Chính điều đó không những không làm tăng hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một dư lượng lớn các chất hóa học tồn dư trong đất, nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ QUỲNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2018
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ QUỲNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số ngành: 8 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Kiều Thị Thu Hương
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, những kết luận nghiên cứu
được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Các số liệu và tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả
Lê Thị Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các Thầy Cô và các đơn vị liên quan, tôi đã hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT cùng các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này Đặc biệt tôi xin cảm ơn cô giáo TS Kiều Thị Thu Hương, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm: UBND TPTN, Chi cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Các tổ chức hội đoàn thể, UBND các xã Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả
Lê Thị Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Lịch sử phát triển cây chè tại Việt Nam 4
1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến sản xuất chè an toàn 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 19
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam 27
1.2.3 Tình hình sản xuất chè an toàn ở một số tỉnh trong nước 31
1.2.4 Bài học kinh nghiệm được rút ra trong sản xuất chè an toàn cho Thành phố Thái Nguyên 35
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 38
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 38
2.2 Nội dung nghiên cứu 38
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu 38
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 39
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 40
2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 41
Trang 62.3.4.1 Phương pháp thống kê kinh tế 41
2.3.4.2 Phương pháp nghiên cứu số liệu 41
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
3.1.1 Vị trí địa lý 43
3.1.2 Khí hậu và tài nguyên thiên nhiên 44
3.1.3 Hệ thống kết cấu hạ tầng 46
3.1.4 Nguồn nhân lực 50
3.1.5 Điều kiện kinh tế - xã hội 50
3.2 Thực trạng sản xuất chè an toàn tại tỉnh Thái Nguyên 48
3.3 Thực trạng sản xuất chè an toàn tại các hộ nghiên cứu 55
3.3.1 Tình hình sản xuất chung 58
3.3.2 Cơ cấu giống chè 59
3.3.3 Đặc điểm nhóm hộ điều tra 60
3.3.4 Năng suất, sản lượng bình quân các hộ trồng chè 59
3.3.5 Chi phí cho sản xuất của các hộ trồng chè 60
3.3.6 Lợi nhuận của các hộ trồng chè 62
3.3.7 Thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của các hộ trồng chè 63
3.4 So sánh hiệu quả sản xuất chè an toàn và chè truyền thống 66
3.4.1 So sánh hiệu quả kinh tế hộ sản xuất chè an toàn và hộ sản xuất truyền thống 66
3.4.2 Hiệu quả xã hội của sản xuất chè 68
3.5 Kênh tiêu thụ sản phẩm của nhóm hộ sản xuất chè an toàn và nhóm hộ sản xuất chè truyền thống 69
3.5.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm của nhóm hộ sản xuất chè an toàn 69
Trang 73.5.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm của nhóm hộ sản xuất chè truyền thống 73
3.6 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong sản xuất chè an toàn 71
3.7 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của sản xuất chè an toàn tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2018 - 2020 định hướng 2025 73
3.7.1 Giải pháp về chính sách 73
3.7.2 Giải pháp về thị trường tiêu thụ 74
3.7.3 Giải pháp về khoa học công nghệ 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 8IC : Chi phí trung gian
IPM : Quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp
UBND : Uỷ Ban Nhân Dân
VA : Giá trị gia tăng
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số
nước trồng chè chính năm 2016 22
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn hàm lượng đồng và chì trong chè 25
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn hàm lượng kim loại nặng trong đất 25
Bảng 1.4: Hàm lượng tồn dư thuốc trong chè 26
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam giai đoạn 2012-2016 31
Bảng 1.6: Thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2017 33
Bảng 3.1: Diện tích, sản lượng chè búp tươi theo huyện, thành phố, thị xã 51
Bảng 3.2: Cơ cấu giống chè ở Thái Nguyên 53
Bảng 3.3: Tình hình xuất khẩu chè Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016 55
Bảng 3.4: Tình hình sử dụng đất của Thành phố Thái Nguyên 58
Bảng 3.5: Diện tích, năng suất, sản lượng chè tại Thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2014- 2016 58
Bảng 3.6: Cơ cấu giống các hộ điều tra 60
Bảng 3.7: Tình hình nguồn nhân lực của nhóm hộ điều tra 61
Bảng 3.8: Năng suất, sản lượng chè của nhóm hộ điều tra 62
Bảng 3.9: Chi phí sản xuất chè của nhóm hộ điều tra 63
Bảng 3.10: Diện tích, năng suất, lợi nhuận của các hộ điều tra 65
Bảng 3.11: Thị trường tiêu thụ của các hộ trồng chè 67
Bảng 3.12: So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ địa giới Thành phố Thái Nguyên 46Hình 3.2 Kênh tiêu thụ của hộ sản xuất chè an toàn 73Hình 3.3 Kênh tiêu thụ của hộ sản xuất chè truyền thống 74
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chè (trà) là thức uống ngày càng được ưa chuộng trên thế giới vì các giá trị dinh dưỡng có trong thành phần của búp chè (như là amino acid, vitamin, alkaloid và polysaccharide…) được nghiên cứu là có lợi cho sức khỏe Chè còn được coi là thực phẩm chức năng có tác dụng giảm cholesterol, chống lại sự phát triển của các tế bào ung thư, hỗ trợ giảm cân…
Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Châu Á, vùng được coi là cái nôi
của cây chè Là một trong 6 nước sản xuất chè đứng đầu trên thế giới Tại Việt Nam, trồng chè gắn với lịch sử trên 3000 năm và uống trà đã trở thành văn hóa của người Việt Trà gắn với hầu hết các sự kiện quan trọng quanh năm của người Việt như đón năm mới, các ngày lễ tết, cưới, hỏi…
Đối với Vùng Núi và Trung Du phía Bắc Việt Nam - vùng được coi
là nghèo nhất trong cả nước, cây chè có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền kinh tế xã hội của vùng Thu nhập từ chè cao hơn so với từ các cây trồng khác, do đó cây chè được coi là cây xóa đói giảm nghèo, thậm chí là cây làm giàu cho 1 số địa phương Bên cạnh đó, với diện tích lớn đất đồi núi là đất dốc thì trồng chè là lựa chọn phù hợp cho việc bảo vệ đất cũng như tạo cảnh quan đẹp
Tuy nhiên sản xuất chè hiện nay đang có nhiều bất cập Đó là, do thiếu kiến thức trong sản xuất, người sản xuất chè đã và đang lạm dụng phân
vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật Kết quả điều tra của Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) cho thấy, có tới 49% nông dân các vùng trồng chè được hỏi sử dụng thuốc với nồng độ cao hơn hướng dẫn, 64% nông dân sử dụng hỗn hợp
2 loại thuốc khi phun và có 14% nông dân trộn 3 loại thuốc khi phun trong khi bà con không hề biết việc phối trộn này sẽ làm tăng nồng độ thuốc lên nhiều lần; gần 50% nông dân phun trên 7 lần/vụ, có hộ phun tới 4 lần/tháng,
Trang 12gây lãng phí trong sử dụng thuốc, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn tới thiên địch và mất an toàn thực phẩm cho sản phẩm chè Tình trạng sử dụng thuốc tùy tiện, nồng độ cao hơn quy định, thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng trên chè là nguyên nhân chính tạo nên dư lượng thuốc trên sản phẩm chè cao như hiện nay [24]
Việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh cho chè ở nhiều nơi còn khá tuỳ tiện, không đảm bảo thời gian cách ly còn phổ biến ở nhiều vùng chè Chính điều
đó không những không làm tăng hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một dư lượng lớn các chất hóa học tồn dư trong đất, nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè ở quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chè với chất lượng ngày một cao Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó, tôi chọn nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất chè an toàn tại
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Nghiên cứu thực trạng và đưa ra một số giải pháp phát triển sản xuất chè an toàn tại Thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2018-2020 định hướng đến năm 2025
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng sản xuất chè an toàn tại thành phố Thái Nguyên
- So sánh hiệu quả kinh tế hộ sản xuất chè an toàn với hộ sản xuất chè truyền thống
- Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè an toàn tại thành phố Thái Nguyên
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển hiệu quả sản xuất chè an toàn tại Thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2018-2020 định hướng đến năm 2025
Trang 132.3 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tư liệu khoa học hữu ích cho việc nghiên cứu, tham khảo trong việc giảng dạy, học tập tại các trường, các viện nghiên cứu về vấn đề liên quan đến sản xuất chè và chè an toàn
Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, dự án phát triển
mô hình sản xuất chè an toàn tại địa phương khác
- Cho thấy những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức, những điều chưa làm được và cần phải làm ở địa phương để có thể đưa ra giải pháp phù hợp để phát triển sản xuất chè an toàn tại tỉnh Thái nguyên nói riêng, khu vực miền núi phía Bắc nói chung
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Lịch sử phát triển cây chè tại Việt Nam
1.1.1.1 Nguồn gốc cây Chè Việt Nam
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía Bắc Cây chè Suối Giàng trong sách "Vân Đài loại ngữ" có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: " Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên " Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp
đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ
“Hàng ngày, những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa chất đầy muối và gạo khi đi
và nặng chĩu chè khi về Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp cho Hoàng đế Trung Hoa Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang" Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang, Việt Nam (1923) và Tây Nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết " những rừng chè, bao giờ
Trang 15cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam
và Myanmar, sông Bramapoutrơ ở Assam" Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catechin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An ), đã viết: Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catechin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam Từ đó, có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới như sau "Chi Camelli → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá
to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (Ấn Độ)"[8]
Cho đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: Cây chè xuất hiện đầu tiên từ một vùng sinh thái hình quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Myanmar
và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Myanmar ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Myanmar và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 950
đến 1200 Đông, trục Bắc Nam từ vĩ độ 290 đến 110 Bắc [1]
1.1.1.2 Sự phát triển của cây Chè Việt Nam
Thời kỳ trước năm 1882: Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình: Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè đồng bằng sông Hồng ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà
Thời kỳ 1882-1945: Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết
Trang 16bị công nghệ hiện đại Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình
và tiểu doanh điền Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu Diện tích chè cả nước là 13305ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm
Thời kỳ độc lập (1945- nay): Sau năm 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô - Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc Đến hết năm 2015, tổng diện tích chè là 108.000ha, trong đó có 87.000ha chè kinh doanh Tổng số lượng chè sản xuất 1924.5 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu 329.7 nghìn tấn [14]
1.1.1.3 Các vùng chè Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông Nam Á, cái nôi của cây chè Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè Lượng nước mưa dồi dào 1700-2000mm/năm, nhiệt độ 21-22,60C, ẩm độ không khí 80-85% Đất đai trồng chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.5-22.50, chia thành 3 vùng: vùng thấp dưới 300m, vùng giữa 300-600m, vùng cao 600 đến trên 1000m, nên chất lượng chè rất tốt
Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung du và Shan, làm được chè xanh
và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng Ngoài ra, còn những giống chè tốt làm chè đen, chè xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Ấn Độ và Srilanka, Inđônêsia [14]
1.1.1.4 Vai trò của cây chè
Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Nó có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con
Trang 17người Sản phẩm chè có rất nhiều tác dụng như kích thích thần kinh làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…
Sản phẩm chè không chỉ phục vụ trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế nước ta Cây chè đem lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người dân, cải thiện đời sống kinh tế,văn hóa, xã hội và tạo ra công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa
Chè là cây trồng sinh trưởng tốt ở Trung Du và Miền Núi, loại cây trồng này ngoài việc giúp người dân nâng cao thu nhập còn giúp cải tạo môi trường, phủ xanh, chống xói mòn đất
Như vậy, việc phát triển cây chè hoàn toàn phù hợp với các vùng Trung
Du và Miền Núi phía Bắc Giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm cho khu vực nông thôn hiện nay [14]
1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến sản xuất chè an toàn
1.1.2.1 Khái niệm về chè an toàn
Trong sản xuất chè, hiện nay có nhiều thuật ngữ khái niệm để gọi các sản phẩm chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm như: Chè an toàn hay chè “sạch”
Chè an toàn được hiểu là sản phẩm chè được tạo ra trong quá trình sản xuất thông thường nhưng được kiểm soát và đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm Sản phẩm đạt các chỉ tiêu như: Chất lượng tốt, dư lượng hoá chất độc hại, hàm lượng kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại trong sản phẩm thấp hơn ngưỡng cho phép
Khái niệm về chè an toàn tại Việt Nam được hướng dẫn cụ thể tại thông
tư số TT59/2012/TT BNNPTNT ngày 09 tháng 11 năm 2012 do Bộ Nông Nghiệp PTNT ban hành:
Trang 18“Chè an toàn là sản phẩm chè búp tươi được sản xuất phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp quy trình sản xuất chè an toàn (bao gồm cả sản phẩm) hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn VietGAP hoặc các tiêu chuẩn GAP khác và được chế biến theo quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy địn h [3]
Bên cạnh đó còn có 1 số khái niệm về sản xuất chè an toàn khác như: UTZ Certified là chương trình chứng nhận toàn cầu trong lĩnh vực cấp chứng chỉ sản xuất các sản phẩm chè tốt, có trách nhiệm, truy nguyên nguồn gốc, an toàn thực phẩm và bền vững trong ba lĩnh vực: Kinh tế - Môi trường - Xã hội
Nhiệm vụ của UTZ Certified là để tạo ra một thế giới nơi mà nông nghiệp bền vững là tiêu chuẩn, nơi nông dân thực hiện các thực hành nông nghiệp tốt và quản lý trang trại của họ mang lại lợi nhuận với sự tôn trọng con người và hành tinh của ngành công nghiệp [11]
Quy trình cấp giấy chứng nhận cơ sở sản xuất an toàn
* Cơ quan cấp chứng nhận là Sở NN & PTNT
* Điều kiện cơ sở được cấp chứng nhận:
- Có đăng ký sản xuất chè an toàn;
- Cơ sở có hệ thống kiểm soát vùng nguyên liệu về sử dụng phân bón, thuốc BVTV, các loại hoá chất trong sản xuất chè nguyên liệu, có sổ nhật ký theo dõi quá trình canh tác chè hàng ngày, cơ sở chế biến đảm bảo điều kiện
an toàn vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn 10 TCN 606- 2004;
Trang 19- Cơ sở đã áp dụng qui trình sản xuất chè an toàn;
- Mẫu sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui định của nhà nước và được phân tích, đánh giá bởi tổ chức có chức năng, đủ điều kiện và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
- Bao bì, nhãn hiệu hàng hoá phải tuân thủ đúng qui định TCVN, của các cơ quan chức năng;
* Thanh tra - kiểm tra:
Cơ quan cấp chứng nhận tiến hành kiểm tra thực tế để xác nhận cơ sở đạt tiêu chuẩn sản xuất chè an toàn và chịu trách nhiệm về xác nhận của mình
Thời gian tiến hành thanh tra - kiểm tra định kỳ 6 tháng/ lần, nếu khi phát hiện thấy có dấu hiệu vi phạm các qui định, cơ quan cấp chứng nhận sẽ tiến hành kiểm tra đột xuất
Khi kiểm tra, nếu các cơ sở không đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ xử lý: cấm lưu thông, tiêu thụ số sản phẩm đã sản xuất Cho phép cơ
sở cải tạo, chuyển đổi trong 6 tháng sau đó kiểm tra lại nếu vẫn không đạt yêu cầu sẽ chấm dứt hoạt động của cơ sở đó
1.1.2.2 Khái niệm sản xuất
Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Theo Ph.Ăngghen: “điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất” Sản xuất vật chất là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của
Trang 20con người và xã hội Với nghĩa như vậy, sản xuất vật chất là một loại hoạt động có tính khách quan, tính xã hội, tính lịch sử và tính sáng tạo
Sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ
xã hội của con người; nó là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của
xã hội loài người
Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội Sự vận động, phát triển của xã hội suy cho cùng
có nguyên nhân từ sự phát triển của nền sản xuất xã hội Do đó, để giải thích
và giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội thì phải xuất phát từ thực trạng sản xuất vật chất của xã hội
Nhận thức được vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Trên cơ sở đó trong nhận thức là cơ sở giúp cho chúng ta nhận thức được rằng, mọi hoạt động thực tiễn và nhận thức phải dựa trên nền tảng sản xuất vật chất [2]
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất
và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu vực:
- Khu vực một của nền kinh tế: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản
- Khu vực hai của nền kinh tế: Khai thác mỏ, Công nghiệp chế tạo (công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng), Xây dựng
- Khu vực ba của nền kinh tế, hay Khu vực dịch vụ [10]
Trang 211.1.2.3 Khái niệm tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng
Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được quản lí bằng các hình thức khác nhau
Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ Nói cách khác tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là căn cứ để lập ra kế hoạch sản xuất cái gì, sản xuất với khối lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào Nếu không căn cứ vào sức tiêu thụ trên thị trường mà sản xuất ồ ạt, không tính đến khả năng tiêu thụ sẽ dẫn đến tình trạng ế thừa, tồn đọng sản phẩm, gây ra sự đình trệ trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến nguy cơ phá sản Ngoài ra tiêu thụ sản phẩm quyết định khâu cung ứng đầu vào thông qua sản xuất
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đối với các hoạt động nghiệp vụ khác của doanh nghiệp như : Nghiên cứu thị trường, đầu tư mua sắm trang thiết bị, tài sản, tổ chức sản xuất, tổ chức lưu thông, dịch vụ… Nếu không tiêu thụ được sản phẩm thì không thể thực hiện được quá trình tái
Trang 22sản xuất, bởi vì doanh nghiệp sẽ không có vốn để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh kể trên
Tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn, bù đắp chi phí và có lãi Nó giúp cho doanh nghiệp có các nguồn lực cần thiết để thực hiện quá trình tái sản xuất tiếp theo, công tác tiêu thụ được tổ chức tốt sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất và là yếu tố tăng nhanh vòng quay của vốn Bởi vậy tiêu thụ sản phẩm càng được tiến hành tốt bao nhiêu thì chu kỳ sản xuất kình doanh càng ngắn bấy nhiêu, vòng quay vốn càng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn càng cao
Lợi nhuận là mục đích quan trọng nhất trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là nguồn bổ xung các quỹ của doanh nghiệp trên
cơ sở đó các doanh nghiệp có điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị, xây dựng mới từng bước mở rộng và phát triển quy mô của doanh nghiệp Lợi nhuận còn để kích thích vật chất khuyến khích người lao động, điều hoà lợi ích chung và lợi ích riêng, khai thác sử dụng các tiềm năng của doanh nghiệp một cách triệt để
Như vậy để có lợi nhuận cao ngoài các biện pháp giảm chi phí sản xuất doanh nghiệp còn phải đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá luân chuyển, tăng doanh thu bán hàng Tốc độ tiêu thụ sản phẩm càng cao thì thời gian sản phẩm nằm trong khâu lưu thông càng giảm điều đó có nghĩa là sẽ giảm được chi phí lưu thông, giảm chi phí luân chuyển, tồn kho, bảo quản, hao hụt, mất mát… Tạo điều kiện cho doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm và giá bán, tăng sức cạnh tranh và đảm bảo mức lợi nhuận dự kiến [31]
Trang 231.1.2.4 Vai trò của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè
Sản phẩm chè đã và đang là nhu cầu phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều quốc gia sử dụng chè sau chế biến như là một nhu cầu thiết yếu Điều đó đã được khẳng định ở thị trường tiêu thụ chè đen ở Liên Xô trước đây
cũng như là các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Irac, Ấn Độ…
Trong quá trình phát triển, cây chè đã tự khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Sản phẩm chè không chỉ là nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan
trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn
Sản xuất tiêu thụ chè góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người nông dân, khai thác hiệu quả sức lao động hộ nông dân
Phát triển sản xuất chè ở Trung Du và Miền Núi góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, cải tạo đất, tăng độ phì, góp phần bảo vệ phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Sản xuất, tiêu thụ chè mang lại thu nhập cao hơn các loại cây trồng khác Phát triển sản xuất, tiêu thụ chè tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập Việc xuất khẩu chè dưới dạng chè thành phẩm như chè đen, chè vàng, chè xanh chất lượng cao cho phép các quốc gia sản xuất, tiêu thụ chè có điều kiện trao đổi hàng hóa, chuyển giao công nghệ với các quốc gia đối tác [19]
1.1.2.5 Các quan điểm về tăng trưởng, phát triển kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định Tăng trưởng kinh tế, dưới dạng khái quát, là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội
Trang 24(GDP) trong một thời gian nhất định (thường tính cho một năm) Tăng trưởng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia Nó là điều kiện cần thiết đầu tiên để khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu; để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư như: tăng tuổi thọ, giảm suy dinh dưỡng, giảm bệnh tật, phát triển giáo dục, văn hóa, thể thao Tất nhiên thành quả của tăng trưởng kinh tế phải sử dụng công bằng, hợp lý mới có những tác dụng đó Tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất để tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp và nâng cao mức sống của nhân dân Tuy nhiên, vấn đề này chỉ được giải quyết có kết quả khi có mức tăng dân số hợp lý Tăng trưởng kinh
tế còn là tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng, song không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn Sự tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn nền kinh tế đến "trạng thái quá nóng", lạm phát sẽ xảy ra, làm cho kinh tế xã hội thiếu bền vững; còn sự tăng trưởng kinh tế quá thấp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Vì vậy, cần tăng trưởng kinh tế hợp lý, tức là sự tăng trưởng phù hợp với khả năng của đất nước ở mỗi thời kỳ nhất định Xác định mức tăng trưởng hợp lý sẽ đảm bảo cho nền kinh tế ở trạng thái tăng trưởng bền vững Đó là sự tăng trưởng kinh
tế đạt mức tương đối cao và ổn định trong thời gian tương đối dài gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và tiến bộ xã hội
- Phát triển kinh tế: là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện
cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Phát triển kinh tế biểu hiện: Một là, sự tăng lên của GNP, GDP hoặc GNP và GDP tính theo đầu người, tức là sự tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số Đồng thời đó phải là sự tăng trưởng kinh tế ổn định và vững chắc Hai là, sự thay
Trang 25đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng của ngành dịch vụ và công nghiệp trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của nông nghiệp giảm xuống, nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành đều tăng lên Đó là tính quy luật của quá trình vận động của nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn, hiện đại Ba là, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư phải được cải thiện, tăng lên Muốn vậy, không phải chỉ có GNP (hoặc GDP) theo đầu người tăng lên, mà còn phải phân phối công bằng, hợp lý kết quả tăng trưởng, bảo đảm sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế mà mỗi người dân được hưởng,
ổn định lạm phát, ngăn ngừa khủng hoảng nhờ có thể chế kinh tế tiến bộ; chất lượng sản phẩm ngày càng cao; bảo vệ môi trường sinh thái Tăng trưởng kinh tế là điều kiện, tiền đề cho phát triển kinh tế, phát triển kinh tế
là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Các yếu tố ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế biểu hiện rõ rệt nhất ở sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy, mọi nhân tố tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là nhân tố phát triển kinh tế Nhưng phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn tăng trưởng kinh tế Do đó ngoài các nhân tố tăng trưởng kinh tế, còn các yếu tố khác tác động đến sự phát triển kinh tế [9]
Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của mỗi quốc gia, là bước đi tất yếu của mọi sự biến đổi kinh tế từ thấp đến cao, theo xu hướng biến đổi không ngừng [12]
1.1.2.6 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất của các hoạt động kinh tế, quá trình tăng cường và sử dụng những nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao
Trang 26hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội, nó được xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng của xã hội loài người Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế
do đó xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế
- Trước đây người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi vì nếu cùng một kết quả sản xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả
- Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng nếu chi phí hoặc nguồn lực tăng nhanh thì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất mỗi năm một khác, các yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó quan điểm này thực sự chưa thoả đáng
- Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị
- Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt sản lượng một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm
Trang 27quốc dân tiềm năng (Potential Gross National Product) là tổng sản phẩm quốc dân cao nhất có thể đạt được, đó là mức sản lượng tương ứng với tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ giữa tổng sản phẩm quốc dân thực tế và tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế là phần sản lượng tiềm năng mà xã hội không
sử dụng được (phần lãng phí) Tuy nhiên khái niệm tiềm năng phụ thuộc vào lao động tiềm năng Lao động tiềm năng là lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên Sản lượng tiềm năng cũng phải ứng với tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó mới hợp lý
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế do đó việc xác định khái niệm hiệu quả kinh tế cần phải xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn
Thứ nhất: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất hiệu quả kinh
tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ
sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian
là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều quan tâm đến quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tao điều kiện phát minh, phát triển xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
Thứ hai: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội
là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội
Trang 28Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa xã hội và môi trường
Thứ ba: Hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí là nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đặc trưng Nó được xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội
Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nói trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xác định hiệu quả rất khó khăn về cả lý luận và thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đó là đáp ứng ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của con người Muốn vậy sản xuất phải luôn luôn phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Quan điểm về hiệu quả kinh tế trong điều kiện hiện nay là thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, nguyên liệu trong sản xuất, mang lại lợi ích cho xã hội loài người và bảo vệ môi trường sinh thái Chính vì vậy hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá trên cả ba khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái
Trang 29Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là hiệu quả kinh
tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết qua có liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là: nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường sinh thái, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân tức là đạt hiệu quả về mặt xã hội
Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp ngoài những hiệu quả về kinh tế xã hội, còn có hiệu quả lớn về môi trường mà các ngành kinh tế khác không thể
có Cũng có thể mọi hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để
có kết luận chính xác
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân thành 3 phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối
và đại lượng tuyệt đối
Trang 30- Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một giải pháp kỹ thuật quản lý
có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tương đối giữa các kết quả đem lại và chi phí bỏ ra Khi xác định hiệu quả kinh tế phải xem xét đầy đủ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối Hiệu quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào và đầu ra
- Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh về mặt xã hội như: Tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập ổn định và tạo ra sự công bằng xã hội trong cộng đồng dân cư, cải thiện đời sống nông thôn
- Hiệu quả môi trường, đây là hiệu quả mang tính chất lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích trước mắt, vừa đảm bảo lợi ích lâu dài, nó gắn chặt chẽ với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên - nước và môi trường sinh thái
Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất
và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất là khi kết hợp với hiệu quả kinh tế
xã hội Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế, ta có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế
Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành:
- Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như: Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ trong từng ngành lớn có lúc phải phân bố hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn
- Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội
Trang 31- Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì mỗi doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng và lấy lợi nhuận là mục tiêu cao nhất Chính vì thế mà nhà nước có các chính sách liên kết vĩ mô với doanh nghiệp
- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất: vật chất, phi vật chất và sản xuất dịch vụ
Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành:
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị
- Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng
- Hiệu quả áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý [9]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Chè là dạng cây bụi của miền nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa Quê hương của cây chè là Myanmar, Việt Nam và Trung Quốc Cây chè xuất hiện cách đây khoảng 5000 năm và từ đây lan sang các nơi khác Vào đầu thế kỷ
19, người Châu Âu đem chè về trồng ở các thuộc địa Ấn Độ, Pakixtan, Inđônêxia… Đến nay trên thế giới đã có 58 nước trồng chè phân bố ở khắp 5 châu, tập trung chủ yếu ở châu Á chiếm tới gần 90% tổng diện tích, sau đó là châu Phi, châu Mỹ
Trên thế giới đang phổ biến 4 loại chè chính: chè Ấn Độ với đặc điểm chịu lạnh, lá to và mềm, dễ vò, tỷ lệ búp cao, dễ chăm sóc và thu hái; chè Trung Quốc lá nhỏ, dày; chè Vân Nam lá lớn và chè Shan lá lớn, mềm
Trang 32+ Sản lượng chè thế giới tăng đều qua các năm và tương đối ổn định trên 2 triệu tấn/năm Hiện nay, những nước trồng nhiều chè là Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Việt Nam, Nhật Bản, những nước này chiếm tới 78% sản lượng chè của toàn thế giới
+ Chè được tiêu thụ dưới hai dạng khác nhau: chè đen và chè xanh Trên thế giới, thị trường chè đen có sức mua lớn hơn thị trường chè xanh Lượng chè xuất khẩu hàng năm trên thế giới là trên 1 triệu tấn Các nước xuất khẩu nhiều chè nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia Thị trường nhập khẩu là Anh, Hoa Kỳ, LB Nga …
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới
và một số nước trồng chè chính năm 2016
STT Tên nước Diện tích
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
(Nguồn: Theo FAO năm 2017)
Trong những năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu hướng tăng, tăng cả về diện tích lẫn sản lượng Tính đến năm 2016 diện tích chè trên thế giới là 4.099.230 ha Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích 2.240.594 ha, nhưng lại có năng suất thấp nhất 10,78 tạ/ha Qua bảng ta thấy các nước có năng suất bình quân cao hơn năng suất bình quân của thế giới là: Srilanca, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Indonexia
Trang 33và Việt Nam Trong đó Thái Lan có năng suất bình quân cao nhất thế giới đạt 64,12 tạ/ ha Về sản lượng, đứng đầu thế giới là Trung Quốc có sản lượng đạt 2.414.802 tấn [28]
1.2.1.2 Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới
Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ gộp lại có mức tiêu dùng chè cao hơn tất cả phần còn lại của thế giới Năm 2015, Trung Quốc tiêu thụ 1,812 triệu tấn chè Ấn Độ cũng đang tăng tiêu dùng chè do tầng lớn trung lưu ngày càng lớn mạnh, với mức tiêu thụ 948.000 tấn và Thổ Nhĩ Kỳ, nước có mức tiêu thụ chè trên đầu người lớn nhất thế giới, đã tiêu dùng 253.000 tấn chè trong năm 2015
Tiêu dùng chè trung bình đầu người của Thổ Nhĩ Kỳ trong 3 năm qua là 3,14 kg/người và đang tăng, trong khi chỉ số tương tự tại Ireland lại giảm so với mức trung bình giai đoạn 1993 - 1995 Năm 2015, những người uống trà tại Ireland tiêu dùng trung bình 1,6 kg/người tính trung bình 3 năm, giảm từ vị trí quán quân tiêu dùng chè theo đầu người xuống vị trí thứ 5 Afghanistan là nước tiêu thụ chè lớn thứ 4 sau Thổ Nhĩ Kỳ, với mức trung bình 3 năm đạt 2,4 kg/người, Libya 2,19 kg/người, Anh 1,74 kg/người và Morocco 1,73 kg/người
Tiêu dùng chè tại Trung Quốc cũng đang tăng và đạt trung bình 3 năm 1,22 kg/người Nga, một nước tiêu thụ chè lớn khác, cũng đang trong đà tăng tiêu dùng mạnh tron thập kỷ qua, với mức tiêu dùng trung bình 3 năm tăng 25% lên 0,88 kg/người trong năm 2015 Danh sách các nước trong bảng xếp hạng top 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2015 không có nhiều thay đổi so với những năm trước với năm nước dẫn đầu là Trung Quốc (25%), Kenia (18%), Srilanka (17%), Ấn Độ (13%) và Việt Nam (7%)
Về thị trường tiêu thụ, những năm gần đây việc sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới tăng cao do nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ chè ngày càng lớn Theo thông tin từ tổ chức xếp hạng của Ấn Độ ICRA, nguồn cung chè toàn cầu suy giảm có thể dẫn tới khuynh hướng giá tăng tiếp tục diễn ra tại phần lớn các
Trang 34trung tâm đấu giá chè toàn cầu ICRA ghi nhận diễn biến này sẽ có tác động tích cực lên các nhà giao dịch chè lớn của Ấn Độ trong năm 2018, trong bối cảnh áp lực chi phí ngày càng tăng, chủ yếu bắt nguồn từ lương tăng [33].
Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè Ngay từ những tháng đầu năm 2013, tại các thị trường này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống [23]
Trung Quốc
Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới, Năm 2016, tổng diện tích chè của Trung Quốc là 2.240.594 ha, tổng sản lượng 2.4414.802 tấn, gồm có chè xanh, chè Ô long, chè đen, chè bánh và các loại chè khác Trong những năm của thập kỷ 90, Trung Quốc đã phải trả giá đắt cho sản phẩm chè không an toàn, do sử dụng quá lớn thuốc trừ sâu, phân hoá học và không quan tâm đến ngăn ngừa ô nhiễm của vùng sản xuất Những năm gần đây, Trung Quốc đang chuyển mạnh sang sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ Sau năm
2000, diện tích trồng chè để sản xuất chè hữu cơ đạt 6.700 ha, chủ yếu ở Triết Giang, Giang Tây, An Huy, Hồ Bắc Tổng sản lượng chè hữu cơ đạt khoảng 4.000 tấn, tổng trị giá sản xuất đạt khoảng 150 triệu Tệ Trong đó, khoảng
3000 - 3500 tấn chè xuất khẩu sang các nước Nhật Bản, Mỹ, và châu Âu, nội tiêu khoảng 500 tấn Nhằm khuyến khích sản suất, xuất khẩu chè, Trung Quốc
đã ban hành pháp lệnh về tiêu chuẩn chè đảm bảo VSATTP và có các chính sách hỗ trợ như cho vay vốn, bù giá trong những năm đầu, giảm thuế Trong hiện tại và tương lai sản xuất chè đảm bảo VSATTP là hướng ưu tiên lớn của ngành chè Trung Quốc
Trang 35Viện Nghiên cứu Chè Hàng Châu (TQ) đã xây dựng vùng sản xuất chè
an toàn, bền vững gồm các bước:
Thứ nhất: Chọn vùng và quy hoạch
Thứ hai: Xây dựng vùng sinh thái (Trồng rừng, xây dựng đồng ruộng, chăn nuôi )
Thứ ba: Kỹ thuật quản lý vùng chè
- Xây dựng tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn IFOAM
- Làm giàu độ phì đất chè
- Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại cho chè
Thứ tư: Quản lý chất lượng trong vùng chè
- Ban hành “Bộ tiêu chuẩn vệ sinh chất lượng chè và kiểm định”
- Các điều kiện đảm bảo thực hiện được bộ tiêu chuẩn
Trung Quốc đã xây dựng một số tiêu chuẩn kim loại nặng và dư lượng thuốc trừ sâu như sau:
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn hàm lượng đồng và chì trong chè
Tên kim loại nặng Tiêu chuẩn trong sản phẩm chè (mg/kg)
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn hàm lượng kim loại nặng trong đất
Tên kim loại nặng Tiêu chuẩn trong đất chè (mg/kg )
Trang 36Bảng 1.4: Hàm lượng tồn dư thuốc trong chè Tên hoá chất Tiêu chuẩn (mg/ kg)
Nhật Bản
Nhật Bản cũng chú ý đến sản xuất chè hữu cơ và được trồng ở vùng núi cao thuộc Kanaguwa, Shiga, Migazaki, Shizuoka Tuy nhiên, phổ biến ở Nhật Bản là sản xuất chè an toàn dựa trên sự đồng bộ về các giải pháp kỹ thuật như
cơ giới hoá, giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch bảo quản chế biến
Trang 37nhằm giảm thiểu dư lượng thuốc trừ sâu và phân bón trong sản phẩm chè ở mức thị trường cho phép Hiện nay, Chính phủ Nhật Bản đầu tư một lượng kinh phí lớn khai thác sản phẩm chè tự nhiên (sản phẩm hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu VSATTP), rất nhiều tiệm chè hữu cơ và chè không có thuốc trừ sâu được khai trương Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã dùng nhãn hiệu nông sản hữu cơ cho chè hữu cơ, năm 2001 Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã giới thiệu một hệ thống tiêu chuẩn chè hữu cơ Nhật Bản
Sản xuất chè ở Nhật Bản được thực hiện bởi các hộ nông dân, các công
ty tư nhân, mỗi hộ sản xuất chè thường có khoảng 2 - 3ha, một nhà máy chế biến (Nếu tính theo công suất sản xuất chè ở Việt Nam sản xuất 220 ngày/năm thì công suất tương đương là 12 tấn/ngày) thiết bị hiện đại nhiều công đoạn sản xuất đã được tự động hoá; ngoài ra, sản xuất chè ở Nhật Bản cũng có tổ chức khác là các hợp tác xã sản xuất chè đó là khoảng 40 hộ sản xuất chè, với quy mô, diện tích khoảng 80 - 120ha cùng với nhà máy chế biến, quản lý theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi Các hộ sản xuất và các hợp tác xã đều sản xuất ra chè bán thành phẩm sau đó tiêu thụ trên thị trường
Thị trường chè trong nước: thông qua các chợ theo hình thức đấu giá thường diễn ra tại các trụ sở Hiệp hội nông nghiệp chè, những người sản xuất mang sản phẩm đến Hiệp hội nông nghiệp chè của vùng (thường là huyện) để bán, bên cạnh chợ, có kho bảo quản chè của Hiệp hôi nông nghiệp chè làm dịch vụ bảo quản chè cho người mua bán, cho các công ty kinh doanh chè, khi
có nhu cầu cho bảo quản lạnh 00C, cũng lắp đặt các thiết bị tự động hoá, chỉ cần một người quản lý điều hành qua mạng máy vi tính, người gửi chè đến kho bảo quản chỉ cần đến lấy mã số lô hàng cần trả, các thiết bị sẽ tự động chuyển đúng lô hàng cần trả ra cửa kho Các sản phẩm chè được các công ty
Trang 38kinh doanh chè hay kinh doanh đồ uống tiếp tục chế biến thành các sản phẩm
có giá trị cao hơn chè bột, chè uống liền, kẹo, bánh chế biến từ chè… Các sản phẩm đó được tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước
Chỉ đạo và cung cấp các dịch vụ kỹ thuật sản xuất chè ở Nhật Bản được thực hiện thông qua Hiệp hội nông nghiệp chè kết hợp với các Viện Nghiên cứu chè đảm nhiệm Ví dụ, Hiệp hội chè gắn các thiết bị quan sát đồng ruộng tại các vị trí nhất định (thông qua các đầu đo trên đồng ruộng), hàng giờ các thiết bị tự động thu thập các thông số kỹ thuật, các chỉ số, ẩm độ, nhiệt độ, hàm lượng NPK và báo cáo kết quả thu thập được về máy vi tính, từ các thông số thu được, máy tính xử lý và đưa ra các phương hướng sử dụng phân bón, tưới,… khuyến cáo người sản xuất chè
Về bảo vệ thực vật, dựa trên số liệu quan sát, điều tra dự tính, dự báo
và khuyến cáo người sản xuất quy trình phòng chống sâu bệnh hại chè dưới dạng các lịch phòng chống và các hướng dẫn cụ thể cho nông dân các chỉ tiêu
về chất lượng chè bán thành phẩm (tanin, chất hoà tan, cafein, acid amin ) Khi cần phân tích chất lượng chè cũng do bộ phận của Hiệp hội phân tích và trả lời theo đúng yêu cầu, như vậy các dịch vụ kỹ thuật và thị trường chè trong nước đều do Hiệp hội nông nghiệp chè đảm nhận, rất thuận tiện và chính xác Biên chế cho một hiệp hội nông nghiệp rất gọn, phí dịch vụ mà hiệp hội nông nghiệp chè thu thông qua các dịch vụ khoảng 2% giá trị sản phẩm được cung cấp dịch vụ
Dư lượng thuốc hoá học trong sản phẩm chè của Nhật Bản là vấn đề được nhà nước và người tiêu dùng quan tâm, nhưng thực tế dư lượng thuốc trừ sâu trong chè sản xuất ở Nhật Bản không có, do qui trình canh tác và điều kiện sinh trưởng chè ở nước này một năm chỉ hái chè 3 - 4 lứa, khoảng cách
Trang 39giữa hai lứa hái cách nhau 1 - 2 tháng, thuốc trừ sâu trong chè đã phân giải hết Người Nhật Bản rất thích dùng chè, nên lượng sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường nội tiêu Vì vậy, người trồng chè ở Nhật Bản không phải lo lắng về tiêu thụ chè [23]
Ấn Độ
Công ty Bombay Burmah với diện tích 2.822ha, hàng năm sản xuất khoảng 8.000 tấn chè thành phẩm đạt tiêu chuẩn chè hữu cơ Công ty đã nghiên cứu sản xuất chè hữu cơ từ năm 1988 tại đồn điền Oothu có rừng bao quanh, trong quá trình canh tác không dùng bất cứ loại phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, thuốc trừ cỏ nào Biện pháp canh tác để có năng suất cao là dùng phân ủ khô dầu để bón cho chè Giun đất cũng được sử dụng rộng rãi để nhanh chóng phân giải chất hữu cơ, làm tăng độ phì nhiêu của đất, giữa các hàng chè được trồng xen cây bộ đậu Hiện nay, Ấn Độ có khoảng 10 công
ty chè sản xuất chè hữu cơ, trong đó đã có tới 312ha chè hữu cơ
Nhìn chung, hiện nay, chính phủ các nước Trung Quốc, Srilanka, Ấn Độ, Nhật Bản, Kênia,…cùng các tổ chức phi chính phủ của họ đang tích cực phát triển chè hữu cơ nhằm chiếm lĩnh thị trường Do đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng cao, nhiều nước sản xuất chè trên thế giới đã đặc biệt chú ý đến sản suất chè an toàn và tiến tới sản xuất chè hữu cơ nhằm đáp ứng nhu cầu trên thị trường chè thế giới Hướng sản xuất chè an toàn dựa trên sự đồng bộ về các giải pháp kỹ thuật như cơ giới hoá giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch, bảo quản, chế biến nhằm giảm thiểu dư lượng thuốc trừ sâu và phân bón trong sản phẩm chè ở mức thị trường cho phép Tìm giống cho búp sớm, điều chỉnh kỹ thuật hái búp đảm bảo chất lượng búp Tập trung chủ yếu vào lứa hái chè vụ xuân chiếm tới 50% sản lượng cả năm có chất lượng cao, ít sâu bệnh hại
Trang 40Hệ thống quản lý phân bón, thuốc trừ sâu chặt chẽ thông qua hiệp hội nông nghiệp của các địa phương gắn chặt với thị trường tiêu thụ sản phẩm Đối với hướng sản xuất chè hữu cơ, nhiều nước trong khu vực đã tiến hành xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn khoa học từ không khí, nước, đất, dư lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc trừ sâu trong đất, trong chè, chọn vùng và quy hoạch, xây dựng vùng sinh thái, kỹ thuật quản lý vùng chè (Quản lý chất lượng trong nội bộ vùng chè hữu cơ; Thành lập các nhà máy chuyên sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu sinh học sản xuất chè hữu cơ; Thành lập các cơ quan nghiên cứu chè hữu cơ, các cơ quan quản lý, thanh tra công nhận chè hữu cơ
có tính quốc gia) [23]
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam
1.2.2.1 Tình tình sản xuất chè tại Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, có điều kiện thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất từ những năm đầu của thế kỷ 20 trở lại đây
Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát nghiên cứu vào năm 1885
do người Pháp tiến hành Sau đó vào các năm 1890 - 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở tỉnh Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931)
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Do ảnh hưởng của chiến tranh hai miền Nam - Bắc chia cắt nên sản xuất chè bị đình trệ, diện tích năng suất, sản lượng chè giảm nghiêm trọng Sau khi hoà bình được lập lại cây chè lại được chú trọng phát triển, các nông trường được thành lập, các vùng kinh tế mới và lúc này thị trường được mở rộng Năm 1977, cả nước có 44.330 ha sản lượng là 17.890 tấn chè búp khô Đến năm 1985 cả nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô theo báo cáo định hướng phát triển của ngành chè (1985)