Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn .... Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề quản lý RTSH, nghiên cứu các nguyên nhân, tác động và va
Trang 1TẠ THỊ MAI PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên – 2018
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2TẠ THỊ MAI PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành: 8440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Văn Minh
Thái Nguyên - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2018
Người viết cam đoan
Tạ Thị Mai Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, khoa Môi trường và dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đặng Văn Minh đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn chân thành đến GS.TS Đặng Văn Minh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền thụ những kinh nghiệm quý báu, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn này
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2018
Tác giả luận văn
Tạ Thị Mai Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 4
1.1.2 Phân loại rác thải sinh hoạt 5
1.1.3 Nguồn phát sinh và thành phần CTR sinh hoạt 5
1.1.4 Những tác động của rác thải sinh hoạt đến MT 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới 8
1.2.2 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam 11
1.2.3 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Bắc Cạn 17
1.3 Sơ lược về tổ chức ChildFund 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 23
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn, điều tra khảo sát thực địa 24
2.3.3 Phương pháp xác định thành phần rác thải 25
2.3.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 25
2.3.5 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 27 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Đánh giá chung về tiềm năng và lợi thế của huyện Bạch Thông 34
3.2 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 35
3.2.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông 35
3.2.2 Thực trạng công tác quản lý CTRSH tại huyện Bạch Thông 41
3.3 Đánh giá hiệu quả về các can thiệp của các bên liên quan trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 51
3.3.1 Phân tích các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao công tác quản lý rác thải 51
3.3.2 Tổ chức Childfund và công tác quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông 54
3.3.3 Những điểm hiệu quả và chưa hiệu quả của các sự can thiệp và nguyên nhân dẫn sự hiệu quả hoặc không hiệu quả 58
3.3.4 Đánh giá nhận thức của người dân về vấn đề quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 59 3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý RTSH tại huyện
Trang 7Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8RTSH : Rác thải sinh hoạt
Sở TN&MT : Sở Tài nguyên và Môi trường
UBND : Ủy ban Nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị 12
Bảng 3.1 Các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông 36
Bảng 3.2 Thành phần CTRSH tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 37
Bảng 3.3 Khối lượng CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông năm 2015 40
Bảng 3.4 Nhân lực và trang thiết bị Công ty Cổ phần Chợ Bắc Kạn phục vụ công tác thu gom CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông 42
Bảng 3.5 Tỷ lệ thu gom CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông 44
Bảng 3.6 Mong muốn của người dân về tổ chức đứng ra thực hiện các hoạt động BVMT 51
Bảng 3.7 Thông điệp truyền thông tại huyện Bạch Thông 52
Bảng 3.8 Hình thức của hoạt động truyền thông tại huyện Bạch Thông 53
Bảng 3.9 Hiệu quả của hoạt động truyền thông BVMT tại Bạch Thông 54
Bảng 3.10 Trình độ học vấn với mức độ quan tâm của người dân về các vấn đề BVMT tại huyện Bạch Thông 59
Bảng 3.11 Nguồn cung cấp thông tin MT cho người dân trên địa bàn huyện Bạch Thông 60
Bảng 3.12 Đối tượng chia sẻ các vấn đề liên quan đến MT của người dân Bạch Thông 62
Bảng 3.13 Nhận thức của người dân huyện Bạch Thông về trách nhiệm BVMT 63
Bảng 3.14 Phân loại rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông 64
Bảng 3.15 Hình thức xử lý CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông 65
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Bạch Thông 27
Hình 3.2 Thành phần CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông 38
Hình 3.3 Thành phần CTRSH phân theo vùng nghiên cứu trên địa bàn huyện Bạch Thông 39
Hình 3.4 Khối lượng CTRSH phân theo vùng nghiên cứu trên địa bàn huyện Bạch Thông năm 2015 41
Hình 3.5 Hố rác di động 47
Hình 3.6 Lò đốt tại xã Cẩm Giàng 49
Hình 3.7 Lò đốt tại xã Quân Bình 50
Hình 3.8 Lò đốt rác thủ công tại xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông 56
Hình 3.9 Lò đốt rác tại trụ sở UBND xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông 57
Hình 3.10 Trình độ học vấn và mức độ quan tâm của người dân về vấn đề BVMT trên địa bàn huyện Bạch Thông 60
Hình 3.11 Nhận thức của người dân về trách nhiệm BVMT trên địa bàn huyện Bạch Thông 63
Hình 3.12 Hoạt động phân loại CTRSH tại huyện Bạch Thông 64
Hình 3.13 Hình thức xử lý CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông 65
Hình 3.14 Hình thức xử lý CTRSH của các hộ dân theo vùng nghiên cứu trên địa bàn huyện Bạch Thông 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, đời sống kinh tế xã hội ở các vùng quê đã có nhiều đổi mới
Sự gia tăng dân số và tốc độ phát triến kinh tế xã hội cao đã làm tăng các hoạt động của con người trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, điều đó cũng tác động mạnh mẽ, lâu dài đến MT sống Theo đó, tình hình rác thải sinh hoạt ở nông thôn đang trở thành vấn đề nan giải cần được quan tâm để giữ gìn cảnh quan chung và sự trong sạch cho MT sống của cộng đồng dân cư Theo Báo cáo Hiện trạng MT Quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 của Bộ Tài nguyên và
MT, khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh khoảng 31.000 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày Cùng với đó, mỗi năm có khoảng 14.000 tấn rác thải nông nghiệp nguy hại (bao bì, chai, lọ của thuốc bảo vệ thực vật, phân bón); mỗi ngày, mỗi làng nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tái chế kim loại, phế liệu thải ra lượng CTR khoảng 1-7 tấn, cùng với đó phần lớn nước thải công nghiệp của các làng nghề cũng được đổ thẳng ra sông Trong các chất thải ấy
có nhiều thành phần nguy hại cho MT và sức khỏe con người Quản lý lượng chất thải này là một thách thức to lớn và là một trong những dịch vụ MT đặc biệt quan trọng không chỉ vì chi phí cho hoạt động này rất lớn mà còn vì những lợi ích to lớn và tiềm tàng đối với sức khoẻ cộng đồng và đời sống của người dân Công tác quản lý, thu gom, phân loại và tái sử dụng CTR, nếu được thực hiện từ hộ gia đình, có hệ thống quản lý và công nghệ phù hợp sẽ rất có ý nghĩa trong việc mang lại lợi ích kinh tế, BVMT và tiết kiệm tài nguyên cho đất nước
Bạch Thông là một huyện đang trên đà phát triển với dân số khu vực nông thôn chiếm hơn 80% tổng số dân của huyện Cùng với sự phát triển kinh tế -
xã hội, tăng dân số tại khu vực nông thôn là sự gia tăng về khối lượng và tính chất độc hại của CTR (đặc biệt đối với bao bì thuốc bảo vệ thực vật, bao bì phân bón) Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom CTR ở khu vực này còn rất thấp (trung
Trang 12bình chỉ đạt khoảng 25% lượng CTR phát sinh), vấn đề xử lý CTR nông thôn vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa được xử lý triệt để Hầu hết các biện pháp thu gom và xử lý CTR nông thôn vẫn còn rất thô sơ, lạc hậu không đáp ứng yêu cầu và không đảm bảo vệ sinh MT Đây thực sự là một áp lực đối với công tác quản lý, BVMT và cũng là mối đe dọa lớn đối với sức khoẻ cộng đồng
Từ những vấn đề đặt ra trên, việc lựa chọn, triển khai nghiên cứu đề tài
"Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn" là cần thiết Đề tài tập trung
giải quyết các vấn đề quản lý RTSH, nghiên cứu các nguyên nhân, tác động
và vai trò của các bên liên quan trong việc quản lý rác thải tại huyện Bạch Thông, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt phù hợp với địa bàn nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Đánh giá được sự hiệu quả các can thiệp của các bên liên quan nói chung và tổ chức Childfund tại Bắc Kạn nói riêng trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung, hoàn thiện kiến thức đã học trong nhà trường cho bản thân đồng thời tiếp cận và thấy được những thuận lợi và khó khăn trong việc quản
lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn miền núi Trên cơ sở đó có thể có những sáng kiến góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động này
Trang 133.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá chính xác về thực trạng ô nhiễm MT tại huyện Bạch Thông nói chung và ô nhiễm rác thải sinh hoạt nói riêng, đồng thời chỉ ra được các hoạt động BVMT hiện nay ở huyện Bạch Thông, phân tích đánh giá những mặt làm được và chưa làm được của các hoạt động BVMT từ đó cung cấp những kiến nghị để nâng cao chất lượng quản lý rác thải sinh hoạt hiệu quả, góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm MT tại huyện Bạch Thông
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
- Rác thải là các loại rác thải không ở dạng lỏng, không hòa tan được thải
ra từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp Rác thải bao gồm cả bùn cặn, phế phẩm nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ,… (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2014) [18]
- CTR sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là CTR phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người (Nghị định 38/2015/NĐ-CP) [7]
- Hoạt động quản lý CTR bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với MT và sức khỏe con người (Nghị định 59/2007/NĐ-CP) [8]
- Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau (Nghị định 38/2015/NĐ-CP) [7]
- Thu gom CTR là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận (Nghị định 59/2007/NĐ-CP) [8]
- Lưu giữ CTR là việc giữ CTR trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến cơ sở xử lý (Nghị định 59/2007/NĐ-CP) [8]
- Vận chuyển CTR là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển (Nghị định 38/2015/NĐ-CP) [7]
Trang 15- Xử lý CTR là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, thiêu đốt, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải và các yếu tố
có hại trong chất thải (Nghị định 38/2015/NĐ-CP) [7]
1.1.2 Phân loại rác thải sinh hoạt
Việc phân loại CTR có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau
- Phân loại theo thành phần, có thể phân CTR thành 2 loại:
+ CTR hữu cơ
+ CTR vô cơ (Sổ tay Hướng dẫn thu gom và xử lý rác hộ gia đình, 2013) [19]
- Phân loại theo mức độ nguy hại, CTR sinh hoạt gồm:
+ CTR sinh hoạt thông thường
+ CTR sinh hoạt nguy hại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) [2]
- Phân loại theo trạng thái chất thải, chất thải gồm có:
+ Chất thải trạng thái rắn
+ Chất thải ở trạng thái lỏng
+ Chất thải ở trạng thái khí (Trần Quang Ninh, 2010) [15]
- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:
+ Chất thải từ các hộ gia đình
+ Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại (Nguyễn Ngọc Nông, 2011) [16]
1.1.3 Nguồn phát sinh và thành phần CTR sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt sinh ra từ mọi người và mọi nơi: Gia đình, trường học, chợ, nơi mua bán, nơi công cộng, nơi vui chơi giải trí, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh, bến xe, bến đò, (Lê Văn Khoa, 2010) [10]
Thành phần của CTR biểu hiện sự đóng góp và phân phối của các phần riêng biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm theo khối lượng Thông tin về thành phần CTR đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp cần thiết để xử
lý, các quá trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình
và kế hoạch quản lý CTR Thành phần riêng biệt của CTR thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế và tùy thuộc vào thu nhập của từng quốc gia (Nguyễn Văn Phước, 2008) [17]
Trang 16Bảng 1.1 Nguồn gốc và thành phần chất thải
Nguồn phát
Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự, chung
cư,…
Thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hóa (bằng giấy, gỗ, vải, da, cao su, thiếc, nhôm, thủy tinh ), tro, đồ điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, bóng đèn,
đồ nhựa, thủy tinh ) và CTNH (pin; acquy, bao bì thuốc bảo vệ thực vật
và hóa chất, bóng đèn nêông, dầu thải
từ phương tiện giao thông cơ giới; …) Khu thương mại Nhà kho, nhà hàng, chợ, khách
sạn, nhà trọ, các trạm sửa chữa, bảo hành và dịch vụ,…
Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại,…
Dịch vụ công
cộng đô thị
Hoạt động dọn rác vệ sinh đường phố, công viên, vườn hoa, khu vui chơi, giải trí, cống rãnh,…
Rác vườn, cành cây cắt tỉa, chất thải chung tại các khu vui chơi, giải trí, bùn cống rãnh,…
Cơ quan, công
1.1.4 Những tác động của rác thải sinh hoạt đến MT
1.1.4.1 Tác động của rác thải sinh hoạt đến MT đất
Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào MT thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái làm cho MT đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Đặc biệt hiện nay, việc sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50 - 60 năm mới phân huỷ hết và do đó chúng tạo thành các "bức tường ngăn cách" trong đất hạn chế mạnh đến quá trình phân huỷ, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút (Lê Văn Khoa, 2010) [10]
Trang 171.1.4.2 Tác động của rác thải sinh hoạt đến MT nước
Rác thải sinh hoạt ảnh hưởng rất lớn đến cả nguồn nước mặt và nước ngầm Rác có thể do người dân đổ trực tiếp hoặc bị cuốn trôi theo nước mưa xuống sông, ao hồ, cống rãnh… Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực (Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe Nam Định, 2017) [20] Lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng
tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị huỷ diệt Việc ô nhiễm các nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ trực khuẩn thương hàn, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng (Lê Văn Khoa, 2010) [10]
1.1.4.3 Tác động của rác thải sinh hoạt đến MT không khí
Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra Khí hậu ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa
và tạo nên mùi khó chịu cho con người (Lê Văn Khoa, 2010) [10]
- Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2,
NH3,… gây ô nhiễm MT không khí
- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa CH4,
H2S, CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ,…
- Các khí thoát ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các
vi trùng, các chất độc lẫn trong rác (Nguyễn Ngọc Nông, 2011) [16]
1.1.4.4 Tác động của rác thải sinh hoạt đến sức khỏe cộng đồng
Việt Nam đang đối mặt nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, gây dịch nguy hiểm do MT đang bị ô nhiễm cả đất, nước và không khí CTR đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm CTR đã đến mức báo động (Nguyễn Ngọc Nông, 2011) [16]
Các loại rác hữu cơ dễ phân huỷ gây hôi thối, phát triển vi khuẩn gây hại làm ô nhiễm, mất vệ sinh MT và ảnh hưởng tới sức khỏe Rác thải không
Trang 18được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người sống xung quanh Những người sống gần bãi rác hoặc tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác, dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi họng, bệnh ngoài da, bệnh phụ khoa… (Lê Văn Khoa, 2010) [10]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới
1.2.1.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới
Hiện có tới 3,5 triệu tấn rác được thải ra trên thế giới mỗi ngày Con số này cao gấp 10 lần so với 100 năm trước và dự kiến sẽ tăng lên 11 triệu tấn vào cuối thế kỷ 21 (Phạm Triệu Lập, 2018) [11] Các chuyên gia của ngân hàng thế giới ước tính đến năm 2025, con số này sẽ tăng gần gấp đôi, khoảng
6 triệu tấn mỗi ngày Để vận chuyển khối rác thải hàng ngày, cần số xe ô tô chở rác xếp hàng dài khoảng 5.000km Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu xu hướng này không thay đổi, đến năm 2100, mỗi ngày thế giới lại có thêm 11 triệu tấn rác thải rắn (Hương Chi, 2016) [24] Mỹ và châu Âu là hai
"nhà sản xuất" rác đô thị chủ yếu với hơn 200 triệu tấn rác cho mỗi khu vực,
kế tiếp là Trung Quốc với hơn 170 triệu tấn (Minh Cường (2015) [26]
* Tại Ấn Độ: Theo thống kê mới được công bố, mỗi ngày Ấn Độ thải ra tới 140.000 tấn rác thải, tương đương với 34% lượng rác thải trên thế giới mỗi ngày Điều đáng nói là phần lớn rác thải ở Ấn Độ thải ra MT mà không được xử lý, trong đó tập trung tại các đô thị lớn như New Delhi, Mumbai và các khu vực ven vùng vịnh Bengal Ước tính, tới năm 2050, Ấn Độ sẽ cần một bãi chôn lấp tương đương diện tích của Thủ đô New Delhi để xử lý khối lượng rác thải ra Hơn 90%
số rác thải tại Ấn Độ được chôn lấp ở các khu đất mở, hoặc được chất đống lộ thiên (Hoàng Long, 2017) [27]
* Tại New York (Mỹ): Mỹ là một trong những nước tạo ra nhiều chất thải nhất thế giới, đặc biệt là tại các thành phố lớn với mật độ dân số cao Ở hầu hết các nơi trên thế giới, sự giàu có tỷ lệ thuận với lượng rác thải ra MT, nhưng ở
Mỹ, những quần thể nghèo cũng thải ra một lượng rác đáng kể, trong đó phần
Trang 19nhiều đến từ thức ăn nhanh Tại Mỹ, mỗi tháng trung bình một người thải
ra lượng rác tương đương với trọng lượng cơ thể của người đó, còn tại Nhật Bản con số này là 2/3 Theo tờ The Washington Post, New York tạo ra 33 triệu tấn rác/năm trong khi Lagos, thành phố lớn nhất của Nigeria có lượng rác thải chỉ bằng 1/15 (Phạm Triệu Lập, 2018) [11]
* Tại Anh: Hiện tại, số lượng rác thải tại Anh mỗi năm tăng trung bình khoảng 3% Liên minh châu Âu (EU) đã buộc phải ra một quy định, bắt buộc các nước thành viên phải giảm bớt nhanh chóng lượng rác thải, cũng như hạn chế đáng kể việc sử dụng lại các bãi rác Theo Quyết định số 99/31/EU ngày 26-4-1999, các thành viên EU đến năm 2010 phải giảm được 25% lượng chất thải chở đến các bãi rác so với mốc thời điểm năm 1995 và đến năm 2020 là 65% Đối với nước Anh, điều này có nghĩa là so với con số 18,1 triệu tấn rác hiện nay, đến năm 2020 chỉ còn 6,3 triệu tấn (Linh Nga, 2008) [13]
* Tại Tokyo (Nhật Bản): Tokyo là một trong những thành phố đông đúc nhất thế giới với 36 triệu người và tạo ra khoảng 12 triệu tấn rác thải/năm Do thiếu không gian để chứa rác thải, Tokyo nhấn mạnh nhiều đến việc tái chế rác thải thành năng lượng với 48 lò đốt Đó là lý do tại sao chai, lon, giấy, carton và các vật liệu không cháy được tách ra tại các gia đình và thu gom vào những ngày khác nhau trong tuần (Phạm Triệu Lập, 2018) [11]
1.2.1.2 Công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới
* Ở Nhật Bản, vấn đề xử lý rác thải và đảm bảo an ninh rác được thực hiện rất hiệu quả nhờ thực hiện thành công hệ thống phân loại rác ngay từ đầu
và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại Mỗi thành phố, TT và quận đều có một hệ thống hoàn toàn khác nhau 23 khu phố ở Tokyo có hệ thống phân loại rác riêng, tất cả rác có thể đốt cháy được yêu cầu đựng vào túi đỏ, rác không thể đốt cháy đựng trong túi màu xanh dương trong khi giấy, nhựa, chai lọ, nhựa mềm, báo, bìa, thủy tinh và pin đựng ở túi màu trắng Nước này
đã sử dụng đốt bằng tầng sôi, phương pháp hiệu quả để đốt những vật liệu khó cháy 20,8% tổng lượng rác thải hàng năm được Nhật Bản đưa vào tái chế (Hồng Nhung và cs, 2016) [28]
Trang 20* Tại Đức: Chính quyền yêu cầu người dân không chỉ phân loại rác mà còn phải giảm bớt trọng lượng của chúng Vào thời điểm hiện tại, bất chấp thực trạng dân số còn tăng lên, thành phố Hamburg chỉ sản sinh ra mỗi năm chừng 1,4 triệu tấn rác, trong đó có 600.000 tấn được đốt cháy, số còn lại đều được tái chế hết Tất cả những nhà máy này đốt rác hiện đang sử dụng những công nghệ hiện đại nhất để sàng lọc các kim loại nặng, nitrat và sulfat trước khi chính thức đưa rác vào đốt Sau năm 2005, các bãi rác của Đức hầu như không còn nhận các loại rác có thể phân hủy (Linh Nga, 2008) [12]
* Ở Đan Mạch: Luật của Đan Mạch cấm đốt những chất thải có thể tái chế được Các địa phương có thể đổ chất thải có thể tái chế được ở những trung tâm tái chế, mà không phải trả lệ phí Tuy nhiên, họ sẽ bị phạt nặng nếu đưa chất thải có thể tái chế được vào lò đốt Ở thành phố Horsholm, chỉ có 4% rác thải được đưa tới bãi rác và 1%, gồm hoá chất, sơn và chất thải điện
tử, được chuyển tới bãi chôn rác đặc biệt 61% chất thải của thành phố được tái chế và 34% được đốt trong nhà máy biến chất thải thành năng lượng Những nhà máy này đã sử dụng nhiều thiết bị sàng lọc mới, để loại ra những chất có thể gây ô nhiễm trước khi đưa rác vào lò đốt Những chất thải có thể gây ô nhiễm được xử lý theo phương pháp riêng, chứ không phải đem chôn (Hồng Nhung và cs, 2016) [28]
* Ở Ấn Độ hàng năm thải bỏ đi gần 6,4 triệu tấn rác thải nguy hại, trong
đó 3,09 triệu tấn có thể tái chế được, 0,41 triệu tấn có thể thiêu hủy và 2,73 triệu tấn sẽ phải đổ ra bãi chứa rác thải Hầu hết rác thải có các đặc tính phù hợp cho việc tận dụng chúng làm nguyên liệu nguồn, hoặc cho việc khôi phục năng lượng hoặc các nguyên liệu như kim loại hoặc sử dụng chúng trong ngành xây dựng, chế tạo các sản phẩm cấp thấp hoặc cho khôi phục lại chính sản phẩm đó, mà sau khi sử lý có thể được sử dụng như là một nguyên liệu nguồn (Hồng Nhung và cs, 2016) [28]
* Sao Paulo (Brazil): Rác thải được cư dân thu gom vào túi và đặt ra đường, trước nhà của họ và được thu nhặt hàng ngày, trừ ngày chủ nhật Nhưng trước khi xe tải thu rác đến, các hợp tác xã đã lựa chọn vật liệu còn dùng được và đem bán cho công ty chế biến Những phần rác thải còn lại được mang đi
chôn (Phạm Triệu Lập, 2018) [10]
* Amsterdam (Hà Lan): Hầu hết rác thải tạo ra bởi hơn 2 triệu cư dân sống ở Amsterdam đều được mang đi đốt, trước khi những vật liệu như kim
Trang 21loại, giấy và thủy tinh được tách riêng ra Để giảm lượng rác bằng nhựa, các doanh nghiệp thường tính thêm chi phí đối với túi nylon đựng đồ mua ở siêu thị Cuối năm 2017, một nhà máy thu hồi nhựa và những vật liệu khác đã được đưa hoạt động để đảm đương một lượng rác thải lớn hơn trong thành
phố (Phạm Triệu Lập, 2018) [11]
1.2.2 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
1.2.2.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Trong những năm qua, ô nhiễm CTR là một trong những vấn đề MT trọng điểm Trên phạm vi toàn quốc, CTR phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh là CTR sinh hoạt đô thị, 17% CTR từ hoạt động sản xuất công nghiệp; còn lại là CTR nông thôn, làng nghề và y tế Đối với khu vực đô thị, lượng CTR sinh hoạt phát sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 tiếp tục gia tăng
và có xu hướng tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2006 - 2010 (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2011) [1]
Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành phần khác nhau Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, khu chợ và khu kinh doanh ở nông thôn chưa một tỷ lệ lớn các chất hữu
cơ dễ phân hủy (chiếm 60 -75%) Ở các vùng đô thị, chất thải có thành phần các chất hữu cơ dễ phân hủy thấp hơn (chỉ chiếm khoảng 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt) Sự thay đổi về mô hình tiêu thụ và sản phẩm là nguyên nhân dẫn đến tăng tỷ lệ phát sinh chất thải nguy hại và chất thải không phân hủy được như nhựa, kim loại và thủy tinh (Tổng cục Môi trường, 2010) [32] CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị chiếm đến hơn 50% tổng lượng CTR sinh hoạt của cả nước mỗi năm Đến năm 2015, tổng khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày Trong khi năm
2014, khối lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Riêng tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh là 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn
từ 2011 - 2015 đạt trung bình 12% mỗi năm và về xu hướng, mức độ phát sinh CTR sinh hoạt đô thị tiếp tục tăng trong thời gian tới (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [2]
Trang 22Bảng 1.2 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị
(Nguồn: Báo cáo Hiện trạng MT Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 - Bộ Tài
nguyên và Môi trường - 2011) [1]
Trang 23Số liệu thống kê cho thấy, các đô thị thuộc khu vực đồng bằng và vùng biển, tỷ trọng phát sinh CTR sinh hoạt cao hơn nhiều so với khu vực miền núi CTR sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu vực công cộng (đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu, trường học ) CTR sinh hoạt đô thị có tỷ lệ hữu cơ vào khoảng 54 - 77%, chất thải có thể tái chế (thành phần nhựa và kim loại) chiếm khoảng 8 - 18% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [2]
Lượng chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: sự phát triển của nền kinh tế và dân số Theo thống kê mức chất thải rắn ở các nước đang phát triển trung bình là 0,65 kg/người/ngày Tại các đô thị ở nước ta, trung bình mỗi ngày mỗi người thải ra khoảng 0,6 kg - 0,9 kg rác Khối lượng rác tăng theo sự gia tăng của dân số Rác tồn đọng trong khu tập thể, trong phố xá,… phụ thuộc vào yếu tố như: địa hình, thời tiết, hoạt động của người thu gom,… Rất khó xác định thành phần CTR đô thị, vì trước khi tập trung đến bãi rác đã được thu gom sơ bộ Tuy thành phần CTR ở các đô thị là khác nhau nhưng đều có chung 2 đặc điểm:
- Thành phần rác thải hữu cơ khó phân huỷ, thực phẩm hư hỏng, lá cây, cỏ,… trung bình chiếm khoảng 30 - 60 % Đây là điều kiện tốt để chôn, ủ hay chế biến CTR thành phân hữu cơ
- Thành phần đất, cát, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác trung bình chiếm khoảng 20 - 40%
Bên cạnh đó, thành phần và khối lượng CTR thay đổi theo các yếu tố: điều kiện kinh tế - xã hội, thời tiết trong năm, thói quen và thái độ của xã hội, quản lý và chế biến trong sản xuất, chính sách của Nhà nước về chất thải (Nguyễn Ngọc Nông, 2011) [16]
1.2.2.2 Công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Các thành phố áp dụng thử nghiệm phân loại rác tại nguồn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên, chương trình này vẫn chưa được triển khai rộng rãi vì nhiều lý do (Tổng cục Môi trường, 2013) [31]
Trang 24Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã, đã thành lập các công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công việc thu gom, quản lý rác thải chỉ đạt từ 40 - 80% do khối lượng rác phát sinh hàng ngày còn rất lớn Ngoài lượng rác thải đã quản lý, số còn lại người dân thường đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước và không khí (Cục Bảo vệ Môi trường, 2008) [3] Công tác thu gom CTR đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu Tuy tỷ lệ thu gom ở các đô thị tăng từ 72% năm 2004 lên 80% - 82% năm 2008 và đạt khoảng 83 - 85% năm 2010 nhưng vẫn còn khoảng 15 - 17% CTR đô thị bị thải bỏ bừa bãi gây
ô nhiễm MT (Tổng cục Môi trường, 2013) [31] Tỷ lệ thu gom CTRSH hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng CTRSH phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình khoảng 60% so với lượng CTRSH phát sinh Tỷ lệ thu gom CTRSH tại nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40 - 55% so với lượng CTRSH phát sinh Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển CTRSH do Công ty MT đô thị, Công ty Công trình đô thị hoặc các đơn vị tư nhân thực hiện Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển CTRSH phần lớn là do các hợp tác xã,
tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom thỏa thuận với người dân, đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương (Nguyễn Thượng Hiền
và cs, 2015) [9]
Việc xử lý CTRSH chủ yếu thực hiện bằng hình thức chôn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt Trên thực tế, chưa có cơ sở nào xử lý CTR bằng hình thức chôn lấp có thể tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp, gây lãng phí nguồn tài nguyên Đối với các cơ sở xử lý CTRSH thành phần hữu cơ, hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ
sở xử lý được thiết kế, chế tạo trong nước, hoặc cải tiến từ công nghệ nước ngoài, trong đó một số công nghệ mới được nghiên cứu và áp dụng trong nước, đáp ứng tiêu chí hạn chế chôn lấp, nhưng tính đồng bộ, mức độ tự động
Trang 25hóa của hệ thống thiết bị chưa cao Trong khi, công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài có dây chuyền xử lý CTRSH chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam, tỷ
lệ CTR được đem chôn lấp, hoặc đốt sau xử lý rất lớn từ 35 - 80%, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao Đối với việc xử lý chất thải bằng lò đốt, nhiều
lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên cùng địa bàn dẫn tới xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào
MT không khí (Nguyễn Thượng Hiền và cs, 2015) [9]
Ngành công nghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đúng mức Một số địa phương đã và đang thực hiện những dự án 3R (Reduce – Reuse –Recycle), điển hình là Dự án 3R Hà Nội, song nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu định hướng Nếu phân loại tại nguồn tốt, chất thải rắn sinh hoạt có thể tái chế khoảng 60 - 65% Chất thải hữu cơ cao trong rác thải sinh hoạt có tiềm năng lớn trong việc chế biến phân compost Với lĩnh vực công nghiệp, một số ngành công nghiệp có khả năng tái sử dụng, tái chế tới 80% lượng chất thải Thậm chí, các công nghệ mới như Seraphin, Tâm Sinh Nghĩa, Công ty thủy lực đã được áp dụng ở một số thành phố như Hà Nội (tại Sơn Tây), Vinh, Huế, Ninh Thuận đem lại tỷ lệ tái chế tới hơn 90%, đồng nghĩa chất thải mới phải chôn lấp chỉ dưới 10% (Lê Huỳnh Mai và cs, 2009) [12]
Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức,
số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Do đó công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo
Trang 26- Luận văn nghiên cứu về “Mô hình quản lý rác thải sinh hoạt thị trấn
Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” của ThS Vũ Quốc Chính [6] đã
đánh giá thực trạng, những vấn đề bất cập và nhu cầu bức thiết trong quản lý rác thải ở thị trấn Hồ; xây dựng mô hình quản lý rác thải thị trấn Hồ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách của Nhà nước; kiến nghị các biện pháp tổ chức thu gom, xử lý rác thải cho vùng nông thôn Tuy nhiên, các số liệu trong luận văn mới chỉ dừng lại ở việc “đưa ra” chứ chưa được phân tích,
lý giải một cách rõ ràng và các kiến nghị mà tác giả đề cấp đến trong luận văn cũng vẫn ở mức độ rất chung chung, chưa có biện pháp hiệu quả trong công tác thu gom cũng như quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hồ
- Khóa luận “Nghiên cứu công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” của tác giả Phan Thị
Vân [22] cũng đã chỉ ra rất rõ được thực trạng rác thải rắn trên địa bàn thị trấn Yên Thành và chỉ ra được công tác quản lý rác thải hiện nay ở thị trấn đồng thời tìm ra được các mô hình quản lý rác thải hiện nay có trong cộng đồng dân cư; những yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý rác thải ở thị trấn Yên Thành và tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải Tuy nhiên, các yếu tố tác động đến công tác quản lý rác thải chưa được tác giả phân tích một cách rõ ràng và kỹ lưỡng, mới chỉ dẫn ra các lý do chung chung Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải tại địa phương
- Đề tài cấp bộ “Hiện trạng và giải pháp quản lý, tái sử dụng rác thải sinh hoạt khu vực đô thị tại thành phố Thái Nguyên” do Nguyễn Ngọc Nông
[16] là chủ nhiệm đề tài đã phân tích các loại rác thải sinh hoạt hiện nay, sự ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người; đề cập đến hiện trạng quản lý,
xử lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới và ở Việt Nam; tập trung làm rõ hiện trạng rác thải sinh hoạt tại các phường, xã thành phố Thái Nguyên; điều tra, đánh giá nguồn phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt; đánh giá về hiện
Trang 27trạng thu gom, xử lý, vận chuyển rác thải sinh hoạt; nhận thức và ý thức người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải nói riêng; điều tra, đánh giá sơ bộ về giá mua một
số thành phần của rác thải có thể tái chế và ước tính giá trị kinh tế từ rác thải sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp quản lý, xử
lý chất thải sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên
1.2.3 Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Bắc Cạn
Theo thống kê của Chi cục BVMT (Sở TN&MT), hiện nay lượng CTRSH đô thị phát sinh trên địa bàn tỉnh trung bình 65 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom, xử lý được khoảng 60 tấn/ngày, đạt trên 90% Cụ thể tại thành phố Bắc Kạn tỷ lệ thu gom trung bình khoảng 33 tấn/ngày; TT Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn trung bình 4,5 tấn/ngày; khu vực TT Chợ Rã, xã Địa Linh và xã Thượng Giáo khoảng 6 tấn/ngày; TT Phủ Thông khoảng 7 tấn/ngày; tại khu vực TT Chợ Mới, xã Yên Đĩnh và xã Thanh Bình trung bình 3,5 tấn/ngày; TT Yến Lạc khoảng 3 tấn/ngày; khu vực TT Nà Phặc, xã Vân Tùng và xã Bằng Vân trung bình 2,7 tấn/ngày; xã Bộc Bố (Pác Nặm) trung bình 1,8 tấn/ngày Hiện nay, tuy việc thu gom rác tại các đô thị được thực hiện khá tốt, nhưng khâu xử
lý rác thải còn quá nhiều bất cập Rác thải thu gom về tập kết tại các bãi rác lộ thiên, thực hiện chôn lấp không đúng quy trình, không có sự kiểm soát chặt chẽ, mùi hôi phát tán trong không khí gây ô nhiễm, độc hại Các bãi rác đa phần không có hệ thống xử lý nước rỉ, nên việc chôn lấp trở thành nơi gây ô nhiễm MT nặng nhất ở mỗi đô thị Không chỉ riêng thành phố Bắc Kạn, tại các TT trong tỉnh, tình trạng ô nhiễm rác thải cũng tương tự Một số nơi rác thải được xử lý bằng cách đốt một phần hoặc chôn lấp thủ công, chưa có quy trình xử lý phù hợp Đa số bãi rác của các huyện là bãi rác tạm, chưa có quy hoạch hợp lý; nhiều bãi rác đã quá tải, gây ô nhiễm MT ngày càng cao (Chung Thảo, 2016) [30]
Trang 28Năm 2012, UBND tỉnh Bắc Cạn cho phép Sở TN&MT sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp MT hàng năm để tiến hành xây dựng mô hình xử lý RTSH khu chợ và trung tâm xã Theo đó, năm 2012, Sở đã xây dựng được mô hình
xử lý RTSH tại xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, năm 2014, xây dựng tại
xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, năm 2015, xây dựng tại xã Hảo Nghĩa, huyện Na Rì; Xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn; Xã Quân Bình, huyện Bạch Thông Các mô hình xử lý rác thải gồm: Sân phơi và phân loại rác có diện tích 60 m2; Lò đốt rác xây gạch chịu lửa; Bể chứa rác có diện tích 120 m2 chia làm 3 ngăn… (Ngô Văn Viên, 2016) [23]
Xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông được tỉnh đầu tư 500 triệu đồng lắp đặt một lò đốt rác thải sinh hoạt nông thôn cho cả xã gồm 11 thôn, nhưng trên thực tế chỉ thu gom và đốt rác của bốn thôn dọc Quốc lộ 3 và chợ xã, nguyên nhân chủ yếu là do không có kinh phí để thu gom và đốt Xã Côn Minh, huyện Na Rì được đầu tư một lò đốt rác trị giá hơn một tỷ đồng, đã được lắp đặt và nghiệm thu từ năm 2017, nhưng từ đó đến nay, lò đốt rác vẫn “đắp chiếu” vì không có kinh phí, tổ thu gom, đốt rác chưa đi vào hoạt động Cũng
do thiếu kinh phí nên việc thu gom rác thải trên địa bàn xã Yên Đĩnh và TT
Chợ Mới, huyện Chợ Mới thời gian vừa qua gặp rất nhiều khó khăn, rác thải
ùn ứ ở nhiều nơi, người dân vứt rác xuống sông, bụi rậm Mặt khác, khi huyện Chợ Mới bán thanh lý xe chở rác năm 2017 vì quá cũ nát nên phải thuê ô-tô chở rác, do kinh phí cấp không kịp thời dẫn đến việc thu gom rác không thường xuyên, lượng rác ứ đọng gây ô nhiễm MT Công ty trách nhiệm hữu hạn MT Bắc Cạn đầu tư hơn 20 tỷ đồng xây dựng Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Bắc Cạn bằng công nghệ đốt khá hiện đại, nhưng do kinh phí của thành phố quá hạn hẹp, không đủ để chi trả tiền xử lý rác thải nên năm 2017 nhà máy phải ngừng hoạt động 45 ngày, rác thải phải chôn lấp gây ô nhiễm MT Năm nay, kinh phí đốt rác hết khoảng 4,3 tỷ đồng, nhưng đến nay thành phố mới bố trí được hơn ba tỷ đồng, có khả năng cuối năm rác thải sinh hoạt lại
Trang 29phải đưa đi chôn lấp Ngoại trừ Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Bắc Cạn, các
lò đốt rác được tỉnh đầu tư trên địa bàn đều có công nghệ lạc hậu, khói thải ra gây ô nhiễm MT Rác thải sinh hoạt thu gom về, phân loại, phơi nắng rồi dùng sức người đưa vào lò đốt, khói thải ra ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Thế Bình, 2018) [4]
1.3 Sơ lược về tổ chức ChildFund
ChildFund tại Việt Nam là văn phòng đại diện của ChildFund Australia - một tổ chức phát triển quốc tế độc lập và phi tôn giáo, hoạt động vì mục tiêu giảm nghèo cho trẻ em tại các quốc gia đang phát triển
ChildFund Australia là một thành viên của Liên minh ChildFund – một mạng lưới toàn cầu gồm 11 tổ chức đang hỗ trợ cho hơn 14 triệu trẻ em và gia đình tại 63 quốc gia trên thế giới ChildFund Australia đã đăng kí hoạt động
và được chính thức công nhận bởi Bộ Ngoại giao và Thương mại – cơ quan quản lý các chương trình viện trợ nước ngoài của chính phủ Australia
ChildFund bắt đầu làm việc tại Việt Nam từ năm 1995 và triển khai các chương trình phát triển cộng đồng tập trung vào các lĩnh vực chính là giáo dục, nước sạch vệ sinh MT, sinh kế bền vững, quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em,
an ninh lương thực, chăm sóc y tế cho bà mẹ và trẻ em, bao gồm hoạt động phòng chống HIV Tập trung vào việc xây dựng khả năng tự lực/tự chủ của thanh thiếu niên, ChildFund tạo cơ hội cho các em tham gia các hoạt động thể thao, đào tạo nghề và kỹ năng sống và hỗ trợ các em tham gia vào các quá trình ra quyết định tại địa phương
Các chương trình của ChildFund được thực hiện tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam bao gồm Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình, nơi người dân
đa số thuộc các dân tộc thiểu số, thường là những đối tượng dễ bị tổn thương
và sao lãng trong xã hội
Trong giai đoạn 2016 - 2020, ChildFund Việt Nam sẽ thực hiện các hoạt động thuộc các chương trình sau:
Trang 301) Tiếp cận với giáo dục có chất lượng
2) Sự tham gia của Trẻ em và Bảo vệ trẻ em
3) Khả năng lãnh đạo và tự lực của thanh thiếu niên
4) Công dân tích cực
ChildFund Việt Nam đã bắt đầu triển khai các chương trình hỗ trợ của mình trên địa bàn 05 xã tại huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn từ năm 2001 Đến năm 2005, dự án đã mở rộng hỗ trợ ra thêm xã Đôn Phong – một xã nghèo nữa của huyện Bạch Thông là một huyện nghèo nằm ở khu vực miền núi phía Bắc với tỉ lệ người dân tộc thiểu số sống dưới chuẩn nghèo cao Do nguồn lực đầu tư từ chính phủ còn nhiều hạn chế cho nên công tác đầu tư để cải thiện điều kiện nước sạch và vệ sinh còn ít Hơn nữa kiến thức và thực hành của người dân về nước sạch và vệ sinh còn rất thấp do thiếu thông tin và
giáo dục về các vấn đề này
Phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Nhân dân huyện Bạch Thông và 6 xã (xã
Tú Trĩ, Nguyên Phúc, Vi Hương, Hà Vị, Lục Bình, Đôn Phong) trong huyện, ChildFund tại Việt Nam đã tiến hành xây dựng và thực hiện dự án nước sạch
vệ sinh MT Dự án đã thực hiện những hoạt động chính như sau:
- Xây dựng và nâng cấp các công trình cấp nước (hệ thống cấp nước tự chảy, giếng đào hộ gia đình, giếng khoan, mó nước, giềng làng…),
- Xây dựng các tiện nghi cấp nước và vệ sinh cho các trường học, nơi công cộng (ủy ban xã, trạm y tế)
- Hỗ trợ xây dựng các công trình quản lý rác thải tại cộng đồng và các tiện nghi vệ sinh ở cấp hộ gia đình (nhà vệ sinh hai ngăn sinh thái, hố thu gom phân chăn nuôi, nhà tắm, hố rác…)
- Hỗ trợ phân tích nâng cao năng lực quản lý các công trình cấp nước &
vệ sinh và truyền thông nâng cao nhận thức, tiến tới thay đổi hành vi của công đồng về Nước sạch & Vệ sinh MT
Trang 31- Dự án đã chú trọng nâng cao năng lực cho tất cả các bên liên quan từ cấp huyện, cấp xã đến cấp thôn để quản lý và duy trì hệ thống cấp nước và vệ sinh MT được cải tiến một cách hiệu quả
- Hỗ trợ quản lý rác thải sinh hoạt hộ gia đình và cộng đồng thôn bản
- Nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương và cộng đồng về vấn
đề nước sạch vệ sinh MT (ChildFund, 2012) [5]
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng RTSH tại địa bàn
- Các bên liên quan trong việc quản lý RTSH
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Khu vực huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về lĩnh vực nghiên cứu: Hiện trạng về RTSH, hiệu quả can thiệp của các bên liên quan trong vấn đề quản lý và xử lý RTSH
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2018
Dựa trên đề án Quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện kết hợp với sự khác nhau về khối lượng thành phần rác thải, tác giả thực hiện nghiên cứu theo 3 vùng:
Vùng I: TT và thị tứ có lượng rác thải sinh hoạt nhiều nhất, đa dạng các
nguồn phát thải kể cả từ các hoạt động sản xuất kinh doanh - thương mại, bao gồm: TT Phủ Thông và thị tứ Cẩm Giàng
Vùng II: Những xã giáp ranh với TT và thị tứ có lượng rác thải sinh hoạt
ít hơn, bao gồm: xã Tân Tiến, Quân Bình, Hà Vị, Lục Bình, Tú Trĩ, Phương Linh, Vi Hương
Vùng III: Những xã vùng sâu vùng xa có lượng rác thải sinh hoạt rất ít,
chủ yếu là chất thải sinh hoạt từ hộ gia đình, chất thải hữu cơ và dễ phân hủy, bao gồm: xã Nguyên Phúc, Quang Thuận, Dương Phong, Đôn Phong, Mỹ Thanh, Sĩ Bình, Vũ Muộn, Cao Sơn
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên
Trang 33- Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Đánh giá chung về tiềm năng và lợi thế của huyện Bạch Thông
Nội dung 2: Hiện trạng và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông
- Hiện trạng rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông
+ Nguồn phát sinh CTRSH
+ Khối lượng và thành phần CTRSH
- Thực trạng công tác quản lý CTRSH tại huyện Bạch Thông
+ Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành có quy định về CTRSH áp dụng trên địa bàn huyện Bạch Thông
+ Nguồn lực phục vụ công tác quản lý CTRSH trên địa bàn huyện + Công tác phân loại, thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn huyện
Nội dung 3: Đánh giá sự hiệu quả các can thiệp của các bên liên quan trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bạch Thông
- Phân tích các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao công tác quản lý rác thải
- Tổ chức Childfund và công tác quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông
- Những điểm hiệu quả và chưa hiệu quả của các sự can thiệp và nguyên nhân dẫn sự hiệu quả hoặc không hiệu quả
- Đánh giá nhận thức của người dân về vấn đề quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Bạch Thông
Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý RTSH tại huyện Bạch Thông
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp nhằm mục đích thu thập và kế thừa số liệu từ các tài liệu tham khảo đáng tin cậy để giảm bớt nội dung điều tra, bổ sung những nội dung không điều tra được hay không được tiến hành, đồng thời rút ngắn thời gian và kinh phí thực hiện luận văn
Trang 34Các số liệu thứ cấp như: các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bạch Thông, Các số liệu thứ cấp thu thập từ Ủy ban nhân dân các huyện, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bạch Thông,…
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn, điều tra khảo sát thực địa
* Phương pháp điều tra phỏng vấn: Điều tra, phỏng vấn là phương pháp điều tra thực tế bằng cách hỏi, phỏng vấn những người trực tiếp liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Sau khi thành lập bộ câu hỏi, tiến hành phỏng vấn tại 3 khu vực nghiên cứu của huyện Bạch Thông Mỗi khu vực nghiên cứu sẽ phỏng vấn về các nội dung như sau:
+ Nguồn phát sinh RTSH
+ Thành phần, khối lượng của rác thải sinh hoạt
+ Cách thức xử lý các loại RTSH
+ Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân về vấn đề môi trường
+ Cách phân loại, thu gom, xử lý RTSH
+ Cách phối hợp quản lý RTSH giữa các bên liên quan
- Đối tượng phỏng vấn:
+ Một số hộ gia đình trên địa bàn 3 khu vực nghiên cứu
+ Công nhân trực tiếp thu gom, vận chuyển RTSH
+ Lãnh đạo, chuyên viên phòng Tài nguyên Môi trường huyện Bạch Thông + Chuyên gia: 2 người từ phía tổ chức ChildFund
- Số lượng phiếu điều tra: 100 phiếu điều tra
- Phạm vi phỏng vấn: đánh giá trên toàn huyện Cụ thể:
+ Khu vực I tiến hành phỏng vấn 20 phiếu
+ Khu vực II tiến hành phỏng vấn 40 phiếu (5 phiếu/xã)
+ Khu vực III tiến hành phỏng vấn 40 phiếu (5 - 6 phiếu/xã)
- Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp hoặc phát phiếu điều tra Tiến hành phỏng vấn theo từng khu vực nghiên cứu
Trang 35Tiến hành phỏng vấn điều tra 100 hộ gia đình, cá nhân theo tiêu chí ngẫu nhiên, đồng thời có sự cân đối về trình độ học vấn, thu nhập, lứa tuổi, đa dạng
- Rác hữu cơ gồm: rau, củ, quả, thức ăn thừa, hoa, lá, cành cây nhỏ, lông
2.3.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Để đưa ra được những phương pháp phù hợp với nội dung nghiên cứu,
đề tài đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp quản lý về môi trường, cán bộ thu gom - vận chuyển – xử lý rác thải tại thị trấn và các xã trong huyện Bạch Thông
Trang 362.3.5 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng các phần mềm Microsoft Word, Microsoft Excel, SPSS để tổng hợp, phân tích, xử lý các số liệu đã thu thập được
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Bạch Thông là huyện duy nhất giáp ranh với hầu hết các huyện, thành phố trong tỉnh Bắc Kạn và bao quanh thành phố Bắc Kạn Đây là một huyện miền núi nằm ở trung tâm của tỉnh Bắc Kạn Huyện có diện tích 545 km² và dân số 30.500 người (năm 2014) Huyện gồm 1 TT và 16 xã:
- Huyện lị: TT Phủ Thông
- Các xã: Cẩm Giàng, Cao Sơn, Đôn Phong, Dương Phong, Hà Vị, Lục Bình, Mỹ Thanh, Nguyên Phúc, Phương Linh, Quân Bình, Quang Thuận, Sĩ Bình, Tân Tiến, Tú Trĩ, Vi Hương, Vũ Muộn
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Bạch Thông
Trang 38Vị trí tiếp giáp của huyện Bạch Thông như sau:
- Phía Nam giáp với thành phố Bắc Cạn và huyện Chợ Mới
- Phía Đông giáp huyện Na Rì
- Phía Bắc giáp huyện Ngân Sơn và huyện Ba Bể
- Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn
Do có Quốc lộ 3 chạy qua nên giao thông từ Bạch Thông xuống phía
Nam (xuống Thái Nguyên, Hà Nội), lên phía Bắc (Cao Bằng) rất thuận tiện 3.1.1.2 Địa hình
Huyện có địa hình đặc trưng miền núi, là nơi hội tụ của hệ thống núi dạng cánh cung, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, tạo thành các kiểu địa hình núi cao trung bình, địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng là các cánh đồng nhỏ hẹp, độ dốc bình quân 260 – 300, diện tích đồi núi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích tương đối bằng phẳng chiếm khoảng 10%, đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang
và các bãi bồi dọc theo hệ thống sông suối Địa hình phức tạp gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
3.1.1.3 Khí hậu
Bạch Thông có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa nóng từ tháng
4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Khí hậu của huyện Bạch Thông có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm 220C, nhiệt độ trung bình cao nhất 22,90C vào tháng 7-8; nhiệt độ trung bình thấp nhất 16,40C vào tháng 12-
1, nhiệt độ cao tuyệt đối 39,40C, thấp tuyệt đối -10C Nhìn chung nhiệt độ phù hợp với các loại cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới
- Lượng mưa trung bình năm là 1.248,2 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8; vào tháng 11 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 83%, cao nhất vào các tháng 7,8,9,10 từ 84 - 86%; thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau
Trang 39- Gió trên địa bàn huyện có hai hướng chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam
- Giông, bão ít ảnh hưởng đến huyện Bạch Thông vì vị trí địa lý của huyện nằm sâu trong đất liền và được che chắn bởi các dãy núi cao, lượng mưa trong năm không lớn nhưng lại tập trung nên xảy ra tình trạng lũ quyét
và sạt lở đất
Nhìn chung Bạch Thông có khí hậu thời tiết tương đối thuận lợi cho việc phát triển nền nông - lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi Tuy nhiên huyện có địa hình cao, độ dốc lớn, các tháng mùa hạ mưa lớn, mưa tập trung dễ gây lũ cuốn, lũ quét làm xói mòn, trượt lở đất dọc theo các sông
và các sườn núi Mặt khác mùa đông trời lạnh, thời tiết khô hanh, gây hạn hán đặc biệt ở vùng sâu, vùng cao, vùng núi đá vôi
3.1.1.4 Thuỷ văn
Huyện Bạch Thông có hệ thống sông suối khá dày đặc trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của huyện, song các sông suối đa phần đều là đầu nguồn có lòng hẹp, độ dốc lớn, thường gây ra lũ về mùa mưa và cạn kiệt nước vào mùa khô
Hệ thống mương thủy lợi, đập của huyện cần phải được xây dựng và cải tạo nâng cấp kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu cấp thoát nước trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê năm 2015, diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện Bạch Thông đạt 46.973 ha, chiếm 85,95% (rừng sản xuất 24.077,43 ha; rừng phòng hộ 19.058,38 ha; rừng đặc dụng 3.837,26 ha) Trong rừng có nhiều loại
gỗ quý như: Nghiến, Trai, Lát Hoa, Sến, Táu cùng các loài thú quý như: hươu sao, gà gô, gà lôi và các loại đặc sản quý như nhung hươu, mật ong, nấm hương
* Tài nguyên đất
Đất của huyện Bạch Thông chủ yếu là các loại đất feralit nâu vàng, feralit đỏ vàng, đất dốc tụ và phù sa sông suối
Trang 40- Đất Feralít màu vàng nhạt trên núi trung bình: Được phân bố trên các đỉnh núi cao >700 m, trên nền đá macma axit kết tinh chua, đá trầm tích và biến chất, hạt mịn, hạt thô
- Đất Feralít hình thành trên vùng đồi núi thấp: Đặc điểm là tầng mỏng đến trung bình Thành phần cơ giới nhẹ, màu vàng đỏ
* Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Lưu vực một số suối có nước quanh năm, vào mùa khô lưu lượng nước ít hơn do độ dốc địa hình lớn Một số suối chỉ có nước vào mùa mưa, mùa khô hầu như không có
- Nguồn nước ngầm: Do địa hình miền núi nên nước ngầm chỉ có ở chân các hợp thuỷ và gần suối, mạch nước ngầm cách mặt đất khoảng từ 3- 3,5 m, hình thức khai thác là dùng giếng khoan
- Cây ngô: Diện tích thực hiện: 1.152,13/1.094,3 ha, đạt 105,2% KH; năng suất bình quân đạt 42,7 tạ/ha; sản lượng cả năm đạt 4.916,8/4.640 tấn, đạt 105% KH
- Các cây màu khác: Cây khoai lang: năng suất ước đạt 47 tạ/ha, sản lượng ước đạt 403,36/376 tấn, đạt 107,3% KH; Cây đậu tương: năng suất ước đạt 15 tạ/ha, sản lượng ước đạt 81,4 tấn/90 tấn, đạt 90,4% KH; Cây lạc: năng suất ước đạt 19 tạ/ha, sản lượng ước đạt 108,85/95 tấn, đạt 114,5% KH; Cây