc điểm của HS Học sinh mỗi lứa tuổi, mỗi cấp học có những đặc điểm riêng về nhận thức, về tâm sinh lí,

về tư duy Do vậy, khi xây dựng hệ thống bài tập nên chú ý đến tính tích cực của bài tập không được quá dễ để các em coi thường, nhưng cũng không quá khó như đánh

đố các em, mà phải chú ý đến tính vừa sức, phù hợp với năng lực của các em

2.1.4 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Với tư cách là một biện pháp dạy học tích cực, hệ thống bài tập cần phải được xây dựng như là những nhiệm vụ mà HS cần thực hiện trong quá trình học TLV Các bài tập phải đưa HS vào trạng thái tâm lí tích cực, mong muốn được thực hiện và có khả năng thực hiện Ngoài ra, các bài tập còn phải có tác dụng tạo sức cho các em Điều đó có nghĩa là trong hệ thống bài tập cần xây dựng, GV không chỉ chú ý đến khả năng vốn có của HS (nghĩa là không chỉ chú ý tới những loại bài tập quen thuộc với HS), mà còn chú ý tới việc cung cấp thêm một số loại bài tập mới tạo ra sức sáng tạo cho HS trong quá trình làm bài

2.2 Phân loại bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9

Dựa vào kết quả tổng hợp tài liệu nghiên cứu trong nước, các tác giả Việt Nam thường phân loại bài tập dựa và những tiêu chí sau:

(1) Phân loại theo nội dung: Với cách phân loại này, bài tập thường gắn với tên môn học như: bài tập toán, bài tập hóa học, bài tập công nghệ Vì vậy, để thiết kế một hệ thống bài tập đảm bảo tính khả thi, tính hiệu quả trong dạy học, giáo viên và nhà nghiên cứu cần nắm vững mục tiêu và nội dung day học của từng cấp học cũng như mối liên hệ logic của môn học đó giữa cấp học Với cách phân loại theo nội dung thì bài tập thường chia ra làm hai loại: bài tập lí thuyết và bài tập thực hành

(2) Phân loại theo độ khó: Bài tập được chia ra làm hai dạng: bài tập cơ bản và bài tập nâng cao

- Bài tập cơ bản: Đây là bài tập vừa sức với học sinh, nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng ở mức độ đơn giản, không đòi hỏi nhiều về tư duy sáng tạo Làm tốt bài tập này, HS nắm vững các tri thức cơ bản của môn học Loại bài tập này giúp

GV xác định mức độ đạt được mà còn phán đoán khả năng phát triển của HS, trên cơ

sở đó định hướng cho HS luyện tập các bài tập nâng cao

- Bài tập nâng cao: Loại bài tập này tương đối khó, được GV sử dụng trong các trường chuyên, lớp chọn Bài tập này được biên soạn nhằm mở rộng kiến thức, HS phải vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết nhiệm vụ Bài tập nâng cao chỉ có hiệu quả khi HS thực hiện tốt các bài tập cơ bản Việc xây dựng và sử dụng bài tập nâng cao trong dạy học rất quan trọng, rèn luyện cho HS kĩ năng phân tích, tổng hợp

Trang 40

vấn đề, phát hiện và bồi dưỡng năng lực sáng tạo ở người học Để sử dụng bài tập có hiệu quả GV cần căn cứ vào kết quả học tập HS đạt được, mục tiêu của môn học, hướng phát triển của HS

(3) Theo tính chất: Có các dạng bài tập sau:

- Bài tập định tính, bài tập định lượng

- Bài tập lí thuyết, bài tập thực hành

(4) Phân loại bài tập các khâu của quá trình dạy học: Quá trình dạy học bao gồm nhiều khâu: Khởi động (giới thiệu bài mới), giảng bài mới, củng cố, luyện tập,

ôn tập, bài tập về nhà, kiểm tra đánh giá kết quả học tập Tương ứng với mỗi khâu

GV có thể sử dụng bài tập ở tất cả các khâu của quá trình dạy học

- Khởi động (giới thiệu bài mới): Sử dụng bài tập ở khâu này có tác dụng định hướng, gây hứng thú, tò mò của HS Do vậy thiết kế bài tập ở khâu này thường ngắn gọn giúp HS có thể hiểu ngay yêu cầu của nhiệm vụ học tập

- Bài mới: Bài tập được sử dụng trong khâu này rất đa dạng, tuy nhiên không phải bài học nào cũng có thể tiến hành được Trong giờ học GV đưa HS vào các tình huống học tập, hướng dẫn HS giải bài tập, qua đó HS hiểu bài nhanh hơn, phát triển tính chủ động, sáng tạo trong học tập Trong nhiều trường hợp để giải một bài tập, trước hết GV phải tổ chức, hướng dẫn HS lĩnh hội những kiến thức ban đầu nào đó trên cơ sở đó sử dụng bài tập củng cố kiến thức, đồng thời là phương tiện chiếm lĩnh tri thức mới

- Ôn tập kiến thức: Sử dụng bài tập trong ôn tập giúp người học củng cố những kiến thức đã học đồng thời còn tiếp nhận những kiến thức mới

- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập: Thông qua bài tập GV có thể kiểm tra đánh giá mức độ lĩnh hội tri thức, khả năng vận dụng thành thạo các kĩ năng, phát triển tính sáng tạo trong giải quyết các vấn đề của HS

(5) Phân loại bài tập theo đặc điểm nhận thức của HS: Dựa vào đặc điểm nhận thức của HS, bài tập được chia ra thành 2 loại: bài tập tái hiện và bài tập sáng tạo

Trong luận văn này, chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 theo nội dung Các nội dung cũng chính là các năng lực cần rèn luyện cho HS để tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 Trong chương trình Ngữ văn 9, HS được tiếp cận với 4 kiểu nghị luận và được chia ra làm 2 dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Nghị luận xã hội bao gồm: nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống; nghị luận về một tư tưởng đạo lí Nghị luận văn học bao gồm: nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích); nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

Ngày đăng: 05/10/2023, 14:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PTNL TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
BẢNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PTNL TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN (Trang 28)
SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN (Trang 41)
Bảng 2.1: Khảo sát các lỗi HS hay mắc phải trong bài làm văn nghị luận  Lỗi - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
Bảng 2.1 Khảo sát các lỗi HS hay mắc phải trong bài làm văn nghị luận Lỗi (Trang 91)
Bảng 3.3. Kết quả các bài tập: Dựng đoạn - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
Bảng 3.3. Kết quả các bài tập: Dựng đoạn (Trang 117)
Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm với các lớp đối chứng - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm với các lớp đối chứng (Trang 118)
Bảng 3.6: Kết quả điểm bài làm văn ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
Bảng 3.6 Kết quả điểm bài làm văn ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng (Trang 119)
Bảng tổng hợp kết quả khảo sát số 1: - Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh lớp 9
Bảng t ổng hợp kết quả khảo sát số 1: (Trang 125)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w