Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ NỤ TÍCH HỢP KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ NỤ
TÍCH HỢP KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ NỤ
TÍCH HỢP KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Địa lí
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Phương Liên
2 PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
THÁI NGUYÊN - NĂM 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan kết quả nghiên cứu và các số liệu trong luận văn là của riêng tác giả và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Công trình nghiên cứu này là độc lập của riêng tác giả Các số liệu, thông tin trong quá trình nghiên cứu đều được trích dẫn ghi rõ nguồn
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Nụ
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Phương Liên và PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, là hai giảng viên
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn này
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; phòng Đào tạo, thư viện Nhà trường, thư viện tỉnh Lạng Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chuyển lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và học sinh các trường THPT và THCS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Trường THPT Việt Bắc, tp Lạng Sơn; trường THPT Văn Quan, huyện Văn Quan và trường THPT Đồng Đăng, huyện Cao Lộc; trường THCS Đông Kinh, tp Lạng Sơn; trường THCS Quảng Lạc, Tp Lạng Sơn đã giúp đỡ nhiệt tình cho tác giả thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ những khó khăn, cổ vũ, động viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Nụ
Trang 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết quả nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ 12 - THPT 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Các nội dung cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 9
1.1.2 Cơ sở lý luận về dạy học tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Sự cần thiết phải giáo dục cho thế hệ trẻ kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 26
1.2.2 Thực trạng tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông 27
1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 - Trường THPT tỉnh Lạng Sơn và định hướng lựa chọn mức độ tích hợp 31
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc sách giáo khoa Địa lí 12 - THPT 33
1.3.1 Mục tiêu của chương trình Địa lý 12- THPT 33
1.3.2 Cấu trúc và nội dung của chương trình Địa lý 12- THPT 34
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 TÍCH HỢP, LỒNG GHÉP VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ 12 - THPT TẠI TỈNH LẠNG SƠN 36
2.1 Mục đích của việc lựa chọn các bài học Địa lí lớp 12 để tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 36
2.2 Nguyên tắc của việc tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lý 12 - Trường THPT tại tỉnh Lạng Sơn 36
2.2.1 Nguyên tắc xác định những kiến thức cơ bản cần tích hợp 36
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, chính xác và tính sư phạm 37
2.2.3 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh 38
2.3 Xác định bài học và nội dung có thể tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong chương trình Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông 38
2.3.1 Các nguyên tắc tích hợp 38
2.3.2 Các phương thức tích hợp 39
2.3.3 Những nội dung có thể tích hợp giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong chương trình Địa lí lớp12 - Trung học phổ thông 40
2.4 Các hình thức dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 48
2.4.1 Dạy học nội khóa 48
2.4.2 Dạy học ngoại khóa 48
2.5 Một số phương pháp dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 57
2.5.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở 57
2.5.2 Phương pháp thảo luận 58
2.5.3 Phương pháp nêu vấn đề 59
2.5.4 Phương pháp tình huống 60
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.5.5 Phương pháp sử dụng bản đồ 61
2.5.6 Phương pháp đóng vai 61
2.5.7 Phương pháp động não 62
2.6 Một số giáo án mẫu tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí 12 - Trường THPT tỉnh Lạng Sơn 62
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1 Mục đích - nhiệm vụ thực nghiệm 64
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 64
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 64
3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 65
3.3 Quy trình thực nghiệm 65
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 65
3.3.2 Chọn trường thực nghiệm 66
3.3.3 Chọn lớp thực nghiệm 66
3.3.4 Chọn giáo viên thực nghiệm 67
3.3.5 Phương pháp thực nghiệm 67
3.3.6 Tổ chức thực nghiệm 67
3.4 Kết quả thực nghiệm 68
3.4.1 Bài thực nghiệm số 1 68
3.4.2 Bài thực nghiệm số 2 69
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 71
3.5.1 Đánh giá về mặt định lượng 71
3.5.2 Đánh giá về mặt định tính 71
Tiểu kết chương 3 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Danh mục các bài thực nghiệm 65
Bảng 3.2 Danh sách các lớp tham gia thực nghiệm 66
Bảng 3.3 Danh sách giáo viên Địa lí dạy thực nghiệm 67
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 68
Bảng 3.5 Tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 68
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 69
Bảng 3.7 Tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 70
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng 69
Hình 3.2: Biểu đồ tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 70
DANH MỤC CÁC ẢNH Ảnh 1: Đại diện đồn biên phòng Tân Thanh đón đoàn 55
Ảnh 2: Đại diện của đoàn tặng quà đồn biên phòng Tân Thanh 55
Ảnh 3: Học sinh dâng hương đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ 56
Ảnh 4: Đoàn thăm quan khu tăng gia sản xuất của đồn biên phòng Tân Thanh 56
Ảnh 5: Tập thể đoàn trải nghiệm và đại diện đồn biên phòng Tân Thanh chụp ảnh lưu niệm 57
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”
Luật biên giới quốc gia của Việt Nam đã khẳng định: “Biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế -
xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước”[19]
“Tỉnh Lạng Sơn hiện có đường biên giới quốc gia tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, chiều dài trên 231 km, với 474 cột mốc quốc giới, 02 cửa khẩu quốc tế, 02 cửa khẩu quốc gia và 08 điểm cặp chợ đường biên Khu vực biên giới (KVBG) của Tỉnh thuộc địa bàn 05 huyện, gồm 20 xã, 01 thị trấn, với 247 thôn, bản, trong đó có 89 thôn, bản giáp biên, có diện tích tự nhiên chiếm 13,8% diện tích của Tỉnh, dân số gần 62.000 người” [31] “Là địa bàn chiến lược của Tổ quốc, tỉnh Lạng Sơn luôn coi trọng xây dựng lãnh đạo khu vực biên giới, góp phần xây dựng biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển” [43]
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tại một số trường phổ thông trung học hiện nay, việc truyền đạt cho học sinh
về nhận thức, lối sống, tư tưởng, đạo đức, về quyền lợi và nghĩa vụ đối với vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia gắn với việc bảo vệ đất nước chưa được quan tâm đúng mức Từ đó, dẫn đến việc nhận thức không rõ ràng lòng tự tôn, tự hào dân
tộc; “mơ hồ về ý thức, trách nhiệm bản thân đối với vấn đề biên giới, chủ quyền lãnh
thổ quốc gia; hoặc thờ ơ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” [12] Để giúp học sinh Việt
Nam nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng nâng cao trình độ, nhận thức, ý thức bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới của nước Việt Nam, thì việc giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh ở nhà trường về mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng là rất quan trọng và cấp thiết, đặc biệt là dạy tích hợp với môn địa lý ở lớp 12
Hoạt động tuyên truyền các kiến thức về biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ trong học đường cho học sinh, sinh viên trên cả nước đã được Bộ GD & ĐT quan tâm trong những năm gần Bộ GD & ĐT đã chỉ đạo các trường, đơn vị chức năng tổ chức triển khai Đề án 373 với đối tượng tuyên truyền khá đa dạng, từ học sinh trong các bậc học đến sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng và đại học, đưa giáo dục chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia chung và chủ quyền biển, đảo nói riêng vào trong chương trình dạy học
Môn Địa lí nói chung và Địa lí lớp 12 nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi để giảng dạy nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Chương trình Địa lí 12 đề cập đến nội dung về địa lí tự nhiên, địa lí KT - XH Việt Nam, là sự nâng cao, mở rộng của Địa lí lớp 9 Với cấu trúc chặt chẽ, nội dung chương trình Địa lí Việt Nam rất phù hợp với việc dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia vào trong bài giảng Từ những lí do nêu trên, tác giả quyết
định lựa chọn và triển khai đề tài: “Tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên
giới quốc gia trong dạy học Địa lí 12 - Trung học phổ thông tại tỉnh Lạng Sơn”
làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà tác giả hướng đến là nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và định hướng tích hợp, lồng ghép nội dung này trong dạy học Địa
lí lớp 12 - trường trung học phổ thông tại tỉnh Lạng Sơn
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và xây dựng quy trình, phương án tích hợp, lồng ghép kiến thức đó vào bài học địa lý
12 (chương trình Địa lý 12) - Trung học phổ thông ở tỉnh Lạng Sơn; thiết kế một
số giáo án cụ thể trong chương trình dạy học, từ đó đề xuất phương án và biện pháp dạy học thích hợp
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề về lí luận dạy học, dạy học tích hợp
- Nghiên cứu lí luận chung về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Biên soạn tài liệu về nội dung chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
- Nghiên cứu thực trạng việc tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh
thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí ở trường THPT (thông qua điều tra, thu thập thông tin từ giáo viên và học sinh tại tỉnh Lạng Sơn)
- Nghiên cứu đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí 12 và cấu trúc các bài địa lý địa phương tỉnh Lạng Sơn
- Xác định những yêu cầu phải thực hiện và đề xuất một số biện pháp sư phạm
trong việc tích hợp, lồng ghép nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí 12 - THPT ở tỉnh Lạng Sơn
- Xây dựng quy trình, phương án dạy học tích hợp nội dung kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và thiết kế một số giáo án cụ thể trong chương trình dạy học Địa lí 12 - THPT tỉnh Lạng Sơn
- Thực nghiệm sư phạm
2.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; tích hợp và lồng ghép các nội dung kiến thức này trong dạy học Địa lí 12 - THPT tại Lạng Sơn
- Về địa bàn thực nghiệm: Một số trường THPT được chọn thực nghiệm nằm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (tại các huyện có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc) Các trường học được lựa chọn cần có đủ các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học
- Về thời gian thực nghiệm: Tác giả tiến hành thực nghiệm sư phạm trong năm học 2018 - 2019
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Về nội dung chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
Nội dung bảo chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,
an ninh biên giới quốc gia đã được nhiều nhà nghiên cứu, học giả đề cập nghiên cứu:
- Trong cuốn sách của TS Nguyễn Thị Thuận (Giáo trình Luật quốc tế, nhà
xuất bản (NXB) Công an nhân dân, 2011) và một số công trình của các tác giả khác
có đề cập đến những nội dung liên quan tới “quốc gia, lãnh thổ quốc gia, biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, ; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia được thể hiện và cụ thể hóa trong các tài liệu
(“Giáo trình Giáo dục quốc phòng - an ninh” cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng do NXB Giáo dục phát hành năm 2008; “Sách giáo khoa Giáo dục quốc phòng -
an ninh” cho học sinh phổ thông lớp 11, NXB Giáo dục phát hành hàng năm)” [10]
- Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua “Luật biển
Việt Nam năm 2012”, trước đó là “Luật biên giới quốc gia năm 2003”, “Luật an ninh quốc gia năm 2014”, trong đó có nhiều khái niệm và nội dung liên quan đến chủ
quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia đã được nêu ra và trình bày khá cụ thể
- Đề cập đến về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia còn có rất nhiều
tài liệu do Ủy ban biên giới quốc gia - Bộ ngoại giao biên soạn như: “Biên giới trên
đất liền Việt Nam - Trung Quốc, biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào, biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia, Những vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông” Ban tuyên giáo Trung ương cũng đã cho xuất bản cuốn
sách “Một trăm câu hỏi - đáp về biển dành cho tuổi trẻ Việt Nam” và cuốn “Biên giới
trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc: Biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác
và phát triển” “Từ năm 2008 - 2013, Viện nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam triển khai đề tài “Thư mục hán Nôm về biển, đảo Việt
Nam”, khảo sát và tuyển chọn những tư liệu về biển, đảo thuộc chủ quyền của Việt
Nam trong suốt chiều dài lịch sử” [47]
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.2 Về nội dung giáo dục chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và tích hợp, lồng ghép kiến thức trên trong dạy học bộ môn ở trường trung học phổ thông
Ở nước ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, bảo vệ an ninh biên giới quốc gia Mỗi đề tài có sự tiếp cận từ nhiều nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng đều khẳng định “chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của Việt Nam là bất khả xâm phạm”
- Thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 theo Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 tại Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) là quan điểm đã được các Các tác giả biên soạn nêu
rõ trong “Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán giáo dục quốc phòng - an ninh” do Vụ
giáo dục quốc phòng và chương trình phát triển Giáo dục phổ thông ban hành” [10]
- “Bộ GD&ĐT đã ban hành cuốn “Tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung giáo dục
tài nguyên và môi trường biển, đảo cho học sinh Trung học phổ thông” nhằm cung cấp
thêm nguồn hiểu biết và giáo dục cho HS những kiến thức về tiềm năng, mức độ khai thác và sự cần thiết phải khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường biển, đảo; bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc Tài liệu cũng đưa ra những cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa với nhiều chủ đề khác nhau để giáo dục cho HS ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc trong nhà trường trung học phổ thông” [10]
- Về nội dung giáo dục và dạy học tích hợp chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia cũng đã có một số luận văn của Trường Đại học Sư phạm - Đại học
Thái Nguyên đề cập tới ở một khía cạnh Trong luận văn thạc sĩ “Lồng ghép nội dung
giáo dục chủ quyền biển, đảo vào dạy học Địa lí lớp 9” của tác giả Quan Thị Dưỡng;
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Bá Đoàn: Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh
thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông
- Bên cạnh đó, trong luận văn thạc sĩ “Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo
của tổ quốc cho học sinh sinh trong dạy học Lịch sử 10, trung học phổ thông (chương trình chuẩn)” của tác giả Đậu Thị Hải Vân cũng đã thể hiện được một phần việc tích
hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học nhưng môn học ở đây là môn Lịch sử với đối tượng là học sinh lớp 10 và cũng chỉ
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị lan
Hương (2016) tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội “Giáo dục ý
thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học lịch sử địa phương cho học sinh THPT tỉnh Lạng Sơn”
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng
“Quan điểm này được vận dụng vào nghiên cứu dạy học về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia thông qua dạy học môn Địa lí ở THPT nói chung, tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng nhằm đánh giá một cách khách quan, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn dạy học, thông qua đó đưa ra những nhận xét đánh giá, giải thích những vấn
đề còn tồn tại trong quá trình dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Qua đó, thấy được tính cấp thiết của việc dạy học tích hợp nội dung chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong môn Địa lí, đáp ứng xu thế phát triển của của xã hội trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay” [10]
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Quan điểm này được vận dụng trong việc nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí THPT Đồng thời cho phép tác giả nghiên cứu sâu vào chương trình Địa lí lớp 12 - THPT để hiểu rõ hơn và định hướng những bài học
có thể tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 ở trường THPT tỉnh Lạng Sơn
4.1.3 Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm này được vận dụng trong việc nghiên cứu vai trò của lãnh thổ, biên giới đem lại cho nước ta hiện nay, đồng thời có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn những giá trị mà các bộ phận lãnh thổ, mang lại cũng như có những biện pháp tích cực trong bảo vệ tài nguyên trên các bộ phận của lãnh thổ
4.1.4 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn được vận dụng trong việc nghiên cứu thực trạng của vấn
đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và việc tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia ở nước ta hiện nay trong dạy học Địa lí, giúp tác giả có những kiến thức ban đầu về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và phương pháp khi dạy học Địa lí địa phương
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
4.1.5 Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu Địa lí, việc vận dụng quan điểm tổng hợp vai trò quan trọng, quan điểm bắt nguồn từ chính đối tượng nghiên cứu khoa học Các hiện tượng tự nhiên và KT - XH rất đa dạng, phong phú, chúng có quá trình hình thành phát triển trong mối quan hệ nhiều chiều giữa bản thân và các đối tượng Tác giả luận văn vận dụng quan điểm này trong việc nghiên cứu các phương pháp dạy học cụ thể và áp dụng vào việc thiết kế một số giáo án tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí địa phương tỉnh Lạng Sơn (chương trình Địa lý 12)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
Phương pháp này tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình, đề tài nghiên cứu đã được nghiệm thu và các công trình khoa học khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cụ thể là thu thập tài liệu vể chủ quyền lãnh thổ, anh ninh biên giới nhằm làm rõ hơn đề tài nghiên cứu, nắm được các phương pháp nghiên cứu thực hiện và có thêm những kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí
4.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Tiến hành điều tra, khảo sát (thông qua các phiếu khảo sát giáo viên và học sinh) tại tỉnh Lạng Sơn tình hình thực tế dạy học nội dung bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nói chung để thấy được những ưu điểm và hạn chế của việc dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
4.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trên cơ sở tài liệu đã thu thập được, phân tích so sánh, tổng hợp tài liệu để nghiên cứu tài liệu về kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12
4.2.4 Phương pháp thống kê toán học
“Thống kê mô tả, phân tích và xử lý kết quả thu được từ thực nghiệm sư phạm nhằm làm tăng tính chính xác, khách quan cho tài liệu nghiên cứu của đề tài Đồng thời, là căn cứ khoa học để xác định xu hướng phát triển của đối tượng để đề xuất những biện pháp thực hiện tốt hơn” [10]
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
4.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
“Phương pháp thực nghiệm sư phạm được dùng khi đã có kết quả điều tra, quan sát các hiện tượng giáo dục, cần khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã được rút ra Thực nghiệm sư phạm là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên một nhóm lớp - gọi là nhóm TN - với một nhóm lớp tương đương không tác động (dạy, giáo dục theo hình thức bình thường vẫn được GV phổ thông sử dụng) - gọi là nhóm đối chứng (ĐC) Để có kết quả thuyết phục hơn, sau một đợt nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể đổi vai trò của hai nhóm lớp cho nhau, nghĩa là, các nhóm thực nghiệm trở thành nhóm đối chứng và ngược lại” [10]
Phương pháp này được tác giả luận văn vận dụng vào việc giảng dạy tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong một số bài giáo án
cụ thể tại một số trường phổ thông tỉnh Lạng Sơn cụ thể để kiểm chứng tính tích cực của phương pháp dạy học tích hợp và kiểm tra việc nắm tri thức của HS thông qua phương pháp tích hợp
5 Kết quả nghiên cứu
- Đem lại cho học sinh tỉnh Lạng Sơn nói riêng và cả nước nói chung có nhận thức tốt hơn về vấn đề biên giới và chủ quyền lãnh thổ quốc gia
- Thiết kế giáo án dạy học tích hợp, lồng ghép kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí 12- THPT tại tỉnh Lạng Sơn (chương
tình Địa lý 12)
- Một số hình thức và PPDH tích hợp kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí 12 - THPT tỉnh Lạng Sơn (chương trình Địa lý 12)
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ,
biên giới quốc gia trong dạy học Địa lý 12 - THPT
Chương 2 Tích hợp, lồng ghép và tổ chức dạy học kiến thức chủ quyền lãnh
thổ, biên giới quốc gia trong chương trình Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông tại tỉnh Lạng Sơn
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bộ bao gồm hết các vùng đất và vùng nước (nước sông hồ trong vùng đất và vùng nước biển), vùng trời, khoảng không và lòng đất nằm trên, dưới vùng đất và vùng nước đó của một quốc gia, kể cả những vùng đã thực hiện chủ quyền hoặc trong vòng tranh chấp Những vùng đất xa xôi với phần đất chính của một quốc gia, thường là các cựu thuộc địa trước đây Mặc dầu có tổ chức chính quyền địa phương nhưng hiến pháp quốc gia chưa được áp dụng (hoặc nếu có chỉ có một phần nhỏ) tại những phần đất này” [14]
- Điều 1 Hiến Pháp năm 2013 của nước ta đã ghi rõ: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” Quy định này thể hiện nhất quán về chủ quyền quốc gia của Việt Nam, “bao gồm cả chủ quyền về vùng lòng đất, tài nguyên trong lòng đất, vùng biên giới, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, vùng không gian vũ trụ đã được thể hiện trong các văn bản luật đã được Quốc hội thông qua như Luật biên giới quốc gia, Luật biển Việt Nam và các văn bản khác” [10] “Chủ quyền quốc gia của Việt Nam đối với các vùng lãnh thổ này được xác lập và khẳng định cả trên phương diện lịch sử và pháp lý” [37]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- “Quốc gia là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, dân cư
và quyền lực công cộng Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật quốc tế Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia Theo luật pháp quốc tế hiện đại, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền Quốc gia có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước Hai khái niệm đó có thể được dùng thay thế cho nhau Quốc gia phải có khả năng thiết lập và thực hiện các quan hệ đối ngoại trong cả mặt thể hiện vai trò một chủ thể luật quốc tế, có khả năng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội để có thể thực hiện quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia mà các quốc gia khác không có quyền can thiệp, đồng thời quốc gia ấy phải tôn trọng và thực thi đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế khi tham gia vào các quan hệ quốc tế” [16]
“Một vài yếu tố chính dẫn đến sự hình thành quốc gia, đó là: Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành quốc gia Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia Vấn đề kích thước lãnh thổ rộng hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều không có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại hay mất
đi của danh nghĩa quốc gia” [46] “Thứ hai, có cộng đồng dân cư ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cư của một quốc gia là tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp luật của nhà nước đó Theo nghĩa hẹp, dân cư dùng để chỉ tất cả những người có quốc tịch của quốc gia đó” [46] “Thứ
ba, có chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế Chính phủ này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước trên phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối, khống chế bởi quốc gia khác” [46] “Thứ tư, có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế” [46] Trong bốn yếu tố kể trên thì yếu tố thứ nhất được xem là then chốt và quan trọng nhất, nếu một quốc gia mà mất đi sự toàn vẹn lãnh thổ thì coi như không tồn tại
- “Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp li đối với lãnh thổ Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của nhà nước như lập pháp và tư pháp” [3]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
“Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia gồm vùng đất, vùng nước (nội địa
và biển, bao gồm cả hải đảo), vùng trời, vùng lòng đất, vùng lãnh thổ đặc biệt” [3]
- Việt Nam là đất nước có chủ quyền, độc lập “Lãnh thổ Việt Nam là một thể
với 4.550 km đường biên giới, là nơi sinh sống của trên 90 triệu dân thuộc 54 dân tộc anh em đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam” [49]
1.1.1.2 Biên giới quốc gia
a) Biên giới quốc gia
“Biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác hoặc các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền trên biển” [10]
Nghị định “quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia năm 2003” 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ quy định sau:
“1 Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường
và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2 Đường quy định ở khoản 1 Điều này gồm biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển
3 Mặt thẳng đứng quy định ở khoản 1 Điều này gồm mặt thẳng đứng theo biên giới quốc gia trên đất liền, biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất và lên vùng trời”
- “Biên giới quốc gia trên đất liền: Biên giới quốc gia trên đất liền giữa nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước láng giềng được xác định bằng hệ thống mốc quốc giới, Hiệp ước về hoạch định biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng cùng các bản đồ, Nghị định thư kèm theo các Hiệp ước đó” [7]
- “Biên giới quốc gia trên biển: 1 Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phía
ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của các quần đảo Việt Nam Ở những nơi lãnh hải, nội thuỷ hoặc vùng nước lịch sử của Việt Nam tiếp giáp với lãnh hải, nội thuỷ hoặc vùng nước lịch sử của nước láng giềng, biên giới quốc gia trên biển được xác định theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước láng giềng
đó 2 Biên giới quốc gia trên biển được xác định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải
đồ theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập” [7]
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
“Các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia gồm 4 bộ phận: biên giới trên đất liền, biên giới trên biển, biên giới lòng đất và biên giới trên không” [10]
b) Cách xác định biên giới quốc gia Việt Nam
- “Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều tiến hành xác định biên giới bằng hai cách cơ bản sau:
Thứ nhất, các nước có chung biên giới và ranh giới trên biển (nếu có) thương lượng để giải quyết vấn đề xác định biên giới quốc gia [3]
Thứ hai, đối với biên giới giáp với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, Nhà nước tự quy định biên giới trên biển phù hợp với các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982
Ở Việt Nam, mọi ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về biên giới của Chính phủ phải được Quốc hội phê chuẩn thì điều ước quốc tế ấy mới có hiệu lực đối với Việt Nam” [3]
- Các cách xác định biên giới quốc gia:
* Xác định biên giới quốc gia trên đất liền: được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới
Nguyên tắc chung hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền bao gồm:
- “Biên giới quốc gia trên đất liền được xác định theo các điểm (toạ độ, điểm cao), đường (đường thẳng, đường sống núi, đường cái, đường mòn), vật chuẩn (cù lao, bãi bồi)” [3]
- “Biên giới quốc gia trên sông, suối được xác định: Trên sông mà tàu thuyền
đi lại được, biên giới được xác định theo giữa lạch của sông hoặc lạch chính của sông Trên sông, suối mà tàu thuyền không đi lại được thì biên giới theo giữa sông, suối đó Trường hợp sông, suối đổi dòng thì biên giới vẫn giữ nguyên Biên giới trên cầu bắc qua sông, suối được xác định chính giữa cầu không kể biên giới dưới sông, suối như thế nào” [3]
- “Phương pháp để cố định đường biên giới quốc gia: (1) Dùng tài liệu ghi lại đường biên giới; (2) Đặt mốc quốc giới; (3) Dùng đường phát quang (ở Việt Nam hiện nay mới dùng hai phương pháp đầu)
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, việc xác định biên giới quốc gia trên đất liền thực hiện theo ba giai đoạn là: Hoạch định biên giới bằng điều ước quốc tế; phân giới trên thực địa (xác định đường biên giới); cắm mốc quốc giới để cố định đường biên giới” [3]
* Xác định biên giới quốc gia trên biển: “Biên giới quốc gia trên biển được
hoạch định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ, là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo Việt Nam được xác định bằng pháp luật Việt Nam phù hợp với Công ước năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các quốc gia hữu quan” [3]
* Xác định biên giới quốc gia trong lòng đất: “Biên giới quốc gia trong lòng
đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất
Mặt thẳng đứng từ ranh giới phía ngoài vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các điều ước giữa Việt Nam và quốc gia hữu quan” [3]
* Xác định biên giới quốc gia trên không: “Biên giới quốc gia trên không là
mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời Biên giới quốc gia trên không xác định chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt khoảng không gian bao trùm trên lãnh thổ, do quốc gia tự xác định và các nước mặc nhiên thừa nhận” “Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vùng trời Việt Nam ngày 5/6/1984 xác định: "Vùng trời của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là không gian ở trên đất liền, nội thuỷ, lãnh hải và các đảo của Việt Nam và thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"” [3]
c) Một vài khái niệm liên quan đến biên giới quốc gia cần làm rõ:
- “Đường biên giới là đường để phân định lãnh thổ quốc gia này với quốc gia khác” [12]
- “Cửa khẩu là nơi thực hiện việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu và qua lại biên giới quốc gia bao gồm cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt, cửa khẩu đường thuỷ nội địa, cửa khẩu đường hàng hải và cửa khẩu đường hàng không” [16]
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- “Lối mở biên giới (đường qua lại chợ biên giới, cặp chợ biên giới; điểm thông quan hàng hóa biên giới; đường qua lại tạm thời) được mở cho cư dân biên giới hai bên, phương tiện, hàng hóa của cư dân biên giới hai bên qua lại và các trường hợp khác nhằm thực hiện chính, sách thương mại biên giới theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; hoặc được mở trong trường hợp bất khả kháng hay yêu cầu đặc biệt của hai bên biên giới” [33]
- “Mốc quốc giới (cột mốc) là dấu hiệu bằng vật thể dùng để đánh dấu đường biên giới quốc gia trên đất liền (khoản 5 điều 4 luật biên giới quốc gia)” [16]
- “Cắm mốc biên giới là hoạt động chôn cột mốc ở đường biên giới trên đất liền theo quy định của luật pháp quốc tế và điều ước đã được Việt Nam ký kết với các nước tiếp giáp” [12]
1.1.1.3 Bảo vệ và giữ gìn toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam
a) Sự hình thành lãnh thổ và xác lập biên giới quốc gia Việt Nam:
Cùng với sự xác lập, hình thành và mở rộng lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam cũng dần dần hoàn thiện
- Tuyến biên giới đất liền: “Biên giới Việt Nam - Trung Quốc dài 1449,566
km đã được hai nước kí kết Hiệp ước quốc gia trên đất liền, đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc và kí hiệp định quy chế quản lí biên giới Biên giới Việt nam - Lào dài 2340km được hoạch định và phân giới cắm mốc theo Hiệp ước hoach định biên giới ngày 18/7/1977, hiện nay hai nước thỏa thuận tôn tạo, tăng dày hệ thống mốc quốc giới Biên giới Việt Nam - Campuchia dài 1137 km, được hoạch định theo Hiệp ước 27/2/1985, Hiệp ước bổ sung ngày 10/10/2005 và hai nước thỏa thuận tiến hành phân giới cắm mốc” [3]
- “Tuyến biển đảo Việt Nam đã xác định được xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải theo tuyên bố ngày 12/11/1982 của chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ điểm 0 đến điểm A11) Đã đàm phán với Trung Quốc kí Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 Ngày 7/7/1982, Việt Nam đã kí kết với Campuchia thiết lập vùng nước lịch sử giữa hai nước Đồng thời
đã kí các Hiệp định phân định biển với Thái Lan, Inđônêxia Như vậy, Việt Nam còn phải giải quyết phân định biển với các quốc gia láng giềng trên Biển Đông và
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; với Campuchia về vấn đề biên giới trên biển; với Malaixia về chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Sau khi giải quyết xong những vấn đề trên, Việt Nam mới có thể xác định chính xác, đầy đủ biên giới quốc gia trên biển và các ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam” [3]
b) Phân định và cắm mốc biên giới với các quốc gia láng giềng:
* Phân định và cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc:
Ngay sau khi ký Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, “hai bên đã thành lập Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam
- Trung Quốc Tháng 12/2001, hai bên tiến hành cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh - Việt Nam) - Đông Hưng (Quảng Tây - Trung Quốc) Từ tháng 10/2002, hai bên đồng loạt triển khai phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung” [45]
“Suốt 8 năm, hai bên đã cùng nhau giải quyết các vấn đề trên thực địa và trong đàm phán trên tinh thần thông cảm và chiếu cố đến mối quan tâm của nhau nhằm tìm
ra một giải pháp công bằng, phù hợp với tinh thần của Hiệp ước 1999 Hai bên đã tiến hành 13 vòng đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ và rất nhiều cuộc gặp hai Trưởng đoàn; 31 vòng đàm phán cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Càng về cuối đàm phán càng khó khăn phức tạp Riêng trong năm 2008, hai bên đã tiến hành 11 vòng đàm phán cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp Ngày 31/12/2008, hai bên
đã giải quyết dứt điểm toàn bộ các vấn đề còn tồn tại, hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc Hai trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đúng thời hạn như đã thoả thuận” [29]
“Kết quả phân giới và cắm mốc: Hai bên đã phân giới xong toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt - Trung dài 1449,566km; cắm tổng số 1971 cột mốc (trong đó
có 01 mốc ba Việt Nam - Trung Quốc - Lào; 1548 cột mốc chính; 422 cột mốc phụ)
Hệ thống mốc giới này đã được đánh dấu, ghi nhận và mô tả phù hợp với địa hình thực tế một cách khách quan, khoa học, chi tiết Nếu so sánh với đường biên giới của
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các nước trên thế giới, đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc được đánh giá là có mức độ cột mốc dầy đặc và rõ ràng nhất, được xác định theo phương pháp hiện đại đảm bảo tính trung thực và bền vững lâu dài” [29]
“Kết quả trên là thỏa đáng, hợp tình, hợp lý, đáp ứng yêu cầu của cả hai bên, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản mà hai bên đã thỏa thuận Ngày 23/2/2009, Việt Nam và Trung Quốc đã long trọng tổ chức Lễ chào mừng hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan Đây là một sự kiện quan trọng không chỉ đối với nước ta và quan hệ Việt - Trung mà còn đối với cả khu vực” [29]
* Phân định và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào:
“Thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới, hai bên đã thành lập Ủy ban liên hợp phân giới trên thực địa để tiến hành phân giới cắm mốc toàn bộ đường biên giới Việt Nam - Lào” [44]
“Từ ngày 23/5 - 03/7/1978, Ủy ban liên hợp phân giới trên thực địa đã họp khoá đầu tiên tại Viêng Chăn để thông qua chủ trương, kế hoạch và phương pháp phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới; đồng thời trao đổi thống nhất phương pháp giải quyết những nội dung có liên quan Từ ngày 25/7/1978 - 31/3/1979, Ủy ban liên hợp đã triển khai làm thí điểm đoạn biên giới giữa Bình Trị Thiên và Sa Va Na Khet, mở đầu bằng đoạn 24 km ở phía Nam và phía Bắc cầu Xà Ợt trên đường 9 (Lao Bảo), sau đó tiếp tục làm đoạn 192 km còn lại” [44]
“Tiếp đó, từ tháng 7/1979, Ủy ban liên hợp triển khai nhiều đợt công tác liên tục
để hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc đường biên giới Việt Nam - Lào Đến tháng 6/1981, hai bên đã phân giới trên thực địa và cắm mốc xong 95% đường biên giới Việt Nam - Lào Ngày 24/8/1984, thực hiện thoả thuận của hai Bộ Chính trị của 2 nước, hai bên đã cắm xong mốc G -12 ở khu vực Na Hàm, kết thúc công tác phân giới, cắm mốc đường biên giới Việt Nam - Lào theo hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước Tổng cộng trong giai đoạn này, hai bên đã phân giới được 1.877 km trong tổng số 2.067 km đường biên giới và cắm được 202 mốc quốc giới” [44]
“Ngày 24/01/1986, Nghị định thư về việc phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào được ký tại Viêng Chăn Nghị định
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thư đã miêu tả đầy đủ đường biên giới đã được phân giới trên thực địa giữa hai nước, các mốc quốc giới đã được cắm, các khu vực đã được chuyển giao giữa hai bên kèm theo có đầy đủ các văn bản, bản đồ, sơ đồ pháp lý ghi nhận kết quả phân giới, cắm mốc theo đúng thủ tục và trình tự của luật pháp quốc tế” [44]
* Phân định và cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia
“Sau khi Hiệp ước bổ sung năm 2005 có hiệu lực, ngày 22/12/2005, hai bên đã thông qua Kế hoạch tổng thể về công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia và thông qua điều lệ tổ chức hoạt động của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc của hai nước
Hai bên đã thống nhất cắm trên toàn tuyến biên giới tổng số 314 vị trí mốc tương đương với 371 cộc mốc Hai bên ưu tiên xây dựng hệ thống mốc ở cửa khẩu và khu vực có đường giao thông thuận lợi đi qua nhằm tăng cường hợp tác, giao lưu phát triển kinh tế và ổn định trật tự an toàn xã hội vùng biên giới” [29]
“Ngày 27/9/2006, hai bên cắm cột mốc đầu tiên (số 171) tại cặp cửa khẩu quốc
tế Mộc Bài (Tây Ninh) - Ba Vét (Svay - Riêng), chính thức khởi động tiến trình phân giới cắm mốc trên toàn tuyến Tính đến tháng 10/2010, trên toàn tuyến, hai bên đã xác định được 191 vị trí mốc, trải đều trên hầu hết các tỉnh biên giới, trong đó có mốc đầu (cũng là mốc ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia) và 7/9 mốc cửa khẩu quốc tế (Hoa Lư tỉnh Bình Phước, Xa Mát và Mộc Bài tỉnh Tây Ninh, Dinh Bà và Thường Phước tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Xương tỉnh An Giang và Hà Tiên tỉnh Kiên Giang) Đặc biệt lần đầu tiên tại khu vực Tây Nguyên đã hình thành một hệ thống gần
50 vị trí mốc Hai bên đang cố gắng hoàn thành phân giới cắm mốc vì một đường bên giới ngày càng ổn định và góp phần tích cực vào việc củng cố, phát triển quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới giữa hai nước Việt Nam - Campuchia” [29]
1.1.1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lãnh thổ và biên giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước Việt Nam Vì vậy, xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
là một nội dung đặc biệt quan trọng của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm” [5]
- “Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam” [5] “Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng
liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó” [5] Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: "Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước” [5]
- “Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định; giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn
định là vấn đề đặc biệt quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Quan điểm này phù hợp với lợi ích và luật pháp của Việt Nam, phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế, cũng như lợi ích của các quốc gia có liên quan Đảng và Nhà nước ta coi việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước
Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau”.[5]
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- “Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa Nhà nước thống nhất quản lí việc xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; có chính sách ưu tiên đặc biệt xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về mọi mặt Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt với nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật” [5]
b) Trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
“Trách nhiệm của công dân Việt Nam đối với xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam được Nhà nước ban hành cụ thể trong Hiến pháp và luật” [5] “Điều 44, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) quy định: "Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững
an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân Công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định" Điều 1, Luật Nghĩa vụ quân sự chỉ rõ: "Bảo
vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý của công dân Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân" Điều 10, Luật Biên giới quốc gia cũng xác định: "Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí"” [5]
“Thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, mọi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nơi cư trú, phải:
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, trước hết thực hiện nghiêm và đầy đủ Luật Quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Có nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghiêm chỉnh các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi
nhiệm vụ được giao” [5]
1.1.1.5 Đặc điểm tình hình biên giới tỉnh Lạng Sơn và phân định, cắm mốc biên giới tỉnh Lạng Sơn
“Lạng Sơn là tỉnh biên giới nằm ở phía đông bắc của Việt Nam, chủ yếu là địa hình đồi núi có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 450 đến 600m, có đường biên giới giáp với khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc dài 231,740 km
và 474 cột mốc (374 mốc chính và 130 mốc phụ), có 5 huyện biên giới với 20 xã và 1 thị trấn biên giới, 247 thôn, bản (89 thôn, bản giáp biên), có 5 dân tộc sinh sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hoa với khoảng 14.059 hộ/64.023 nhân khẩu, trong đó dân tộc Nùng, Tày chiếm 93,23% Nhân dân ở khu vực biên giới tỉnh Lạng Sơn sống chủ yếu bằng nghề nông, đời sống còn gặp nhiều khó khăn (nhất là ở vùng sâu, vùng xa sát biên giới), trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn chưa được xóa bỏ Nhân dân các dân tộc ở khu vực biên giới có quan hệ dân tộc, thân tộc, dòng
họ lâu đời với nhân dân ở bên kia biên giới (quan hệ xuyên biên giới) Đồng bào vốn
có truyền thống cách mạng đoàn kết, cần cù trong lao động sản xuất Tỉnh Lạng Sơn còn có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính, 9 cửa khẩu phụ, hàng trăm đường mòn qua lại biên giới; có quốc lộ 1A chạy từ thành phố Hà Nội đến cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị thuộc thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc; quốc lộ 4A và 4B nối huyện Tràng Định, Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn với tỉnh Cao Bằng và Quảng Ninh” [30]
“Ngay sau khi Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc được ký, hai bên đã thành lập Ủy ban liên hợp phân định cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; thỏa thuận chia đường biên giới Việt - Trung thành 12 đoạn, giao cho 12 nhóm liên hợp phối hợp tiến hành công tác phân định cắm mốc trên
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thực địa Về phía ta, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập ban chỉ đạo của Chính phủ về phân định cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc (hiện nay là Ban chỉ đạo Nhà nước về phân định cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và các nước lãng giềng) gồm lãnh đạo một số Bộ, ngành liên quan và lãnh đạo các tỉnh biên giới Việt - Trung do một đồng chí phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban; tỉnh Lạng Sơn thành lập Ban chỉ đạo phân định cắm mốc Tỉnh do đồng chí lãnh đạo Tỉnh làm trưởng ban” [34]
“Từ năm 2000 đến 2002, hai bên đã thỏa thuận được 12 văn bản pháp lý kỹ thuật làm cơ sở cho công tác phân định cắm mốc Tháng 12/2001, hai bên tiến hành cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái - Đông Hưng Từ tháng 10/2002, hai bên đồng loạt triển khai phân định cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung, trong đó bao gồm cả Lạng Sơn” [34]
“Trong suốt 8 năm, hai bên đã cùng nhau cố gắng giải quyết các vấn đề trên thực địa và trong đàm phán trên tinh thần thông cảm và chiếu cố đến mối quan tâm của nhau nhằm tìm ra một giải pháp công bằng, phù hợp với lời văn và tinh thần của Hiệp ước 1999 Đến ngày 31/12/2008, hai bên đã giải quyết dứt điểm toàn bộ các vấn
đề còn tồn tại, hoàn toàn công tác phân định cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, trong đó bao gồm cả Lạng Sơn Hai trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ đã ra tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân định cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đúng thời hạn như lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận” [34]
“Ngày 23/02/2009, ta và Trung Quốc đã long trọng tổ chức Lễ chào mừng hoàn thành công tác phân định cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan Đây là một sự kiện quan trọng không chỉ đối với nước ta và quan hệ Việt - Trung mà còn đối với cả khu vực” [34]
1.1.2 Cơ sở lý luận về dạy học tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
1.1.2.1 Những vấn đề chung về dạy học tích hợp
“Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đã và đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhiều trường học ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây Qua việc tích hợp của
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
người giáo viên trong một giờ lên lớp, học sinh được rèn luyện thói quen tư duy logic, nhận thức vấn đề một cách có hiệu quả” [12] Trong đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa THPT sau 2020 theo tinh thần Nghị quyết 29NQ/TW về “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” thì dạy học tích hợp được xem là một hướng đi chủ yếu
Theo bách khoa toàn thư từ điển giải thích: “Tích hợp là hệ thống, là tổ hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệ thống - chương trình nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó” [24] Như vậy, “tích hợp được quan niệm là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, phân môn học khác nhau theo những mô hình, hình thức, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau” [24] “Tích hợp có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục Đó là sự hợp nhất hay thể chế hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất, dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải
là phép cộng đơn giản những thuộc tính của những thành phần ấy” [10] “Tích hợp có hai tính chất cơ bản: Tính liên kết và tính toàn vẹn, các thành phần liên hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau” [10]
Về dạy học tích hợp, khái niệm này có nhiều cách hiểu khác nhau Dạy học tích hợp được tổ chức UNESCO định nghĩa là: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất bản chất của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh hoặc quá coi nhẹ giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” Theo Xavier Rayiers, “Dạy học tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành những năng lực rõ ràng có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động” Dưới góc độ lý luận dạy học, theo Nguyễn Văn Khải “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển năng lực của học sinh Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” Dạy học tích hợp là sự kết hợp quan điểm liên môn và xuyên môn Vậy quan điểm liên môn và xuyên môn có nghĩa là như thế nào? Quan điểm liên môn có nghĩa
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
là: “Trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống” Như vậy, đây là quá trình liên kết giữa các môn học với nhau để giải quyết tình huống cho trước Quan điểm xuyên môn là: “Trong đó chúng
ta tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng
có thể áp dụng rộng rãi ở mọi nơi” Tổng hợp các quan điểm của một số tác giả, trong phạm vi luận văn này chúng tôi tiếp cận khái niệm dạy học với ý nghĩa: “Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ môn học, các lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một môn học mới hoặc lồng ghép những nội dung cần thiết vào nội dung một môn học nhất định” [24]
“Từ góc độ quan điểm tích hợp, có thể chia thành 3 mức độ trong dạy học tích hợp:
Mức độ 1: Tích hợp (Intergration): Kiến thức giáo dục và kiến thức môn học ở mức độ này được kết hợp một cách có hệ thống, chặt chẽ với nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học
Mức độ 2: Kết hợp (Infusion): Kết hợp còn có nghĩa là lồng ghép giáo dục trong nội dung môn học Ở mức độ này, nội dung môn học được giữ nguyên, các vấn
đề giáo dục được lựa chọn rồi lồng ghép với nội dung của môn học ở chỗ thích hợp sau mỗi phần, mỗi bài, hay mỗi chương Mỗi nội dung của bài học hay một phần của môn học sẽ liên quan trực tiếp đến nội dung giáo dục
Mức độ 3: Liên hệ (Application): Ở mức độ này, các kiến thức giáo dục không được nêu rõ trong sách giáo khoa, nhưng ở những phần phù hợp giáo viên có thể đưa kiến thức đó vào Một số phần nội dung của môn học (ví dụ, bài tập, tình huống) là một dạng vật liệu để giúp chúng ta liên hệ một cách hợp lý” [24]
“Dưới góc độ phương thức tích hợp có 2 dạng chính với 4 cách tích hợp nội dung học tập như sau:
- Dạng tích hợp thứ nhất: Chọn ứng dụng cho nhiều môn học (ví dụ như vấn
đề dân số, bảo vệ môi trường) Dạng này cơ bản vẫn duy trì môn học riêng rẽ, nhưng những ứng dụng sẽ được đưa vào thời điểm thích hợp Cách tích hợp này đang được
sử dụng rất phổ biến hiện nay
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
+ Cách thứ nhất: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện đều đặn trong suốt quá trình học qua các tình huống tích hợp
+ Cách thứ hai: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học có thể được thực hiện ở năm cuối cấp học trong một bài tập tích hợp hoặc trong một bài học
- Dạng tích hợp thứ hai: Các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau được phối hợp với nhau Loại tích hợp này nhằm để hợp nhất hai hay nhiều môn học trở thành một môn học duy nhất Đây là việc làm hết sức phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu xây dựng chương trình và tài liệu học tập cho phù hợp
+ Cách thứ nhất: Phối hợp quá trình học tập của các môn học khác nhau bằng tình huống tích hợp, theo đó các môn học được tích hợp xung quanh những mục tiêu chung Ưu điểm của cách tích hợp này đó là dạy cho học sinh giải quyết những tình huống phức tạp bằng cách vận dụng những kiến thức từ nhiều môn học khác nhau vào trong một tình huống gần với cuộc sống
+ Cách thứ hai: Kết hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp Ta nhóm các nội dung có mục tiêu bổ sung cho nhau thành một đề tài tích hợp, khi đó các môn học vẫn giữ nguyên các mục tiêu riêng” [24]
Tích hợp hiện nay đã và đang trở thành một trào lưu sư phạm, được quan tâm rất nhiều trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam Tích hợp được ứng dụng ở Việt Nam
từ những năm 70-80 của thế kỉ XX Vậy tại sao dạy học tích hợp lại được chú trọng ngày càng nhiều như vậy?
“Trước hết, do mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều ít nhiều có mối liên hệ với nhau; nhiều sự vật, hiện tượng có những điểm tương đồng và cùng một nguồn cội… Để nhận biết các sự vật, hiện tượng ấy, cần huy động tổng hợp các kiến thức từ các môn học (ví dụ: Môn Sinh học, Địa Lý, Giáo dục công dân, Lịch sử…) và
kĩ năng từ nhiều lĩnh vực khác nhau
Thứ hai, trong quá trình phát triển của khoa học và giáo dục, nhiều kiến thức, kĩ năng chưa hoặc chưa cần thiết trở thành một môn học trong nhà trường, nhưng lại rất cần chuẩn bị cho học sinh để họ có thể đối mặt với những thách thức của cuộc sống; do đó cần tích hợp giáo dục các kiến thức và kĩ năng đó thông qua các môn học
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Thứ ba, do tích hợp mà các kiến thức gần nhau, liên quan với nhau sẽ được nhập vào cùng một môn học nên số đầu môn học sẽ giảm bớt, tránh được sự trùng lặp không cần thiết về nội dung giữa các môn học…
Bên cạnh đó, hiện nay các tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội của con người phát triển như vũ bão trong khi quỹ thời gian và kiến thức của học sinh trong nhà trường thì có hạn, do đó không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường cho dù tri thức là rất cần thiết Vì vậy, dạy học tích hợp đã trở thành một đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội Hiện nay các nhà trường đều có một nhiệm vụ chung là hiện thực hoá mục tiêu phát triển toàn diện của học sinh Do đó các môn học trong nhà trường thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau: Phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh phù hợp với đặc thù của môn học Hình thành cho học sinh những tri thức, kĩ năng theo yêu cầu khoa học Góp phần hình thành kĩ năng sống, kĩ năng tư duy tổng hợp, hướng nghiệp cho học sinh Xuất phát từ những nhiệm vụ trên mà người giáo viên cần phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung cho phù hợp với từng môn học, từng đối tượng học sinh ở mọi vùng miền khác nhau” [24] “Xu thế dạy học trong nhà trường là làm sao cho tri thức tới học sinh toàn diện, quá trình dạy học phải
có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, tổng hợp hoá các tri thức” [24]
Như vậy, ta có thể khẳng định dạy học tích hợp sẽ đem tới rất nhiều hiệu quả cho học sinh, như người học áp dụng được nhiều kỹ năng hơn nữa, giúp cho việc tìm kiếm thông tin nhanh gọn hơn, thúc đẩy tinh thần thái độ học tập tích cực đối với học sinh Đồng thời, dạy học tích hợp cũng không đòi hỏi tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học phục vụ giảng dạy Do vậy, đây sẽ là một hướng đi
có triển vọng trong tương lai
1.1.2.2 Tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lý và Địa lí địa phương
“Bộ GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, một trong những vấn đề cần ưu tiên đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên
môn” [10]
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
“Tích hợp giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học là đưa nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia vào quá trình dạy học các môn trong đó có môn Địa lí Đặc biệt là các bài học có nội dung phù hợp với việc tích hợp nội dung này Tích hợp giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí thuộc dạng tích hợp liên môn và chủ yếu ở mức độ lồng ghép, liên hệ” [10]
“Các vua Hùng đã các công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” “Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc nhở các thế hệ người dân Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc của mình Bảo vệ Tổ quốc, đó không phải công việc của riêng ai, mà đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc” [10] Đặc biệt học sinh, sinh viên là lực lượng tri thức trẻ, năng động, sáng tạo, là trụ cột của nước nhà càng phải nỗ lực hết mình và tỏ rõ vai trò này Chính vì vậy, việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho thế hệ trẻ là hết sức cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2 Thực trạng tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông
Việc tiến hành điều tra, khảo sát về thực trạng dạy học Địa lí nói chung, thực trạng của việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho học sinh THPT trong dạy học Địa lí lớp 12 là rất cần thiết Kết quả điều tra, khảo sát là cơ
sở đưa ra những kết luận chung cũng như những yêu cầu đặt ra cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí và giáo dục cho HS kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia hiệu quả
Việc điều tra, khảo sát được tiến hành ở một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Trường THPT Việt Bắc, THPT Văn Quan, THCS Đông Kinh và THCS Quảng Lạc Về phương pháp tiến hành: tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra đối với 27
GV (trong đó gồm 16 GV THPT và 11 GV THCS) và 188 HS của 4 trường trên
* Về nội dung điều tra tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:
- Đối với giáo viên, tìm hiểu về các vấn đề như sự cần thiết phải giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; SGK Địa lí nào có nhiều ưu thế trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; sách giáo khoa Địa lí với những nội dung về chủ quyền lãnh thổ,biên giới quốc gia; trong dạy học môn Địa lí ở trường THPT và THCS, kiến thức nào về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia còn thiếu hụt; hình thức giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho HS trong dạy học Địa lí THPT và THCS; phương pháp thường dùng trong dạy học Địa lí
- Đối với học sinh, trước khi tiến hành điều tra, khảo sát, tác giả luận văn đã cung cấp cho HS tập tài liệu liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia để HS thấy được sự khác biệt những gì mình đã biết và chưa biết về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào tìm hiểu các
em có những hiểu biết kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia thông qua kênh thông tin nào là chủ yếu; bộ môn có nhiều ưu thế trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; ở trường THPT, SGK Địa lí nào có nhiều ưu thế trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; HS có thích được tìm hiểu kiến thức về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
quốc gia của nước ta không; trong các môn học ở trường THPT nói chung, môn Địa
lí nói riêng, kiến thức nào về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia còn ít; HS muốn được giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong môn Địa lí thông qua hình thức học tập nào
* Kết quả điều tra, khảo sát như sau:
- Về phía giáo viên: Thứ nhất, từ kết quả phiếu điều tra hỏi về sự cần thiết phải giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho HS trong dạy học Địa lí Tổ quốc: 70% GV được điều tra đều cho rằng việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho HS trong dạy học Địa lí Tổ quốc là “rất cần thiết”, 30% cho rằng “cần thiết” và 0% ý kiến cho rằng “bình thường” và
“không cần thiết” Qua đó có thể thấy, tất cả GV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kiến thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho HS Bởi vì
nó giúp cho HS hiểu được những giá trị truyền thống của cha ông về chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc, biên giới quốc gia, hiểu được những khái niệm, quan điểm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Từ đó định hướng cho các em hành động và trách nhiệm đối với hiện tại và tương lai
Thứ hai, về SGK Địa lí nào có nhiều ưu thế trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Đối với THPT: 85% GV cho rằng SGK “Địa
lí 12” có ưu thế nhất trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho học sinh; 15% ý kiến cho rằng môn “Địa lí 11” Đối với THCS: 70%
GV cho rằng SGK “Địa lí 9” có ưu thế nhất trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho học sinh; 30% ý kiến cho rằng môn “Địa lí 8” Như vậy, nhà trường phổ thông cũng như trung học cơ sở chịu trách nhiệm quan trọng cùng với xã hội hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện hiện nay Môn Địa lí với chức năng và nhiệm vụ của mình cùng với các môn học và các hoạt động ở trường phổ thông góp phần giáo dục thế hệ trẻ theo mục tiêu đào tạo đã được xác định
Thứ ba, về sách giáo khoa Địa lí với những nội dung về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Đối với THPT, theo kết quả khảo sát điều tra ở GV cho thấy: 100% GV khẳng định rằng nội dung về chủ quyền lãnh thổ trong SGK Địa lí Việt
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nam nói chung và Địa lí lớp 12 nói riêng “có nhưng ít”, cách trình bày còn dàn trải, chưa hấp dẫn người dạy và người học Những vấn đề cần thiết cho hôm nay lại chưa được nhấn mạnh như vấn đề lãnh thổ thống nhất và toàn vẹn của Tổ quốc, vấn đề xác lập chủ quyền biển, đảo, cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo… Đối với THCS, kết quả khảo sát lại, 90% GV cho rằng nội dung về chủ quyền lãnh thổ trong SGK Địa lí Việt Nam bậc trung học cơ sở “có nhưng ít”, 10% còn lại thì cảm thấy “bình thường”
Thứ tư, về nội dung trong dạy học môn Địa lí ở THPT và THCS, kiến thức nào
về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia còn thiếu hụt Đối với THPT, 45% GV được hỏi khẳng định kiến thức về “phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền với các quốc gia láng giềng” còn thiếu hụt; 20% GV cho rằng đó là kiến thức về “lãnh thổ và xác lập chủ quyền lãnh thổ”, 30% ý kiến GV chọn kiến thức về “biên giới, bảo vệ an ninh biên giới quốc gia”, 5% GV chọn kiến thức về “bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” Đối với THCS, 50% GV cho rằng kiến thức về “Lãnh thổ và xác lập chủ quyền lãnh thổ” còn thiếu hụt; 30% cho rằng đó là kiến thức về ““phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền với các quốc gia láng giềng”; 15% GV chọn kiến thức về “biên giới, bảo vệ an ninh biên giới quốc gia”; 5% GV chọn kiến thức về “bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam”
Thứ năm, về hình thức giáo dục về kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho HS Theo kết quả điều tra, khảo sát, 70% ý kiến GV THPT và THCS muốn thực hiện việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia cho
HS thông qua hình thức “tích hợp trong dạy học nội khóa”; 5% ý kiến GV THPT và THCS chọn hình thức “tổ chức các hoạt động ngoại khóa” để tuyên truyền giáo dục; 5% GV THPT và THCS trả lời “tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu” và 20 % GV THPT
và THCS chọn “tích hợp với môn học khác”
Thứ sáu, về phương pháp thường dùng trong dạy học Địa lí: 40% GV THPT
và THCS vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình nội dung bài học; 30% GV THPT và THCS tổ chức “thảo luận nhóm”, 20% GV THPT và THCS “sử dụng công nghệ thông tin”, 10% GV THPT và THCS sử dụng các “phương pháp khác”
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Về phía học sinh:
Thứ nhất, kết quả thu được từ phiếu điều tra HS về nội dung các em có những hiểu biết kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia thông qua kênh thông tin nào là chủ yếu: 80% HS lựa chọn “truyền hình, báo chí truyền thông, thông tin chính thống trên Internet”, chỉ có 20% lựa chọn qua “các môn học
ở trường phổ thông”
Thứ hai, khi hỏi về bộ môn có nhiều ưu thế trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Đối với THPT, 70% HS trả lời là môn “Địa lí”, 20% lựa chọn môn “Lịch sử” và 10% dành cho các bộ môn khác Đối với THCS, 60% HS trả lời là môn “Địa lí”, 30% lựa chọn môn “Lịch sử” và 10% dành cho các
bộ môn khác
Thứ ba, về nội dung SGK Địa lí nào có nhiều ưu thế trong việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Đối với THPT, 60% HS chọn “Địa
lí 12”, 30% cho rằng “Địa lí 11” và 20% trả lời là “Địa lí 10” Đối với THCS, 50%
HS chọn “Địa lí 9”, 30% cho rằng “Địa lí 8”, 15% trả lời là “Địa lí 7” và 5% HS chọn “Địa lí 6”
Thứ tư, khi được hỏi về kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong chương trình sách giáo khoa môn Địa lí ở trường hiện nay Đối với THPT, 60%
HS cho rằng “có nhưng ít”, 25% HS trả lời là “chưa cụ thể”, 15% HS chọn “bình thường” Đối với THCS, 70% HS cho rằng “chưa cụ thể”, 20% HS trả lời là “có nhưng ít”, 10% HS chọn “bình thường”
Thứ năm, đối với nội dung em có thích được tìm hiểu kiến thức về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước ta không Cả THPT và THCS, khi được hỏi đa số 80% HS trả lời “rất thích và thích”, có 15% HS trả lời “bình thường”, chỉ có 5% là ‘không thích”
Thứ sáu, về nội dung hỏi theo em, trong các môn học ở trường nói chung, môn Địa lí nói riêng, kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia còn chưa được đầy đủ Đối với THPT, kết quả điều tra cho thấy 35% HS được hỏi khẳng định kiến thức về “phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền với các quốc gia láng