Còn với các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn của BCĐKT , xét về mặtkinh tế, nó là các chỉ tiêu thể hiện các nguồn hình thành tài sản mà doanhnghiệp hiện có, về mặt pháp lý, đây là các chỉ t
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
đề án môn học Chuyên ngành kế toán Đề tài: Bảng cân đối kế toán Tầm quan trọng – H H ớng hoàn thiện Giáo viên hớng dẫn: TS.Nguyễn thị Lời Sinh viên thực hiện : Trần trung Kiên Lớp : Kế toán 43 c
Hà Nội 4 - 2004 Mục lục Lời nói đầu 3
Nội dunG 4
I.Bảng cân đối kế toán 4
1 Khái niệm,ý nghĩa,kết cấu của BCĐKT 4
2 Nguyên tắc lập BCĐKT 6
a Cơ sổ số liệu 6
b Nguyên tắc lập BCĐKT 6
II Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua BCĐKT 7
1.Đánh giá khái quát tình hình tài chính 8
2.Sử dụng các chỉ tiêu của BCĐKT để xác định các chỉ tiêu phân tích 9
tài chính 9
Trang 2a, Các tỷ số về khả năng thanh toán 10
b, Các tỷ số về khả năng hoạt động 11
c, Tỷ số về khả năng cân đối vốn 13
d, Tỷ số về khả năng sinh lãi 14
e, Một số chỉ tiêu khác 15
III Một vài ý kiến nhằm hoàn thiện BCĐKT cho các doanh nghiệp 16
Việt Nam hiện nay 16
1 ý kiến hoàn thiện trên cơ sở quy định của IASC 16
a) Để cho thông tin trở lên hữu ích đối với ngời sử dụng thì cần đảm bảo (quy định của IASC) 16
b) Đối với BCĐKT thì cần chú ý ( Theo quy định của IASC) 17
c)Thông tin tối thiểu trên bảng cân đối kế toán (của IASC) 20
2 Phơng pháp lập BCĐKT cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 21
IV Mẫu bảng cân đối kế toán – H mẫu số b 01-dn 25
Kết luận………28
Trang 3
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, mỗi doanh nghiệp đều trở thành đối tợngquan tâm của nhiều ngời… Kế toán, luôn có hai chức năng cơ bản và cốhữu của mình là chức năng thông tin và kiểm tra … Bảng cân đối kế toán( một báo cáo tài chính quan trọng trong hệ thống báo cáo tài chính củamỗi doanh nghiệp), là một phơng tiện để kế toán thực hiện hai chức năngnày của nó: Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin hữu ích cho ngời sửdụng để họ đa ra và đánh giá các quyết định liên quan tới việc phân phốinguồn tài nguyên khan hiếm…(theo kế toán oxtrâylia)
Đó là một cách hiểu vắn tắt về khái niệm và tác dụng của BCĐKT Quanội dung của đề án , em sẽ trình bày mọi mặt của BCĐKT rõ ràng hơn:Khái niệm, hiện trạng, ý nghĩa, tác dụng Đề án cũng so sánh với phơngpháp lập và phân tích tình hình tài chính của BCĐKT ở một số nớckhác ,từ đó hoàn thiện hệ thống và nguyên tắc lập BCĐKT cho các doanhnghiệp ở Việt Nam hiện nay
Đề án chắc rằng sẽ có nhiều thiếu sót ,em mong cô thông cảm ,vàluôn mong nhận đợc sự chỉ dạy nhiều hơn của cô, để em sẽ làm tốt hơn ởnhững đề án sau
Nội dung
I.Bảng cân đối kế toán
1 Khái niệm,ý nghĩa,kết cấu của BCĐKT
BCĐKT là báo cáo kế toán chủ yếu, phản ánh tình hình tài sản, nguồnvốn của doanh nghiệp dới hình thái tiền tệ
Trang 4Nó có kết cấu theo dạng bảng cân đối số d của các tài khoản kế toánvới các chỉ tiêu đợc phân loại theo trình tự của yêu cầu quản lý Về bảnchất, BCĐKT là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với nguồn vốnchủ sở hữu và công nợ phải trả Và có hai cách trình bày BCĐKT:
- Trình bày theo hình thức cân đối hai bên: một bên là phần tài sản(bên trái) , một bên là phần nguồn vốn (bên phải)
- Trình bày theo hình thức cân đối theo hai phần liên tiếp: phần 1 làtài sản và phần 2 là nguồn vốn
Mẫu BCĐKT kiểu hai bên;
Phần I: Tài sản Số tiền PhầnII: Nguồn
Trang 5Còn với các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn của BCĐKT , xét về mặtkinh tế, nó là các chỉ tiêu thể hiện các nguồn hình thành tài sản mà doanhnghiệp hiện có, về mặt pháp lý, đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệmpháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đôí tợng cấp vốncho doanh nghiệp.
Vậy mỗi phần đều có tổng cộng, và số tổng cộng của hai phần bao giờcũng bằng nhau, tức là: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Thông qua đẳng thức của BCĐKT ta có thể đánh giá đợc thực trạng tàichính của doanh nghiệp
Cũng nh những nhân viên kế toán và những nhà quản lý của Việt Nam,thì những nhân viên kế toán và những nhà quản lý tài chính trên thế giớicũng tạo ra cho nớc mình những hệ thống báo cáo tài chính của riêngmình, song nói chung họ đều có chung những mong muốn ở BCĐKT mà
họ tạo ra,đó là : Qua đó cung cấp thông tin hữu ích cho ngời sử dụng để
họ đa ra và đánh giá các quyết định liên quan tới việc phân phối nguồn tàinguyên khan hiếm … Nó cũng cung cấp thông tin về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp có khả quan hay không khả quan Từ đó chủ doanhnghiệp sẽ thấy rõ tính chất của quá trình hoạt động, về khả năng phát triểnhay chiều hớng suy thoái, từ đó có giải pháp cho quản lý… và để cónhững đánh giá khái quát trên thì trớc hết căn cứ vào số liệu trênBCĐKT Nếu nh ta dùng một phép so sánh đơn giản là so sánh tổng số tàisản và tổng số nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu năm
2 Nguyên tắc lập BCĐKT
Trớc khi lập BCĐKT , kế toán cần phải phản ánh tất cả các nghiệp vụkinh tế phát sinh vào sổ kế toán, thực hiện kiểm kê tài sản và phản ánh kếtquả kiểm kê vào sổ kế toán trớc khi khoá sổ kế toán
a, Cơ sổ số liệu:
Để lập BCĐKT cần căn cứ vào các tài liệu chủ yếu sau đây:
- BCĐKT ngày 31/12 năm trớc
- Sổ cái tài khoản tổng hợp và phân tích
- Bảng đối chiếu số phát sinh và các tài liệu liên quan khác
số d nợ của các tài khoản để ghi Trừ một số trờng hợp ngoại lệ: để phản
ánh chính xác giá trị thực của tài sản hiện có tại doanh nghiệp nên một sốtài khoản sau đây, mặc dù có số d bên có nhng đợc ghi vào chỉ tiêu bên tàisản của BCĐKT bằng cách ghi đỏ hoặc để số tiền của chỉ tiêu trongngoặc đơn, đó là những tài khoản sau:
+ TK 214: Hao mòn TSCĐ
+ TK 129: Dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn
+ TK 139: Dự phòng giảm giá phải thu khó đòi
+ TK 159: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
+ TK 229: Dự phòng giảm giá đầu t dài hạn
Trang 6Song lại có một số tài khoản mặc dù có thể có số d nợ nhng vẫn đợc phản
ánh trên các chỉ tiêu nguồn vốn: Bằng cách ghi đỏ hoăc ghi số tiền củacác chỉ tiêu trong ngoặc đơn , đó là các chỉ tiêu:
+ TK 412 : Chênh lệch đánh giá lại tài sản
+ TK 413 : Chênh lệch tỷ giá
+ TK 421 : Lãi cha phân phối
Còn với quốc tế thì họ cũng có một BCĐKT có kết cấu một bên hay haibên nh của ta, song có một khác biệt , đó là họ phân chia các chỉ tiêu củamình gồm 3 khoản mục chính: Tài sản, Công nợ phải trả, Nguồn vốn chủ
sở hữu
- Khoản mục tài sản phản ánh tài sản mà doanh nghiệp đang nắmgiữ, quản lý và sử dụng với mục đích thu đợc lợi nhuận trong tơnglai Về mặt kinh tế thì kế toán sẽ thấy đợc một cách tổng quát vềtiềm lực kinh tế của doanh nghiệp
- Khoản mục công nợ phải trả: Phần này cho thấy số nợ mà doanhnghiệp có trách nhiệm phải trả và nó cũng đợc chi tiết thànhkhoản nợ dài hạn và ngắn hạn nh chỉ tiêu ở BCĐKT ở Việt Nam
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Thể hiện số vốn chủ sở hữu mà doanhnghiệp hiên có tại thời điểm lập BCĐKT Số liệu lập chỉ tiêu này
đợc lấy trên báo cáo nguồn vốn chủ sở hữu
ở đây có một sự khác biệt so với chỉ tiêu nguồn vốn chủ sở hữu ởBCĐKT của Việt Nam , đó là nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ
sở hữu , của các nhà đầu t đóng góp, mà doanh nghiệp không phải camkết thanh toán Nói cách khác, nguồn vốn chủ sở hữu không phải là mộtkhoản nợ phải trả
Để lập các chỉ tiêu này cho BCĐKT của mình thì các nhân viên kế toánquốc tế lấy số liệu từ số d cuối kỳ của các tài khoản trên sổ cái Các tàikhoản có số d nợ đợc đa vào phần tài sản, các tài khoản có số d có đợc đavào công nợ phải trả hoặc nguồn vốn chủ sở hữu
Nh vậy, trên BCĐKT ở một số nớc khác trên thế giới sẽ không có các chỉtiêu ghi giảm nh : hao mòn TSCĐ, chênh lệch tỷ giá( hình thức ghi bút đỏhay ghi số liệu trong ngoặc đơn ) nh ở trong BCĐKT của Việt Nam
II Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua BCĐKT
Tình hình tài chính của mỗi doanh nghiệp luôn là mối quan tâm củanhiều đối tợng ,nh các nhà đầu t ,các nhà cho vay ,nhà cung cấp ,khách hàng … Với mỗi đối tợng này thì mối quan tâm của họ lạikhác nhau song nhìn chung thì họ lại đều quan tâm tới một số chỉtiêu chính nh : Tình hình hoạt động ,khả năng sinh lời ,khả năngthanh toán …Để đáp ứng đuợc những yêu cầu này thì việc lập cácbáo cáo tài chính (BCĐKT) phải đáp đợc ba mục tiêu cơ bản sau( đây không chỉ là các mục tiêu mà đợc quy định ở nớc ta mà nó còn
là yêu cầu của nhiều nớc trên thế giới ,mà sử dụng hệ thống nguyêntắc của FASB ) :
+) Từ việc phân tích tình hình tài chính ,phải cung cấp thông tin hữuích cho các nhà đầu t , các nhà quản lý , các tổ chức cho vay …giúp
họ có những định đúng nhất về việc đầu t , cho vay
+) Đồng thời nó cũng cung cấp thông tin đánh giá khả năng và tínhchắc chắn của các dòng tiền vào ra, hiệu quả của việc sử dụng nguồnvốn kinh doanh ,tình hình và khả năng thanh toán của các doanhnghiệp
Trang 7+) Cung cấp thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu ,các khoản nợ …sự
kiện và các tình huống làm biến đổi nguồn vốn và các khoản nợ của
doanh nghiệp
1.Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Muốn có đợc những đánh giá khái quát nhất về tình hình tài chính
của một doanh nghiệp ,thì tài liệu tốt nhất và thuận lợi nhất là
BCĐKT bằng việc phân tích mối quan hệ của các chỉ tiêu , các
khoản mục ở BCĐKT …ví dụ nh việc doanh nghiệp muốn tiến hành
quá trình SXKD thì các chủ sở hữu phải có một số vốn nhất định,và
Nếu ta có một đẳng thức sau : I + IV + B(I) = D
Thì điều này chứng tỏ rằng nguồn vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp
đang có ,có đủ khả năng trang trải cho các tài sản phục vụ cho quá
trình SXKD ,có nghĩa là doanh nghiệp không cần thiết phải đi vay
vốn hay đi chiếm dụng vốn Song ta cũng phải cần nhận thây rằng
đây chỉ là lý tuyêt ,còn trên thực tế thì nó lại xảy ra hai trờng hợp
sau :
Trờng hợp 1: I + IV + B > D
Nh vậy lúc này thì tình hình của doanh nghiệp có vẻ khó khăn ,họ sẽ
phải đi vay hay chiếm dụng vốn để trang trải cho quá trình hoạt đọng
SXKD Việc đi vay hay chiếm dụng vốn trong thời hạn thanh toán
đều là những việc làm hợp lý và hợp pháp Vì hoàn cảnh của doanh
Trang 8nghiệp lúc này không cho phép chủ doanh nghiệp có một quyết địnhtốt hơn ,không thể vì nh vậy mà dừng quá tình SXKD lại ,không thểngồi chờ doanh nghiệp khác tới cứu Tuy nhiên ngoài thời hạn thanhtoán là không hợp lý , hợp pháp ,mà doanh nghiệp cũng không thểphiêu lu đợc ,không thể để cho doanh nghiệp càng lấn sâu vào khókhăn, có lẽ lúc này doanh nghiệp phải tìm ra cho mình những khoảnvay ,những nguồn vay ,mà doanh nghiệp vừa có thể tiếp tục SXKDvừa có thể đảm bảo đợc khả năng trả nợ của mình trong tơng lai.
Tròng hợp 2: I + IV + B < D
Lúc này thì tình hình của doanh nghiệp lại hoàn toàn ngợc lại ,nguồnvốn chủ sở hữu sau khi trang trải cho tài sản phục vụ quá trình SXKDthì vẫn còn thừa ,nó lại cho thấy một điều rằng có thể chủ doanhnghiệp đó cha biết sử dụng tốt nguồn vốn của mình ,và rồi có thể nó
bị các doanh nghiệp hay đối tợng khác chiếm dụng ,dới hình thứcdoanh nghiệp bán chịu thành phẩm ,hàng hoá ,dịch vụ …hay ứng trớctiền cho bên bán ,các khoản thế chấp ,ký cợc ,ký quỹ…
Chúng ta có nhận thấy rằng ,nếu ta xét tới tính chất cân đối củaBCĐKT là : Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn nên cân đối chính xácphải đợc viết đầy đủ nh sau : A + B = C + D
Cân đối này cho thấy số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng (hoặc
đi chiếm dụng ) đúng bằng chênh lệch giữa ( III + V ) và C
2.Sử dụng các chỉ tiêu của BCĐKT để xác định các chỉ tiêu phân tích tài chính.
Đây có thể đợc coi là một phơng pháp truyền thống và đợc áp dụngphổ biến trong việc tiến hành phân tích tình hình tài chính của một doanhnghiệp Nó đợc thiết lập bởi tỷ số đơn của các chỉ tiêu ( hay nhóm chỉtiêu) này so với chỉ tiêu khác trong báo cáo tài chính Nó là phơng pháp
có tính hiện thực cao và ngày càng đợc bổ xung và hoàn thiện
Trong việc phân tích tài chính thì các tỷ số tài chính thờng đợc phânchia thành 4 nhóm chỉ tiêu chính:
+) Tỷ số về khả năng thanh toán: nhóm chỉ tiêu dùng để đánh giá khảnăng trả nợ
+) Tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn
+) Tỷ số về khả năng hoạt động
+) Tỷ số về khả năng sinh lãi
Tuỳ theo mục tiêu và yêu cầu của phân tích tài chính mà nhà phân tíchchú trọng vào nhóm chỉ tiêu nào Nh chủ nợ thì họ chú trọng vào nhómchỉ tiêu khả năng thanh toán, trong khi đó, các nhà đầu t dài hạn lại quantâm tới nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinhdoanh
Trang 9TSLĐ thờng là tiền, chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhợng ( tơng đơngtiền) , các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho) ; còn nợ ngắn hạn đó lànhững khoản vay ngắn hạn của ngân hàng, quỹ tín dụng… nói chungTSLĐ và nợ ngắn hạn có thời hạn nhất định- tới 1 năm.
Đây là một thớc đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanhnghiệp, nó cho biết mức độ đảm bảo cho các chủ nợ về các khoản vay củadoanh nghiệp bởi lợng tài sản có thể chuyển hoá thành tiền trong một giai
đoạn tơng đơng với khoản nợ đó
+ Ngoài ra, ta còn có một chỉ tiêu, mà có thể nói rằng nó mang đầy
ý nghĩa đối với mỗi chủ nợ của doanh nghiệp, đó là:
có đợc một tỷ số tốt thì chắc rằng các chủ nợ sẽ cảm thấy rất yên tâmtrong việc cho vay của mình Cũng có lúc họ sẽ rất cần các khoản tiền củamình để đầu t vào công việc của họ, và họ sẽ phải đi thu hồi nợ củamình ,sẽ rất thoải mái khi tới hạn thanh toán thì ngời vay cũng sẵn sàngthanh toán và có thể thì ngơì cho vay còn chiếm dụng vốn của ngời đi vaybằng cách yêu cầu ngời đi vay ứng tiền trớc… Nếu doanh nghiệp giữ đợcchữ tín trong việc đi vay thì sẽ có rất nhiều thuận lợi khi đi vay lần sau + Với những chủ nợ dài hạn đối với doanh nghiệp thì họ lại quan tâmtới chỉ tiêu:
Khả năng thanh toán Giá trị còn lại TSCĐ
Theo họ thì nếu tỷ số hiện hành có giá trị càng cao thì khả năng thanhtoán càng cao Nhng cũng nh mọi quy luật khác thì cái gì quá cũng khôngtốt, và với một tỷ số hiện hành rất cao, có nghĩa là công ty đó đã đầu t quá
đáng vào tài sản hiện hành so với nhu cầu của công ty, mà thờng thì phầnthặng d của tài sản hiện hành không sinh thêm thu nhập Nh vậy, lúc này
nó lại cho thấy công ty quá lãng phí đầu t không có mục đích và ít hiệuquả
Nhu cầu vốn luân chuyển của công ty chịu ảnh hởng của tốc độchuyển đổi và thay thế một số khoản mục của tài sản hiện hành của côngty
Họ có các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nợ nh:
Trang 10b, Các tỷ số về khả năng hoạt động
Với nhóm tỷ số này thì chỉ tiêu mà ta xét đến chủ yếu đó là chỉ tiêudoanh thu, chỉ tiêu giá vốn … Vì vậy ta phải kết hợp với các chỉ tiêu kháccủa báo cáo tài chính khác để có những con số ,cùng những đánh giá mộtcách chính xác nhất, hợp lý nhất
Dùng đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Các nhàphân tích không chỉ quan tâm tới việc sử dụng một cách có hiệu quả củatổng tài sản mà còn quan tâm tới sự hiệu quả của từng loại tài sản củadoanh nghiệp Có một số chỉ tiêu chính nh sau:
+ ) Doanh thu
Vòng quay tiền =
Tổng số tiền và tài sản tơng đơng tiền
Vòng quay của tiền mà cao, chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng đồngtiền mà mình có trong tay một cách linh hoạt hơn Có đồng tiền trong tayvới một nguời bình thờn thì nó chỉ đuợc dùng để trang trải những sinhhoatj bình thờng ,nhng nếu đặt nó vào tay một nhà kinh doanh thì có thể
nó sẽ đợc nhân lên nhiều lần , và rồi sau đó nó mới đuợc phục vụ cuộcsống Nói nh vậy không có nghĩa là mọi nhà kinh doanh đều làm đợc nhvậy ,vì vậy ta cũng đừng vội kết luận kết quả kinh doanh của doanhnghiệp là tốt hơn khi mà ta nhận đợc một kết quả là vòng quay của tiền làcao, mà phải kết hợp với các chỉ tiêu khác
+) Vòng quay dự trữ ( tồn kho) : là tỷ số giữa doanh thu trong năm và giátrị dự trữ ( nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm) bình quân Nó
đợc coi nh là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Số vòng quay dự trữ năm nay < năm trớc < mức trung bình của ngành,
nh vậy ta có thể kết luận sự kém hiệu quả và bất hợp lý trong hoạt độngquản lý dự trữ của doanh nghiệp.Nhng không phải hoàn toàn là nh vậy
đâu , nó là một sự dự trữ chiến lợc mà doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị
tr-ớc …hãy đừng vội đánh giá khi ta cha biết rõ vấn đề
Với nhà phân tích tài chính ở các nớc trên thế giới thì họ lại có chỉ tiêuliên quan tới hàng tồn kho, đó là:
Hệ số quay vòng Giá vốn hàng bán
+) của hàng hoá =
tồn kho Giá vốn bình quân hàng tồn kho
Với chỉ tiêu giá vốn hàng bán thì họ lấy ra từ báo cáo thu nhập trongnăm, còn giá vốn bình quân hàng tồn kho đợc ớc tính bằng giá trị trungbình của hàng tồn kho giữa số d đầu kỳ và cuối kỳ, mà đợc lấy từBCĐKT.Nh vậy có nghĩa là chỉ tiêu mà họ lấy để thực hiện việc tính toán
tỷ số này là khác của mình ,và có thể vì vậy thì giá trị thu đợc cũngkhác.Nếu nh có một sự so sánh thì theo em cách lấy chỉ tiêu (Giá vốnhàng bán, Giá vốn bình quân hàng tồn kho) của họ là hợp lý hơn so vớicủa mình ,ta hãy thử đặt một câu hỏi rằng đâu phải mọi hàng tồn kho đều
có thể đợc tiêu thụ ,đợc sử dụng sau đó ( hay là có thể nó đợc mang đicho, nó hỏng không thể sử dụng nữa …) thì lấy đâu doanh thu
+) Doanh nghiệp mà ta tiến hành phân tích tình tài chính của họ thì ,họ
sử dụng Tài sản mà họ có nh thế nào,nó có hợp lý không có ích không …chúng ta sẽ có đợc kết luận khi ta tiến hành phân tích chỉ tiêu:
Hệ số sử dụng Doanh thu
tổng tài sản =
Trang 11Tài sản
Ta sẽ biết một đồng mà chủ doanh nghiệp bỏ ra đầu t vào tài sản sẽ
đem lại cho bao nhiêu đồng doanh thu Với một chỉ tiêu hiệu suất sử dụngtài sản đợc coi là tốt, mà ta lại thu đợc một chỉ tiêu về hệ số sử dụng tổngtài sản là không tốt ( thấp hơn trớc) , thì rõ ràng việc kém hiệu quả lúc này
là do ta cha sử dụng tốt tài sản lu động
Và theo nội dung phân tích tài chính của quốc tế thì để đánh giá tínhhiệu quả của quá trình hoạt động họ có một số chỉ tiêu chính là:
đợc đa vào để đánh giá ở kỳ này là cha hợp lý
Ngoài ra ta cũng cần chú ý rằng khi nhìn vào thì hệ số quay vòng tàisản càng cao thì tài sản đợc sử dụng càng có hiệu quả, song cũng phảithấy rằng hệ số vòng quay tài sản phụ thuộc vào bản chất ngành kinhdoanh mà công ty hoạt động
Tỷ suất thu nhập trên Thu nhập ròng
nợ Nếu chủ doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ có nghĩa rằng, nếuxảy ra rủi ro thì ngời chịu thiệt nhiều lại chính là các chủ nợ
Với tỷ số nợ trên tổng tài sản thì ta sẽ thấy đợc nghĩa vụ của chủ doanhnghiệp đối với chủ nợ trong việc góp vốn
Thờng thì ngời chủ nợ mong có một tỷ số thấp, vừa phải vì nh vậy họ
sẽ cảm thấy sự an toàn của khoản nợ Còn ngời chủ doanh nghiệp thì họlại mong có một tỷ số cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốntoàn quyền kiểm soát công ty Song nếu cao quá thì doanh nghiệp dễ bịrơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, và lúc này đồng nghĩa với việcthiếu tin tởng ở chủ nợ
Trang 12những khoản vay có thời hạn đáo hạn trên 1 năm, do vậy những tài sảncủa doanh nghiệp đợc hình thành từ nguồn này sẽ có hệ số an toàn caohơn những tài sản đợc hình thành từ nguồn vốn vay ngắn hạn.
nợ chịu thiệt hại Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có thể sinh lời từ vốn vaycao hơn chi phí vay thì thu nhập của cổ đông sẽ tăng lên
d, Tỷ số về khả năng sinh lãi
+ ) Tỷ lệ sinh lợi của tài sản
Tỷ lệ sinh lợi Lợi tức trớc thuế
của tài sản = * 100
Tổng số tài sản
Đây là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa tổng số lợi nhuận do kếtquả sản xuất đem lại, trớc khi phân chia với tổng số tài sản của doanhnghiệp Có thể nói đây mới chính xác là chỉ tiêu đánh giá chính xác hiệuquả sử dụng tài sản của doanh nghiệp …,mục tiêu lợi nhuận luôn là chínhxác nhất.Đầu t vào tài sản để phục vụ kinh doanh ,vậy kinh doanh vớimục tiêu gì Lợi nhuận Còn nếu nói lại chỉ tiêu ở phần trớc là chỉ tiêu "Hệ
số sử dụng tổng tài sản " , thì có lẽ đổi cách tính và tên gọi nh của quốc tế( nhng với những tài sản mới đầu t thì nên chú ý và chỉ tính những ngày
đã đa vào sử dụng ) là hợp lý hơn :đó là chỉ tiêu "Hệ số quay vòng tài sản"
+ )Tỷ lệ sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn chủ sở hữu
và đợc các nhà đầu t rất quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu t vàdoanh nghiệp So với ngời cho vay, thì việc bỏ vốn vào hoạt động kinhdoanh của chủ sở hữu mang tính mạo hiểm hơn, nhng lại có nhiều cơ hội
đem lại lợi nhuận cao hơn Vì thế tăng khả năng sinh lãi của vốn chủ sởhữu là một trong các mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanhnghiệp và các nhà phân tích thờng dùng chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sởhữu làm thớc đo mức doanh lợi trên mức đầu t của chủ sở hữu
Tỷ lệ sinh Lợi tức sau thuế
lợi của vốn = *100
chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu
Để đánh giá tính rủi ro dài hạn và cơ cấu vốn, và đánh giá hiệu quả vàkhả năng sinh lợi, các nhà phân tích quốc tế từ BCĐKT cũng tạo ra cácchỉ tiêu nh: