1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông

153 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Và Sử Dụng Học Liệu Số Để Phát Triển Năng Lực Của Học Sinh Trong Dạy Học Các Chủ Đề Lịch Sử Việt Nam, Môn Lịch Sử Lớp 10 Trường Trung Học Phổ Thông
Tác giả Nguyễn Thành Đạt
Người hướng dẫn THS. Đặng Thị Thùy Dương
Trường học Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA LỊCH SỬ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VI

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM, MÔN LỊCH SỬ LỚP

10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THÀNH ĐẠT

CHUYÊN NGÀNH : SƯ PHẠM LỊCH SỬ

LỚP : 19SLS

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : THS ĐẶNG THỊ THUỲ DƯƠNG

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM, MÔN LỊCH SỬ LỚP

10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THÀNH ĐẠT

CHUYÊN NGÀNH : SƯ PHẠM LỊCH SỬ

LỚP : 19SLS

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : THS ĐẶNG THỊ THUỲ DƯƠNG

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2023

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ

vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến THS Đặng Thị Thùy Dương – người đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và triên khai khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Lịch Sử - Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã luôn động viên, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn tập thể lớp 19SLS đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài khóa luận

Xin được biết ơn gia đình, những người thân đã là điểm tựa vững chắc để tôi

cố gắng hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2023

Tác giả

Nguyễn Thành Đạt

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG TRONG KHOÁ LUẬN vii

DANH MỤC HÌNH, LƯỢC ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG KHOÁ LUẬN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp đề tài 9

7 Bố cục đề tài 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến để tài 10

1.1.2 Đặc trưng của học liệu số trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 17

1.1.3 Phân loại học liệu số trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 20

1.1.4 Mối liên hệ giữa việc thiết kế và sử dụng học liệu số và phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử 21

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng học liệu số trong DHLS ở các trường trung học phổ thông 24

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

Trang 5

1.2.1 Mục đích điều tra 30

1.2.2 Đối tượng, phạm vi điều tra 30

1.2.3 Phương pháp điều tra 30

1.2.4.Nội dung điều tra 30

1.2.5 Xử lí kết quả điều tra và rút ra kết luận về thực trạng về vấn đề thiết kế và sử dụng HLS để phát triển năng lực của học sinh trong DHLS ở trường phổ thông 31

Chương 2 THIẾT KẾ HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM, LỚP 10 Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 38

2.1 Vị trí, mục tiêu, yêu cầu cần đạt các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 10 38

2.2 Nội dung các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 10 43

2.3 Một số yêu cầu có tính nguyên tắc khi thiết kế học liệu số trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 46

2.3.1 Đảm bảo tính khoa học 46

2.3.2 Đảm bảo tính hệ thống 47

2.3.3 Đảm bảo tính tương tác và tính đa phương tiện 48

2.3.4 Đảm bảo yêu cầu về mặt kĩ thuật và tính mỹ thuật 50

2.4 Ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin thiết kế các nguồn học liệu số 50

2.4.1 Quy trình thiết kế các học liệu số trong dạy học lịch sử 50

2.4.2 Một số phần mềm, nền tảng kỹ thuật số có thể khai thác để thiết kế các nguồn học liệu số trong dạy học lịch sử 58

2.4.2.1 Phần mềm Paint 59

2.4.2.2 Video Editor 61

2.4.2.3 3D Album 62

2.4.2.4 Google Forms 63

Trang 6

2.4.2.5 Kahoot 64

2.4.2.6 Google Classroom 65

2.4.2.7 Padlet 67

2.4.2.8 Googlle Earth: 68

2.4.2.9 Canva 69

2.5 Một số nội dung của chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 10 có thể khai thác để thiết kế các nguồn học liệu số 70

Chương 3 SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM, LỚP 10 Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 79

3.1 Một số yêu cầu khi sử dụng học liệu số trong môn Lịch Sử ở trường THPT 79

3.1.1 Đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học 79

3.1.2 Đảm bảo tính an toàn, hiệu quả 80

3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 81

3.1.4 Đảm bảo tính pháp lí 82

3.1.5 Đảm bảo phát triển năng lực của học sinh 84

3.2 Biện pháp sử dụng học liệu số trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT 84

3.2.1 Quy trình sử dụng học liệu số trong dạy học Lịch sử 84

3.2.2 Một số biện pháp sử dụng học liệu số trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT 86

3.2.2.1 Sử dụng HLS để tạo hứng thú học tập cho học sinh 86

3.2.2.2 Sử dụng HLS tạo tình huống học tập và nêu nhiệm vụ nhận thức 87

3.2.2.3 Sử dụng HLS để tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho HS 90

3.2.2.4 Sử dụng HLS để cụ thể hoá các sự kiện, hiện tượng lịch sử 93

3.2.2.5 Sử dụng HLS để luyện tập, củng cố kiến thức đã học 93

Trang 7

3.2.2.6 Sử dụng HLS để hỗ trợ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 95

3.2.2.7 Sử dụng HLS để phát triển năng lực tự học của học sinh 97

3.2 Thực nghiệm sư phạm 98

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 98

3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 99

3.3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 99

3.3.4 Kết quả thực nghiệm (xem phụ lục 4) 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC P1 PHỤ LỤC 1 PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT TÌNH HÌNH THIẾT KẾ VÀ SỬ

DỤNG HLS Ở TRƯỜNG THPT ĐÀ NẴNG P2 PHỤ LỤC 2 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM P25 PHỤ LỤC 3 CÂU HỎI KIỂM TRA 15 PHÚT (DÀNH CHO HỌC SINH) SAU KHI TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM P33 PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM P35 PHỤ LỤC 5 MỘT SỐ HINH ẢNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM P37

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh THPT : Trung học phổ thông

LS : Lịch sử HLS : Học liệu số CNTT : Công nghệ thông tin

NL : Năng lực

Trang 9

DANH MỤC BẢNG TRONG KHOÁ LUẬN

Bảng 1.1 Những yêu cầu cần đạt về năng lực LS của học sinh THPT 15

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát về đánh giá như thế nào về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng HLS trong dạy học môn LS ở trường THPT 32

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát GV về các định dạng HLS và mức độ sử dụng trong quá trình DHLS 33

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát ý kiến của GV về những khó khăn thường gặp phải khi sử dụng HLS trong DHLS ở trường THPT 34

Bảng 1.5 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát HS về mức độ hứng thú của HS khi được tham gia các biện pháp dạy học trong bộ môn LS 35

Bảng 2.1 Yêu cầu cần đạt của các chủ đề LSVN lớp 10 ở trường THPT 39

Bảng 2.2 Kịch bản công nghệ 52

Bảng 2.3 Bảng tổng hợp các công cụ để thiết kế và số hoá các nguồn HLS 57

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, LƯỢC ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG KHOÁ LUẬN

* Danh mục hình trong khoá luận:

Hình 2.1 Các công cụ vẽ hình, chỉnh sửa hình 60

Hình 2.2: Thiết kế ứng dụng video editor 62

Hình 2.3 Thiết kế ứng dụng 3D Album trong dạy học 63

Hình 2.4 Thiết kế phiếu câu hỏi ở ứng dụng Google Fomrs trong dạy học 64

Hình 2.5: Thiết sử dụng Kahoot trong dạy học 65

Hình 2.6: Thiết kế ứng dụng Google Classrom trong dạy học 66

Hình 2.7: Thiết kế ứng dụng Padlet trong dạy học 68

Hình 2.8 Hình ảnh bản đồ Việt Nam để xác định vị trí nền văn hóa Óc Eo Sử trên nền tảng Google Earth 69

Hình 2.9: Thiết kế phiếu học tập trên ứng dụng Canva 70

Hình 3.1 Kĩ thuật See – Think - Wonder 88

Hình 3.2.: Hình ảnh 3D của Thánh địa và bảo tàng Mỹ Sơn trên nền tảng Vr360 92

Hình 3.3 Phiếu học tập Tìm hiểu về thủ công nghiệp Phù Nam 93

Hình 3.4: Sử dụng Kahoot để củng cố kiến thức trong dạy học bài 11: Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam 95

Hình 3.5: Sử dụng Paldlet để củng cố kiến thức trong dạy học bài 11: Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam 98

* Danh mục các lược đồ trong khoá luận: Lược đồ 2.1 Lược đồ Vương quốc Chăm-pa (từ thế kỷ II đến thế kỷ X)……… 60

Lược đồ 2.2 Lược đồ Vương quốc Chăm-pa (từ thế kỷ II đến thế kỷ X) đã xử lí 61

Lược đồ 2.3 Lược đồ đồng về Vương quốc Chăm-pa (từ thế kỷ II đến thế kỷ X) 61

* Danh mục các sơ đồ trong khoá luận: Sơ đồ 3.1 Sơ đồ về quy luật ra đời của Nhà nước 89

Sơ đồ 2.2 Quy luật đặc thù về sự ra đời của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc 90

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, với sự phát triển một cách vượt bậc của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã tạo ra những bước đột phát lớn trong mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của con người Không đứng ngoài xu thế phát triển đó, trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành xu hướng phát triển mới của giáo dục thời đại Chuyển đổi số trong giáo dục sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển và mở rộng nhiều hình thức dạy học mới, bên cạnh hình thức dạy học trực tiếp, chúng ta có thể tiến hành dạy học trực tuyến bằng cách đưa công nghệ vào chính bài dạy của mình; giuos GV và học sinh có thể tiếp cận với những nguồn tri thức rộng lớn để hỗ trợ cho các hoạt động dạy học của mình

Tại Việt Nam, song song với công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng, “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định

hướng đến năm 2030” cũng rất được chú trọng với nội dung trọng tâm là đến năm

2030 sẽ đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong

thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới Trong đó giáo dục Việt Nam cần “Phát

triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số liệu hóa tài liệu, giáo trình xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực truyến Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa… Ứng dụng công nghệ số để giao bài tập về nhà và kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp” Vì vậy, việc thiết kế và xây dựng nguồn HLS để hỗ trợ cho việc dạy học

ở trường phổ thông rất được chú trọng Đây được xem là một trong những nền tảng quan trọng hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi số trong hoạt động dạy học về sau

Đối với bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông việc thiết kế và sử dụng các

nguồn HLS trong quá trình dạy học sẽ giúp chohọc sinh (HS) và GV (GV) có thể chủ

động tiếp cận không giới hạn nguồn tài nguyên lịch sử, để khai thác và thúc đẩy việc phát triển phẩm chất, năng lực của HS Từ đó sẽ góp phần mở rộng không gian học tập cho HS, giúp HS có điều kiện được tiếp cận một cách gần nhất với các không gian lịch sử qua từng thời kì, kết nối các địa điểm lịch sử khác nhau để có được nhữ

ng hình dung rõ nét nhất về hiện thực lịch sử đã từng diễn ra trong quá khứ

Trang 12

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Thiết kế và sử dụng

học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử Việt Nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Xu hướng ứng dụng CNTT mà cụ thể là HLS trong các hoạt động dạy học phát triển năng lực của học sinh đã được thu hút được nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu như:

Tác giả N.G Đai-ri đã khẳng định trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” (Bản tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1973) về vai trò của việc đảm bảo tính

trực quan trong dạy học: “Tính cụ thể, hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao,

bởi vì chúng cho phép hình dung lại quá khứ” [22, tr.25] Đồng thời, tác giả cũng

liệt kê yêu cầu về sử dụng phương tiện trực quan là một trong yêu cầu quan trọng nhất của giờ học và coi đó là “một nguồn nhận thức” quan trọng cho người học [22, tr.9] Những khẳng định này là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi xác định vai trò của HLS trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng

Các tác giả Terry Haydn và Christine Counsell trong cuốn “Môn Lịch sử, công nghệ thông tin và việc học tập tại trường phổ thông” (History, ICT and Learning in the Secondary school, Routledge Falmer, 2003) đã đưa ra những phân tích về vai trò của CNTT trong DHLS dựa trên cơ sở đánh giá thực tế việc sử dụng CNTT của GV ở Vương quốc Anh trong hơn 20 năm qua, chỉ ra những “ngộ nhận” của GV về sức mạnh của CNTT và giá trị thực sự của nó Từ đó, tác giả khẳng định:

“Việc sử dụng công nghệ thông tin trong DHLS có thể giúp thuyết phục học sinh rằng lịch sử là quan trọng, hữu ích và có ý nghĩa thực tế Sử dụng một cách linh hoạt, công nghệ thông tin sẽ tạo nên những ảnh hưởng tích cực đến thái độ của học sinh với việc học tập nói chung và học tập môn Lịch sử nói riêng” [32, tr.33] Trong

đó, xây dựng các gói học liệu (learning packages) dưới hình thức trang web học tập

là một trong những gợi ý thiết kế HLS cho bài học cụ thể giúp GV cải thiện chất lượng dạy học, phát triển năng lực của HS: “Trang web học tập có thể bao gồm nhiều tài liệu có giá trị: văn bản, phim tư liệu, tranh ảnh Một số trang web còn cho phép truy cập đến các tư liệu gốc và số liệu cập nhật Nó có thể là cung cấp dữ liệu

Trang 13

để học sinh thảo luận hoặc cho phép học sinh để tạo ra một sản phẩm mới” [32, tr 75] Như vậy, khi sử dụng CNTT nói chung, HLS nói riêng, trong đó có trang web học tập trong DHLS, GV cần “tỉnh táo” nhìn rõ những ưu nhược điểm của từng phương tiện để có thể phát huy tốt nhất sức mạnh của công nghệ

Tác giả Adesote, S.A và Fatoki, O.R trong bài viết “Vai trò của công nghệ

thông tin trong dạy và học lịch sử trong thế kỉ 21” (The role of ICT in the teaching

and learning of history in the 21st century, Global Journal of Education Research, 2013) bên cạnh việc chỉ ra ý nghĩa to lớn của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục đã đưa ra những phân tích khái quát về vai trò của CNTT trong DHLS Theo tác giả, vai trò của CNTT đối với việc DHLS trong thế kỉ XXI tác động đến 4 phương diện: GV, học sinh, hình dung về lịch sử và các quy tắc dạy học [28, tr.2157] Các

tác giả còn chỉ rõ: “Nếu trước đây, GV bị giới hạn bởi nguồn lực và công cụ khi

thực hiện chương trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học thì hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, những trở ngại và khó khăn của quá khứ đã được giải quyết,… sự xuất hiện của công nghệ thông tin đã khẳng định tính đúng đắn của nhiều lý thuyết giáo dục cổ điển, trong đó thừa nhận việc học tập là quá trình hoạt động chiếm lĩnh kiến thức hơn là tiếp nhận kiến thức và giảng dạy là quá trình hướng dẫn chiếm lĩnh kiến thức hơn là quá trình chuyển giao kiến thức” [28, tr 2158] Từ đó, tác giả kết luận, CNTT sẽ giúp việc DHLS trở nên

cụ thể hơn “lịch sử sẽ trở thành một chủ thể sống động chứ không phải là nghiên

cứu về những vấn đề “đã chết”” [28, tr 2158] Như vậy, việc sử dụng CNTT trong

DHLS là một xu thế tất yếu trong bối cảnh hiện nay Và xu thế này hoàn toàn không phủ nhận những thành quả của dạy học truyền thống

Trong cuốn “DHLS trong thời đại kỹ thuật số” (Teaching History in the

Digital Age, The University of Michigan Press) của tác giả T Mill Kelly (2013) đã nêu ra những thuận lợi và thách thức của việc giảng dạy lịch sử trong bối cảnh mới với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự đa dạng, phong phú của các nguồn học liệu Để trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để học sinh có thể học tốt lịch

sử trong một thế giới mà HS có sẵn hàng triệu cuốn sách và hàng tỉ học liệu trên Internet chỉ qua một cú nhấp chuột?” [31, tr.77], tác giả dành toàn bộ chương 2 để xây dựng nguyên tắc tìm kiếm và sử dụng HLS trên Google Trong đó, để kiểm tra tính xác thực của học liệu trên một trang web, tác giả đề xuất quy trình bốn bước

Trang 14

sau: Bước 1 Xác định cá nhân/đơn vị sở hữu trang web Bước 2 Kiểm tra gói siêu

dữ liệu trang web dùng để thu hút lượng người truy cập Bước 3 Xem lịch sử hoạt động của trang web Bước 4 Kiểm tra phản hồi của người truy cập [31, tr.26 - 45] Với chương 3, tác giả phân tích ý nghĩa và những lưu ý khi sử dụng các nguồn học liệu cụ thể: hình ảnh, văn bản, đồ họa địa lý… trong DHLS Những chia sẻ của tác giả là cơ sở để việc tìm kiếm, lựa chọn HLS sẵn có để xây dựng trang web học tập trở nên hiệu quả và chính xác hơn

Những nghiên cứu trên đã bước đầu khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng HLS nói chung trong DHLS, đồng thời đi sâu phân tích vai trò, quy trình, hiệu quả sử dụng của một số loại HLS có thể sử dụng trong DHLS như: website học tập; phim tư liệu; trò chơi học tập; sách điện tử (e-book), bài giảng điện tử …

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam nghiên cứu sử dụng HLS về dạy học phát triển năng lực của

HS được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau:

Trong cuốn “Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng GV phổ thông cốt cán Mô đun 9:

Ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục học sinh trung học phổ thông môn Lịch sử” do nhóm Biên soạn

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ GV tổ chức và thực hiện được các hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018, đồng thời giúp GV nâng cao năng lực, phát triển chuyển môn nghiệp

vụ theo các tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở giáo dục phổ thông Trình bày được vai trò, phân tích đánh giá, lựa chọn thực hành của CNTT, HLS và thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục học sinh

Trong cuốn “Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông”, Nxb Giáo dục, của tác giả Phan Ngọc Liên, Phạm Kì Tá (1975) và cuốn “Kênh hình

trong DHLS ở trường Trung học phổ thông”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội của

tác giả Nguyễn Thị Côi (2000) đều đã nhấn mạnh vai trò của nguyên tắc trực quan trong DHLS và đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho việc sử dụng từng loại trực quan

Trong cuốn “Phương pháp DHLS”, NXB Đại học Sư phạm, tập 2 do Phan

Ngọc Liên chủ biên (2002), các tác giả một lần nữa khẳng định vai trò của nguyên

tắc trực quan trong dạy học nói chung và đặc biệt với DHLS nói riêng: “Nguyên tắc

Trang 15

trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật” [18, tr.43] Đối với

môn Lịch sử: “Do đặc điểm của việc học tập lịch sử - không trực tiếp quan sát các

sự kiện - nên phương pháp trực quan có ý nghĩa rất quan trọng Có nhiều loại đồ dùng trực quan khác nhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau, song đều có tác dụng nâng cao chất lượng DHLS Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học hiện nay không chỉ giới hạn ở việc sử dụng bản đồ, tranh ảnh, mô hình mà còn có các loại phương tiện kĩ thuật hiện đại” [18, tr.43] Những nguyên tắc này là

định hướng cho việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong DHLS

Các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh

Tường (2002), trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp DHLS”, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội cũng đã nhấn mạnh ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong DHLS:

“Đồ dùng trực quan nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát và hứng thú” [17, tr.40] Bên cạnh đó, các tác giả cũng nêu rõ những lưu ý tránh việc

lạm dụng và sử dụng không đúng mức đồ dùng trực quan Đây là những lưu ý quan trọng, giúp xác định yêu cầu và nguyên tắc khi thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS

Trong cuốn “Hệ thống các phương pháp DHLS ở trường Trung học cơ sở”, NXB

Đại học Sư phạm, do tác giả Trịnh Đình Tùng chủ biên (2006) đã cụ thể hóa hệ thống PPDH phù hợp với môn Lịch sử Trong đó, tác giả đi sâu phân tích vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu khai thác trên Internet trong DHLS, chỉ ra những ưu

thế của nguồn tài liệu trên Internet: “về dung lượng”; “khả năng truy cập”; “về

loại hình”; “về nội dung” và coi đó không chỉ là “một nguồn nhận thức lịch sử”

mà còn có “ý nghĩa rất quan trọng đối với giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh” trong học tập môn Lịch sử [26, tr.132] Đồng thời, tác giả giới thiệu một số

phương pháp khai thác tài liệu trên Internet đối với các website cụ thể như: http://vnexpress.net/; http://thesevenwondersoftheworld.com/ và khẳng định “Sử dụng tài liệu trên Internet trong DHLS có tác dụng thiết thực trong việc phát triển

Trang 16

học sinh Qua niềm say mê, hứng thú bộ môn, đã giúp học sinh phát huy được tư duy độc lập, biết cách tổ chức các công việc mà thầy, cô giao cho Việc để các em

tự tìm kiếm các tài liệu phục vụ bài học sẽ phát huy được năng lực nhận thức độc lập, rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn, khiến các em tự tin rất nhiều khi học, tránh được lối học thụ động” [26, 24 tr.138] Như vậy, xét ở góc độ phương pháp, các tài liệu khai thác trên các website cụ thể đã được sử dụng như một nguồn HLS phục vụ hiệu quả cho quá trình DHLS

Tác giả Nguyễn Thị Côi (2006) trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng

cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông”, Nxb Đại học Sư phạm đã nêu rõ vai trò

của việc sử dụng đồ dùng trực quan - được coi như một biện pháp đổi mới dạy học

theo mô hình “lấy học sinh làm trung tâm”: Sử dụng đồ dùng trực quan như một

nguồn kiến thức GV nêu vấn đề gợi mở HS sử dụng đồ dùng trực quan và tự rút ra nhận xét” [9, tr 28] Do đó, khi xây dựng các biện pháp sử dụng HLS không đơn thuần mang tính minh họa GV dùng đồ dùng trực quan để trình bày kiến thức cho

HS mà hơn hết cần hướng dẫn HS tự khai thác HLS và lĩnh hội kiến thức theo mục tiêu bài học

Cũng tiếp cận dưới góc độ phương pháp dạy học, tác giả Vũ Quang Hiển và Hoàng Thanh Tú, đã đưa ra quan điểm của mình về việc sử dụng phương tiện trực

quan nói chung trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học

phổ thông”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014: “Đồ dùng phương tiện trực quan

là một phần không thể thiếu trong môi trường dạy học với tác dụng tạo nên sự 25 tương tác giữa người dạy và người học” [13, tr.78] Tuy nhiên “Phương tiện chỉ là công cụ trợ giúp việc chuyển tải nội dung Nó không quyết định đến toàn bộ chất lượng giảng dạy Tùy nội dung từng bài, từng phần trong bài, GV lựa chọn phương pháp giảng dạy và phương tiện kèm theo phù hợp” [13, tr.78] Đây có thể coi là

nguyên tắc cần lưu ý khi sử dụng các phương tiện trực quan nói chung và học liệu điện tử nói riêng

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm lịch sử,

các tác giả của cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB

Đại học Sư phạm, 2011 đã khẳng định kĩ năng ứng dụng thành tựu CNTT và DHLS

là cần thiết trong bối cảnh hiện nay và tập trung vào kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet; kĩ năng sử dụng công cụ MS PowerPoint Hướng dẫn GV thiết kế,

Trang 17

tiến hành bài giảng điện tử là một trong hai mục đích quan trọng của kĩ năng sử dụng MS PowerPoint Nếu hiểu theo nghĩa rộng, bài giảng điện tử cũng là một loại HLĐT “được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định” [10, tr.148]

Vì vậy, trong DHLS GV có thể sử dụng bài giảng điện tử như một HLĐT độc lập trong đó bao gồm nhiều HLĐT đơn lẻ: phim tư liệu, tranh ảnh

Bên cạnh đó, những năm gần đây các công bố về ứng dụng CNTT nói chung,

sử dụng HLS trong DHLS nói riêng trên các tạp chí, hội thảo của các chuyên gia giáo dục Lịch sử ngày càng phổ biến Trước hết, các bài viết thống nhất khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng CNTT nói chung trong việc đổi mới PPDH Lịch

sử Cụ thể: Bài viết “Ứng dụng công nghệ thông tin tạo phần mềm trong DHLS ở trường phổ thông”, Lê Ngọc Thu, Tạp chí Giáo dục số 108 (2005), tr 27 - 28;

“Công nghệ thông tin và truyền thông với vấn đề đổi mới phương pháp DHLS ở trường phổ thông”, Nguyễn Mạnh Hưởng, Tạp chí Giáo dục số 185 (3/2008), tr 41

- 43

Ngoài ra, nghiên cứu về CNTT nói chung, và học liệu ở những khía cạnh nhất định trong DHLS còn có luận án Tiến sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tiêu biểu là: “Sử dụng phần mềm PowerPoint trong DHLS ở trường Trung học phổ thông (Qua bài nghiên cứu kiến thức mới phần Lịch sử thế giới lớp 10)”, Đoàn Văn

để phát triển năng lực của học sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học

bộ môn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài đề ra các nhiệm vụ cụ thể:

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận PPDH liên quan đến sử dụng HLS trong DHLS ở trường THPT

Trang 18

- Khảo sát thực trạng việc thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS ở trường THPT để làm cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài

- Thiết kế và sử dụng HLS trong DH một số chủ đề lịch sử Việt Nam lớp 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được xác định là: Quá trình “Thiết kế và sử dụng học

liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử Việt Nam, lớp 10 trường trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về lý luận dạy học bộ môn: Đề tài tập trung nghiên cứu những lý

luận liên quan đến vấn đề thiết kế và sử dụng nguồn HLS Từ đó đề xuất một số

nguyên tắc và biện pháp để thiết kế và sử dụng nguồn HLS ở trường THPT

- Phạm vi về nội dung: thiết kế và sử dụng nguồn HLS trong dạy học các chủ

đề lịch sử Việt Nam, lớp 10 ở trường THPT, qua bài học nội khóa (bài cung cấp kiến thức mới)

- Phạm vi điều tra: Tiến hành điều tra về thực trạng thiết kế và sử dụng nguồn

HLS trong dạy học các chủ đề lịch sử Việt Nam ở các trường THPT Đà Nẵng

- Phạm vi về thực nghiệm: Để kiểm tra tính khả thi của đề tài chúng tôi tiến hành

thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT tại thành phố Đà Nẵng (theo nguyên tắc

từ điểm suy ra diện)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng nhằm xác định cơ sở lí luận

và thực tiễn cho đề tài ứng dụng HLS trong dạy học, đặc biệt là lý luận về HLS và các hình thức dạy học thông qua đọc, sưu tầm và phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí, Internet ; nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa lịch sử lớp 10 hiện hành và

Trang 19

dự thảo chương trình môn học lịch sử sau 2018 để lựa chọn nội dung, chủ đề phù hợp cho việc thiết kế HLS

5.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được sử dụng với hai mục đích: Một là, khảo sát thực trạng các hoạt động dạy học trong giờ Lịch sử lớp 10 trường THPT Hai là, kiểm chứng hiệu quả của các nguyên tắc và biện pháp trong quá trình thực nghiệm sư phạm

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm mục đích xem xét, xác nhận, kiểm tra tính đúng đắn và tính khả thi của các nguyên tắc và biện pháp sử dụng HLS trong DHLS của học sinh lớp 10 THPT

Trang 20

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG

DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến để tài

* Học liệu

Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, trong thập kỷ thứ hai của thế kỉ XXI, chuyển đổi số đã trở thành một hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới Tiếp cận với những tác động, ảnh hưởng của công nghệ số đến sự phát triển của giáo dục, hiện nay nhiều nhà nguyên cứu rất chú trọng đến việc nghiên cứu và phát triển các nguồn “học liệu” phục vụ cho hoạt động giáo dục Trên

cơ sở đó, khái niệm “học liệu” ngày càng trở nên phổ biến, xuất hiện thường xuyên hơn trong các bài viết, báo cáo khoa học, có nhiều trung tâm nghiên cứu và sản xuất học liệu, với những cách hiểu sau:

Trên thế giới, “học liệu” được gọi bằng một số thuật ngữ tiếng Anh khác

nhau như: Teaching materials (tài liệu giảng dạy), Learning materials (tài liệu học

tập), Instructiongal materias (tài liệu hướng dẫn học tập… nhưng khái niệm “học

liệu” cơ bản được hiểu theo giải nghĩa là: “những phương tiện được sử dung để hỗ trợ cho việc truyền đạt kiến thức hoặc phát triển kĩ năng Ví dụ như sách giáo khoa, các nguồn tài liệu nghe nhìn, các chương trình máy tính và thiết bị thí nghiệm…”

theo Từ điển GreenWood về giáo dục” (The Greenwood Dictionary of Education)

Ở Việt Nam học liệu được hiểu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập, nghiên cứu, có thể sử dụng dưới dạng truyền thống (tranh ảnh, ảnh thẻ) Do đó có thể hiểu chung nhất về học liệu là các phương tiện vật chất mang, lưu giữ nội dung tri thức với ý tưởng sư phạm cụ thể để phục vụ dạy

Trang 21

phản ánh nội dung học tập, nghiên cứu Học liệu có thể sử dụng dưới dạng truyền thống (tranh ảnh, ảnh dạng thẻ) và học liệu điện tử Học liệu điện tử là các tài liệu học tập được số hóa theo một kiến trúc định dạng và kịch bản nhất định, được lưu trữ trên các thiết bị điện tử như CD, USB, máy tính, mạng máy tính nhằm phục vụ cho việc dạy và học Dạng thức số hóa có thể là văn bản (text), bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video, phần mềm máy tính và hỗn hợp các dạng thức nói trên”

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra được một số đặng trưng của

khái niệm học liệu như sau: học liệu là các phương tiện vật chất mang, lưu giữu nội

dung tri thức với ý tưởng sư phạm cụ thể phục vụ việc dạy và học Học liệu gồm hai đặc trưng quan trọng nhất là: lưu trữ thông tin và nội dung tri thức thẻ hiện ý tượng

sư phạm cụ thể

* Học liệu số, thiết kế và sử dụng học liệu số

Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, trong thập kỷ thứ hai của thế kỉ XXI, chuyển đổi số đã trở thành một hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới, và được xem là chìa khóa nâng cao hoạt động, gia tăng năng lực cạnh tranh cho các tổ chức kinh tế, xã hội Đối với giáo dục, công nghệ số đã đưa đến sự ra đời và phát triển của các phương thức, phương tiện dạy học hiện đại chưa từng có trước đây, trong đó có “học liệu số” (hay còn gọi là học liệu điện tử)

Khái niệm “học liệu số” mới xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX, cùng với sự ra đời phát triển của CNTT và được hiểu cùng một ý nghĩa với từ tiếng Anh là: “courseware”, được kết hợp từ “khóa học” (course) và “phần mềm” (software) [30, tr 823] Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “học liệu điện tử” - “courseware” nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất ba cách hiểu cơ bản về bản chất của “học liệu điện tử”:

Thứ nhất, theo nghĩa hẹp, HLS được hiểu là phần mềm giáo dục cụ thể được “đóng gói” dùng để tạo ra một phần khóa học hoặc một khóa học e- learning hoàn chỉnh (e - learning được hiểu là hình thức dạy học thông qua mạng Internet)

Thứ hai, theo nghĩa rộng, HLS là khóa học e - learning hoàn chỉnh với đầy đủ 4 cấu phần (thông tin chung về khóa học; hướng dẫn học tập; nội dung khóa học; tài liệu tham khảo chung) đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau: Thể hiện rõ ràng mục tiêu học tập; Cấu trúc rõ ràng, logic; Có nội dung

Trang 22

chính xác, phù hợp với mục tiêu học tập; Giao diện thân thiện, dễ sử dụng, thuận tiện khi duyệt qua nội dung học tập; Hỗ trợ tìm kiếm thông tin, Để thiết kế và phát triển “học liệu điện tử” theo nghĩa này đòi hỏi sự tham gia của một nhóm các chuyên gia thuộc các lĩnh vực: giáo dục, thiết kế đồ họa, lập trình

Thứ ba, theo cách hiểu chung nhất học liệu điện tử được hiểu là hệ thống phương tiện học tập được số hóa theo ý tưởng sư phạm cụ thể nhằm phục vụ việc dạy và học Dạng thức số hóa có thể là văn bản, trang trình chiếu (slide), bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video số, các ứng dụng tương tác… và cả phương tiện hỗn hợp gồm các dạng thức nói trên] Số hoá

ở đây được hiểu là “việc sử dụng các thiết bị công nghệ số để chuyển đổi các hình thức tài liệu dưới dạng truyền thống sang dạng số để thông tin có thể được xử lí, lưu trữ và truyền phát qua các thiết bị kĩ thuật số và trên mạng Internet”

Ở Việt Nam, việc tiếp cận khái niệm HLS theo cách hiểu thứ ba được sử dụng một cách phố biến Cụ thể là:

Theo Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016 của Bộ GDĐT về

quy định ứng dụng CNTT trong quản lí, tổ chức đào tạo qua mạng: “Học liệu điện

tử là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: sách giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo ”

Trong Thông tư số 21/2017/TT-BGDĐT ngày 06/9/2017 của Bộ GDĐT về quy định ứng dụng CNTT trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn qua mạng Internet

cho GV, nhân viên và cán bộ quản lí giáo dục xác định: “Học liệu số (hay học liệu

điện tử) là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: Giáo trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác”

Từ những quan điểm nêu trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về

thuật ngữ “học liệu số” hay “học liệu điện tử” như sau: HLS (hay “học liệu điện

Trang 23

tử”) là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, gồm: giáo trình điện tử, sách giáo khoa (SGK) điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện

tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện

tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác Những học liệu này được số hóa theo kiến trúc định dạng và kịch bản nhất định, được lưu trữ trên các thiết bị công nghệ, điện tử như CD, USB, máy tính, mạng máy tính nhằm phục vụ cho việc dạy và học

Hiện nay, các nền tảng công nghệ trọng tâm của cách mạng 4.0 như IOT, Big Data, AI, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cập kho kiến thức khổng lồ trên môi trường mạng được nhanh chóng, dễ dàng; tạo điều kiệncho người dung có thể

sử dụng các nền tảng công nghệ để xây dựng các loại HLS khác nhau

Từ đặc trưng trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát việc thiết kế và sử

dụng HLS trong DHLS là quá trình GV tạo nên HLS với các định dạng khác nhau

dựa trên hệ thống tư liệu sẵn có hoặc GV tái tạo theo mục đích sư phạm cụ thể Hệ thống HLS này được tập hợp trong một trang web học tập mà GV sẽ sử dụng theo hai hình thức dạy học (dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp) một cách linh hoạt, phù hợp với các mô hình lớp học, thực tế dạy học và đối tượng người học đa dạng

Theo từ điển Tiếng Việt: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên

sẵn có để thực hiện một hành động nào đó NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [24, tr.596]

Đứng về góc độ tâm lý, NL được xem là một tổ hợp các thuộc tính tâm lí để đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đem lại hiệu quả cao cho hoạt động đó, với

những quan niệm khác nhau Theo từ điển tâm lí học thì: “NL là tập hợp các tính

chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [19, tr.31]

Trong tác phẩm “Giáo dục học hiện đại (những nội dung cơ bản)” tác giả

Trang 24

Thái Duy Tuyên cho rằng: “NL là những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là điều

kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định NL có quan

hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo NL thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động Một số NL có thể đo được bằng trắc nghiệm” [27, tr.25]

Về mặt cấu tạo, NL được hình thành trên cơ sở sự cộng hưởng, tác động qua lại của các thành tố kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trạng thái tâm lí: hứng thú, tính kiên trì… của chủ thể Trong đó, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là những yếu tố thuộc phạm trù “khả năng”, là những điều kiện tiên quyết cho phép con người thực hiện được một hành động nào đó NL có mối quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Kỹ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố Kỹ xảo là những hành động đã trở nên tự động hóa nhờ luyện tập Tri thức và kỹ năng,

kỹ xảo là điều kiện cần thiết (nhưng không phải là tất cả) để hình thành NL Năng lực góp phần làm cho quá trình tiếp thu tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo diễn ra

nhanh chóng và thuận lợi Hay nói cách khác, nếu khả năng phản ánh sự thành công

của hành động, thì NL lại phản ánh thiên hướng phát triển về chất của hành động

Từ những phân tích nói trên chúng ta thấy rằng: NL không phải là cấu trúc bất biến mà là một hệ thống có cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong đó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi của xã hội

Do vậy, NL không phải là một thuộc tính tâm lí duy nhất nào đó mà nó là sự thống nhất hữu cơ trong quan hệ tương tác qua lại giữa các thuộc tính tâm lí NL được hình thành và phát triển trong hoạt động, hoạt động là phương thức cơ bản để phát triển NL Tương ứng với mỗi loại hành động các thuộc tính tâm lí sẽ kết hợp thành một hệ thống để tương tác, hỗ trợ lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi cho phép hành động được tiến hành Trong sự tương tác, hỗ trợ đó sẽ có một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo, còn những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc Vì thế, trong mỗi lĩnh vực khác nhau, sẽ có những NL chuyên biệt được hình thành trên cơ

sở những thao tác tư duy, thuộc tính tâm lí nhất định phù hợp với đặc trưng nghiên cứu, học tập và thực hành của lĩnh vực đó

Trang 25

Từ những quan điểm và phân tích nêu trên chúng ta có thể hiểu một cách

khái quát: NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và

vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống

Trong chương trình giáo dục phổ thông 218 hiện nay, có 3 năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS là: Năng lực tự chủ và tự học; Năng lực gaiir quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực giao tiếp và hợp tác Trên cơ sở những NL chung cần phải hình thành cho HS trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, xuất phát từ nội dung và mục tiêu cụ thể của chương trình LS các NL chuyên biệt cần phải hình thành cho HS trong DHLS ở trường phổ thông bao gồm các NL, cụ thể ở bảng 1.3 như sau:

Bảng 1.1 Những yêu cầu cần đạt về năng lực LS của học sinh THPT

Nhận thức và tư

duy lịch sử

- Giải thích được nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch

sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các sự kiện lịch sử; lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử

- Đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ sở nhận thức và

tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều huớng khác nhau khi xem xét, đánh giá, hay đi tìm câu trả lời về một sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử

Vận dụng kiến Rút ra được bài học lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử

Trang 26

thức, kĩ năng đã

học

để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó,

có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời

Trên cơ sở vận dụng năng lực tìm hiểu vấn đề lịch sử sẽ giúp HS xác định được các nguồn thông tin, tư liệu lịch sử liên quan đến vấn đề, kết nối các sự kiện diễn trình lịch sử là những cơ sở quan trọng giúp HS có thể xác định được những yếu tố đặc thù trong quá trình phát triển của lịch sử để đưa ra được những ý tưởng mới

Thông qua việc vận dụng tốt các thao tác tư duy như giải thích, so sánh, đối chiếu các sự kiện, hiện tượng LS, sẽ giúp HS nhận thức rõ nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và đồng đại để rút ra được những điểm tương đồng

và khác biệt giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử, lí giải được mối quan hệ nhân

quả trong tiến trình lịch sử

Đặc biệt, khi HS vận dụng một cách thuần thục, linh hoạt năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học sẽ giúp HS có thể đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ sở nhận thức

và tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều huớng khác nhau khi xem xét, đánh giá, hay đi tìm câu trả lời về một

sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử Từ đó, tư duy độc lập cả HS có điều kiện được rèn lyện, phát triển

Trong quá trình DHLS, để phát triển NL của HS khi sử dụng các nguồn HLS giáo viên cần chú ý một số điểm sau:

Thứ nhất, khi thiết kế và sử dụng HLS để phát triển năng lực của HS trong

quá trình DH các chủ đề LS Việt Nam ở trường THPT GV cần lưu ý HLS phải phù hợp với mục tiêu bài học, tránh các trường hợp sử dụng sai mục đích không mang lại hiệu quả, không đạt được đến mục tiêu bài học Không chỉ hướng tới các yêu cầu cần đạt về mặt kiến thức, mà bên cạnh đó cũng cần chú trọng việc đánh giá, phát triển năng lực, phẩm chất của HS Cụ thể GV khi sử dụng HLS cho HS không chỉ lĩnh hội được nội dung kiến thức mà còn nắm được phương pháp, cách thức cần vận dụng để giải quyết tốt các vấn đề được đặt ra Qua đó giúp HS phát triển toàn diện

Trang 27

đến cả trí dục, đức dục, kỹ năng và thái độ sống

Thứ hai, khi sử các nguồn HLS, GV cần chú ý đến việc kết hợp với các kỹ

thuật dạy học, câu hỏi, bài tập nhận thức… để hướng dẫn HS cách khai thác, thu thập thôn tin để giải quyết các nhiệm vụ học tập được đặt ra Qua đó mới phát huy được tối đa những đặc tính của các nguồn HLS hướng đến việc sử dụng HLS phát triển năng lực và phẩm chất của HS

Thứ ba, trong quá trình sử dụng GV cần chú ý đến việc hình thành và phát

triển cho HS kỹ năng khai thácm sử dụng các nguồn HLS liên quan đến môn LS, giúp HS có được những kỹ năng cần thiết để ứng dụng vào nhiều bài học LS và nhiều bối cảnh học tập khác nhau

1.1.2 Đặc trưng của học liệu số trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

Trong thời đại kỉ nghuyên số, xu hướng giáo dục hiện tại đang dần chuyển từ

mô hình giáo dục thông tin sang tri thức và nhấn mạng đến khả năng tự học và thích ứng của học sinh trong những môi trường, bối cảnh xã hội khác nhau So với học liệu truyền thống, việc khai thác và sử dụng các nguồn HLS trong DHLS ở trường phổ thông cá nhiều ưu thế để phát triển năng lực của học sinh

Thứ nhất, HLS là những học liệu đã được số hóa, đa phương tiện không phải các nguồn tài liệu vật chất truyền thống

Phương tiện dạy học truyền thống trong môn Lịch sử như tư liệu, tài liệu thông thường chỉ có thể hiện thị dưới dạng tranh, ảnh, văn bản, mô hình, hiện vật lịch sử Tuy nhiên, với HLS tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau như phần mềm máy tính, văn bản (text), bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video, bài trình chiếu Đặc trưng này giúp HLS mang lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ HS tái tạo lại các

sự kiện, hiện thực lịch sử ở những không gian và thời gian khác nhau Ví dụ, khi tìm hiểu về kim tự tháp của Ai Cập, thay vì cho HS quan sát những hình ảnh cụ thể,

GV thông qua Google Eart để đưa HS đến Ai Cập và quan sát những hình ảnh 3D chân thật nhất về kim tự tháp của Ai Cập Hay HS có thể tham quan những công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc nổ tiếng của La Mã cổ đại gồm: Đấu trường La Mã; Diễn đàn La Mã; Đền thờ thần Vệ nữ và Rome; Cổng vòm Constantine; Bức tượng khổng lồ của Nero; Rạp xiếc Maximus; Đồi Palatine qua không gian 3D trên

Trang 28

nền tảng unimersiv: https://unimersiv.com/ancient-rome-virtual-reality/ Qua quan sát những hình ảnh được số hoá này sẽ giúp HS có được những có nhìn chân thật

nhất về các sự kiện, hiện tượng LS để hình dung được về bức trang quá khứ của LS

Thứ hai, HLS có khả năng tương tác và tính động cao

Ngày nay công nghệ đã được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học, góp phần tăng tính tương tác của học sinh thúc đẩy tính hứng thú học tập của học sinh Các nền tảng công nghệ như: điện toán đám mây và Internet kết nội vạn vật (IOT), công nghệ thực tế ảo, bảo tàng ảo, di tích ảo, Vr360… đã hình thành một nguồn HLS hết sức đa dạng không chỉ gió phần đưa thế giới bên ngoài vào lớp học mà cho phép người học có thể điều khiển hoặc làm thay đổi trạng thái của môi trường thực tại ảo bằng hành động, lời nói để tăng tính tương tác trong quá trinh học tập lịch sử Khi học sinh được quan sát các hiện vật 3D, tham quan các khu di tích, bảo tàng ảo học sinh sẽ hòa mình vào những không gian ảo được tái hiện như thật với những hình ảnh chân thực Từ đó tạo sự hứng thú học tập cho học sinh và tăn tính tương tác giữa học sinh và các sự kiện lịch sử Ngoài ra thiết bị công nghệ và HLS còn góp phần đa dạng các hình thức tương tác trong hoạt động của học sinh như: giữa học sinh – học sinh, học sinh – GV, học sinh – cộng đồng, các tương tác này tạo cơ hội phát triển năng lực và các phẩm chất của học sinh

So với các nguồn học liệu truyền thống, HLS còn có khả năng phóng to, thu nhỏ, thay đổi màu sắc, thay đổi hướng, cách di chuyển hay xuất hiện, nhiều HLS tạo hứng thú trong dạy học, giáo dục, phù hợp với hoạt động nhận thức, khám phá và vận dụng trong quá trình tổ chức hoạt động học Việc tìm kiếm thông tin trên các sách, tài liệu điện tử được thực hiện dễ dàng hơn, nhanh chóng với các siêu liên kết, các tính năng của phần mềm Tính động của HLS còn thể hiện ở khả năng lưu trữ, chuyển đổi giữa các dạng thức khác nhau, các hình thức khác nhau tùy theo ý tưởng dạy học, giáo dục và những điều kiện vận dụng cụ thể Từ đó, giúp GV có thể mửo rộng các không gian học tập và tương tác vứi HS

Thứ ba, đẩy mạnh quá trình cá nhân hóa trong quá trình học tập của học sinh

Với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với nền tảng IOT đã kết nối giữa thế giới thực, thế giới ảo và thế gới sinh vật cho phép thông tin, kiến thức, tri thức của nhân loại thường xuyên đưa lên “đám mây” để hình thành những nguồn HLS để mọi người tra cứu Sự hỗ trợ của HLS và công nghệ giáo dục đã hình thành nên

Trang 29

những lớp học kết nối giữa lớp học truyền thống và không gian học tập khác nhau như thư việc, di tích lích sử ảo, bảo tàng ảo, các website chia sẻ tài nguyên học tập… tạo điều kiện thuận lợi để học sinh lựa chọn và thiết kế các không gian học tập tối ưu hiệu quả phù hợp với cách học cá nhân, từ đó giúp học sinh nhận diện bản thân: hứng thú, tích cách, nhu cầu, ước mơ… và định hướng kế hoạch phát triển chính mình

Thứ tư, HLS có tính cập nhật cao

Nhờ khai thác ưu điểm tức thời và tốc độ của công nghệ số, việc phát hành, cập nhật nguồn HLS thường thuận tiện hơn, nhanh chóng hơn, khó bị giới hạn bởi khoảng cách địa lí hay giãn cách xã hội Nguồn HLS không ngừng được bổ sung, điều chỉnh, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng và những thay đổi của cuộc sống thực tiễn, nhằm chính xác hóa thông tin, cập nhật những kết quả của hoạt động nhận thức và khám phá những điều mới mẻ Điều này cũng nhắc nhở GV, HS cần quan tâm đến tính cập nhật thường xuyên và nhanh chóng của học liệu số để xem xét điều chỉnh phù hợp, kịp thời

Ngoài những ưu điểm nói trên, việc khai thác, sử dụng nguồn HLS trong quá trình DHLS ở trường phổ thông còn gặp một số khó khăn như:

Để khai thác hiệu quả nguồn HLS trong DHLS ở trường phổ thông, cần có

sự hỗ trợ của các nền tảng công nghệ thông tin và các thiết bị công nghệ trong quá trình dạy học Tuy nhiên hiên nay việc đồng bộ hóa cơ sở vật chất dạy học ở Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại một số hạn chế nhất định Một số trường học hiện nay vẫn chưa trang bị đầy đủ hệ thống máy chiếu, các thiết bị Internet, một số học sinh tại một số vùng khó khăn không có phương tiện thiết bị và điều kiện để tham gia học tập trên các nền tảng công nghệ… gây cản trở nhất định cho việc sử dụng các nguồn HLS trong quá trình DHLS ở trường phổ thông

Các nguồn HLS có thể khai thác và sử dụng trong quá trình DHLS ở trường phổ thông rất da dạng, phong phú Do vậy để đảm bảo được tính tư tưởng, khoa học

và phù ợp khi các nugoon HLS cho từng nội dung bài học lịch sử, cần có sự đầu tư công sức của GV trong việc tìm hiểu, chọn lọc các nguồn HLS cũng như thành thạo của GV trong việc sử dụng các nguồn ứng dụng công nghệ thông tin khi triển khai dạy học trên lớp

Trang 30

Các nguồn HLS thường xuyên được cập nhật, bổ sung, thay đổi đòi hỏi mỗi

GV cũng phải thường xuyên cập nhật những nguồn học liệu mới để bổ sung, phát triển và sử dụng vào quá trình dạy học

1.1.3 Phân loại học liệu số trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

Để nâng cao hiệu quả và thuận lợi trong quá trình sử dụng HLS trong DHLS, cần chú ý đến việc phân loại HLS Cụ thể như sau:

- Căn cứ vào định dạng các nguồn HLS được phân thành 5 loại sau:

1 Văn bản: Là những thông tin thành văn, tư liệu gốc, bài viết, tài liệu tham khảo… có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch

sử, hệ thống phiếu học tập, các gợi ý chỉ dẫn, các câu hỏi hướng dẫn HS phát iện tìm cách giải quyết các vấn đề,

2 Hình ảnh: là những ảnh tư liệu lịch sử, ảnh chụp từ các hiện vật lịch sử (công cụ lao động, vũ khí, hoa văn ) Tranh có thể là tranh đương thời hoặc tranh nghệ thuật phản ảnh nội dung lịch sử, cũng có thể là tranh ảnh được xây dựng lại dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ và tư liệu lịch sử (graphic images), tranh ảnh động (animation); sơ đồ kiến thức (organizer graphic), Ngoài tranh ảnh, còn có hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, lược đồ, bản đồ liên quan đến không gian, quá trình phát triển của sự kiện, biến cố lịch sử tương ứng với nội dung bài học

3 Âm thanh và video số: bao gồm các đoạn phim tư liệu gốc (được ghi tại thời điểm sự kiện diễn ra), các đoạn nhạc, đoạn thuyết minh, ghi âm là nguồn học liệu có tính trực quan cao, nội dung phong phú và có sự gắn kết chặt chẽ giữa âm thanh và kênh hình, tác động vào các giác quan của HS, cung cấp khối lượng thông tin lớn qua hình thức thể hiện hấp dẫn

4 Mô phỏng: gồm các phim hình lịch sử, đòa họa, trò chơi tương tác, các khu di tích, bảo tàng ảo…HS có thể “quan sát lại” hoặc mô phỏng lại quá trình xảy

ra sự kiện, hiện tượng lịch sử Với khả năng tương tác vượt trội, hệ thống HLS này

là một điểm nhấn của việc ứng dụng CNTT làm tăng hứng thú học tập của HS, và làm cho DHLS trở nên thú vị, kiến thức lịch sử “sống động” hơn

5 Hỗn hợp: bao gồm tổng hợp các định dạng HLS nói trên phổ biến hiện nay dưới dạng trang web, sách điện tử…

Trang 31

- Căn cứ vào mục đích sử dụng HLS trong các bước của hoạt động học, HLS

có thể được chia thành các loại sau:

+ HLS nội dung dạy học, giáo dục, gồm hình ảnh, video, bài trình chiếu, thí nghiệm ảo;

+ HLS nội dung kiểm tra đánh giá, gồm bài tập, câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi

tự luận, phiếu khảo sát…

- Căn cứ vào chức năng hỗ trợ hoạt động dạy học và giáo dục lịch sử, HLS được chia thành các loại sau:

1 Nguồn tài nguyên, học liệu phục vụ dạy học và giáo dục như: giáo trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài trình chiếu đa phương tiện, dữ liệu thống kê… ở dạng các tệp văn bản

2 Công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập như: bài kiểm tra, phiếu kiếm tra, bảng hỏi… ở dạng các tệp in văn bản

3 Các bài phát biểu, các bài phỏng vấn, chương trình tyền hình, bài hát, bài thơ… ở dạng các tệp tin

4 Các loại hình ảnh, đồ hoạ thông tin như: các lợc hình ảnh, tác phẩm nghệ thuật, bản đò, tài liệu hình ảnh, đề hoạ thông tin… ở dạng các tệp tin hình ảnh

5 Các loại video, phim ảnh như: phim ảnh, phin hoạt hình, phóng sự truyền hình … ở dạng các tệp tin phim ảnh 6 Các trang Wep chia sẻ tài nguyên, học liệu số: Đây là những trang sswep được phát triển phục vụ cho mục đích chia sẻ tài nguyên, HLS được khai thác, sử dụng dưới dạng các địa chỉ liên kết (link hay URL)

Việc phân loại học liệu số nên nhằm mục đích sử dụng hay vận dụng thế nào trong dạy học, giáo dục để đạt được mục tiêu, yêu cầu cần đạt Nhìn chung, các cách phân loại này chỉ mang tính tương đối Trong quá trình DHLS ở trường phổ thông tuỳ thuộc vào đặc điểm kiến thức môn học, điều kiện thực tiễn GV có thể lựa chọn và kết hợp sử dụng các nguồn HLS khác nhau

1.1.4 Mối liên hệ giữa việc thiết kế và sử dụng học liệu số và phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử

Việc sử dụng HLS trong qúa trình DHLS có vai trò quan trọng trong việc khắc phục những hạn chế trong đặc điểm của kiến thức lịch và nhận thức lịch sử của

HS Từ đó, giúp HS có được những công cụ hỗ trợ đặc lực để đi sâu tìm hiểu những

Trang 32

nội dung kiến thức của bài học và hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập được giao

Cụ thể là:

* Việc sử dụng HLS trong DHLS ở trường THPT, góp phần khắc phục những hạn chế của tính quá khứ, tính không lặc lại và tính thống nhất giữa sử và luận trong kiến thức LS

Để hình thành kiến thức lịch sử cho HS, GV cần tiến hành theo con đường: tìm hiểu sự kiện, hình thành biểu tượng lịch sử và hướng dẫn HS hình thành khái niệm, rút ra quy luật, bài học lịch sử Sử dụng HLS một cách khoa học, hợp lí sẽ giúp quá trình hình thành kiến thức cho HS trở nên sinh động và hiệu quả hơn Kiến thức của môn Lịch sử có đặc trưng riêng như: tính quá khứ, không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thống nhất giữa “sử” và “luận” Do vậy khi thiết kế và khi sử dụng HLS phải tôn trọng các đặc trưng của kiến thức lịch sử

Tính đa phương tiện của HLS với hình ảnh, video, đồ họa trực quan sẽ là một công cụ hữu ích giúp HS hình dung sinh động, chân thực về quá khứ, hạn chế tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử Do đó, việc sử dụng phương tiện trực quan nói chung và HLS nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình DHLS hiệu quả, phù hợp với đặc trưng có tính quá khứ và tính không lặp lại của kiến thức lịch sử

HLS được sử dụng trong DHLS không chỉ đa dạng về loại hình: văn bản, hình ảnh, trò chơi, phim tư liệu mà còn phải đảm bảo sự phong phú và tính hệ thống trong nội dung, thể hiện được mối quan hệ đồng đại, lịch đại của các vấn đề

38 lịch sử, không chỉ đơn thuần là sự kiện, nhân vật lịch sử mà còn là các vấn đề kinh tế, văn hóa, chính trị Do vậy sẽ góp phần thực hiện đặc trưng có tính hệ thống của kiến thức lịch sử

HLS thể hiện được sự chi tiết và sự sinh động, hấp dẫn của các sự kiện, hiện tượng lịch sử Bởi HLS được thiết kế có nhiều định dạng: văn bản, âm thanh, tranh ảnh, phim tư liệu, tranh ảnh đồ họa, các loại thẻ nhớ Trong đó, mỗi định dạng lại

có những ưu thế cụ thể trong việc khắc họa và giúp người học “tiệm cận” sự thật lịch sừ và thuận lợi trong việc vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tế cuộc sống Do

đó, việc thiết kế và sử dụng HLS sẽ phù hợp với đặc trưng có tính cụ thể của kiến thức lịch sử

* Việc sử dụng HLS trong DHLS ở trường THPT, góp phần khắc phục những khó khăn trong nhận thức kiến thức lịch sử của HS

Trang 33

Quá trình nhận thức của HS trong học tập nói chung và trong học tập môn Lịch sử nói riêng đều tuân theo quy luật nhận thức của con người nói chung, mang những đặc điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, nhận thức của HS trong học tập môn Lịch sử có tính gián tiếp

Trên cơ sở triết học, các nhà duy vật biện chứng đã đưa ra luận điểm về con đường biện chứng của nhận thức chân lí, quá trình nhận thức của HS đi “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan” [15, tr 179] Trong học tập môn Lịch sử, HS cũng phải trải qua các giai đoạn từ nhận thức cảm tính (tri giác về sự kiện, hiện tượng lịch sử cụ thể để có các biểu tượng) đến nhận thức lí tính (bằng hoạt động tư duy tích cực, độc lập, hình thành tri thức trừu tượng, khái quát) rồi liên hệ thực tiễn để kiểm tra nhận thức Theo quy luật đó, việc thiết kế HLĐT trong DHLS cần có tính tương tác cao, tạo hứng thú đối với người học giúp

HS dễ dàng có được các biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra bài học lịch sử Các định dạng đa phương tiện: âm thanh, hình ảnh, văn bản, đồ họa, video… cần được kết hợp với nhau hợp lí giúp người học tập trung, sáng tạo, vận dụng kiến thức vào học tập và đời sống

Thứ hai, nhận thức của HS trong học tập môn Lịch sử có tính logic

Lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget cho rằng sự phát triển trí tuệ thực chất là quá trình đồng hóa và điều ứng nhằm xây dựng và liên kết các sơ đồ thao tác, với các chức năng tạo ra sự thích ứng tích cực của cơ thể với môi trường Theo ông, quá trình nhận thức của con người được chia thành 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn thứ tư: từ khi trẻ 11 tuổi trở lên là giai đoạn thao tác hình thức Trong giai đoạn này, trẻ em đã biết sử dụng phép logic để tư duy về các khái niệm, thuật ngữ, biểu tượng, biết tư duy khoa học trong việc đề xuất và kiểm tra giải thuyết “Suy nghĩ của trẻ không còn bị giới hạn vào những cái trực quan, cụ thể Trẻ thích suy xét những vấn đề mang tính giả thuyết Chúng có khả năng lập luận hệ thống và suy diễn” [21, tr 419] Do đó, HLĐT được thiết kế phù hợp với nhận thức của lứa tuổi này, không chỉ đơn thuần mang tính trực quan, sinh động mà còn phải giúp HS phát triển khả năng tư duy hệ thống, khả năng lập luận, giải quyết vấn đề

Thứ ba, nhận thức của HS trong học tập môn Lịch sử có tính đa dạng HS có

các kiểu nhận thức khác nhau

Trang 34

Dựa theo thuyết về phong cách học tập được hiểu là một “kiểu nhận thức” (cognitive styles), một lý thuyết học tập hiện đại đang được quan tâm hiện nay do Allport đưa ra từ những năm 30 của thế kỉ XX Mô hình VAK của Neil Fleming là một trong những mô hình phổ biến hiện nay Trong mô hình của Fleming, phong cách học tập của HS được chia thành 3 nhóm chính: Người học theo kiểu nhìn/thị giác (Visual learners), người học theo kiểu nghe/thính giác (Auditory learners) và người học theo phương pháp vận động/xúc giác (Kinesthetic learners) Người học theo kiểu nhìn: HS học bằng kiểu nhìn học tốt nhất bằng cách nhìn/đọc thông tin

Họ làm việc tốt nhất khi ghi lại các thông tin Họ thường có xu hướng sử dụng bản

đồ, biểu đồ, hình ảnh, video… Người học theo kiểu nghe: HS học bằng thính giác học tốt nhất bằng cách lắng nghe Những HS này nắm bắt thông tin tốt nhất khi được giải thích thông qua giọng nói, ngữ điệu, nhịp điệu và tốc độ nói của GV hoặc

sử dụng băng ghi âm bài học… Người học kiểu vận động: Những HS này học bài tốt nhất thông qua việc sử dụng các phương pháp xúc giác hay còn gọi là phương pháp trải nghiệm HS hiểu bài thông qua các hình thức vận động, làm bài tập theo nhóm nhỏ, đóng vai, xây dựng hoặc tham gia trò chơi, học tập dựa trên dự án… Lý thuyết này chỉ ra việc GV xác định và thiết kế các hoạt động học tập dựa trên phong cách học tập của HS cho phép GV phát huy điểm mạnh và làm tăng hứng học tập của họ Đây cũng là một điểm đáng lưu ý khi GV thiết kế và sử dụng 40 HLĐT trong quá trình DHLS Hệ thống HLĐT được thiết kế và sử dụng cần đảm bảo tỉ lệ hài hòa giữa các định dạng: văn bản, hình ảnh, âm thanh, mô hình… nhằm tạo điều kiện học tập cho học sinh với các phong cách học tập khác nhau

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng học liệu số trong DHLS ở các trường trung học phổ thông

* Vai trò:

Thứ nhất, thiết kế và sử dụng HLS trong dạy học Lịch sử góp phần đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam hiện nay

Việc thiết kế và sử dụng học liệu số có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần khai thác và sử dụng vào dạy học, giáo dục bởi đây là “nguồn tiềm lực dồi dào” mà mọi người đang tiến đến để nghiên cứu nhằm đáp ứng chương trình đổi

Trang 35

mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, hội nhập xu thế phát triển thế giới.Thực tế thấy rằng, việc tách rời vai trò của thiết kế và sử dụng học liệu số trong dạy học là vô cùng khó bởi học liệu số là thành phần của thành tố thiết bị dạy học

và học liệu nói chung

Nền giáo dục hiện nay đang hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh vì vậy học sinh sẽ là chủ thể trong giáo dục Vì vậy, về cách thức tổ chức dạy học, để giúp học sinh phát triển phẩm chất, năng lực thì giáo viên cần sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như dạy học hợp tác, dạy học trực quan vào trong bài học

Việc thiết kế và sử dụng học liệu số là cơ hội cho giáo viên chủ dộng với các phương pháp dạy học của mình để triển khai hoạt động học cho học sinh Một ví dụ

cụ thể chứng minh rõ nhất cho việc sử dụng học liệu số trong dạy học giúp học sinh hứng thú học tập hơn chẳng hạn như thay vì với kiến thức khô khan trong sách giáo khoa được giáo viên thuyết giảng lại thì sử dụng học liệu số với bảo tàng ảo, hình ảnh động thì tự nhiên học sinh sẽ chú ý vào bài học hơn, quan tâm chủ đề một cách thích thú, muốn tìm hiểu mà học sinh còn dễ dàng tiếp thu và giải quyết tình huống một cách, nhanh chóng, phù hợp

Tóm lại, tính đa dạng của học liệu số sẽ có những ưu điểm khác nhau trong

hỗ trợ quá trình học tập của học sinh Chẳng hạn, hoạt động khởi động vào bài mới giáo viên dùng học liệu số để chiếu pptx, hình ảnh để dẫn dắt vào bài sẽ kích thích được sự hứng thú vào bài của học sinh, Ở tổ chức thảo luận nhóm, giáo viên cho làm trên ứng dụng padlet thì sẽ dễ dàng triển khai đối với những lớp có học sinh đông mà giáo viên khó chia nhóm Bên cạnh đó, làm trên các thiết bị điện thoại, máy tính được giáo viên áp dụng học liệu số sẽ đưa ra kết quả đánh giá, phân tích nhanh hơn

Trong quá trình triển khai phương pháp dạy học, giáo viên kết hợp với sử dụng học liệu số sẽ giúp giáo viên cũng như học sinh tiết kiệm được thời gian đánh giá, ghi bảng có thể điều chỉnh hoạt động của học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Thứ hai, thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS tăng cường quá trình cá nhân hoá trong học tập của học sinh

Trang 36

Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 với nền tảng IOT đã kết nối giữa công nghệ thế giới thực, thế giới ảo và thế giới sinh vật cho phép thông tin, kiến thức, tri thức của nhân loại thường xuyên lên “Đám mây” để hình thành những nguồn HLS

để mọi người có thể tra cứu Việc thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS đã hình thành nên những lớp học kết nối giữa lớp học truyền thống và những không gian học tập khác nhau như thư việc, di tích lịch sử ảo, bảo tàng ảo, các website chia sẻ tài nguyên học tập… tạo điều kiện thuận lợi để HS lựa chọn và thiết kế các không gian học tập tối ưu phù hợp với cách học cá nhân Từ đó giúp HS nhận diện bản thân: hứng thú, tích cách, nhu cầu, ước mơ và định hướng kế phát phát triển chính mình

Thứ ba, thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay

Lịch sử là sự phản chiếu nhất định những thực tế về cuộc sống loài người trong quá khứ Vì thế mà kiến thức lịch sử rất đa dạng và phong phú ở nhiều lĩnh vực khác nhau Trước khi có sự xuất hiện của công nghệ thông tin thì hầu như sách giáo khoa, giáo viên là nguồn cũng cấp tri thức duy nhất cho người học, các tài liệu tham khảo đều là bản đã được in sẵn hoặc do nhà nước cung cấp như bản đồ treo tường, tranh ảnh…Điều này không tránh khỏi việc dạy lịch sử khô khan và nặng nề

Trong chương trình GDPT 2018, nội dung trong sách giáo khoa chỉ đóng vai trò tham khảo và giáo viên có quyền chủ động xây dựng nội dung dạy học phù hợp đối với học sinh của mình Điều đó cho phép giáo viên có thể lấy nhiều nguồn tài liệu khác nhau như học liệu số được chia sẻ từ kho học liệu số hữu dụng, đã được kiểm duyệt hay trên internet vào dạy học Giáo viên chủ động thiết kế bài dạy của mình một cách sống động và hấp dẫn người học phù hợp với nội dung dạy học, kiểm tra, đánh giá trước đó

Đối với học sinh, học liệu số là một nguồn tài liệu vô tận giúp bản thân có thêm nhiều kiến thức bổ ích, có thể tham khảo và tự lưu trữ để dùng đến khi cần thiết khám phá và vận dụng vào bài học Người học có thể chủ động tiếp cận thông tin, nguồn tài nguyên dồi dào đó trong lĩnh vực đang nghiên cứu, tìm kiếm từ đó thúc đẩy phát triển năng lực ở lĩnh vực người học quan tâm Nhìn từ thực tế cho ta thấy rằng, học liệu số đang dần dần tiến vào quá trình học tập của học sinh, không chỉ riêng học tập mà còn cả trong đời sống Điều này giúp học sinh có thể đánh giá

Trang 37

chính mình khi khai thác các nội dung, bài học liên quan, tự nhận thức thông qua các tính năng, giá trị của học liệu số Trên cơ sở này, những nội dung giáo dục sẽ được học sinh chủ động tìm kiếm, khám phá và vận dụng vào quá trình học tập một cách hiệu quả nhất

Bởi vì vậy mà học liệu số sẽ là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho giáo viên làm tốt vai trò của mình trong kỉ nguyên số hóa hiện nay Giáo viên, học sinh có thể sử dụng học liệu số để có thêm vô vàn các tài liệu hỗ trợ trong quá trình học tập mà không còn rập khuôn trong sách giáo khoa điều này cũng giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn trong giảng dạy, cũng như học sinh phát triển hơn năng lực tư duy, sáng tạo của mình trong học tập, mở rộng kiến thức thông sử… đáp ứng những yêu cầu mới của giáo dục và tốc độ phát triển của xã hội

* Ý nghĩa:

Với vai trò trên, việc thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS có ý nghĩa đối với HS trên các mặt: Kiến thức, kĩ năng, thái độ và định hướng phát triển năng lực

- Về kiến thức: HLS được thiết kế và sử dụng trong DHLS ở trường THPT có

ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của bài học được thể hiện qua kiến thức HS lĩnh hội được sau mỗi tiết học Sử dụng HLS sẽ giảm bớt nhữn khó khăn trong việc tạo biểu tượng cho HS với lợi thế là mang tính trực quan, sinh động như: Tranh ảnh, video, trang chiếu, trò chơi… nội dung các hình ảnh lịch sử của bưc tranh quá khứ được thể hiện phong phú và đa dạng qua HLS Giúp cho hệ thống kiến thức mà HS thu nhận được càng vững chắc chính nhờ những yếu tố thiết kế và sử dụng HLS làm cho bài học trở nên sinh động, cụ thể hóa và dễ nhớ hơn Với hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu, bản đồ, lược đồ… HLS có khả năng tái tạo hình ảnh xác định được không gian sự kiện lịch sử đã xảy ra, giúp HS cụ thể chân thức quá khứ nó trở nên

sinh động hơn Ví dụ: khi dạy học bài 11: Một số nền văn minh cổ trên đất nước

Việt Nam, HS được tiếp cận HLS: là hệ thống hình ảnh phong phú bổ sung kênh hình trong SGK: thành tựu về mặt kinh tế của cư dân Văn Lang – Âu Lạc… khai thác nguồn HLS này sẽ giúp HS dễ dàng hơn trong việc hình thành biểu tượng và hiểu sâu sắc hơn đề đời sống cư dân người Việt Cổ

Sử dụng một số di tích ảo, bảo tàng ảo trong DHLS, giúp HS nắm được kiến thức hình dung được một cách khách quan về một số di tích được thể hiện rõ 3D làm cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn Ví dụ: Bài 11 Một số nền văn minh

Trang 38

cổ trên đất nước Việt Nam Thiết kế và sử dụng Album 3D tổng hợp các hình ảnh liên quan đến thành tựu về đời sống vật chất của cư dân Chăm Pa và trình chiếu, HS được tham quan các bảo tàng ảo Nắm rõ hơn về quá trình hình thành, khắc sâu được kiến thức cần học, ứng dụng CNTT vào bài học để phục vụ các yêu cầu tực tế

Hệ thống sơ đồ trục thời gian tạo nên sự nhận thức cụ thể về thời gian diễn ra các sư kiện lịch sử Ví dụ: Bài 12 Văn minh Đại Việt có thể sử djng trục thời gian

về tiến trình phát triển của văn minh Đại Việt giúp HS ghi nhớ khắc sâu kiến thức

cơ bản về những thành tựu tiêu biểu, quá trình hình thành của các triều đại phong kiến Việt Nam

Sử dụng các hình ảnh tổ chức triể lãm tranh ảnh liên quan đến bài học giúp

HS hình thành kĩ năng tự học, tự đánh giá, ứng dụng CNTT, giao tiếp hợp tác… thông qua thực hiện các nhiệm vụ như thế kế tờ rơi, thiết kế áp phích, thiết kế tờ rơi… Ngoài ra qua việc sử dụng các tiêu chí đánh giá sản phẩm: đánh giá bài giới thiệu, đánh giá hoạt động nhóm, HS sẽ được rèn luyện kĩ năng đánh giá…

Ví dụ trong bài 12: Văn minh Đại Việt Liệt kê được tên và một số thành tựu

về mặt chính trị, kinh tế, tôn giáo tín ngưỡng của văn minh Đại Việt HS hoàn thành nhiệm vụ học tập thông qua sử dụng HLS, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua sử dụng HLS HS được rèn luyện kĩ năng của bộ môn, kĩ năng khai thác SGK

- Về năng lực:

Sử dụng HLS trong bộ môn Ls ở trường THPT có nhiều ưu thế để phát triển cho HS những năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn LS Thiết kế và sử dụng HLS, HS sẽ được học và tương tác các sự kiện, hiện tượng LS, trên cơ sở tiếp cận từ các nguồn HLS, sử liệu gốc, về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật LS Bên cạnh đó, các em còn được bày tỏ quan điểm ý tưởng và lựa chọn ý tưởng của chính mình Do vậy sẽ tạo được không khí hào hứng và phát huy tính tích cực học tập của

HS, rèn luyện cho HS những kỹ năng quan trọng như: quan sát, tìm hiểu, thu thập tư liệu, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, thực hành bộ môn, thuyết trình một vấn đề

LS Trên cơ sở đó, sẽ góp phần phát triển các năng lực tự chủ, tự học; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác nói chung và các năng lực tìm hiểu và tái hiện LS, năng lực tư duy LS và vận dụng kiến thức LS vào thực tiễn

Trang 39

Ví dụ, khi dạy học bài 11: Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam,

Ls 10 để hướng dẫn HS tìm hiểu về những thành tựu tiêu biểu của văn minh Chăm

Pa, GV có thể chia nhóm để hoàn thành các nhiệm vụ: Nhóm 1: Tìm hiểu về tổ chức bộ máy nhà nước; Nhóm 2 Tìm hiểu về hoạt động kinh tế; Nhóm 3: Tìm hểu

về đời sống vật chất; Nhóm 4 tìm hiểu về đời sống tinh thần Để hoàn thành những nhiệm vụ học tập trên, HS cần phả thu tập các nguồn tư liệu khác nhau liên quan đến các di tích lịch sử Sau đó tiến hành tổng hợp và xử lí các nguồn tư liệu để xây dựng bài thuyết minh ngắn gọn và đầy dủ các di tích, hoặc thu âm, quay video, thiết

kế poster… Nhờ vậy, sẽ góp phần hình thành các kĩ năng như sưu tầm tư liệu LS, phân tích, tổng hợp, đánh giá và nhận định về các sự kiện LS và phát triển các năng lực chuyên biệt của bộ môn LS cho HS

- Về phẩm chất: Thiết kế và sử dụng HLS trong dạy học LS còn có ý nghĩa

thiết thực trong việc rèn luyện nhân cách, thái độ sống tích cực đối với mỗi HS HS được lĩnh hội kiến thức bằng nhiều phương pháp đa dạng góp phần bồi dưỡng những phẩm chất cần có cho HS Đó là lòng yêu quê hương, đất nước, con người, lòng biết ơn với những con người có công lao trong sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ

tổ quốc; lòng cảm thông chia sẻ với những với đời sống của nhân dân trong những hoàn cảnh LS đặc thù; tinh thần kiên định, biết lên án những hành vi đi người lại với quyền lợi và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân Bởi lẽ, không một bài giảng LS nào lại có thể sinh động, thuyết phục và tác động sâu sắc đến lý trí, tình cảm của HS bằng bài giảng được tiến hành tại chính nơi diễn ra các sự kiện, quá trình LS mà các em đang tìm hiểu Những bằng chứng này hiện hữu trước mặt

HS, không chỉ củng cố niềm tin vào sự thật LS mà còn kích thích hứng thú học tập, gây cảm xúc LS mạnh mẽ cho HS Từ đó kích thích được tính hiếu kì khoa học, tự nghiên cứu, tìm tòi, ham học hỏi để hình thành cho HS tinh thần trách nhiệm, lòng trung thực, tinh thần tập thể, ý thức giúp đỡ nhau trong học tập để hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập được giao

1.2 Cơ sở thực tiễn

Nhằm mục đích tìm hiểu, hiểu rõ hơn về những đặc điểm của cơ sở thực tiễn

về những vấn đề nghiên cứu mà đề tài đã đưa ra, tôi đã biên soạn những câu hỏi trắc

Trang 40

nghiệm khách quan để điều tra thực trạng của vấn đề HLS hiện nay ở các trường THPT của học sinh trong DHLS hiện nay

1.2.1 Mục đích điều tra

Mục đích của công tác điều tra nhằm đánh giá thực trạng dạy học LS nói chung và việc sử dụng HLS để phát triển năng lực của HS trong DHLS ở trường THPT nói riêng Kết quả điều tra, khảo sát là cơ sở rút ra những kết luận chung về thiết kế và sử dụng HLS trong DHLS để phát triển năng lực của HS và góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn LS ở trường THPT

1.2.2 Đối tượng, phạm vi điều tra

Việc điều tra, khảo sát được tiến hành ở trường THPT Nguyễn Trãi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Đối tượng điều tra là GV dạy học môn LS và HS khối lớp

10 tại trường THPT Nguyễn Trãi

1.2.3 Phương pháp điều tra

Tôi tiến hành dự giờ, giảng dạy và phỏng vấn một số GV, HS Nhưng đề tài được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp làm phiếu hỏi cho 8 GV dạy học LS và

100 HS khối 10 thuộc trường THPT Nguyễn Trãi

1.2.4 Nội dung điều tra

Nội dung điều tra khảo sát được tập trung vào những vấn đề thiết thực (Phiếu điều tra GV-HS)

Đối với GV, tôi tìm hiểu quan niệm, nhận thức của GV về việc sử dụng HLS trong dạy học môn LS ở trường THPT; vai trò, mục đích và ý nghĩa của việc sử dụng HLS trong DHLS ở trường THPT; các hình thức, biện pháp sử dụng HLS thường hay sử dụng trong DHLS; những thuận lợi và khó khăn của GV trong quá trình sử dụng HLS trong DHLS

Đối với HS, tôi tập trung tìm hiểu vào một số nội dung sau: thái độ, tinh thần học tập bộ môn Lịch sử của HS; nhận thức của HS về vai trò, ý nghĩa của sử dụng HLS trong DHLS; mức độ hứng thú của HS với việc sử dụng HLS trong DHLS; những thuận lợi và khó khăn của HS khi tham gia vào sử dụng HLS

Ngày đăng: 05/10/2023, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Khánh Bằng (2005), “Yêu cầu mới của thời đại, của đất nước đối với GV và phương hướng đổi mới phương pháp dạy - học ở các trường sư phạm”, Tạp chí Giáo dục, số 122, tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu mới của thời đại, của đất nước đối với GV và phương hướng đổi mới phương pháp dạy - học ở các trường sư phạm
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 2005
2. Bộ giáo dục và đào tạo, dự án Việt – Bỉ (2010), Dạy và học tích cực Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo, dự án Việt – Bỉ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
3. Bộ Giáo dục và Đào Tạo (2016), Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016 của Bộ GDĐT về quy định ứng dụng CNTT trong quản lí, tổ chức đào tạo qua mạng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016 của Bộ GDĐT về quy định ứng dụng CNTT trong quản lí, tổ chức đào tạo qua mạng
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào Tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào Tạo
Năm: 2016
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 11/2018/TT-BGDĐT ngày 06/4/2018 của Bộ GDĐT về ban hành tiêu chí để xác định hàng hóa chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 11/2018/TT-BGDĐT ngày 06/4/2018 của Bộ GDĐT về ban hành tiêu chí để xác định hàng hóa chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Tài liệu bồi dưỡng GV phổ thông cốt cán, Môđun 9, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng GV phổ thông cốt cán, Môđun 9
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2021
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Thông tư Sửa đổi bổ sung một số nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông, ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ giáo dục và Đào tạo, số 13/2022/TT-BGDĐT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Sửa đổi bổ sung một số nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông, ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2022
8. Nguyễn Thị Côi (2000), Kênh hình DHLS ở trường Trung học phổ thông, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kênh hình DHLS ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2000
9. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
10. Nguyễn Thị Côi (chủ biên) (2011), Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử, Nxb. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2011
11. Vũ Minh Giang (Tổng chủ biên xuyên suốt) (2020), Lịch sử 10 (kết nối tri thức với cuộc sống), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 10 (kết nối tri thức với cuộc sống)
Tác giả: Vũ Minh Giang
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2020
12. Ninh Thị Hạnh (2019), Thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử lướp 10 ở trường trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tr30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử lướp 10 ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Ninh Thị Hạnh
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2019
13. Vũ Quang Hiển, Hoàng Thanh Tú, (2014), Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Vũ Quang Hiển, Hoàng Thanh Tú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
14. Đoàn Văn Hưng (2009), Sử dụng phần mềm PowerPoint trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông (Qua bài nghiên cứu kiến thức mới phần Lịch sử thế giới lớp 10), Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phần mềm PowerPoint trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Đoàn Văn Hưng
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
15. I.F.Kharlamôp (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F.Kharlamôp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1978
16. Phan Ngọc Liên, Phạm Kì Tá (1975), Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Phạm Kì Tá
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
17. Phan Ngọc Liên, Tringj Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường, (2002), Một số chuyên đề phương pháp DHLS, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề phương pháp DHLS
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Tringj Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
18. Phan Ngọc Liên (2002), Phương pháp DHLS, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp DHLS
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2002
19. Đoàn Nguyệt Linh (2016), Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn lịch sử ở trường trung học phổ thông (thực nghiệm qua lớp 10 chương trình chuẩn), Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn lịch sử ở trường trung học phổ thông (thực nghiệm qua lớp 10 chương trình chuẩn)
Tác giả: Đoàn Nguyệt Linh
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2016
33. Ngô Linh (2022), “Báo dân trí: Những câu chuyện ly kỳ về Bà Thu Bồn, người Mẹ xứ Quảng”), link bài viết: https://dantri.com.vn/doi-song/nhung-cau-chuyen-ly-ky-ve-ba-thu-bon-nguoi-me-xu-quang-20221104114322135.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.5: Thiết sử dụng Kahoot trong dạy học  2.4.2.6. Google Classroom - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 2.5 Thiết sử dụng Kahoot trong dạy học 2.4.2.6. Google Classroom (Trang 75)
Hình 2.7: Thiết kế ứng dụng  Padlet trong dạy học  2.4.2.8. Googlle Earth: - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 2.7 Thiết kế ứng dụng Padlet trong dạy học 2.4.2.8. Googlle Earth: (Trang 78)
Hình 2.8 Hình ảnh bản đồ Việt Nam để xác định vị trí nền văn hóa Óc Eo Sử - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 2.8 Hình ảnh bản đồ Việt Nam để xác định vị trí nền văn hóa Óc Eo Sử (Trang 79)
Hình 2.9: Thiết kế phiếu học tập trên ứng dụng Canva - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 2.9 Thiết kế phiếu học tập trên ứng dụng Canva (Trang 80)
Hình  thành  ở  khu  vực  Nam  Bộ  thuộc  vùng - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
nh thành ở khu vực Nam Bộ thuộc vùng (Trang 83)
Hình thành nền văn minh Văn Lang - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình th ành nền văn minh Văn Lang (Trang 99)
Hình 3.2.: Hình ảnh 3D của Thánh địa và bảo tàng Mỹ Sơn trên nền tảng Vr360 - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 3.2. Hình ảnh 3D của Thánh địa và bảo tàng Mỹ Sơn trên nền tảng Vr360 (Trang 102)
Hình 3.3. Phiếu học tập Tìm hiểu về  thủ công nghiệp Phù Nam - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 3.3. Phiếu học tập Tìm hiểu về thủ công nghiệp Phù Nam (Trang 103)
Hình 3.4: Sử dụng Kahoot để củng cố kiến thức trong dạy học bài 11: Một số nền - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 3.4 Sử dụng Kahoot để củng cố kiến thức trong dạy học bài 11: Một số nền (Trang 105)
Hình 3.5: Sử dụng Paldlet để củng cố kiến thức trong dạy học bài 11: Một số nền - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 3.5 Sử dụng Paldlet để củng cố kiến thức trong dạy học bài 11: Một số nền (Trang 108)
Bảng dữ liệu  110  Rất hứng thú  5  4,5 - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Bảng d ữ liệu 110 Rất hứng thú 5 4,5 (Trang 125)
Hình 5.1. Hình ảnh sử dụng video để khỏi động và tạo hứng thú học tập cho HS - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 5.1. Hình ảnh sử dụng video để khỏi động và tạo hứng thú học tập cho HS (Trang 152)
Hình 5.2.  Sử dụng phần mềm 3D Album xây dụng bảo tàng ảo và hướng dẫn học - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 5.2. Sử dụng phần mềm 3D Album xây dụng bảo tàng ảo và hướng dẫn học (Trang 152)
Hình 5.3. Hình ảnh sử dụng di tích Thanh địa Mỹ sơn ảo trên nền tảng VR360 trong - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 5.3. Hình ảnh sử dụng di tích Thanh địa Mỹ sơn ảo trên nền tảng VR360 trong (Trang 153)
Hình 5.4: Sử dụng Kahoot để củng cố kiến thức đã học trong dạy học thực nghiệm - Thiết kế và sử dụng học liệu số để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử việt nam, môn lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông
Hình 5.4 Sử dụng Kahoot để củng cố kiến thức đã học trong dạy học thực nghiệm (Trang 153)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w