Xuất phát từ vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh trong dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam trước 1858” chươn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LỜI CẢM ƠN CỦA TÁC GIẢ
Trải qua những năm tháng học tại Trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, em đã được trang bị những kiến thức - kĩ năng chuyên môn nghề nghiệp từ
sự quan tâm chỉ bảo từ thầy cô giáo trong nhà trường Ngoài ra, thầy cô cũng là người truyền ngọn lửa nhiệt huyết đến với các bạn sinh viên trong và ngoài nhà trường Đây chính là hành trang quý báu cho những bước đi đầu tiên trong sự nghiệp trồng người
Em xin chân thành cảm ơn BCN khoa Lịch sử, quý thầy cô giáo đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Vì thời gian tìm hiểu có hạn cũng như lượng kiến thức lẫn kinh nghiệm thực tế của em còn nhiều hạn chế nên nội dung khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy, em mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy
cô giáo để em có thể hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin kính chúc sức khỏe đến quý thầy cô giáo Trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoài Thương
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 8
DANH MỤC HÌNH ẢNH 9
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 11
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 13
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14
3.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 15
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 15
4.1 Mục tiêu nghiên cứu: 15
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 15
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 16
6 Đóng góp của khóa luận 16
7 Cấu trúc của khóa luận 17
NỘI DUNG 18
Chương 1: 18
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 18
1.1 Cơ sở lí luận 18
Trang 41.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 18
1.1.2 Cấu trúc năng lực tự học 25
1.1.3 Các thành tố và yếu tố tác động đến năng lực tự chủ và tự học trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 31
1.1.4 Mối liên hệ giữa phát triển năng lực tự chủ và tự học và năng lực chuyên biệt của bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông 34
1.1.5 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh 37
1.2 Cơ sở thực tiễn 41
1.2.1 Mục đích điều tra 42
1.2.2 Đối tượng, phạm vi điều tra 42
1.2.3 Phương pháp điều tra 42
1.2.4 Nội dung điều tra 42
1.2.5 Xử lí kết quả điều tra và rút ra kết luận về thực trạng vấn đề tổ chức hoạt động thực nghiệm cho HS trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 43
Chương 2: 53
NỘI DUNG KIẾN THỨC CHỦ ĐỀ “MỘT SỐ NỀN VĂN MINH TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM (TRƯỚC NĂM 1859) ”LỊCH SỬ LỚP 10 ĐƯỢC KHAI THÁC ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO HỌC SINH 53
2.1 Khái quát chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)” lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông 53
2.1.1 Yêu cầu cần đạt, mục tiêu của chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)” lịch sử lớp 10 53
2.1.2 Nội dung cơ bản chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)” trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông 56
Trang 52.2 Bảng tổng hợp những kiến thức của chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam trước năm 1858” có ưu thế để phát triển năng lực tự chủ và tự học của
học sinh 57
Chương 3: 84
PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRỌNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “MỘT SỐ NỀN VĂN MINH TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM ( TRƯỚC NĂM 1858)”, LỊCH SỬ 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 84
3.1 Nguyên tắc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh 84
3.1.1 Phù hợp với mục tiêu dạy học 84
3.1.2 Vận dụng linh hoạt và đa dạng các biện pháp phát triển năng lực tự chủ và tự học 85
3.1.3 Đảm bảo tính vừa sức và thực tiễn 85
3.1.4 Phát triển năng lực tự chủ và tự học một cách thường xuyên và liên tục 86
3.1.5 Kiểm tra đánh gá thường xuyên năng lực tự chủ và tự học cho học sinh 86
3.2 Các biện pháp phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh 87
3.2.1 Tạo động cơ tự học lịch sử cho học sinh 87
3.2.2 Biện pháp hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức về phương pháp tự học bộ môn 97
3.2.3 Biện pháp hưỡng dẫn học sinh luyện tập kĩ năng tự học 115
3.3 Thực nghiệm sư phạm 117
3.2.1 Mục tiêu của thực nhiệm sư phạm 117
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 117
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 117
3.2.4 Kết quả thực nghiệm 118
KẾT LUẬN 120
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC 126
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ tổng hợp ý kiến của GV về đánh giá NLTC và TH của HS Biểu đồ 2.2 Biểu đồ Tổng hợp ý kiến của HS về ý nghĩa của việc THLS
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Sơ đồ phát triển của văn minh Đại Việt
Hình 3.2 Sông Hồng – đoạn chảy qua địa phận Hà Nội ngày nay
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, đòi hỏi mỗi quốc gia muốn trở thành một nước công nghiệp, hiện đại và hội nhập thì phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng đó chính là xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Trước yêu cầu bức thiết nêu trên, đòi hỏi ngành giáo dục của mỗi quốc gia phải không ngừng đổi mới để phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ của người học, giúp người học có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để có thể chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức suốt đời
Không đứng ngoài xu hướng phát triển đó của giáo dục thời đại, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam đã nhấn mạnh giáo dục Việt Nam cần chú ý đến việc “đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.”
Cụ thể hóa tinh thần chỉ đọa nêu trên, tại Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cũng như chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử đã xác định được 10 năng lực cốt lõi và 5 phẩm chất cần phát triển cho học sinh Tất cả các năng lực và phẩm chất đều chứa đựng yếu tố quan trọng Và NLTC và TH là một trong những năng lực cần phải hình thành và phát triển cho mọi học sinh Việc phát triển NLTC và TH có vai trò quan trọng trong dạy học ở trường THPT TC và TH là một bộ phận cấu thành phương pháp học, đây là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Việc bồi dưỡng năng lực trong học
Trang 12tập cho học sinh cần thực hiện nguyên tắc “Học sinh làm trung tâm” để phù hợp với yêu câu và mục tiêu đã đặt ra trong chương trình giáo dục
Chủ đề lịch sử Việt Nam “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước 1858)” Với nội dung cốt lõi là tìm hiểu về các nền văn minh cổ trên đất
nước Việt Nam có những ưu thế riêng trong việc phát triển năng lực tự học và tự chủ cho học sinh Và khi thực hiện chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước 1858)” HS sẽ phát huy được NLTC và TH, tự chủ thông qua việc tìm hiểu thành tựu của các nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam, từ đó dẫn đến đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc trong Lịch sử Việt Nam diễn ra như thế nào
Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển NLTC và TH cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế Chương trình SGK còn mang tính hàn lâm, PPDH còn chưa phát huy được tính tích cực chủ động của HS Việc hướng dẫn HS tự học của GV còn hạn chế và chưa mang lại hiệu quả cao Phần lớn
HS chưa coi trọng môn học LS, chưa áp dụng PPTH một cách có hiệu quả và khoa học Thực trạng này làm hạn chế việc hình thành mục tiêu đổi mới PPDH nói chung
và hiệu quả trong dạy học LS THPT
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh trong dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước 1858)” chương trình Lịch Sử lớp 10 trường trung học phổ thông”
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về vấn đề NL nói chung và NLTC và TH nói riêng Và trong khuôn khổ của khóa luận này, đã đưa ra một số dẫn chứng cụ thể dựa trên sự khai thác nguồn tài liệu như: Giáo dục Lịch sử, Tài liệu tập huấn, Tạp chí giáo dục nguồn tài liệu chuyên khảo của môn LS trường THPT
2.1.Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Trang 13Các nhà tư tưởng nhà tư tưởng, giáo dục cổ đại đã khẳng định và đề cao tầm quan trọng của việc tự học từ rất sớm Theo Khổng Tử (551- 479) - nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc, trong quá trình dạy học cần chú trọng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh Bởi lẽ, “Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho, một vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa” [24;Tr 60] Mặt khác, Vistorrino (1378- 1446), người Ytalia từng nói: “tôi muốn dạy cho thanh niên suy nghĩ, chứ không nói bậy” Vì vậy ông đã dạy cho người học lý trí chính chắn, sự
phán đoán, tinh thần sáng tạo trong học tập [15; Tr56]
Nhà sư phạm J.A.Comenxki (1592- 1670), người đặt nền móng cho sự ra đời
của nhà trường hiện nay đã khẳng định: “không có khát vọng học tập thì không trở thành tài” Trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại”, ông đã phản đối lối dạy giáo
điều, rập khuôn, áp đặt và đưa ra những nguyên tắc, phương pháp giảng dạy để phát huy được tính tích cực chủ động đối với người học Chính suy nghĩ này của ông đã cho thấy trong quá trình dạy học cần phải tạo động cơ, động lực học tập cho người học để vượt qua những khó khăn, thách thức trong học tập [24; Tr62]
Tsunesaburo Makiguchi (1871- 1944) – một nhà sư phạm lỗi lạc Nhật Bản đã
trình bày những tư tưởng giáo dục mới trong cuốn “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” NXB trẻ năm 1994 Ông cho rằng “Giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn
TH, mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và cộng đồng” [25, Tr19]
I.F.Kharlamop trong cuốn sách “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào”
tập, NXB Giáo dục năm 1978, đã khẳng định vai trò của TH trong việc nâng cao tính tích cực chủ động hoạt động trí tuệ của HS khi tiếp thu tri thức mới Ông cho
rằng: Quá trình nắm kiến thức mới không thể tiến hành bằng việc học thuộc một cách bình thường các qui tắc, các kết luận và khái quát hóa nó được xây dựng trên
cơ sở cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích tài liệu, sự kiện, làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học [22]
Richard Smith, giáo sư tại Đại học Warwick, trong cuốn sách “Tự học”, của
Trang 14chủ Suy nghĩ về sự tự chủ của người học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: Cá nhân hóa, người học độc lập Điều này có nghĩa là người học phải có năng lực để chịu trách nhiệm trước những quyết định đối với việc học
Như vậy, trong các nguồn tài liệu của các tác giả nước ngoài về giáo dục Lịch
sử nói chung, TC, TH Lịch sử nói riêng Và nhìn chung các nguồn tài liệu trên đều nhấn mạnh đến vai trò của TC, TH trong học tập môn LS và có đưa ra các giải pháp giúp GV hướng dẫn cho HS TH một cách hiệu quả ở trên lớp cũng như ở nhà
2.2.Các công trình nghiên cứu trong nước
Giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử” của Phan Ngọc Liên và Trần Văn
Trị, NXB Giáo dục, 2001 quan niệm “TH trong quá trình học tập của HS là việc các em độc lập hoàn thành những nhiệm vụ được giao, với sự giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra của GV Việc TH bao gồm cả việc tập dượt nghiên cứu Nó gây hứng thú học tập, sự cố gắng của HS và đóng góp phần nào cho xã hội” [ 18,Tr167] Trong
quá trình tự học cần chú trọng đến tinh thần và thái độ cũng như phương pháp học của HS Từ đó, HS có thể nắm vững và vận dụng những kiến thức đã học và thực tiễn
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Lịch sử”, tập II (NXB Đại học Sư phạm
Hà Nội, 2002) tái bản có sửa chửa và bổ sung 2009, 2010, do Phan Ngọc Liên (chủ
biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi đã khẳng định: TH của HS là việc nắm vững kiến thức LS một cách chính xác, vững chắc, được suy nghĩ nhận thức sâu sắc
và có thể vận dụng một cách thành thạo [19, tr107] Quá trình TH bắt đầu từ biết
đến hiểu và trải qua nhiều giai đoạn, điều này đòi hỏi HS phải có sự quyết tâm và cố gắng nổ lực không ngừng logic để đi đến tìm hiểu LS nhân loại và dân tộc
Tác giả Nguyễn Thị Thế Bình trong cuốn “Phát triển kĩ năng tự học Lịch sử cho học sinh”, NXB Đại học sư phạm, quý III năm 2014, khi nghiên cứu về vấn đề này
tác giả đã đưa ra hệ thống các KN TH LS và tiêu chí đánh giá Và tác giả cho rằng hệ thống KN này cần phải rèn luyện thường xuyên trong quá trình dạy học LS để trở nên thành thạo và vận dụng linh hoạt trong các nhiệm vụ học tập
Trang 15Về vai trò của NLTC và TH trong quá trình giáo dục đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, cụ thể được thể hiện trong các bài báo khoa học: Phạm Thị Lan
Phượng có bài viết “Vai trò của người GV trong việc hình thành NLTH cho HS” – Tạp chí Dạy và học ngày nay số 4/2005; “Vai trò bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên của giảng viên trong tổ chức dạy học” của tác giả Dương Huy Cẩn, tạp chí Giáo
dục số 298 năm 2012
Về biện pháp và hình thức tổ chức phát triển NLTC và TH cũng được nhiều tác
giả nói đến như: Bài viết “Biến quá trình dạy học thành quá trình TH” của tác giả
Nguyễn Kì đăng trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 3/1996 Tác giả Hoàng Mạnh
Kha với bài viết “ Tổ chức tốt việc TH của HS” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu giáo
dục số 3/1981
Bài viết: “Phát triển KN TH cho HS trong dạy học bộ môn LS ở trường phổ thông” tạp chí Giáo dục số 273 năm 2011 Tác giả đã đưa ra một số biện pháp phát
triển KNTH LS cho HS như: tạo hứng thú và cách tổ chức TH; nhóm các biện pháp
phát triển KN hướng dẫn HS thực hiện việc TH; “Phát triển KN TH với SGK cho HS trong dạy học LS ở trường phổ thông” tạp chí Giáo dục số 292 năm 2012,ở bài viết
này tác giả đã đưa ra hướng phát triển kỹ năng TC và TH cho HS trong dạy học LS thông qua việc TH ở lớp và ở nhà để mang lại kết quả cao
Vấn đề TC, TH và NLTC, TH cũng được đi sâu vào nghiên cứu ở một số luận án
Tiến sĩ như: Luận án Tiến sĩ của Đoàn Nguyệt Linh “ Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông ( Thực nghiệm qua lớp 10 chương trình chuẩn)”; Rèn luyện KN TH cho HS THPT qua giờ văn học Sử” của Phạm Thị Xuyến, Phan Đức Duy, trong luận án tiến sĩ “Sử dụng bài tập tình huống sư phạm để rèn luyện cho sinh viên KN dạy HS học” (1999) đã nghiên cứu
quy trình thiết kế, các yêu cầu kĩ thuật của bài tập tình huống Trong các luận án này, các tác giả đã để cập đến NL và NLTC và TH trong học tập cũng như đưa ra những biện pháp cụ thể để phát triển NL cho HS trong quá trình học tập bộ môn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 16- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quá trình “Phát triển năng lực tự chủ và
tự học của học sinh trong dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước 1858)” chương trình Lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông”
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung môn lịch sử: Khóa luận vận dụng vào chương trình lịch sử THPT và thực nghiệm qua chương trình lịch sử lớp 10
- Về lý luận phương pháp dạy học môn lịch sử: Tập trung vào nghiên cứu việc
phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh trong dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858) ” chương trình lịch sử lớp 10
trường THPT
- Về điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm: Tiến hành lựa chọn một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để điều tra, khảo sát và thực nghiệm
sư phạm
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn về về lý luận và thực tiến của viêc phát triển
năng lực tự học và tự chủ của học sinh trong dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858) ” lịch sử lớp 10 ở trường THPT, đề tài
xây dựng các tiêu chí cũng như đề xuất các nguyên tắc, biện phát để phát triển năng lực tự học của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông, góp phần thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận cần giải quyết các vấn đề sau:
- Tìm hiểu lí luận về năng lực tự chủ và tự học nói chung và lí luận năng lực tự chủ và tự học trong dạy học lịch sử nói riêng
- Điều tra, khảo sát thực trạng về việc phát triển NLTC và TH môn lịch sử của học sinh lớp 10 trường THPT
Trang 17- Xác định nội dung, biểu hiện và hệ thống các tiêu chí đánh giá NLTC và NLTH môn lịch sử ở trường THPT
- Tìm hiểu nội dung chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)” lịch sử lớp 10 có ưu thế để phát triển năng lực tự chủ và tự học
cho học sinh
- Đề xuất các nguyên tắc và biện pháp để phát triển NLTC và TH cho học sinh
trong dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858) ” lịch sử lớp 10
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiếm địn tính khả thi của đề tài
5.Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức, tư tương Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về Giáo Dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng, đặc biệt là lí luận về phát triển NLTC và TH
- Phương pháp nghiên cứu:
Đọc và phân tích, khái quát tài liệu của các tác giả, học giả, các tài liệu khoa học giáo dục, tài liệu về PPDH LS về phát triển năng lực học tập môn lịch sử nói chung, TH nói riêng và các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu chương trình và SGK lịch sử trường THPT Đặc biệt là chương trình lớp 10
Điều tra thực tiễn thông qua điều tra giáo viên và học sinh ở các cơ sở trường THPT Dự giờ các tiết học để có kết quả chính xác về vấn đề nghiên cứu
Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành soạn bài và thực nghiệm sư phạm từng phần, toàn phần nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê kể xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
6.Đóng góp của khóa luận
- Xác định những cơ sở lí luận về NLTC và TH của học sinh
- Điều tra xã hội học để phát hiện thực trạng việc phát triển NLTC và TH của học sinh ở trường THPT hiện nay
Trang 18- Xác định nội dung kiến thức Lịch sử trong chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)” có ưu thế để phát triển NLTC và TH
7 Cấu trúc của khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trong dạy học ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Nội dung kiến thức chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)” lịch sử lớp 10 được khai thác để phát triển năng lực tự
chủ và tự học cho học sinh
Chương 3: Phương pháp phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh
trọng dạy học chủ đề “Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)”, lịch sử 10 ở trường trung học phổ thông
Trang 19NỘI DUNG Chương 1:
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG
TC và TH trong thời đại khoa học phát triển là một điều vô cùng quan trọng Nó giúp con người có được công cụ, phương pháp học tập suốt đời Lối giáo dục mang tính giáo điều, nhồi nhét, áp đặt không còn giữ vị trí độc quyền
Quá trình TC và TH của học sinh mang tính chủ động và tác dụng trực tiếp đến chất lượng giáo dục và sự phát triển của mỗi quốc gia Bồi dưỡng TC và TH trở thành chiến lược phát triển giáo dục hàng đầu ở thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đã có rất nhiều định nghĩa về TC và TH:
Leni Dam ( trích trong Gathercole, 1990) định nghĩa: “ Sự tự chủ trong học tập là mong muốn và khả năng người học có thể điều khiển và giám sát việc học của chính họ Người học tự chủ là người đóng vai chủ động trong quá trình học của
họ, tự đưa ra ý kiến và nắm bắt lấy cơ hội học tập , thay vì chỉ đơn thuần đáp ứng những yêu cầu từ phía GV và việc học được xem là kết quả của quá trình NH chủ động kết giao với thế giới”
Trang 20TH.S Lê Chí Nguyện: “ Tự chủ học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trung ở khát vọng hiểu biết, cố gắng và có nghị lực có trong quá trình chiếm lĩnh tri thức”
Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ: Quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp… và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [25, Tr68]
Nguyễn Gia Cầu qua bài viết Để giúp HS biết cách học và cách TH, tạp chí Giáo dục số 146, 2006 phát biểu: “TH là một quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí của cơ sở giáo dục, đào tạo”
Tất cả những định nghĩa trên đã đưa ra những khái quát cụ thể về TC và TH Tuy nhiên, mỗi định nghĩa là một khía cạnh khác nhau như : tác dụng, hình thức, cách thức, qua đó thể hiện rõ tính chủ động của các cá nhân trong việc lĩnh hội tri thức Chủ thế cá nhân được đề cao trong từng định nghĩa
Trong cuốn PPDH LS do Phan Ngọc Liên chủ biên đã đưa ra khái niệm về TH
LS như sau: “TH của HS là việc nắm vững kiến thức LS một cách chính xác, vững chắc và có thể vận dụng một cách thành thạo Việc TH phải được tiến hành với sự hứng thú, say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù… độc lập hoàn thành những nhiệm vụ được giao” [18,Tr107]
Chu Thị Mai Hương qua bài viết Sử dụng sơ đò để phát triển kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, Tạp chí giáo dục
số 439, năm 2018 phát biểu: Tự học cũng là hình thức tổ chức dạy học, song tự học mang tính độc lập và có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học Tự học là một hoạt động học sinh mang tính tự giác, chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, nghiên cứu, tôn lại những kiến thức lịch sử mà học sinh chưa biết để đạt mục đích và yêu cầu của việc học tập bộ môn lịch sử
Trang 21Từ đó, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm về TC và TH là: TC và TH không phải là một khả năng tinh thần hoặc một kĩ năng thực hiện học tập; đúng hơn,
đó là quá trình tự chỉ đạo, theo đó người học biến khả năng tinh thần của họ thành
kĩ năng học tập Học tập được xem như là một hoạt động mà người học làm việc cho chính họ theo cách chủ động chứ không phải một sự kiện bí mật liên quan đến giảng dạy TC và TH đề cập đến những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi tự tạo ra được định hướng để đạt được mục tiêu
Hay nói cách khác, TC và TH không chỉ liên quan đến kiến thức mà còn liên quan đến việc có một tư duy chủ động về các khía cạnh khác của việc học và mức
độ kiểm soát các khía cạnh đó Chẳng hạn, một người tự làm một bài kiểm tra toán học cần phải có kiến thức không chỉ về nội dung được ghi mà còn cần phải có những mục tiêu hợp lí cho bản thân, một phương tiện để tiên liệu kiến thức của mình có đủ để đạt được mục tiêu không ( ví dụ: thông qua các vấn đề thực tiễn và giải pháp của họ), khả năng thực hiện khả thi và chủ động làm điều đó cùng với khả năng giám sát và kiểm soát các phản ứng tình cảm của mình để không mất đi động lực khi thực hành không hiệu quả ( hoặc trở nên quá tự tin khi việc đó diễn ra tốt đẹp)
1.1.1.2 Khái niệm năng lực, năng lực tự chủ và tự học
- Năng lực:
Năng lực: Năng lực là một phạm trù được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 của Bộ GD-ĐT xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Bộ GD-ĐT, 2018a)
Từ quan niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm chính của năng lực gồm: - Là
sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học; - Là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, để thực hiện thành công công việc trong một bối
Trang 22cảnh nhất định Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và kĩ thuật trong một tình huống có ý nghĩa chứ không phải tiếp thu lượng tri thức rời rạc; - Được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn
Theo từ điển tiếng việt, năng lực là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao
Theo nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: Năng lực
đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực là nhóm năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa sẽ biến thành năng lực
Có thể nói rằng năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào như tri giác, trí nhớ, mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân Đó là sự thống nhất hữu cơ đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn
Như vậy có thể hiểu năng lực là một đặc tính có thể đo lường được của một người về những kiến thức, kỹ năng, thái độ cũng như các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ mà người đó có được Năng lực là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác, cũng là một trong những thước đo để đánh giá các cá nhân với nhau
Từ những định nghĩa trên, tôi rút ra được kết luận: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…
NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân
đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống Như vậy, năng lực gắn liền với từng hoạt động cụ thể, được biểu hiện qua cách giải quyết công việc‚ học tập, thực hiện nhiệm
vụ của mỗi người Năng lực của một người khi trong các hoạt động là khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân, và nó được hình thành trong
Trang 23quá trình sống cũng như giáo dục của mỗi người
- Năng lực tự chủ và tự học, năng lực tự chủ và tự học lịch sử
Trong chương trình giáo dục phổ thông Tổng thể 2018, năng lực tự chủ và tự học
là một trong những năng lực chung cần hình thành cho HS trong quá trình dạy học ở các cấp
Theo đó, yêu cầu cần đạt được về năng lực tự chủ và tự học của HS ở bậc THPT như sau:
- Tự lực: Luôn chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong
học tập và trong cuộc sống; biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự lực
- Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng: Biết khẳng định và bảo
vệ quyền, nhu cầu cá nhân phù hợp với đạo đức và pháp luật
- Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình: Đánh giá được những ưu
điểm và hạn chế về tình cảm, cảm xúc của bản thân; tự tin, lạc quan Biết tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của bản thân; luôn bình tĩnh và có cách cư xử đúng Sẵn sàng đón nhận và quyết tâm vượt qua thử thách trong học tập và đời sống Biết tránh các tệ nạn xã hội
- Thích ứng với cuộc sống: Điều chỉnh được hiểu biết, kĩ năng, kinh nghiệm
của cá nhân cần cho hoạt động mới, môi trường sống mới.Thay đổi được cách tư duy, cách biểu hiện thái độ, cảm xúc của bản thân để đáp ứng với yêu cầu mới, hoàn cảnh mới
- Định hướng nghề nghiệp: Nhận thức được cá tính và giá trị sống của bản
thân Nắm được những thông tin chính về thị trường lao động, về yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề Xác định được hướng phát triển phù hợp sau THPT; lập được kế hoạch, lựa chọn học các môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp của bản thân
- Tự học, tự hoàn thiện: Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã
đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ
Trang 24việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân
Lịch sử là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, gồm 2 phần: phần bắt buộc đối với tất cả học sinh và phần lựa chọn cho học sinh chọn môn Lịch sử theo định hướng nghề nghiệp ở cấp trung học phổ thông Môn Lịch sử hình thành, phát triển cho học sinh tư duy lịch sử, tư duy hệ thống, tư duy phản biện, kĩ năng khai thác sử dụng nguồn
tư liệu và trình bày lịch sử trong logic đồng đại và lịch đại Cũng như các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, trong quá trình DHLS, GV cần chú
ý phát triển năng lực tực hủ và tự học cho HS
Trên cơ sở khu biệt lại nội hàm của các khái niệm năng lực tự chủ và tự học trong đối tượng nghiên cứu của bộ môn lịch sử, chúng ta có thể hiểu kahis niệm Năng lực tự
chủ và tự học trong bộ môn LS như sau: Năng lực tự chủ và tự học lịch sử là khả năng thực hiện thành công hoạt động tự chủ và tự học Lịch sử nhờ vào sự phát huy sức mạnh tổng hợp những kiến thức về phương pháp, kĩ năng tự chủ và tự học, hình thành mục tiêu, động cơ, thái độ học tập đúng đắn
Năng lực tự chủ và tự học Lịch sử của HS trường THPT bao gồm: kiến thức về phương pháp tự chủ và tự học trong bộ môn Lịch sử; nhóm kĩ năng tự học; thái độ, đạo đức, phẩm chất niềm say mê, ý chí và lòng quyết tâm trong học tập Các yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất và có sự tương tác qua lại tạo nên sự bền vững của năng lực tự chủ và tự học nói chung Cụ thể là:
- Kiến thức về phương pháp tự chủ và tự học môn Lịch sử
Kiến thức về phương pháp tự chủ và tự học là những hiểu biết nói chung về các hoạt động tự chủ và tự học của bộ môn Lịch sử Đặc trung của Lịch sử là tính quá khứ, không lặp lại, cụ thể và sự thống nhất giữ sử - luận, vì vậy muốn hình thành kiến thức Lịch sử cho HS cần phải đi từ nghiên cứu sự kiện, hình thành khái niệm, rút ra quy luật
và các bài học Lịch Sử
Trang 25- Nhóm kĩ năng tự học
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức, hiểu biết của con người để thực hiện một việc gì đó, có thể là việc nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyên môn hoặc việc liên quan đến cảm xúc, sinh tồn giao tiếp, v.vv Còn theo nhà tâm lý học Liên Xô L.Đ.Lêvitôv thì kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào
đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định
Muốn có kĩ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội dung công việc mà kĩ năng hướng vào và tri thức về bản thân kĩ năng như quy trình luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện một hành động đúng với mục đích yêu cầu đã đề ra Và mức độ phát triển cao của kĩ năng là kĩ xảo Kĩ xảo là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt, sang tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khác nhau Để đạt tới kĩ xảo cần phải trải qua các giai đoạn tập luyện trên cơ sở đã có các kĩ năng sao cho mỗi hành động người ta hoàn toàn không bận tâm đến các thao tác nữa mà mọi suy nghĩ tập trung vào việc tìm ra các biện pháp, phương pháp tốt nhất phù hợp với những hoàn cảnh, điều kiện luôn biến động để đạt được mục đích
Nếu năng lực tự chủ và tự học là thuộc tính tâm lí, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó có kĩ năng thì kĩ năng tự chủ và tự học là những hành động riêng lẻ của hoạt đông tự học do HS thực hiện trong học tập Lịch sử Đó là: kĩ năng tự làm việc với các tài liệu học tập; kĩ năng nghe giảng kết hợp với tự ghi chép; kĩ năng phát hiện, giải quyết và trình bày vấn đề vấn đề; kĩ năng phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…; kĩ năng tự ôn tập củng cố kiến thức; kĩ năng
tự kiểm tra đánh giá
- Thái độ
Muốn rèn luyện được kĩ năng tự chủ và tự học Lịch sử, HS cần phải có ý chí quyết tâm, tính kiên trì, tinh thần vượt khó trong học tập “Không có con đường nào thênh thang dẫn đến các đỉnh cao khoa học” (C.Mác), việc tự chủ và tự học đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự nỗ lực của người học
Trang 26đóng vai trò quyết định Nếu người GV có kiến thức giảng dạy uyên thâm, phương pháp giảng dạy rất hay, nhưng HS không lắng nghe, không chịu đầu tư thời gian, không có sự nỗ lực lao động của cá nhân, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực học tập thì kết quả học sẽ không cao
1.1.1.3 Khái niệm phát triển năng lực tự chủ và tự học
Theo trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện ngôn ngữ học
(2002): Từ điển Anh - Việt, NXB Thành phố Hồ Chí Minh “Phát triển: làm cho ai, cái gì tăng trưởng dần dần; trở nên hoặc làm cho trưởng thành hơn, tiến triển hơn hoặc có tổ chức hơn” (Tr 476)
Trong nghiên cứu này khái niệm phát triển được tìm hiểu dưới góc độ giáo
dục.Trung tâm từ điển học (2011): Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Phát triển: biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp (Tr 1204)
Theo những định nghĩa khái niệm tìm hiểu ở trên, có thể rút ra kết luận rằng: phát triển là sự lớn mạnh, trưởng thành hơn của cái mới so với cái cũ đã được hình thành hay xuất hiện từ trước
Phát triển NLTC và TH cho HS, người giáo viên cần phát triển NLTC và TH cho HS bằng cách thường xuyên tiến hành luyện tập giúp HS nhận thức sâu sắc kiến thức về phương pháp tự chủ và tự học, vận dụng các kĩ năng và có sự tích cức chủ động trong học tập Qua quá trình tìm hiểu, HS được hình thành NLTC và TH từ cấp trung học sơ sở Tuy nhiên mức độ hình thành của HS chỉ mới cấp độ thấp và chưa toàn diện Do đó, trong khuôn khổ của khóa luận này, các biện pháp sư phạm tôi
đề ra chủ yếu tập trung vào giai đoạn phát triển NLTC và TH cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
1.1.2 Cấu trúc năng lực tự học
Vận dụng quy trình xây dựng cấu trúc năng lực của nhóm tác giả Griffin, P., Care, E., & Harding, S (2015)[27]; Nguyễn Văn Biên [8] để xây dựng cấu trúc năng lực tự học gồm 4 bước như sau:
Trang 27- Bước 1 Định nghĩa NLTC và TH được định nghĩa dựa trên quá trình TC,
cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung
và hoạt động khi lập kế hoạch, cần bao gồm cả các phương án phụ, dự kiến khắc phục các trở ngại đột xuất về thời gian, ngoại cảnh, yêu cầu chung, Ngoài ra HS cần biết cách lựa chọn hình thức TC, TH quyết định cách thức chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng cho mình phù hợp với trình độ tiếp thu, với các tài liệu để duy trì động lực TC, TH như TH cá nhân, đôi bạn học tập, nhóm, học với tài liệu, với bài giảng đa phương tiện, 3.Tiến hành kế
hoạch tự học
HS thể hiện khả năng lựa chọn các tài liệu thích hợp, sử dụng các phương pháp nhận thức phổ biến trong học tập vật lí, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiến để giải quyết các vấn đề học tập như: làm bài tập vận dụng, bài thực hành, thí nghiệm, báo cáo, thuyết trình, giúp tri thức có được không dễ quên
mà bền vững, thường xuyên được bổ sung, mở rộng, đào sâu,
Trang 28làm giàu tri thức cá nhân
3.1 Làm việc với tài liệu
3.2 Làm việc với người hỗ trợ
3.3 Rèn luyện trên đối tượng vật chất
4.Đánh giá điều
chỉnh hoạt động
học
4.1 Đánh giá được kết quả của bản thân
4.2 Đánh giá điều chỉnh được kế hoạch học tập
Bảng 1.2 Chỉ số hành vi của NLTC và TH
- Bước 4: Xây dựng các mức độ chất lượng
Mức độ chất lượng dựa trên mức độ tự lực của HS, mức độ phức tạp và mức
độ hoàn thiện của hành vi Các mức độ chất lượng được trình bày dưới dạng các
Trang 29tiêu chí Bảng 1.3 minh họa những tiêu chí đã được xây dựng để đánh giá mức độ đạt được của chỉ số hành vi của một thành tố trong NLTC và TH
- XM1: Tự các định kiến thức, kĩ năng cần học
- XM2: Tự xác định chính xác kiến thức, kĩ năng cần học
- XM3: Tự xác định kiến thức, kĩ năng cần học và các bước chi tiết tiến
trình thu nhận kiến thức, kĩ năng
1
2
3
1.2 Xác định kiến thức kĩ năng liên quan
- LX1: Chỉ ra một vài phong cách học tập
- LX2: Chỉ ra được một số thao tác học tập của các phong cách khác nhau
- LX3: Chỉ ra được các thao tác học tập phù hợp với phong cách học tập của mình
1
2
3
2.2 Lựa chọn phương pháp
- LP1: Chỉ ra được tên các phương pháp học tập
1
Trang 30học tập - LP2: chỉ ra được cách thức thực hiên
các phương pháp học tập
- LP3: Chỉ ra được phương pháp học tập tối ưu phù hợp với nội dung học
3
3 2.3 Lập thời
gian biểu TH
- LT1: Xây dựng thời gian biểu học tập sơ sài, thời gian quá dài hoặc quá ngắn
- LT2: Thời gian biểu học tập chi tiết,
có thời gian quá dài hoặc quá ngắn
-LT3: Thời gian biểu học tập chi tiết, khoa học, cụ thể, phân bố thời gian hợp lý
1
2
Trang 31+ Biết cách vận dụng các thông tin thu được để giải quyết vấn đề nhưng chưa chính xác
- TT3:
+ Liệt kê và lựa chọn được nguồn tài liệu hay, nguồn tài liêu hữu ích, đáng tin cậy, có giá trị
+ Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới dạng bản đồ tư duy, có sự phân tích đánh giá các nguồn thông tin
+ Tự lực vận dụng các thông tin thu được để giải quyết vấn đề một cách chính xác
3
3.2 Làm việc với người hỗ trợ
- TN1: Đợi GV hướng dẫn
- TN2: Tìm người hỗ trợ
- TN3: Tự tìm người hỗ trợ phù hợp với nội dung TH
1
2
3
3.2 Rèn luyện trên đối tượng vật chất
- TR1: Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc học theo sự hướng dẫn của GV
- TR2: Biết sử dụng một vài phương tiện phục vụ học tập
- TR3: Biết sử dụng các phương tiện ( sách, CD, DVD, học liệu B-
Trang 32giá điều
chỉnh hoạt
động học
được kết quả của bản thân
kiểm tra do GV giao cho và tự đối chiếu kết quả
- ĐB2: Tự làm bài kiểm tra, so sánh với đáp án và mục tiêu học tập
- ĐB3: Biết lựa chọn công cụ đánh giá
và tự đánh giá phù hợp với mục tiêu học tập để tự xác định được trình độ của bản thâm
2
3
4.2 Đánh giá điều chỉnh được
kế hoạch học tập
- ĐC1: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học
- ĐC2: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học và đề xuất được các điều chỉnh
- ĐC3: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học và có hành động điều chỉnh kịp thời
1
2
3
Bảng 1.3 Tiêu chí chất lượng của các chỉ cố hành vi của NLTH
1.1.3 Các thành tố và yếu tố tác động đến năng lực tự chủ và tự học trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
NLTC và TH được thể hiện ở kiến thức về phương pháp tự học bộ môn, kĩ năng tự học và tinh thần thái độ học tập mà chúng tôi đã đề cập tới ở mục nội dung của NLTC và TH Lịch sử Tất cả những nội dung đó được biểu hiện ở các thành tố sau:
- TH với tài liệu học tập ( giáo trình, SGK): SGK là tài liệu học tập cơ bản cho
HS Nội dung của SGK Lịch sử cung cấp cho HS hệ thống tri thức khoa học Lịch sử loài người và Lịch sử dân tộc, qua đó rèn luyện khả năng tư duy logic, giáo gục tư tưởng đúng đắn cho HS Tài liệu tham khải là nguồn kiến thức có bản trong SGK Để phát triển năng lực tự chủ và tự học với tài liệu tham khảo cho HS, GV cần cung
Trang 33cấp tài liệu, hoặc giới thiệu địa chỉ tin cậy để HS tiếp cận với tài liệu, nêu yêu cầu, nội dung, mức độ, hướng dẫn cách đọc, ghi chép và trình bày tài liệu Các tài liệu tham khảo bao gồm như: tài liệu Lịch sử, tài liệu gốc, Hồi kí, kí sự, tài liệu văn học, báo chí, sách lí luận, Internet…
- Chủ động ghi lại kiến thức trên lớp: Khi học tập trên lớp, HS phải biết vận
dụng nhiều thao tác như nghe giảng, ghi chép, suy nghĩ, trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, hoạt động nhóm… Trong những hoạt động đó HS cần phải biết kết hợp các thao tác nghe, ghi chép và suy nghĩ trả lời câu hỏi Phát triển được năng lực này
sẽ giúp HS học tập hiệu quả hơn, linh hoạt hơn trong tư duy, giáo dục ý thức tự giác, kiên nhẫn và khả năng tư duy nhanh Để việc lắng nghe có hiệu quả, HS phải luôn chú ý đến hoạt động của GV, phải bám sát các mục mà GV ghi trên bảng và kết hợp với SGK, trước khi nghe phải tìm hiểu qua nội dung và chuẩn bị tốt dụng cụ ghi chép Một số kĩ năng trong ghi chép như ghi thành các mục để dễ theo dõi, ghi những ý chính, ghi theo ý hiểu, dùng các chữ viết tắt và có những nội dung có thể khái quát bằng sơ đồ, bảng biểu
- Chủ động khai thác đồ dùng trực quan: Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy
học vừa là nguyên tắc, vừa là một phương pháp quan trọng Biết và khai thác được kiến thức từ đồ dùng trực quan không chỉ là một nguồn kiến thức quan trọng nhằm cụ thể hóa, bổ sung cho kiến thức trong bài học mà còn góp phần tạo hứng thú học tập
bộ môn cho HS Nếu học tập chỉ dựa vào canh chữ thì bài học sẽ trở nên nhàm chán
và khô khan, từ đó dẫn đến sự chểnh mảng trong học tập của HS Vì vậy cần phải giúp cho HS THPT biết tự khai thác đồ dùng trực quan trong học tập Lịch sử Có nhiều loại đồ dùng trực quan cần khai thác và sử dụng để phát triển năng lực cho HS những loại đồ dùng trực quan truyền thống như: tranh ảnh, phim tư liệu, bản đồ, biểu
đồ, sơ đồ, đồ thị; ngày này với sự phát triển của khoa học máy tính còn có thêm các
đồ dùng trực quan hiện đại như: máy tính, internet, bản đồ động, các phần mềm thiết
kế phim, thiết kế bảo tàng ào…
- Tự phát hiện và giải quyết vấn đề: Phát hiện vấn đề là trong quá trình học GV
đặt HS vào các tình huống có vấn đề (đó là những tình huống có chứa đựng những mâu thuẫn giữa những điều đã biết với điều chưa biết, giữa những ý kiến trái ngược
Trang 34thức cũng như các hoạt động xã hội của người học Giải quyết các vấn đề là việc liên
hệ kiến thức đã có và kiến thức mới, phân tích rõ đặc điểm để tìm ra giải pháp nếu chưa thể tìm ra câu trả lời nên phản hồi lại với GV hoặc trao đổi với bạn bè Vấn đề được đặt ra phải dựa vào kiến thức có liên quan đến nội dung bài học, khi đưa ra sẽ kích thích sự tò mò, hứng thú của HS Vấn đề được xây dựng dựa vào một tình huống, sự việc, hiện tượng… có trong cuộc sống cụ thể Bên trong đã chứa đựng những mâu thuẫn, không trừu tượng, thúc đẩy được động cơ học tập của người học Vấn đề không quá phức tạp cũng không quá đơn giản, có nhiều cách thể hiện và giải quyết vấn đề, từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo, các phương tiện thông tin hay từ sự hướng dẫn của GV Bên cạnh việc trang bị kiến thức LS cho HS, trong quá trình dạy học cần trang bị cho HS biết trình bày và làm bài thi, vậy các em mới có thể chứng minh được khả năng học tập của mình, mới có thể biến được những kiến thức từ thầy cô thành kiến thức của bản thân thông qua cách trình bày của riêng mình
- Tự kiểm tra, đánh giá và củng cố kiến thức: Thực hiện hoạt động tự ôn tập
củng cố kiến thức chính là việc HS hoàn thành các bài tập do GV đưa ra trước và sau mỗi giờ học Hình thức của việc tự ôn tập củng cố kiến thức chủ yếu diễn ra hai loại hình là tự học ở nhà và tự học trên lớp Tự kiểm tra đánh giá chính là quá trình người học tự thu thập, xử lý những thông tin về việc lĩnh hội kiến thức, hình thành KN và bồi dưỡng tư tưởng đạo đức Hoạt động tự kiểm tra đánh giá thực chất là một trong các hoạt động tự chủ và tự học trong học tập Phát triển cho HS khả năng tự kiểm tra đánh giá, tự ôn tập và củng cố kiến thức góp phần đổi mới phương pháp theo hứng tích cực hóa người học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nó có ý nghĩa trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ
- Tự tìm hiểu, HS nhận thức được điểm mạnh và điểm yếu của mình, nắm
vững các kỹ năng thực hành, học tập của bộ môn LS để vận dụng tốt những kỹ năng
đó và biết cách sửa đổi hành vi cá nhân một cách hợp lý để giải quyết những vấn đề học tập trong bối cảnh mới hoặc gắn luền với thực tiễn
Ngoài những thành tố gắn liền với kỹ năng tự học trong bộ môn LS nói trên, NLTC và TH của HS còn gắn liền với những nhân tố tác động đến hứng thú học tập của HS Đặc biệt là động lực học tập của HS
Động lực là suy nghĩ về lý do tạo sao các mục tiêu học tập là quan trọng đối
Trang 35với người học, cá nhân; tự kiểm tra những khó khăn mà HS có thể gặp phải, và những điểm yếu có liên quan đến nhiệm vụ, nhận thức được nhiệm vụ khó khăn như thế nào (tức là, đánh giá nhiệm vụ tải nhận thức vốn có)
1.1.4 Mối liên hệ giữa phát triển năng lực tự chủ và tự học và năng lực chuyên biệt của bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Lịch sử THPT mới nhất vừa được
Bộ giáo dục và đào tạo ban hành tại Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT Theo đó, Thông tư này sẽ sửa đổi bổ sung một số nội dung Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phân tích và phân NL chuyên biệt cho bộ môn LS thành 3 loại:
Nhận thức và tư
duy lịch sử
- Giải thích được nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch
sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các sự kiện lịch sử; lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử
- Đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ sở nhận thức và
tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều huớng khác nhau khi xem xét, đánh
Trang 36giá, hay đi tìm câu trả lời về một sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử
Vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã
học
Rút ra được bài học lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử
để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó,
có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời
Trong quá trình tổ chức cho HS vận dụng các năng lực chuyên biệt bộ môn LS
để giải quyết các vấn đề học tập khác nhau sẽ góp phần phát triển NLTC và TH của
HS, cụ thể là:
- NL tìm hiểu LS là NL cốt lõi cần phải trang bị cho HS trong quá trình DHLS
ở trường THPT Vì mục tiêu DH hiện nay là dạy cho HS biết cách học phù hợp với khả năng nhận thức của HS, trên cơ sở phát huy tính tự giác, tự học, độc lập và sáng tạo trong quá trình nhận thức Theo đó, NL học tập LS đầu tiên của HS là khả năng nhận diện và khai thác các nguồn sử liệu để phục vụ việc học tập HS phải có kĩ năng tìm hiểu, tự nhận diện và đánh giá được nguồn tư liệu đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, hữu ích cho quá trình học tập Đồng thời, biết cách sưu tầm tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau như tư liệu trong SGK, sách tham khảo, từ mạng internet, báo chí, hay những kiến thức từ cuộc sống hiện tại, Tiếp đó, HS phải biết khai thác nguồn tư liệu hợp lí và hiệu quả trong quá trình học tập như sử dụng tư liệu để trình bày hoàn cảnh, diễn biến, kết quả của một sự kiện LS hay mô tả quá trình hoạt động của một nhân vật LS Qua đó, tái hiện được bức tranh hiện thực của quá khứ, giúp HS biết LS diễn ra một cách chính xác, sinh động và hấp dẫn, làm cơ sở để hiểu được bản chất của các sự kiện, hiện tượng, nhân vật LS
- NL nhận thức và tư duy LS là NL chuyển tiếp trong mối quan hệ từ việc
“biết - hiểu - vận dụng” kiến thức, cụ thể hơn là trong mối quan hệ chặt chẽ giữa các NL đặc thù của môn LS “tìm hiểu - nhận thức, tư duy - vận dụng” Đây là NL
có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc cơ bản của khoa học LS, đó là thông qua việc khai thác, sử dụng các nguồn sử liệu khác nhau để tái hiện, phục
Trang 37dựng một cách chân thực, khách quan sự kiện, hiện tượng LS NL nhận thức và tư duy LS chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở HS đã có kiến thức cơ bản về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, đã biết LS diễn ra một cách chính xác, trên cơ sở đó các em được hướng dẫn để tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu bản chất, mối liên hệ bên trong của các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử và đưa ra những nhận định, đánh giá, bày tỏ quan điểm cá nhân Đây là giai đoạn nhận thức lí tính, đòi hỏi
HS phải huy động các thao tác của tư duy trong quá trình nhận thức như phân tích, giải thích, so sánh, đánh giá, chứng minh, tổng hợp…
- NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS THPT được thể hiện qua việc
“Rút ra bài học LS và vận dụng kiến thức LS để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống Trên nền tảng đó, HS có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề LS, phát triển NL sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học LS suốt đời” [5, tr.8] Nhóm năng lực này hấn mạnh tính chủ động, độc lập, sáng tạo của HS trong việc tiếp cận, giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.Để hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho HS, trong quá trình DHLS ở trường THPT, GV cần chú ý sử dụng nhóm các PPDH có ưu thế như: PPDH theo dự án, PPDH tích hợp,
PP làm các bài tập nghiên cứu khoa học, PP tìm hiểu và đánh giá thực tiễn, PP tự học, tự nghiên cứu, PP học tập theo nhóm Đây là nhóm PPDH có ưu thế để khích
lệ tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo trong học tập của người học, tạo điều kiện cho HS được bộc lộ quan điểm cá nhân, khả năng liên kết kiến thức trong sách
vở với thực tiễn cuộc sống, làm cho LS trở nên gần gũi và có ý nghĩa hơn trong thực tại
Trên cơ sở vận dụng NLTC và TH sẽ giúp HS hiểu được những kiến thức cơ bản của khoa học LS; hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng và rút ra quy luật
và bài học kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại HS có thể dễ dàng tự tìm kiếm và đọc tư liệu, tự tìm hiểu những chủ đề mà mình quan tâm, tự mở rộng thâm kiến thức ngoài SGK nếu trong quá trình học các em được GV trang bị cho kiến thức về phương pháp tự học và được thường xuyên rèn luyện các thao tác cũng như được cung cấp các công cụ để hỗ trợ cho việc tự học của bản thân
Trang 38Thông qua việc vận dụng tốt các thao tác tư duy như giải thích, so sánh, đối chiếu các sự kiện, hiện tượng LS, sẽ giúp HS nhận thức rõ nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và đồng đại để rút ra được những điểm tương đồng
và khác biệt giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử, lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử Mặt khác, do sự phát triển hoàn thiện của nhận thức nên HS THPT đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường – đây chính là cơ sở cho việc tiến hành phát triển và rèn luyện những năng lực cơ bản của cá nhân, trong đó có NLTC và TH
Giữa các thành tố của năng lực LS đều cố mối quan hệ mất hiện với NLTC và
TH Trong đó, NL LS đều có những đóng góp khác nhau trong viêc hình thành và phát triển cho HS NLTC và TH Từ đó HS có thể chủ động và phát triển tốt NL của bản thân trong quá trình tham gia TH để giải quyết vấn đề
1.1.5 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh Việc phát triển NLTC và TH có vai trò vô cùng quan trọng trong việc dạy và học ở trường THPT Vì TH là yếu tố nội lực quyệt định chất lượng học tập và hoạt động dạy chính là yếu tố ngoại lực có tác dụng định hướng, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình học TC và TH là quá trình hướng tới sự phát triển của chủ thể hoạt động học, thông qua các hành động khám phá lại và dần lĩnh hội được kho tàng tri thức của nhân loại, biến thành tri thức của bản thân mình Trên cơ sở đó tự bồi dưỡng những phẩm chất, đạo đức cho học sinh Chỉ khi người học tự cố gắng, nổ lực thì quá trình học mới có kết quả Và vai trò quan trọng trong việc phát triển NLTC và TH cho HS trong dạy học LS ở trường THPT được thể hiện qua những khía cạnh sau:
Thứ nhất, phát triển NLTC và TH cho HS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Việt Nam là “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn” “Học” là quá trình lĩnh hội tri thức và thường gắn liền với lý thuyết “Hành” là quá trình ứng dụng kiến thức được dạy vào thực tế cuộc sống Như vậy có thể thấy học gắn liền với hành là điều vô cùng cần thiết Nếu chỉ có lý thuyết suông
Trang 39không thực hành thường xuyên thì khi gặp phải tình huống ứng dụng thực tế
sẽ khiến người học lúng túng, không biết cách ứng dụng ra sao Và trong hoạt động TC và TH, kiến thức mà người học chiếm lĩnh được thông qua các hoạt động
tư duy của bản thân Người có khả năng TC, TH có thể thu thập và xử lí thông tin biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, và tự kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của mình Khi HS phát huy được NLTC và TH, tự nghiên cứu mới hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức Chính trong quá trình này, tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo được nảy nở và phát triển Để biến những kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của chính mình đòi hỏi mỗi
HS phải tự học, đây là cơ sở để người học có thể học suốt đời, nâng cao trình độ trong cuộc sống
Thứ hai, phát triển NLTC và TH cho HS góp phần thực hiện chủ trường đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam Việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng NLTC và TH cho HS đã đem lại niềm
hy vọng về những sự thay đổi tích cực trong dạy và học Thực tế của ngành GD một vài năm trở lại đây vẫn còn tồn tại một số hạn chế không hề nhỏ kiến mục tiêu phát triển NLTC và TH cho HS chưa đạt được nhiều kết quả cao Đó là thói quen xấu từ việc GD truyền thống: HS phải nhất nhất vâng lời thầy cô, không chính kiến HS bị mài mòn tư duy phản biện và răm rắp, ru rú trong vỏ bọc hiền ngoan được cha mẹ quyết định thay, thầy cô “học thay” Đó là PP GD truyền thống “ thầy đọc – trò chép”, GV chỉ tập trung vào kiến thức cho HS đáp ứng yêu cầu bài học, mục tiêu thi
cử chứ chưa chú tâm vào phát triển năng lực tự lập tư duy, tự chiếm lĩnh kiến thức, chủ động trau dồi kỹ năng và hứng thú với việc học trong HS Từ những hạn chế trên, nền GD cần phải đổi mới căn bản và toàn diện Bên cạnh đó, bản thân mỗi người học cũng cần phải thay đổi tư duy, chủ động thích ứng với phương châm học tập: Tự học, tự chủ là điều cốt yếu Chỉ khi nào HS xây dựng được ý thức tự giác học tập, tích cực tìm kiếm tri thức thay vì thụ động chờ đợi lời nhắc nhở từ bố mẹ,
sự truyền đạt từ thầy cô thì kiến thức và kỹ năng mới thật sự thấm nhuần sâu sắc và bền vững
Trang 40Thứ ba, phát triển NLTC và TH cho HS góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông Bản chất của
tự học là một quá trình học tập không trực tiếp có giáo viên Chính việc tự học sẽ giúp người học nhớ lâu, vận dụng tốt, giúp con người có tư duy độc lập, trở nên năng động sáng tạo, không phụ thuộc vào người khác và có khả năng học tập mọi nơi mọi lúc, học suốt đời Việc TC và TH, kể cả khi học ở trường cũng phải độc lập,
tự chủ sẽ có kiến thức vững chắc, cùng với sự tìm tòi sáng tạo, học đi đôi với hành thì kiến thức kỷ năng có được của người học sẽ có khả năng thực hiện, khả năng hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong cuộc sống Như vậy, TC và TH là yếu tố quan trọng trong việc hình thành phát triển năng lực con người, và đây cũng là một năng lực TC, TH đạt hiệu quả cũng đã thể hiện các phẩm chất ý chí, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, TC, TH chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
Thứ tư, đây là một hoạt động không thể thiếu trong công tác giảng dạy Kiến thức của nhân loại nói chung, kiến thức LS nói riêng là một kho bách khoa toàn thư với dung lượng vô cùng lớn, GV không thể nào cung cấp cho HS một cách toàn diện, chỉ có phát triển NLTC và TH cho HS mới giúp các em lĩnh hội được kho tàng tri thức của nhân loại Đây chính là phương pháp học hiệu quả nhất
Thứ năm, NLTC và TH rất cần thiết cho mỗi con người đặc biệt trong thời kì phát triển mới của đất nước, đây chính là sức mạnh nội tại bên trong và nếu phát huy được sức mạnh này sẽ tạp ra sức mạnh toàn dân tộc
Với vai trò quan trọng như vậy phát triển NLTC và TH LS cho HS trong dạy học LS ở trường THPT có ý nghĩa hết sức to lớn đối với HS:
Thứ nhất, về mặt bồi dưỡng kiến thức: phát triển NLTC và TH không chỉ giúp
HS nắm vững những kiến thức LS cơ bản hơn cả về chiều rộng và bề sâu, mà còn trang bị cho HS những hiểu biết về phương pháp học tập bộ môn, nâng tầm hiểu