Về mặt thực tiễn, nghiên cứu phong trào Thập tự chinh đối với quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây giúp chúng ta nhìn nhận rõ quy luật phát triển của xã hội loài người, đồng thời định v
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
- -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI : THẬP TỰ CHINH VỚI QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY
THỜI TRUNG ĐẠI
Sinh viên thực hiện: Trương Bảo Nhi
Chuyên ngành: Lịch sử (Quan hệ quốc tế)
Lớp: 19CLS
Người hướng dẫn: TS Lê Thị Mai
Đà Nẵng , ngày 28 tháng 4 năm 2023
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 6
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Cấu trúc của đề tài 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH GIAO LƯU VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRƯỚC THẾ KỶ XI VÀ PHONG TRÀO THẬP TỰ CHINH 9
1.1 Một số thuật ngữ liên quan 9
1.2 Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông - Tây trước thế kỷ XI 13
1.2.1 Sự trỗi dậy của đế quốc Ả Rập 13
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của đế chế Byzantine 16
1.2.3 Sự phân ly và tham vọng “quyền lực” của giáo hội La Mã 19
1.2.4 Giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây trước Thập tự chinh 22
1.3 Tổng quan về các cuộc Thập tự chinh (1095 - 1291) 25
1.3.1 Nguyên nhân diễn ra các cuộc Thập tự chinh 25
1.3.2 Diễn biến và kết quả các cuộc Thập tự chinh 28
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU HIỆN CỦA QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY QUA PHONG TRÀO THẬP TỰ CHINH 36
2.1 Ngôn ngữ, văn học 36
2.2 Phong tục tập quán 40
2.2.1 Phong cách ẩm thực với các loại gia vị và hương liệu 40
2.2.2 Trang phục, trang sức, đồ dùng sinh hoạt 42
2.3 Tôn giáo 50
2.4 Nghệ thuật 51
2.5 Khoa học kỹ thuật 55
2.6 Khoa học tư nhiên 58
Trang 32.7 Triết học 60
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY QUA PHONG TRÀO THẬP TỰ CHINH 64
3.1 Đặc điểm của quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây qua Thập tự chinh 64
3.1.1 Về con đường và trạng thái giao lưu 64
3.1.2 Về quy mô, mức độ giao lưu 70
3.2 Tác động của quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây qua phong trào Thập tự chinh 72
3.2.1 Đối với lịch sử thế giới 72
3.2.2 Đối với giao lưu văn hoá giữa phương Đông và phương Tây 74
3.3.3 Đối với Tây Âu /Châu Âu, thế giới Hồi giáo và đế chế Byzantine 77
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 88
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý Thầy, Cô khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giảng dạy, gợi mở cho em nhiều kiến thức trong quá trình học tập và thực hiện đề tài khoá luận tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất của mình tới cô giáo - TS Lê Thị Mai, người đã hết lòng tận tình hướng dẫn, định hướng chuyên môn, chỉ bảo em từng bước một cũng là người truyền lửa cho để cho em thực hiện đề tài khoá luận tốt nghiệp này Sự tận tình giúp đỡ của quý thầy cô là động lực to lớn để em từng bước hoàn thiện bản thân mình cả về mặt tri thức lẫn kỹ năng nghiên cứu Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của quý thầy, cô thì em nghĩ bài báo cáo này sẽ rất khó
có thể hoàn thiện được Cảm ơn thầy cô đã hiểu cho những sai sót của em và tận tình chỉ dẫn em khắc phục nó Một lần nữa em chân thành cảm ơn !
Ngoài ra, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Thầy Cô và các bạn đọc đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn Cuối cùng em kính chúc quý thầy cô trong Khoa Lịch sử dồi dào sức khỏe để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2023
Tác giả
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, lịch sử xã hội loài người luôn chứa đựng những điều kỳ thú và bí ẩn song thực tế sự hiểu biết của chúng ta về thế giới đó còn rất hạn hẹp Từ thời cổ đại, dù mang tính tương đối nhưng con người đã nhận thức được rằng thế giới bao gồm hai phần đó chính là phương Đông và phương Tây Những đặc điểm riêng về
vị trí địa lý, cư dân, lịch sử, kinh tế - xã hội cả phương Đông và phương Tây đã tạo ra cho hai khu vực những nét đặc trưng văn hóa riêng biệt, hình thành hai khu vực văn hóa rõ nét: Văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây Đương thời, xét về không gian địa lý thì phương Đông lúc này bao gồm châu Á và Đông Bắc châu Phi với bốn trung tâm văn minh lớn nằm trên lưu vực của những con sông lớn đó là: Ai Cập,
Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc Và đây được xem là “cái nôi” văn minh nhân loại
Còn ở phương Tây lúc bấy giờ, muộn hơn hàng nghìn năm đã xuất hiện hai nền văn minh phát triển rực rỡ là văn minh Hy Lạp và La Mã Và quá trình giao lưu văn hoá giữa các nền văn minh Đông - Tây đã được xúc tiến đẩy mạnh
Xuyên suốt lịch sử phát triển của xã hội loài người, quá trình giao lưu văn hóa vẫn luôn diễn ra Thông qua các con đường từ chiến tranh, thương mại, di dân, đến truyền giáo các nền văn minh ấy đã tiếp xúc, học hỏi lẫn nhau tạo thành các nền văn hóa vô cùng đa dạng Trong đó, chiến tranh là con đường giao lưu văn hoá đặc biệt Tìm hiểu một cuộc chiến tranh như là một con đường, một biểu hiện của quá trình giao lưu văn hoá cũng như đánh giá về vai trò của lực lượng tiến hành chiến tranh đối với quá trình giao lưu văn hóa của nhân loại nói chung và giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây là một vấn đề khoa học thú vị Bước vào thời kỳ trung đại, sau
sự sụp đổ của đế chế La Mã thì sự phân biệt phương Đông và phương Tây ngày càng
rõ rệt hơn cùng với phát triển của Cơ Đốc giáo Còn ở phương Đông lúc bấy giờ sự trỗi dậy phát triển mạnh mẽ của đế quốc Ả Rập cùng với sự ra đời, lan rộng của Hồi giáo làm cho quan hệ giao lưu văn hoá Đông - Tây có sự chuyển biến rõ rệt Những mâu thuẫn về tôn giáo dẫn tới những cuộc Thánh chiến - cuộc Chiến tranh tôn giáo đẫm máu đã diễn ra: Thập tự chinh Những cuộc viễn chinh của quân Thập tự mặc dù đem lại nhiều thảm hoạ nhưng nó cũng thúc đẩy sự tiếp xúc văn minh giữa hai bộ phận quan trọng của thế giới lúc bấy giờ là phương Đông và phương Tây Từ trước đến nay,
đã có nhiều nghiên cứu về phong trào Thập tự chinh, nguyên nhân, diễn biến và những
Trang 6tác động của phong trào này đối với một số quốc gia, còn những biểu hiện cụ thể về mặt văn hoá, giao lưu văn hoá qua cuộc chiến tranh này thì vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề này là cơ sở để chúng ta hiểu đầy đủ hơn về lịch sử thế giới thời trung đại nói chung và có cái nhìn cụ thể hơn
về quá trình giao lưu văn hóa giữa Đông - Tây thời kỳ trung đại
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu phong trào Thập tự chinh đối với quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây giúp chúng ta nhìn nhận rõ quy luật phát triển của xã hội loài người, đồng thời định vị rõ vai trò quan trọng của quá trình giao lưu văn hóa, từ đó định hướng cho việc giữ gìn bản sắc của mỗi quốc gia dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa như ngày nay, đề tài giúp hiểu biết sâu sắc quá trình hội nhập văn hóa Đông - Tây trong quá khứ thông qua phong trào Thập tự chinh Đặc biệt, vấn đề tôn giáo luôn về vấn đề nhạy cảm, nghiên cứu đề tài này giúp ta nhận thức được tầm quan trọng của tôn giáo, xung đột tôn giáo trong lịch
sử nhân loại Từ đó, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, giữ gìn bản sắc và học hỏi không ngừng, nhận thức quá khứ để hành động phù hợp cho hiện tại và kiến tạo tương lai
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài“Phong trào Thập tự chinh với quá trình
giao lưu văn hoá Đông - Tây thời trung đại” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phong trào Thập tự chinh Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu về nguyên nhân, diễn biến, kết quả, hệ quả của Thập tự chinh Còn vấn đề giao lưu văn hóa với các vùng đặc biệt là phương Đông thì chỉ là những bài nghiên cứu riêng lẻ như ảnh hưởng của phong trào Thập tự chinh đến kinh tế - chính trị châu Âu, Ả Rập v.v Liên quan đến đề tài chúng tôi xin tổng hợp các công trình đó thành các nhóm vấn đề nghiên cứu sau đây:
(1) Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Thứ nhất nhóm các công trình nghiên cứu về phong trào Thập tự chinh như
nguyên nhân, diễn biến, hệ quả mà các cuộc chiến này đem lại đối với lịch sử loài
người như: Jonathan Riley - Smith (1999), The Oxford History of the Crusades,
Oxford University Press, New York Cuốn sách này đã nghiên cứu một cách toàn diện, chi tiết về các cuộc Thập tự chinh, đặc biệt tác giả còn đề cập đến tinh thần của quân
Trang 7Thập tự ở phía Đông, nghệ thuật kiến trúc và mối liên hệ giữa Hồi giáo với các cuộc Thánh chiến Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu Mark Cartwight (2018),
Crusades, đăng tải trên World History Encyclopedia, Francois Guizot (2019), The Crusades & Western Civilization: Guizot’s Eighth Lecture Đây là những công trình
có đề cập trực tiếp đến các cuộc Thập tự chinh đến phương Đông từ nguyên nhân, diễn
biến, đến tác động hệ quả mà các cuộc Thánh chiến này mang lại
Thứ hai là nhóm các công trình nghiên cứu có đề cập đến phong trào Thập tự
chinh với giao lưu văn hóa với phương Đông như Masoumeh Banitalebi,
Kamaruzaman Yusoff and Mohd Roslan Mohd Nor (2012), The Impact of Islamic
Civilization and Culture in Europe During the Crusades, World Journalof Islamic
History and Civilization Trong bài báo này tác giả đã đề cập đến việc người châu Âu tìm hiểu về nền văn minh Hồi giáo thông qua các cuộc Thập tự chinh và đề cập đến sự chuyển giao các thành tựu của nền văn minh Hồi giáo vào châu Âu và ngược lại Hay
công trình nghiên cứu của tác giả Michael A Köhler (2013), Alliances and Treaties
between Frankish and Muslim Rulers in the Middle East Cross-Cultural Diplomacy in the Period of the Crusades, Brill Đây là công trình được nhận định rằng “xứng đáng
được biết đến rộng rãi không chỉ trong giới chuyên gia về lịch sử các cuộc Thập Tự chinh mà còn với tất cả những ai quan tâm đến quan hệ Đông -Tây”
Ngoài ra còn có công trình đề cập đến tác động của Thập tự chinh đến các khu
vực như công trình nghiên cứu của Jonathan Harris (2011), The Crusades and the
Near East: Cultural Histories Công trình đã quan tâm nghiên cứu đến lĩnh vực lịch sử
văn hoá của các cuộc Thập tự chinh và cách chúng định hình bản sắc châu Âu trên các khía cạnh văn hoá Đây cũng là công trình nghiên cứu có giá trị học thuật cao cho các công trình nghiên cứu sau này Hay các công trình đề cập đến giao lưu văn hoá trong
các cuộc “Thánh chiến” như: Kallie Szczepanski (2020), What Effect Did the
Crusades Have on the Middle East? Rickie Lette University of Tasmania hay Ahmad
Sahide (2015), Cultural Exchange in the Crusader States of the Levant Các công trình
này đã đề cập đến quá trình giao lưu văn hoá trên một số phương diện như quân sự, nghệ thuật, tôn giáo Từ đó cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về quá trình giao thương
hay giao lưu văn hóa giữa giữa Đông và Tây thời kỳ trung đại Qua các công trình trên
ta thấy rõ các tác giả đều thể hiện sự đồng điệu trong việc đánh giá cao tác động của phong trào Thập tự chinh với giao lưu văn hóa phương Đông Tuy nhiên, những công
Trang 8trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở một khía cạnh cụ thể, ảnh hưởng của nó đến một quốc gia riêng lẻ mà chưa có sự hệ thống cả một khu vực, chưa toàn diện và đầy đủ trên các lĩnh vực
Mặc dù, các công trình nghiên cứu trên của các học giả nước ngoài chỉ đề cập đến một khía cạnh của quá trình giao lưu văn hóa nhưng nó là nguồn tư liệu quý báu để chúng tôi kế thừa, đi sâu khai thác, tìm hiểu và hoàn thành công trình này một cách
toàn diện và khoa học nhất
(2) Các công trình nghiên cứu trong nước
Thứ nhất, ở Việt Nam phong trào Thập tự chinh luôn được viết trong những sách
đại cương về lịch sử thế giới, lịch sử thế giới trung đại tiêu biểu như giáo trình : Lịch
sử thế giới trung đại của Nguyễn Gia Phu (2008); Lịch sử văn hóa thế giới cổ - trung đại của Lương Ninh (2009), các tác giả đã dành một chương để đề cập đến sự bối cảnh,
nguyên nhân, diễn biến và hệ quả của các cuộc Thập tự chinh từ năm 1095 đến năm
1291 Không chỉ dừng lại ở đó, những thành tựu văn hóa để lại cho nhân loại được đề cập một cách chi tiết từ văn học, chữ viết, khoa học, nghệ thuật đến tôn giáo của Tây
Âu trung đại và đế quốc phương Đông như Ả Rập cũng được đề cập làm rõ trong cuốn
sách Lịch sử văn minh thế giới do Vũ Dương Ninh làm chủ biên (2010) Bên cạnh đó,
còn có cuốn sách Lịch sử Trung cổ: Thập tự chinh, Thánh chiến và Dòng Chúa Ba Ngôi O.SS.T của Linh mục Anthony Mai Quốc Phong, cuốn sách cung cấp cái nhìn chung về lịch sử thời kỳ Trung cổ ở châu Âu, làm rõ khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo từ thế kỷ V- XV và theo dòng chảy của lịch sử Giáo hội về sự thành lập các dòng tu khất thực Dòng Chúa Ba Ngôi (viết tắt O.SS.T) Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát những sự kiện nổi bật chứ chưa phân tích và đi sâu vào khía cạnh giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây một cách chi tiết
Đặc biệt, có công trình Văn minh phương Tây lịch sử và văn hóa của Edward Mc
Nall Burns (trung tâm dịch thuật TP.HCM dịch), NXB từ điển bách khoa Công trình
đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về lịch sử, văn hóa của nền văn minh phương Tây từ buổi đầu bình minh cho đến nửa cuối thế kỷ XX Trong đó tác giả đã dành một chương
để nói về “Giáo hội và văn minh phương Tây thời Trung cổ” và “Thế giới trung cổ
Đông Âu” trong đó sự va chạm giữa văn minh Hồi giáo và văn minh phương Tây cũng
được làm nổi bật, các cuộc Thánh chiến cũng được tác giả đặc biệt nghiên cứu làm rõ
Đó là một tác phẩm hệ thống chi tiết toàn diện để lại giá trị học thuật cao
Trang 9Thứ hai, là các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học về phong trào Thập tự
chinh như công trình nghiên cứu của tác giả Hồng Sơn (2012), “Các cuộc Thập Tự
chinh từ thế kỷ XI đến hết thế kỷ XIII” bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả đã tổng hợp toàn diện về các cuộc Thập tự chinh đồng thời đưa ra những nhận xét đánh giá mang tính học thuật cao Hay công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị
Kim Loan“Các con đường giao lưu văn hoá trong lịch sử” đã đề cập đến các con
đường giao lưu văn hoá trong lịch sử trong đó phong trào Thập tự chinh Những tác động mà các cuộc chiến này đem lại cho nhân loại cũng được tác giả đề cập
Mặc khác, công trình tổng hợp mọi giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại được
hoàn thiện bởi nhiều tác giả không thể không nhắc tới tác phẩm nổi tiếng Almanach -
Những nền văn minh thế giới Trong phần hai của cuốn sách này: Những nền văn minh
nhân loại, di sản - văn hóa - đất nước - con người và các phong tục kỳ lạ trên thế giới, các tác giả đã khái quát về thời Trung cổ ở châu Âu, những ảnh hưởng của Ả Rập đối với nền toán học phương Tây cũng như đề cập đến những tôn giáo lớn trong văn minh nhân loại như Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo Đáng tiếc vì đây chỉ là cuốn cẩm nang cần thiết để ta tìm hiểu và nhận thức rõ về các nền văn minh - văn hóa đã tồn tại phát triển rực rỡ trong quá khứ nên các tác giả cũng chưa đi sâu về quá trình giao lưu
văn hoá giữa phương Đông và phương Tây
Ngoài những công trình được giới thiệu như trên thì trong khả năng tiếp cận tài liệu còn hạn chế của bản thân, cho đến nay tác giả chưa tìm thấy trong nước có công
trình trong nước nghiên cứu chuyên sâu về Phong trào Thập tự chinh với quá trình
giao lưu văn hoá Đông - Tây thời trung đại Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu
trên đều có giá trị to lớn là nền móng vững chắc cho tác giả trong việc nhận thức, kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước cũng là động lực để tiếp tục nghiên cứu
chuyên sâu về đề tài Phong trào Thập tự chinh với quá trình giao lưu văn hoá Đông -
Tây thời trung đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài này là: Phong trào Thập tự chinh và
những hệ quả, tác động của nó đối với quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây thời trung đại
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về phong trào Thập tự chinh với
giao lưu văn hoá Đông - Tây, về mặt thời gian, chủ yếu là khi phong trào Thập tự chinh diễn ra từ thế kỷ XI - XIII (từ khi cuộc Thập tự chinh thứ nhất bắt đầu năm 1095 đến khi kết thúc năm 1291) và mở rộng tìm hiểu các biểu hiện liên quan đến quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây trước và sau giai đoạn trên
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm làm sáng tỏ quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây qua những cuộc chiến tranh của quân Thập tự tiến hành ở vùng Đông Địa Trung Hải; rút ra những nhận xét, đánh giá về phong trào Thập tự chinh với quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây trong lịch sử
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài cần thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ sau :
- Khái quát về bối cảnh, nguyên nhân diễn ra các phong trào Thập tự chinh, sơ lược diễn biến cũng như hệ quả của các cuộc Thánh chiến
- Tìm hiểu những nhân tố tác động đến quá trình giao lưu văn hoá thông qua phong trào Thập tự chinh
- Tìm hiểu và phân tích những biểu hiện giao lưu văn hóa thông qua phong trào Thập tự chinh trên các lĩnh vực: Văn học, nghệ thuật, giáo dục, khoa học tự nhiên, chữ viết…
- Tổng hợp và hệ thống hóa, nhận thức rõ đặc điểm của quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây
Trang 11- Rút ra những nhận xét, đánh giá sau khi nghiên cứu phong trào Thập tự chinh với quá trình giai lưu văn hoá Đông - Tây thời kỳ trung đại
5 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Đề tài dựa vào những nguồn tư liệu như sau:
- Đề tài kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước (đã làm rõ trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, các nguồn tư liệu thành văn khác về lịch
sử thế giới cổ trung đại, lịch sử văn minh thế giới)
- Nguồn tư liệu bản đồ, sơ đồ có liên quan
- Các tài liệu từ Website trong và ngoài nước có liên quan, các báo, tạp chí, khoa luận tốt nghiệp, các sách đại cương, giáo trình có liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này về mặt phương pháp luận, tôi dựa trên quan điểm sử học Mácxit tiến hành nghiên cứu thông qua vận dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic Đồng thời để nhận thức một cách sâu sắc vấn đề tôi còn tiến hành vận dụng các phương pháp như so sánh tổng hợp, đối chiếu, phân tích, hệ thống hóa dựa trên cơ sở các tài liệu thành văn thu thập được để hoàn thành nghiên cứu đề tài này
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài là một công trình nghiên cứu cung cấp một góc nhìn mới, khoa học, tổng quát, toàn diện về quá trình giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây thông qua phong trào Thập tự chinh Bên cạnh đó đề tài này còn là cơ sở để chúng ta có cái nhìn hệ thống về
về quá trình giao lưu văn hóa giữa hai khu vực văn hóa Đông - Tây trong lịch sử, nhất
là ở thời kỳ trung đại Đề tài cũng góp phần giáo dục ý thức của thế hệ trẻ về sự cống hiến của các quốc gia, khu vực trong những nỗ lực đem các nền văn minh thế giới xích lại gần nhau hơn Đặc biệt trong xã hội ngày càng phát triển như hiện nay để góp phần trở thành một công dân toàn cầu thì việc am hiểu lịch sử văn hóa, giao lưu văn hóa giữa các nền văn minh trên thế giới là điều cần thiết
Đề tài còn có thể là một tài liệu tham khảo hữu ích cho công việc giảng dạy học phần Giao lưu văn hoá Đông - Tây thời cổ trung đại, nghiên cứu và cho những ai quan tâm về vấn đề này đồng thời nâng cao hiểu biết, ý thức của mỗi cá nhân về tầm quan
Trang 12trọng của văn hóa của một quốc gia dân tộc không chỉ trong quá khứ mà cả thời đại ngày nay
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông - Tây trước thế kỷ XI và phong trào Thập tự chinh
Chương 2 Các phương diện biểu hiện của quá trình giao lưu văn hoá Đông Tây qua phong trào Thập tự chinh
-Chương 3 Đặc điểm và tác động của quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây
qua phong trào Thập tự chinh
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH GIAO LƯU VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRƯỚC THẾ
KỶ XI VÀ PHONG TRÀO THẬP TỰ CHINH 1.1 Một số thuật ngữ liên quan
Phương Đông và Phương Tây: Là hai thuật ngữ dùng để định vị không gian
xuất hiện từ thời cổ đại Dù mang tính tương đối nhưng từ rất sớm con người đã nhận thức được rằng thế giới bao gồm hai phần đó chính là phương Đông và phương Tây Tuy nhiên, do sự khác biệt về thế giới quan mà sự nhận thức của các quốc gia cổ đại
về hai thuật ngữ này lại có sự khác nhau
Thời cổ đại, ở Ấn Độ “phương Đông” có nguồn gốc từ tiếng Phạn “usās” có nghĩa là “bình minh” hoặc “buổi sáng” lúc mặt trời mọc/nơi mặt trời mọc Ngược lại,
từ “phương Tây” bắt nguồn từ “buổi tối” trong tiếng Phạn là từ “avah” có nghĩa là “đi xuống” [70] Theo đó, hai thuật ngữ phương Đông và phương Tây đã được người Ấn
Độ cổ đại chuyển hoá từ ý niệm thời gian thành ý niệm không gian
Mặc khác với người phương Tây, phương Đông bắt nguồn từ một tiếng Latinh - Oriens có nghĩa là vùng đất phía Đông Khái niệm phương Đông được sử dụng đầu tiên ở khu vực Nam Âu (Hy Lạp và vùng bán đảo Balkans) thời cổ đại Lúc đó do tầm nhìn tương đối hạn chế về mặt địa lý, con người chưa tìm ra Tân lục địa nên người Hy Lạp gọi khu vực phía mặt trời lặn so với họ là phương Tây, còn các vùng đất còn lại bao gồm châu Phi và châu Á là phương Đông [10, tr.9] Thêm vào đó, lấy Địa Trung Hải làm trung tâm, văn hóa Hy - La về sau lan tỏa mạnh về phía Tây nên gọi là phương Tây Đối diện với nó qua Địa Trung Hải là phương Đông [9, tr.3] Cách giải thích này thuần về không gian địa lý và chỉ mang tính chất tương đối Về sau, ranh giới địa lý giữa phương Đông và phương Tây có sự thay đổi mờ nhạt và khó xác định hơn do sự phân liệt của đế quốc La Mã thành hai bộ phận đó chính là Đông bộ La Mã (Đế quốc Byzatium) và Tây bộ La Mã
Vào thời trung đại, cách gọi phương Đông và phương Tây là còn để chỉ sự khác biệt giữa Kitô giáo châu Âu và các nền văn hoá ngoài nó ở phía Đông [10, tr.9] Ngoài
ra, với sự trỗi dậy mạnh mẽ của đế quốc Ả Rập, đế chế Byzantine và với sự phát triển mạnh mẽ của con đường tơ lụa đã làm cho phương Đông và phương Tây được kết nối
và xích lại gần nhau hơn Sang hậu kỳ trung cổ đã chứng kiến sự nỗi dậy của các quốc gia dân tộc quân chủ,,sự sụp đổ của đế chế Byzantine, sự thành lập đế chế Ottoman
Trang 14một trong những đế chế vĩ đại, hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại Nhìn sang phương Đông, đế quốc Mông Cổ một đế quốc du mục lớn nhất trong lịch sử trỗi dậy
và phát triển mạnh mẽ, vó ngựa của đế chế đã hiện diện khắp lục địa Á-Âu, kết nối phương Đông và phương Tây cho phép mậu dịch, công nghệ, hàng hoá trao đổi
Bước vào thời kỳ cận hiện đại, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới kết hợp với những thành tựu nổi bật từ các cuộc phát kiến địa lý làm quá trình giao lưu Đông - Tây đã có những chuyển biến nhất định, nội hàm của thuật ngữ phương Đông
và phương Tây cũng có sự chuyển biến với sự xuất hiện thêm các khái niệm mới như trong phương Đông thì có Cận Đông, Trung Đông và Viễn Đông [10, tr.9] Ngoài ra, trong giai đoạn này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ thuyết lấy châu Âu làm trung tâm, đây là một thế giới quan lấy nền văn minh phương Tây làm trung tâm, cho rằng các giá trị văn hoá châu Âu ưu việt hơn so các với giá trị của các xã hội ngoài châu Âu, các xã hội ngoài châu Âu là nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển, là ngoại giáo hoặc tin vào các tôn giáo thấp kém hơn Cơ Đốc giáo Đối với những vùng đất mới phát kiến họ cho rằng cần phải “khai sáng văn minh” chính vì vậy, sự ra đời của chủ nghĩa thực dân, đế quốc chính là biểu hiện thể hiện rõ nét của chủ thuyết này
Còn ngày nay, khi nghiên cứu về lịch sử thế giới cổ đại các sử gia, nhà nghiên cứu thường phân định không gian của phương Đông và phương Tây như sau: Phương Đông bao gồm các quốc gia/ nền văn hoá nằm ở khu vực châu Á, Bắc Phi (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc, v.v.) còn phương Tây chủ yếu bao gồm các quốc gia/các nền văn minh ở vùng Địa Trung Hải (Hy Lạp và La Mã)
Có thể thấy, từ góc độ nghiên cứu, sự phân biệt hai thuật ngữ phương Đông và phương Tây chỉ mang tính chất tương đối để chỉ hai khu vực địa lý rộng lớn ở ba châu lục Á - Phi - Âu Song ngay từ thời cổ đại, nó không chỉ dừng lại là các thuật ngữ phản ánh nội hàm ở góc độ địa lý mà còn hàm ý phân biệt sự khác nhau trên các khía cạnh như lịch sử, văn hoá, tư tưởng.v.v nên thuật ngữ phương Đông và phương Tây được
hiểu một cách linh hoạt Mặc dù, có nhiều khía cạnh khác nhau song“Phải chăng nên
xem sự khác biệt giữa Phương Đông và Phương Tây như bản chất của nền văn minh nhân loại biểu hiện dưới hai hình thức tĩnh và động, một bên đặc trưng cho sự sôi động và sức mạnh, một bên đặc trưng cho sự minh triết, uyên thâm, tĩnh tại?”[10,
tr.13] Cho đến nay, cả hai bộ phận văn hoá Đông - Tây đều phát triển mạnh mẽ theo
Trang 15cách riêng của mình tạo ra một dòng chảy văn hoá xuyên suốt từ thời cổ đại đến tận ngày nay
Giao lưu văn hoá và tiếp biến văn hoá : Xuyên suốt quá trình phát triển của lịch
sử loài người thì giao lưu văn hoá và tiếp biến văn hoá là hai phạm trù có mối liên hệ mất thiết với nhau
Trước hết về “giao lưu văn hoá”, theo từ điển tiếng Việt thì “giao lưu” có nghĩa
là có sự tiếp xúc trao đổi qua lại giữa hai hay nhiều dòng, nhiều luồng khác nhau Còn
“văn hoá” hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá, mỗi định nghĩa đều
có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau nhưng nhìn chung các học giả đều cho rằng
“Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền
và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người, trong sự tương tác với môi trường
tự nhiên và xã hội” [9, tr.13] Vì vậy, giao lưu văn hoá có thể được hiểu là quá trình
tiếp xúc, trao đổi, lựa chọn, tiếp nhận và chuyển hóa các giá trị văn hóa khác nhau, mà
từ đó có thể nảy sinh những nhu cầu mới, thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển và tuỳ theo mức độ giao lưu khác nhau mà có thể (hoặc không) dẫn đến sự biến đổi văn hóa của mỗi chủ thể Và đặc biệt, không có giao lưu, tiếp xúc văn hoá thì không có tiếp biến văn hoá Ở Việt Nam, khái niệm “Giao lưu văn hóa” là một khái niệm đa tầng nghĩa, nhiều nội hàm và có những cách hiểu, được vận dụng trong các phạm trù khác nhau
Còn tiếp biến văn hoá, “tiếp” trong từ “tiếp biến” có nghĩa là tiếp nhận, tiếp xúc,
“biến” có nghĩa là biến đổi, vì vậy tiếp biến văn hóa có thể được hiểu là thông qua quá trình giao lưu văn hoá các nền văn hoá đã có sự gặp gỡ, tiếp xúc lẫn nhau từ đó tiếp nhận những thành tựu văn hoá ngoại lai đó rồi biến đổi, cải biến một cách sáng tạo sao cho phù hợp với nền văn hoá bản địa của mình
Khái niệm này còn bắt nguồn từ thuật ngữ “Acculturation”, xuất hiện trong khoa học nhân văn Âu - Mỹ từ những năm 30 của thế kỷ XX, được học giả lớn H
Herkovits định nghĩa như sau:“Dưới từ Acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi
những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” [23] Bên cạnh đó,
định nghĩa về “tiếp biến văn hoá” được đưa ra ở cuộc họp UNESCO châu Á tại
Téhéran năm 1978: “Tiếp biến văn hoá đó là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác
nhau về văn hóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hoá (ứng xử, giao tiếp, tư
Trang 16duy…) ở trong mỗi nhóm” [2] Ở Việt Nam, khái niệm Acculturation được dịch theo
nhiều cách khác nhau chẳng hạn như giáo sư Hà Văn Tấn dịch là “tiếp biến văn hoá”, Nguyễn Ngọc Hiến dịch là “giao hoà văn hoá”, Nguyễn Đức Từ Chi dịch là “hỗn dung văn hoá” còn giáo sư Trần Quốc Vượng dịch là “giao thoa văn hoá” Như vậy, ta thấy
dù có nhiều cách dịch khác nhau song chung quy lại nó là cùng một bản chất Đây cũng là hệ quả của quá trình giao lưu, gặp gỡ giữa những nền văn hóa khác nhau
Tóm lại, giao lưu văn hoá và tiếp biến văn hoá là hai thuật ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau chứ không đối lập nhau Từ buổi bình minh của lịch sử loài người,
quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá đã diễn ra, nó không chỉ dừng lại ở sự “va chạm
nội vùng” mà xa hơn nữa là ở hai bộ phận văn hoá quan trọng của thế giới lúc bấy giờ
là Đông và Tây cũng được xúc tiến mạnh mẽ Mọi sự vật, hiện tượng đều có hai mặt của nó và giao lưu, tiếp biến văn hoá cũng vậy, do đó việc tiếp thu văn hoá theo một chiều hướng tích cực sẽ thúc đẩy các nền văn hoá phát triển mạnh mẽ hơn và rút ngắn được thời gian tiếp cận văn minh, đưa xã hội loài người phát triển bước lên một tầm cao mới
Thập tự chinh là thuật ngữ dùng để chỉ các chiến dịch quân sự do giáo hội Công giáo La Mã khởi xướng Đây là một hàng loạt các chiến dịch quân sự được tiến
hành vì lý do tôn giáo bởi nhiều quốc gia Công giáo La Mã ở châu Âu đặc biệt nước Pháp và đế quốc La Mã thần thánh tiến hành viễn chinh từ châu Âu sang vùng Cận Đông, là cuộc chiến kéo dài gần 200 năm Được sự kêu gọi của Giáo hoàng và tiến hành bởi các vị vua quý tộc với mục đích đi giải phóng vùng Đất Thánh của mình ra khỏi ách thống trị của Hồi giáo Thuật ngữ “Thập tự chinh” (Crusades) nghĩa là Cuộc viễn chinh chữ Thập, bắt nguồn từ tiếng La Tinh Crux có nghĩa là Thánh giá hoặc chữ Thập - một biểu tượng của Kitô giáo Từ thế kỷ XVII, ở phương Tây thuật ngữ “Thập
tự chinh” mang hàm ý là một “chiến dịch chính nghĩa” Còn ở Ả Rập, “Thập tự chinh”
là thuật ngữ ám chỉ cuộc xâm lược của các thế lực thù địch và ngoại bang những kẻ không tôn trọng và làm ô uế văn hoá Hồi giáo Có thể thấy rằng, thuật ngữ “Thập tự chinh” của phương Tây và “Thánh chiến” của Hồi giáo có xu hướng phản chiếu lẫn nhau [65]
Thập tự quân xuất phát từ Crusader có nghĩa là những người lính của quân
viễn chinh Công giáo [12] Đặc biệt những người lính này đều mang một huy hiệu chữ Thập ở phía trước ngực và phía sau lưng Có thể nói trong cuộc Thánh chiến, những
Trang 17đoàn quân Thập tự này đã gieo rắc biết bao kinh hoàng, tang tóc cho những người Hồi giáo Mỗi quân Thập tự sẽ cùng thề một lời thề và họ sẽ được cấp một cây thánh giá bằng vải (Crux) để khâu vào quần áo của họ Khi cuộc Thập tự chinh thứ nhất diễn ra
các thuật ngữ khác như “iter” có nghĩa là hành trình và peregrinatio có nghĩa là
“hành hương” cũng được sử dụng cho chiến dịch Giai đoạn sau có xuất hiện thuật
ngữ cụ thể dành cho quân Thập tự là Crucesignatus nghĩa là người được ký tên bằng chữ Thập [65]
1.2 Bối cảnh giao lưu văn hoá Đông - Tây trước thế kỷ XI
1.2.1 Sự trỗi dậy của đế quốc Ả Rập
Như chúng ta đã biết, Ả Rập là bán đảo lớn nhất thế giới ở Tây Á, là cầu nối buôn bán giữa Địa Trung Hải với phương Đông Đến đầu thế kỷ VI, cư dân ở đây vẫn sống thành từng thị tộc bộ lạc Nhà nước Ả Rập mãi đến thế kỷ VII mới được thành lập Để có được một đế chế hùng mạnh với lãnh thổ rộng lớn, Ả Rập dựa trên những tiền đề vững chắc sau:
Thứ nhất, việc thống nhất bán đảo Ả Rập với vai trò của nhà tiên tri Muhammad
là tiền đề cho sự trỗi dậy của đế quốc Ả Rập Trong lịch sử, quá trình thành lập đế chế
Ả Rập gắn liền với sự ra đời của đạo Hồi do Muhammad truyền bá Đối với người Hồi giáo, Muhammad là sứ giả của Thượng đế (Nabi) hay Khâm sai của Thượng đế (Rasul- Allah), còn đối với người không theo đạo Hồi thì ông là Muslim người sáng lập ra đạo Hồi [8, tr.44] Năm 622, ông và những tín đồ Hồi giáo đầu tiên đến lánh nạn tại Yathrib Tại Yathrib, Muhammad đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện chính trị
và tôn giáo, nơi đây được đổi tên thành Medina - thành phố tiên tri hay thành phố toả sáng (Al-Madinat al -Munawwarah), là thành phố linh thiêng đối với người Hồi giáo sau Mecca Đây được gọi là kỷ nguyên đầu tiên của Hồi Giáo - Kỷ nguyên Higra tiếng Ả Rập nghĩa là trốn thoát hay di cư
Muhammad không chỉ thống nhất trên bán đảo Ả Rập mà còn mở rộng tầm kiểm soát một cách vững chắc ra các vùng đất bên ngoài bằng con đường vũ lực Sự thiết lập một hệ tư tưởng độc thần duy nhất là nền tảng vững chắc cho sự trỗi dậy và mở rộng ảnh hưởng của nền văn minh Ả Rập ra bên ngoài Đến năm 632, Mohammad qua đời, người đứng đầu nhà nước Ả Rập lúc bấy giờ còn gọi là Calipha - người kế thừa của tiên tri
Trang 18Thời kỳ đầu mối quan hệ giữa Hồi giáo với các tôn giáo lân cận khá tốt đẹp
“thiên tài chiến lược và sự nhạy bén trên chiến trường đã giúp Muhammad và những người theo ông đạt được một loạt thành công đáng kinh ngạc, hai lý do quan trọng khác cũng giải thích chiến thắng của Hồi giáo vào đầu thế kỷ VII: sự ủng hộ của những người theo đạo Thiên Chúa và trên hết là sự ủng hộ của người Do Thái” [5,
tr.93] Trong con mắt hiện đại, tôn giáo là nguyên nhân của xung đột và đổ máu nhưng trong những năm đầu chung sống, mối quan hệ giữa những người Do Thái và Hồi giáo khá hoà thuận và tương thích lẫn nhau Tại Yathrib, những người Do Thái trong thị trấn đã cam kết ủng hộ Muhammad để đổi lấy sự đảm bảo về việc bảo vệ lẫn nhau Sau khi ổn định được Yathrib, Muhammad và tín đồ đã quay lại đánh chiếm Mecca, chọn nơi đây làm thủ đô của Hồi giáo và Mecca trở thành thánh địa chủ yếu của tôn giáo này
Thứ hai, sau khi thống nhất bán đảo Ả Rập xuất phát từ mục đích truyền bá đức
tin Hồi giáo và mở rộng chủ quyền của quyền lực Hồi giáo, quá trình bành trướng mở rộng ảnh hưởng của người Ả Rập đã diễn ra thông qua con đường chiến tranh là chính Những người kế thừa nhà tiên tri hay gọi là các Calipha đã sử dụng đạo Hồi như một thứ vũ khí tư tưởng để củng cố xã hội và thực hiện các chính sách bành trướng ra ngoài biên giới Ả Rập [10, tr.196]
Suốt thời gian dài, quân Ả Rập tàn phá cả miền Tây Á, Trung Á, Bắc Phi và một phần Tây Nam châu Âu Thế kỷ VIII, đội quân Ả Rập đụng độ người Trung Quốc
và đã đánh bại quân đội của người Trung Quốc cách quyết đoán, mở rộng không gian ảnh hưởng đến những vùng đất rộng lớn từ Trung Á, Nam Á, Bắc Phi, châu Phi, xuyên biển Địa Trung Hải đến cả Tây Âu Chẳng hạn, đến thế kỷ XII, ở châu Âu chia làm hai khối rõ rệt một là giáo hội Công giáo và Chính thống giáo Đông Phương - Byzantine, hai là thế giới Hồi giáo Hai cực tôn giáo đối lập này đã tạo ra những cuộc xung đột gây hấn lẫn nhau tại khu vực Địa Trung Hải
Đến nửa sau thế kỷ XII, Hồi giáo đã thống trị khu vực Palestine, Syria, Ai Cập, Libia, Ba Tư, Mesopotamia, Armenua và toàn khu vực Tiểu Á, đe doạ thành Constantinople, Tunisia, Maroc, một nửa Tây Ban Nha, các quần đảo Balearic cũng bị Hồi giáo thống lĩnh [8, tr.60] Đến cuối thế kỷ XII, Hồi giáo thành công chiếm Bắc Phi
và Nam Tây Ban Nha Có thể thấy rằng lúc bấy giờ, Hồi giáo đã bành trướng đến những vùng đất thuộc Kitô giáo, lực lượng quân sự Hồi giáo tiếp tục đe doạ nhiều
Trang 19vùng đất khác, đặc biệt khi chiếm các vùng đất, những người Hồi giáo đã thiêu rụi các nhà thờ, thánh giá, tượng Thánh Không chỉ huỷ diệt đức tin Kitô giáo, vua Hồi giáo Abu Ysuf al- Mansur đã ép buộc mọi người theo đạo Hồi nếu không cải đạo họ sẽ trải
qua cuộc sống khó khăn và thấp hèn Ông đã tuyên bố rằng: “Ta công bố với luật sĩ
Hồi giáo (mafti) ở Roma rằng ta quyết định đặt một lá cờ của đấng Tiên tri (Muhammad) trên đỉnh Toà thánh Phero và làm cổng của nó bền vững cho nhà của ta”[8, tr.60] Sự bành trướng của Hồi giáo ngày càng được đẩy mạnh, khi mục tiêu của
họ nhằm vào Jerusalem, thánh địa thiêng liêng của người Kitô giáo Lúc bấy giờ, Đất Thánh là vùng đất linh thiêng nơi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người Kitô giáo, là nơi Đấng Cứu Thế Messia bị đóng đinh trên cây Thập tự và phục sinh Song tình hình chính trị ở vùng đất này lại rất phức tạp Vào khoảng năm 1050, một nhóm người Thổ Nhĩ Kỳ du mục từ Tiểu Á đã đến xâm chiếm Đất Thánh và kiểm soát các vùng đất xung quanh Jerusalem vì vậy những cuộc hành hương đến Đất Thánh lúc bấy giờ trở nên vô cùng nguy hiểm, các nhóm cướp hoành hành ngày càng nhiều, những đoàn hành hương bị kiểm soát và thu phí Trước mối đe doạ ngày càng trầm trọng ấy các cuộc đấu tranh của người Kitô giáo được tiến hành thông qua các cuộc viễn chinh của quân Thập tự
Sự gắn kết chặt chẽ giữa tôn giáo và chính trị đã tạo nên một đội quân Ả Rập hùng mạnh sẵn sàng chinh chiến mở rộng lãnh thổ Đạo Hồi xuất hiện trong tình cảnh
xã hội Ả Rập rối ren, chính vì vậy đạo Hồi mang đến niềm hy vọng và niềm tin cho các bộ lạc, đây cũng là tôn giáo ảnh hưởng trong dân nghèo Mặc khác, quá trình truyền bá đạo Hồi cũng gắn liền với hành trình thống nhất bán đảo Ả Rập vì vậy thần quyền và vương quyền không thể tách rời nhau và thần quyền đóng vai trò quyết định tất cả Khi thành lập, giáo chủ Muhammad đã nói rằng “Thiên đường ở trước mặt, địa
ngục ở sau lưng” câu nói này đã động viên binh lính xông tới chiến đấu “nếu thắng sẽ
chiếm được đất cát, vườn tược, dê bò, vợ con của địch, được hưởng ngay cảnh thiên đường bên cạnh Alla, còn sướng hơn tất cả những cảnh trên hạ giới với sữa ngọt, mật thơm, hoa quả không thiếu thứ gì…”[10, tr.265] Ngoài ra, ông còn đưa ra quy định
trong binh lính nếu không chiến đấu thì tụng kinh Koran, ăn uống kham khổ, không được uống rượu, nhập ngũ được xem là một vinh dự Trong giáo lý đạo Hồi, chiến đấu (Jihad) là nghĩa vụ của mỗi người Hồi, việc thực hành Jihad rất quan trọng đến nỗi nó
được nhắc 41 lần trong kinh Koran theo nghĩa “Những ai chết trong các trận chiến
Trang 20chống kẻ thù của Đấng Allah, hoặc để loan truyền đạo Hồi, họ là những người tử đạo
và thiên đàng mở ra cho họ tức khắc”[8, tr.54] Vì vậy, đội quân Hồi giáo là những
chiến binh mạnh mẽ, có niềm tin tôn giáo mãnh liệt và có tổ chức, kỷ luật đoàn kết cao sẵn sàng chinh chiến và tử vì đạo
Thứ ba, việc lập nên đế quốc Ả Rập rộng lớn đã thúc đẩy thương mại phát triển
và kết nối giao lưu văn hoá giữa các khu vực trên thế giới, thúc đẩy sự phát triển rực
rỡ nền văn minh Ả Rập Bên cạnh mở rộng không gian địa lí bằng vũ lực quân sự, Ả Rập đã thu được nhiều chiến lợi phẩm, vàng bạc, châu báu góp phần tạo ra mạng lưới liên kết thương mại xuyên châu lục Á - Phi - Âu ở những vùng đất vừa chinh phục và những vùng xung quanh đã tạo điều kiện cho việc tiếp cận với các nền văn minh đã có
từ trước, hệ thống thương mại mở ra, hoạt động của thương nhân trên tuyến đường thương mại trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết Tuy nhiên, việc thúc đẩy sự lan rộng của Hồi giáo đến những vùng đất mới dẫn đến sự xung đột giá trị văn hoá và khi hệ thống thương mại mở ra, hoạt động của thương nhân trở nên sôi nổi dẫn đến xung đột về lợi ích của các nhóm thương nhân đến từ các khu vực khác nhau Tóm lại, sự trỗi dậy mãnh mẽ của Ả Rập đã mở ra trang sử mới cho lịch sử nhân loại, trở thành đế chế vĩ đại nhất khu vực, tạo ra những điều kiện thuận lợi kết nối với các khu vực văn hoá khác nhau, để lại những dấu ấn rõ nét trong tiến trình phát triển của lịch sử văn minh thế giới
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của đế chế Byzantine
Thế kỷ thứ I TCN, đế chế La Mã bước vào giai đoạn phát triển cực thịnh, đến thế kỷ IV, bộ tộc người German xâm nhập đã khiến đế chế La Mã chia làm hai: Đông
bộ La Mã và Tây bộ La Mã Đông bộ La Mã được biết đến là phần phía Đông của đế quốc La Mã vùng chủ yếu nói tiếng Hy Lạp và còn được gọi là Byzantine thủ đô là Constantinople, được cai trị trực tiếp bởi các hoàng đế những người kế tục các hoàng
đế La Mã cổ đại sau sự sụp đổ của Tây bộ La Mã Đế chế Byzantine tồn tại từ khoảng năm 330- 1453, là một trong những cường quốc về kinh tế, quân sự, văn hoá ở châu
Âu Nếu đế chế La Mã do hoàng đế Augustus lập nên thì đế chế Byzantine được xem
là đế chế La Mã thứ hai do Đại đế Constantinus khởi tạo Đế chế này cũng trải qua các giai đoạn phát triển cực thịnh, suy yếu và lụi tàn đặc biệt giai đoạn từ thế kỷ VI - IX là giai đoạn phát triển cực thịnh của đế chế Sự phát triển mạnh mẽ của đế chế Byzantine thể hiện trên các phương diện sau:
Trang 21Thứ nhất đế chế Byzantine đã xây dựng được quân đội hùng mạnh với bộ binh
và hải quân thiện chiến nhất châu Âu Người Byzantine biết học hỏi áp dụng những kỹ thuật quân sự từ những cuộc chiến tranh với kẻ thù Binh lính được tuyển mộ và huấn luyện cẩn thận, trang bị đầy đủ, do chính vua thống lĩnh Vào giai đoạn phát triển cực thịnh, hạm đội Byzantine được trang bị nhiều vũ khí như thần hoả đốt cháy thuyền địch Vì thế, Byzantine đã trở thành đế chế quyền lực vượt trội vùng Đông Địa Trung Hải Chẳng hạn như thế kỷ VI, đế chế này lấy bán đảo Balkans từ tay người Gotic, lật
đế chế người Vandals ở Bắc Phi [11] Vào năm 867, đế quốc đã ổn định lại vị thế của mình ở cả hai phía Đông và phía Tây, và Hoàng đế bắt đầu lập kế hoạch cho các cuộc chiến tranh để tái chiếm các lãnh thổ phía Đông chống lại triều đình Damietta ở Ai Cập (856), Tiểu vương Melitene (năm 863) và sự tái chiếm vùng Dalmatia (năm 867)
và cuộc tấn công thành công của Basil I về phía Euphrates (những năm 870), chiến thắng đáng chú ý khác ở vùng Lưỡng Hà (năm 943), lên đến đỉnh điểm là cuộc tái chiếm thành phố Edessa (944) Đế chế Byzantine sau đó trải dài từ Armenia ở phía Đông đến phía Tây là thành phố Calabria ở miền Nam nước Ý Nhiều thành công đã đạt được từ những cuộc chinh phục vương quốc Bulgaria cũng như việc sát nhập Georgia và Armenia thành các bộ phận của Đế chế đồng thời với việc tổng hủy diệt một lực lượng xâm lược lớn của người Ai Cập ở bên ngoài thàn phố Antioch [16] Tuy
nhiên người Byzantine không khuyến khích dùng bạo lực “họ thích ngoại giao hơn và
họ đưa thuật ngoại giao đến mức cao độ”[1, tr.192]
Thứ hai, sự phát triển của Byzantine được thể hiện qua sự giàu có, sung túc của
họ Đây là thị trường buôn bán lớn nhất là nơi hội tụ của đạo Cơ Đốc và giao thương của thế giới Đồng vàng Nomisma của người Byzantine là đơn vị tiêu chuẩn khắp vùng Địa Trung Hải, được giữ nguyên chất cho đến cuộc khủng hoảng vào thế kỷ XI Tiền thu từ nông trại, mỏ vàng, từ các chiến lợi phẩm, các loại thuế đã giúp Byzantine trở thành đế quốc rất giàu có Sự thịnh vượng của Byzantine được mô tả rằng
“Constantinople bồi đắp những con lộ dài vài dặm ngay hàng thẳng lối với những con
đường có mái vòm đầy ắp những cửa hiệu, khu nào cũng được cung cấp nước Một trường đua xe ngựa rộng lớn hơn cả Đại hí trường La Mã với 4 con ngựa mạ vàng ngay chổ ngồi hoàng đế”[11]
Thứ ba là sự phát triển rực rỡ của nền văn minh Byzantine Trên cơ sở nền văn
minh Hy Lạp và La Mã, người Byzantine kế thừa tiếp thu và gìn giữ những giá trị văn
Trang 22hoá, ghi chép lại và nghiên cứu học hỏi Nếu không có Byzantine thì không một ai biết đến Platon, Aristote, Homere, Sophocles [1, tr.198] Thư viện và trường học ngày càng được chú trọng Cơ Đốc giáo với tư cách là quốc giáo trong Đế chế Byzantine, đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình nền văn hóa Byzantine, ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc Byzantine Chẳng hạn, những công trình của người Byzantine còn tồn tại đến ngày nay như nhà thờ Sainte Sophie ở Constantinople, một thánh đường độc nhất vô nhị trong lịch sử Các tác phẩm chạm khắc bằng ngà voi,
đồ mỹ nghệ bằng vàng bạc, bìa sách ngọc, những hộp chạm trổ tinh vi để đựng di hài,
di vật các Thánh… đều thể hiện phong cách nghệ thuật của Byzantine Quần áo lụa là, thánh đường rực rõ, châu ngọc dùng rất nhiều phản ánh một nền thương mại và kỹ nghệ phát đạt với lợi tức lớn lao [1, tr.193] Sự kết hợp nhiều di sản văn hóa và tôn giáo này đã tạo ra một nền văn hóa rất phong phú và độc đáo, khác biệt đáng kể so với văn hóa ở Tây Âu trong thời trung cổ và thường có liên quan đến những ảnh hưởng của phương Đông
Tiếp đó, giai đoạn từ thế kỷ IX- XV đế chế Byzantine bước vào thời kỳ suy yếu và luị tàn Tuy nhiên, giai đoạn này có điểm sáng là thời kỳ Phục hưng Macedonian kéo dài hai thế kỷ, giai đoạn này kết thúc với sự thất bại của đế chế Byzantine trước trước người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk trong trận Manzikert năm 1071 Cuộc xâm lược của Seljuk đã dẫn đến sự mất mát của hầu hết Tiểu Á Năm 1204, thủ đô của
đế chế bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư đánh chiếm làm đế chế suy yếu hơn Đến năm
1453, thành Constantinople rơi vào tay đế chế Ottoman, Đông bộ La Mã hay còn gọi
là đế chế Byzantine bị diệt vong
So với các nước Tây Âu lúc bấy giờ, đế chế Byzantine có sự khác biệt rất lớn
Đó “là nơi cư trú của các nền văn minh cổ đại Ai Cập, Hy Lạp, Syria và Anatoli, Đế
chế La Mã phía đông (Byzantine) giàu có hơn, đô thị hóa hơn và mang tính quốc tế hơn nhiều so với đối tác phía Tây, nó sở hữu một thủ đô dễ phòng thủ hơn nhiều ở thành phố Constantinople có tường bao quanh kiên cố; và nó có một biên giới ngắn hơn để bảo vệ Byzantium cũng được hưởng quyền tiếp cận Biển Đen và chỉ huy phía đông Địa Trung Hải”[27, tr.427] Lúc bấy giờ, mối quan hệ giữa Tây Âu và Byzantine
khá căng thẳng do sự bất đồng sâu sắc trong việc tranh luận các vấn đề thần học như thờ cúng tượng thần, tín điều Sự khác biệt về chính trị cũng kéo theo sự khác biệt về
ngôn ngữ và văn hoá giữa vùng dùng tiếng Latinh và vùng dùng tiếng Hy Lạp“thế giới
Trang 23Địa Trung Hải, miền từng gắn bó khắng khít bằng nền văn hóa song ngữ, giờ đây phân thành 2 nữa cách biệt và không bao giờ thông hiểu nhau được” [11] Như vậy,
mối quan hệ giữa đế chế Byzantine và các nước Tây Âu đã có sự chia rẽ, bất đồng và nghi kỵ lẫn nhau
Bên cạnh đó, sự phát triển của đế quốc Byzantine cũng đóng vai trò to lớn trong việc định hình lịch sử thế giới trung đại Nằm giữa châu Âu và châu Á, Byzantine trở thành bảo tàng lưu trữ văn hoá Á - Âu (Ai Cập, Hy Lạp, La Mã), là nơi chuyển giao những giá trị văn hoá và là văn minh duy nhất toàn châu Âu lúc bấy giờ, giúp liên kết thương mại đến Tây Âu, Nga, Trung Á, Hồi giáo, Trung Quốc, khắp Địa Trung Hải Hải cảng nhộn nhịp, các cửa hiệu đầy ắp người và hàng hóa từ khắp nơi trên thế giới
Như vậy, “Vai trò lịch sử của Constantinople như là tiền đồn của châu Âu trong cuộc
chống lại rợ châu Á, nhờ sự che chở của cửa ngõ phía Đông này, mà Tây Âu có thể thay đổi lại cuộc sống của mình Nền văn minh của Tây Âu chính là sản phẩm trung gian của ý chí sinh tồn của Đế chế Byzantine” [11]
1.2.3 Sự phân ly và tham vọng “quyền lực” của giáo hội La Mã
Thời kỳ trung cổ là một thời kỳ đầy biến động, xã hội lúc bấy giờ được cấu trúc theo trật tự đó là giáo sĩ, quý tộc, lãnh chúa, kỵ sĩ và nông dân, mỗi trật tự có luật lệ và quy định cần được tuân thủ nhưng đều hướng niềm tin vào Thiên Chúa Tuy nhiên, Giữa Tây Âu và Byzantine lúc bấy giờ có sự khác biệt rõ rệt, cả hai bên đều tranh giành nhau trong việc truyền giáo ở những nước lân cận và mưu đồ của Roma muốn ngự trị trên toàn giáo hội Kitô Thêm vào đó, sự bất đồng về giáo lý thần quyền, sự tranh cãi về quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng đã làm mâu thuẫn thêm gay gắt Vì thế năm 1054, năm đáng nhớ trong lịch sử giáo hội: cuộc phân chia Đông - Tây Khi nói đến vấn đề này, người ta gọi đây là cuộc Đại ly giáo Và cuộc đại ly giáo năm
1054 xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất là về vấn đề “Quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng” người kế vị
Thánh Phêrô, theo giáo lý Kitô giáo trước khi qua đời các tông đồ chọn người kế vị mình được gọi là các Giám mục, còn Thánh Phêrô được xem là “tảng đá” là nền tảng
và xây dựng giáo hội vì vậy người kế vị Thánh Phêrô để cai quản giáo hội được gọi là Giáo hoàng Tuy nhiên, giáo hội Chính thống giáo phương Đông không thừa nhận quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng mà coi Đức Thượng phụ là thủ lãnh danh dự
Trang 24của Chính thống giáo toàn thế giới, giáo hội Chính thống Hy lạp, Rumania, Serbia, Nga và Bulgaria [14]
Thứ hai là mâu thuẫn về cách giải thích giáo lý trong kinh Tin Kính Liên quan
tới từ “Filioque” Kitô giáo đã thêm vào kinh Tin Kính trong Công Đồng Toledo năm
587 Trong kinh Tin Kính của giáo hội Chính thống không có từ “Filioque” Từ
“FIlioque” có nghĩa là “và bởi Chúa con”, khẳng định sự hiệp thông bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con, để ám chỉ rằng Chúa Thánh Thần bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, và được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con Còn trong kinh Tin Kính củaa giáo hội Chính thống không có từ “Filioque” Nhà thờ
phương Đông tin rằng do nhà thờ phương Tây đơn phương đưa Filioque (không hỏi ý
kiến hoặc tổ chức hội đồng với phương Đông) vào Tín điều và giáo hội phương Tây đã phá vỡ sự hiệp thông với phương Đông [56]
Ngoài ra, Trong giáo hội Công giáo hàng giáo sĩ bắt buộc phải sống độc thân, không chập nhận ly dị Trong giáo hội Chính thống các Linh mục được quyền lập gia đình, ngoại trừ các Giám Mục và các đan sĩ phải sống độc thân, chấp nhận ly dị, không chấp nhận việc sử dụng bánh không men trong Bí tích Thánh thể như giáo hội Công giáo La Mã
Chính vì vậy, vấn đề xung đột về giải thích thần quyền, giáo lý giữa hai bên không thể hoà giải Năm 1054, Giáo Hoàng Leo IX giáng vạ tuyệt thông cho Michael Cerularius gây ra sự chia rẽ: Đông - Tây, trong đó phương Tây có thủ phủ là Roma và ngôn ngữ chính là Latinh còn phương Đông thủ phủ là thành Constantinople, ngôn ngữ chính là tiếng Hy Lạp thuộc đế chế Byzantine Sau đó, các biến cố chính trị lịch
sử như vụ cuộc viễn chinh lần thứ tư của quân Thập tự chinh đã đánh chiếm thành Costantinople, cướp bóc và tàn sát các Kitô hữu Chính thống năm 1204, tiếp đó biến
cố Constantinople rơi vào tay quân Hồi của đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ năm 1453
đã khiến cho giáo hội Công giáo và Chính thống giáo ngày càng xa nhau Phải đợi cho tới sau công đồng chung Vatican II tình hình mới được cải tiến với phong trào đối thoại đoàn kết [14] Cuộc đại ly giáo gây chia rẽ sâu sắc mối quan hệ giữa Đông và Tây theo đạo Cơ Đốc giáo, mong muốn chống lại các bè phát dị giáo và các giáo phái lạc giáo trong lòng giáo hội muốn gây ly giáo đồng thời để hàn gắn, thống nhất lại giáo hội sau năm 1054 là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc Thập tự chinh kéo dài hai thế kỷ
Trang 25Vào thế kỷ X, tình hình châu Âu rối ren do các cuộc cạnh tranh quyền lực giữa
thể chế Giáo hoàng và quyền lực Đế chế mặc dù “căn tính của châu Âu thời bấy giờ
phụ thuộc vào giáo hội, vì giáo hội có tầm ảnh hưởng và chi phối trên mọi lĩnh vực của xã hội”[8, tr.18], tầng lớp quý tộc làm chính trị tham gia vào các công việc của
giáo hội Giáo hoàng ở dưới quyền hoàng đế, các thế lực thế quyền tham gia vào cuộc bình chọn chức sắc trong giáo hội và xây cất các nhà thờ, tu viện Vì vậy, đã có sự mâu thuẫn khi các Hoàng đế buộc người được tấn phong Giám mục phải hứa trung thành và tôn kính mình điều này đã bị Giáo hoàng phản đối Đối với các hoàng đế họ phủ nhận Giáo hoàng có thẩm quyền chính trị tối cao, họ chỉ được công nhận bởi Toà thánh Roma Từ đầu thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, sự cạnh tranh về quyền lực diễn ra gay gắt đặc biệt giữa Giáo hoàng Alexandre III và Hoàng đế Frederick Barbarsossa dẫn đến các cuộc cải cách tôn giáo với nguyên tắc “Cái gì của Xêda, trả về Xêda; cái
gì thuộc về Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa” nổi bật nhất là cải cách của Giáo hoàng Gregorius Năm 1074, Giáo hoàng Gregorius VII quyết định triệu tập công đồng Roma để cải cách giáo hội để giải quyết nạn mua thần bán thánh Sau đó, ngài giành lại thần quyền trong việc tấn phong Giám mục Ban hành những tuyên bố về nguyên tắt của Giáo hoàng gồm 27 điều luật khẳng định quyền tối cao của Giáo hoàng trong giáo hội Gregorius VII kiên quyết bảo vệ thế đứng trên của thần quyền đối với thế quyền, nhân danh mối liên hệ tòa thánh với phần đời, cho phép Giáo hoàng được phế truất hoàng đế khi cần thiết Có thể thấy lúc bấy giờ, thể chế Giáo hoàng của giáo hội La Mã và chế độ phong kiến của các vua chúa là hai thái cực, đều mang những khát vọng chi phối lẫn nhau, có khi hợp tác chặt chẽ khi thì đối đầu kịch liệt, nhưng vẫn luôn dựa trên nền tảng Kinh Thánh “mọi quyền lực đến từ Thiên Chúa”, họ vẫn có chung một chí hướng đó chính là bảo vệ di sản văn hoá Kitô giáo, quyền lực thế quyền
và thần quyền kết hợp để chinh phạt và ngăn chặn bước tiến của quân đội Hồi giáo Tham vọng của giáo hội La Mã muốn lan rộng ảnh hưởng của văn minh Kitô giáo ra bên ngoài, mở rộng đất đai xâm chiếm, xây dựng các quốc gia Kitô giáo mới, mở rộng quyền lực của giáo hội
Không chỉ dừng lại ở đó, ở đế quốc Byzantine nhiều Kitô hữu đã theo nghi thức Chính thống giáo riêng biệt Mong muốn của giáo hội La Mã lúc bấy giờ đó chính là áp đặt quyền lực nhà thờ La Mã ở phía Đông, thống nhất lại giáo hội vốn đã
ly khai năm 1054 “Người ta đã trở nên chấp nhận việc Đức Giáo hoàng lợi dụng các
Trang 26hiệp sĩ trong cái tên tín đồ Cơ Đốc giáo không chỉ để chống lại kẻ thù chính trị của bản thân Giáo hoàng, mà còn để chống lại người Hồi giáo Tây Ban Nha hoặc về mặt
lý thuyết để chống lại triều đình người Turk Seljuk ở phía Đông”[17].Ở đế chế
Byzantine, toàn bộ quyền lực đều nằm trong tay người đại diện cho Thượng đế, chính sách của giáo hội cũng phải được hoàng đế chấp thuận, người đứng đầu nhà nước cũng
là người đứng đầu nhà thờ “Giáo trưởng, vị giám mục đứng đầu thành Constantinople,
chỉ là cái bóng bên ngoài bên ngoài cung điện hoàng gia”[11] Vì vậy ở Byzantine,
vương quyền không phải là lực lượng hậu thuẫn của giáo hội Còn ở các nước Tây Âu, lực lượng hậu thuẫn của giáo hội là giới quý tộc, vua chúa, tham vọng của lực lượng quý tộc Tây Âu lúc bấy giờ là mong muốn bành trướng ở mở rộng phạm vi ảnh hưởng
ra phương Đông để tìm kiếm sự giàu có, thám hiểm, khai thác thống trị vùng đất mới,
cả vua chúa quý tộc cũng không thế cưỡng lại sức quyến rũ về sự giàu có từ các nền văn minh ở phương Đông
1.2.4 Giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây trước Thập tự chinh
Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử loài người, quá trình giao lưu văn hóa vẫn luôn tồn tại và tiếp diễn Thực tế cho thấy, trước khi phong trào Thập tự chinh diễn ra thì trong thế giới cổ trung đại sự giao lưu văn hoá giữa các khu vực đã diễn ra Thông qua các con đường như thương mại, chiến tranh, di dân v.v cư dân của các nền văn minh này đã có sự gặp gỡ, tiếp xúc lẫn nhau
Đầu tiên, quá trình giao lưu diễn ra thông qua con đường thương mại Quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây ngày càng phát triển thông qua con đường tơ lụa Con đường tơ lụa được thông suốt cả ở trên bộ và trên biển đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nhân loại, mở ra triển vọng mới trên con đường giao thương buôn bán, đặc biệt là thương mại mang tính quốc tế Vào thế kỷ I - V CN, các thương nhân người
La Mã đóng vai trò quan trọng trong việc giao dịch giữa các nền văn minh khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi không chỉ hàng hóa mà còn cả kiến thức, văn hóa và truyền thống tôn giáo Điển hình, trong những chuyến đi của mình, những thương nhân La Mã đã cho tàu buôn của mình đến thăm châu Phi ở Ethiopia và Somalia để mua các sản phẩm địa phương có giá trị như nô lệ kỳ lạ và chất thơm quý giá Ngoài ra, thương nhân La Mã cũng trở thành khách thường xuyên ở các chợ phương Đông ở phía Nam Ả Rập, đến thăm Mesopotamia một khu vực đa dạng về sắc tộc Giữa La Mã và phương Đông cũng có quá trình giao lưu văn hoá hết sức nổi bật
Trang 27trên nhiều phương diện như phong cách ẩm thực với các loại gia vị như quế, nghệ, tiêu, đinh hương, san hô đỏ, ngũ cốc, rượu vang, cũng được lưu truyền mạnh mẽ từ Đông sang Tây và ngược lại Có thể nói, trong thời kỳ đế chế, mạng lưới thương mại của La
Mã được mở rộng hơn bao giờ hết Hay người Trung Hoa từ thời cổ đại đã dành thế chủ động trong việc di chuyển qua Tây Á và sang tận phương Tây để cung cấp vải lụa, gấm vóc Mặt khác, các nhà buôn lớn của các quốc gia ở phương Tây cũng mang tiền, vàng đến Trung Hoa để trao đổi, mua bán hàng hóa kiếm lời [3] Thông qua con đưởng tơ lụa, các nhà buôn Ý và Tây Âu đều đem vàng đến mua vật phẩm tại các chợ
ở Byzantine, nghề dệt lụa được người Ba Tư đưa sang Byzantine vào thế kỷ VI, về sau hoàng đế Byzantine giữ độc quyền sản xuất và buôn bán lụa, thuốc nhuộm áo hồng y
và chỉ kim tuyến cả Đông và Tây thường dùng
Ở Ấn Độ, từ rất sớm hoạt động thương mại ở đây đã phát triển, người ta đã tìm thấy các loại tàu lớn nhỏ tại các kênh đào lớn và bến cảng gần bờ biển Ả Rập Mặc khác, dựa vào những bằng chứng lịch sử để lại các nhà sử học đã nhận định mạng lưới thương mại của Ấn Độ bao phủ bờ biển của Iran, Bắc và Trung Ấn và vùng Lưỡng Hà [10, tr.107] Trong lịch sử phát triển của mình, trước khi có sự tham gia của La Mã thì mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa Ấn Độ và Hy Lạp đã được xúc tiến đẩy mạnh thông qua cuộc chinh phạt của Alexander đại đế Đến khoảng năm 20 TCN, các thương gia La Mã đã đến trao đổi hàng hoá tại các thương cảng Tamil (Ấn Độ)
Còn đối với Trung Quốc, một quốc gia được nhận định là hoạt động thương mại rất phát triển kể cả trên bộ lẫn trên biển Đặc biệt, có bộ phận dân du mục, để thích nghi với lối sống của mình, cư dân chủ yếu sống bằng nghề trao đổi buôn bán với các đoàn thương nhân đến từ các quốc gia lân cận chẳng hạn như người Parthia Trong suốt tiến trình phát triển của mình, với vai trò là trung tâm văn minh của khu vực Trung Quốc luôn muốn truyền bá văn hoá của mình ra bên ngoài Từ Tây An (Trung Quốc) đến Đôn Hoàng rồi qua bồn địa Tarim đến Kashgar (Tân Cương) tại đây hàng hoá được vận chuyển dọc theo các thung lũng sông và qua các đèo dốc để đến các lãnh thổ thuộc La Mã trên bờ Biển Đen rồi vận chuyển đến La Mã [43, tr.90]
Không những vậy, quá trình giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây đã được xúc tiến mạnh mẽ thông qua con đường chiến tranh Trong suốt quá trình chinh phục mở rộng lãnh thổ của mình La Mã một đế chế hùng mạnh cũng đã có sự giao lưu mạnh mẽ với Ai Cập, Tây Á và Trung Á Sự giao lưu ấy ngày càng mạnh mẽ hơn khi Ai Cập trở
Trang 28thành một tỉnh của La Mã sau sự thất bại của Marcus Antony và Cleopatra trong trận chiến tại Actium trước Octavian Thông qua chiến tranh, quá trình giao lưu văn hoá
giữa La Mã và Ai Cập được xúc tiến hơn bao giờ hết Mặc khác,“cuộc chinh phục Ai
Cập và sự kết hợp của nó vào đế chế La Mã đã mở đầu cho một niềm đam mê mới đối với nền văn hoá cổ đại của nó” [66] Nhiều bằng chứng đã chỉ ra rằng, sau cuộc chinh
phục Ai Cập nhiều loại hàng hoá kỳ lạ từ phương Đông xa xôi ngày càng trở nên phổ biến với xã hội La Mã Ai Cập trở thành vùng đất trung gian cho các loại hàng hoá phương Đông, Đồng thời, từ Ai Cập các thương gia La Mã đã vượt biển xa xôi đi khám phá các vùng đất quanh Ấn Độ Dương từ đó họ tìm được vùng đất xa hơn như
Ấn Độ, Trung Quốc và cả Đông Nam Á
Đến thế kỉ VII, Ả Rập được thống nhất, công cuộc chinh phạt lãnh thổ của đế chế cũng gắn liền với quá trình giao lưu văn hoá Thương nhân Ả Rập đã xuất hiện với
lộ trình xuyên qua các sa mạc Ả Rập và các cảng dọc theo bờ biển Nam Ả Rập vận chuyển gia vị, ngà voi, ngọc trai, đá quý, và hàng dệt đến các cảng địa phương châu Phi, Ấn Độ và Viễn Đông phục vục cho việc trao đổi chủ yếu với Hy lạp - La Mã từ phía Đông Ả Rập, hình thành nên Con đường Hương đạo (bắt đầu tại Shabwah ở Hadhramaut, vương quốc cực đông của Nam Ả Rập và kết thúc tại Gaza, một cảng phía bắc bán đảo Sinai trên Biển Địa Trung Hải) [69] Từ thế kỉ VII, hoạt động thương mại của các thương nhân Ả Rập đã vươn đến phía Đông tận khu vực Đông Á và Đông Nam Á (Trung Quốc, Indonesia…) cùng với đó là hoạt động truyền bá Hồi giáo Từ Địa Trung Hải, họ từng đi lại thường xuyên giữa Trung Hoa và Ấn Độ, khi họ trở về
và mang theo nào là “xạ hương, gỗ lô hội, quế và các sản phẩm khác của phương
Đông” [5, tr.211 ] Người Ả Rập còn đóng vai trò trung gian trong truyền bá văn hoá,
đầu thế kỉ VIII, người Ả Rập học được cách làm giấy của Trung Quốc, từ đó sách xuất hiện ngày càng nhiều, thế kỉ XI – XII người châu Âu biết đến giấy Hầu hết chứa đựng trong mỗi quyển sách là cả một kho tàng tri thức thuộc các nền văn minh trên tất cả các lĩnh vực của Ba Tư, Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc và chiếm phần nhiều trong số đó là nền văn minh Hy - La cổ đại được các nhà khoa học nghiên cứu, dịch thuật thành ngôn ngữ Ả rập và lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác trên toàn đế chế Ả Rập [4, tr.62-63] Trong lĩnh vực toán học, người Ả Rập đã đóng vai trò “nhịp cầu toán học”, tiếp thu cách viết các chữ số từ người Ấn Độ rồi truyền sang châu Âu
và toàn thế giới Phát minh có tác động lớn đến sự phát triển khoa học và kỹ thuật của
Trang 29toàn nhân loại mà người Ấn Độ đã tạo ra đó là hệ số thập phân bao gồm các số: 1,2,3,4,5,6,7,8,9, trong đó có số 0 Người châu Âuđã học ở người Ả Rập cách chế tạo tàu biển, định hướng theo sao, các quy tắc buôn bán và các phép tính phức tạp khi quyết toán
Có thể nói, quá trình giao lưu văn hoá trước thế kỷ XI đã góp phần kết nối những con người thuộc các nền văn hóa khác nhau, cho hai nền văn hóa Đông và Tây được gặp gỡ liên hệ với nhau một cách dễ dàng hơn
1.3 Tổng quan về các cuộc Thập tự chinh (1095 - 1291)
1.3.1 Nguyên nhân diễn ra các cuộc Thập tự chinh
Thứ nhất là do sự tác động về kinh tế xã hội, chính trị đương thời Vào thế kỷ
XI, tình hình xã hội Tây Âu có nhiều biến đổi, đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội Quá trình phong kiến hoá ở Tây Âu đã hoàn thành từ lâu cộng thêm sự ra đời của thành thị làm thương nghiệp phát triển mạnh mẽ nhất là ở vùng Đông Địa Trung Hải Cùng với quá trình phong kiến hoá, toàn bộ ruộng đất trong
xã hội tập trung vào giai cấp phong kiến và được truyền từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, lãnh địa chỉ truyền cho con trưởng còn con thứ sẽ trở thành kị sĩ không có ruộng đất, họ phải đi làm thuê và cướp bóc của cãi của khách buôn
Mặc khác, những cuộc Thập tự chinh diễn ra trong thời kỳ dân số châu Âu phát triển mạnh mẽ Nạn mất mùa, nhu cầu mở rộng sự bành trướng, chiếm giữ những vùng đất mới đặc biệt đối với các quốc gia Địa Trung Hải ngày càng tăng Đặc biệt, có tầng lớp hiệp sĩ họ được đào tạo, huấn luyện để tiến hành chiến tranh và khi dân số phát triển mạnh mẽ, những cuộc xung đột giành đất đai đã xảy ra Giáo hoàng Urban II đã
nói với các hiệp sỹ của nước Pháp như sau: “Đất đai mà các bạn cư ngụ thì quá hẹp
đối với một dân số lớn nó cũng không thừa của cải; và nó khó lòng cung cấp đủ thực phẩm cho những người trồng trọt trên nó Đây là lý do vì sao các bạn phải tàn sát và tàn phá lẫn nhau” [13] Như vậy, đây là lực lượng được khuyến khích để giành đất mở
rộng lãnh thổ và Thập tự chinh cũng chính là phương tiện bạo lực nhằm đưa bạo lực ra khỏi đời sống trung cổ
Vào cuối thế kỉ XI, cùng với nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, thành thị ngày càng phát triển mạnh, sự xa hoa tham vọng bành trướng của giới quý tộc, tăng lữ muốn khống chế cả giáo hội phương Đông Đồng thời, qua lời kể của khách hành hương từ
phương Đông, vùng Đông Địa Trung Hải là vùng đất giàu có và sung sướng“ở đó
Trang 30thành phố sầm uất, cung điện nguy nga tráng lệ, sản phẩm quý lạ phong phú, giai cấp thống trị và tầng lớp giàu có tha hồ hưởng thu, những câu chuyện ấy càng làm thêm
sự khao khát của cải của giai cấp phong kiến Tây Âu”[6, tr.49] Mặc khác, Kitô giáo
lúc bấy giờ đã chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của nhiều nước phong kiến châu Âu Quá trình mở rộng ảnh hưởng đó đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt và đẫm máu giữa ba tôn giáo lớn Kitô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo Châu Âu có một lịch sử lâu dài và đẫm máu chứng kiến các vương quốc và giới quý tộc tấn công lẫn nhau Thập tự chinh là một nỗ lực nhằm chấm dứt sự xâm lược giữa các vương quốc châu Âu và thay vào đó hướng bạo lực tới các khu vực do người Hồi giáo nắm giữ ở Trung Đông
Thứ hai xuất phát từ sự xung đột về giáo lý giữa Kitô giáo và Hồi giáo: Như
chúng ta đã biết, kinh Koran là Kinh Thánh của đạo Hồi công nhận Chúa Jesu là vị tiên tri thứ hai sau giáo chủ Muhammad nhưng phủ nhận tính thiêng liêng cũng như đặc tính “Thiên Chúa Ba Ngôi” của Kitô giáo Đối với người Hồi giáo, đạo Kitô là đa thần giáo đi ngược lại thuyết độc thần của tổ phụ Abraham1 Họ cho rằng Kitô giáo là một tà đạo đa thần, vi phạm điều răn không được thờ ảnh tượng, quá tôn sùng Đức Maria và các Thánh, do đó chỉ có Hồi giáo và Do Thái giáo là hai đạo Độc Thần đúng
nghĩa Trong sách người Hồi giáo có ghi chép rằng “Những người Kitô giáo thờ ảnh
tượng bị coi là hạng người dơ bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi Giáo” Người Kitô giáo bị coi là đa thần giáo có thể bị sát hại bất cứ lúc nào Kinh Koran chương 9 câu
5 đã qui định: "Khi những tháng thánh qua đi, các ngươi hãy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hãy phục kích để bắt chúng” [13] Có thể nói rằng,
người Hồi giáo chỉ công nhận nội dung trong sách Cựu Ước, còn Kinh Thánh Tân Uớc thì họ không công nhận và phản đối Chính vì sự khác biệt trong quan niệm, càng khoét sâu mâu thuẫn giữa hai tôn giáo, tạo nên mối xung đột sâu sắc và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc Thánh chiến
Thứ ba bắt nguồn từ sự tranh chấp lãnh thổ Như chúng ta đã biết vào thế kỷ
thứ VII, đế quốc Ả Rập được thành lập, đạo Islam ra đời và trở thành quốc giáo Cùng với quá trình chinh phục của người Ả Rập, đạo Hồi được truyền bá khắp nơi như khu vực Tây Á, Trung Á, Bắc Phi (như Iraq, Syria, Palestine, Ai Câp, phía tây nước Iran,
1 Abraham là một nhà tiên tri của Hồi giáo và là tổ phụ của Muhammad qua Ishmael, một người con trai khác của Abraham
Trang 31Carthage và Hy Lạp) và đánh chiếm Tây Ban Nha Chính vì sự bành trướng như vũ bão của Hồi giáo, Kitô giáo bị mất rất nhiều đất và đồng thời cũng mất rất nhiều tín đồ
Sự mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt khi quân Hồi giáo đã chiếm đóng thành Jerusalem (hay còn gọi là Yerushalayim trong tiếng Hebrew, và Al-Quds trong tiếng Arab) đây là một trong những thành phố lâu đời nhất thế giới, là chứng nhân lịch sử với nhiều lần bị chinh phục, phá huỷ và tái thiết Đặc biệt, mỗi lần được xây dựng lại,
nó lại đại diện cho những mảng khác nhau của quá khứ [15] Đây là vùng đất linh thiêng có ý nghĩa quan trọng đối với cả ba tôn giáo đó chính là Kitô giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo
Đối với người Kitô giáo, đây chính là nơi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây Thập tự và phục sinh Thành cổ này còn có Nhà thờ Mộ Thánh, được xây dựng bên trên mộ chúa Jesus nơi đặt tảng đá được cho rằng là nơi đặt xác Chúa Jesus để chuẩn
bị chôn cất Năm 1009 quốc vương Hồi giáo al-Hakim bi-Amr Allah triều Fatimid đã
ra lệnh phá hủy Nhà thờ Đây là một địa điểm linh thiêng có ý nghĩa quan trọng đối với những người Kitô giáo Vì vậy, những hành động của người Hồi giáo đã làm nên làn sóng phẫn nộ và trở thành một trong những lý do dẫn đến cuộc Thánh chiến
Đối với người Do Thái giáo, Jerusalem chính là nơi vua David đã xây dựng vương quốc Irael thống nhất và chọn đây để xây dựng thủ đô, sau này vua Salomon - con trai của vua David cũng đã xây dựng đền thờ đầu tiên tại đây, hàng năm hàng triệu tín đồ Do Thái đã đến Bức tường Than khóc ở Jerusalem để hành hương [15] Đối với Hồi giáo, Jerusalem là nơi dừng chân trong hành trình Đêm kỳ bí của nhà tiên tri Muhammad, theo ghi chép trong kinh Koran, ở đây còn có Vòm đá thiêng - nơi nhà tiên tri lên thiên đàng Chính vì vậy, đây là Thánh địa quan trọng của người Hồi giáo, sau Mecca và Medina ở Ả Rập và đền thờ Al-Aqsa một trong những đền thờ đầu tiên của người Hồi giáo nằm trong thành Jerusalem [22] Năm 1076, những đoàn người Kitô giáo từ châu Âu đi hành hương ở Jerusalem bị tấn công bởi người Hồi giáo, những người sống sót trở về kể lại sự ngược đãi của người Hồi khiến tín hữu Kitô giáo
rất phẫn nộ Người ta nói rằng “Châu Âu đang ở trong thời đại bóng tối tinh thần (The
Dark Age) nên từ vua tới dân, từ các tu sĩ đến các bổn đạo, tất cả đều không có một chút hiểu biết nào về Hồi giáo, không có một chút kiến thức nào về tình hình chính trị
xã hội và địa thế của các nước phương Đông Sự thiển cận về kiến thức và tinh thần cuồng tín tôn giáo đã mau chóng biến việc tái chiếm Jerusalem khỏi tay quân Hồi
Trang 32thành một khát vọng thiêng liêng vô cùng cuồng nhiệt” [13] Tóm lại, đối với cả ba tôn
giáo lớn đây đều được xem là Thánh địa linh thiêng quan trọng, tuy nhiên mỗi tôn giáo đều có ý niệm khác nhau về giáo lý tạo ra những mâu thuẫn gay gắt, những cuộc chiến tranh tôn giáo khốc liệt kéo dài cho đến tận ngày nay
Ngoài ba nguyên nhân lớn trên, theo ý kiến của Thomas Asbridge các cuộc Thập tự chinh được phát động để mở rộng quyền lực giáo hội và để đoàn tụ với giáo hội chính thống giáo phương Đông sau sự ly khai năm 1054 [17] Từ bên trong giáo hội, phong trào Thập tự chinh chống lại các bè phái dị giáo và các giáo phái lạc giáo trong lòng giáo hội muốn gây ly giáo Hay theo ý kiến của Thomas Madden cho rằng các cuộc Thập tự chịn liên quan đến cải cách giáo hội, trong nỗ lực khẳng định quyền lực to lớn của Giáo hoàng và Thập tự chinh chống lại sự bành trướng của Hồi giáo đã tấn công đoàn người hành hương đến vùng Đất Thánh Ngoài ra, sự xâm nhập của Thổ Nhĩ Kỳ vào Tiểu Á và miền Bắc Syria gây ra tự tàn phá lớn và nguy cơ mở rộng sự bành trướng đạo Hồi sang cả châu Âu nên việc ngăn chặn sự mở rộng của thế lực Hồi giáo về phía Tây là cần thiết
1.3.2 Diễn biến và kết quả
1.3.2.1 Cuộc Thập tự chinh thứ nhất (1096-1099)
Cuộc Thập tự chinh đầu tiên là cuộc viễn chinh quân sự do người Kitô giáo phương Tây tiến hành để lấy lại Đất Thánh vốn đã bị lấy mất trong các cuộc chinh phục của người Hồi giáo Thành phần tham chiến của cuộc Thập tự chinh lần một chủ yếu là các tín đồ Kitô giáo, nông dân các nước Pháp, Đức, Ý, đế chế La Mã thần thánh, Anh, đế quốc Byzantine và một số vương quốc khác Năm 1095, hoàng đế Alexius Comnenus đã gửi sứ giả đến cầu viện Giáo hoàng để chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ Nhận thấy thời cơ thuận lợi, Giáo hoàng Urban II đã triệu tập một Hội đồng tại Clermont nước Pháp Tại đây Giáo Hoàng Urban II đã phát biểu rằng:
Hầu hết các bạn đã nghe nói, người Thổ Nhĩ Kỳ và người Ả Rập đã tấn công họ
và đã chinh phục lãnh thổ của Romania [đế chế Hy Lạp] xa về phía tây đến bờ biển Địa Trung Hải và Hellespont, nơi được gọi là Cánh tay của St George Họ đã chiếm ngày càng nhiều vùng đất của những người theo đạo Cơ Đốc đó, và đã đánh bại họ trong bảy trận chiến Họ đã giết và bắt giữ nhiều người, đồng thời phá hủy các nhà thờ và tàn phá đế chế Nếu bạn cho phép họ tiếp tục như vậy trong một thời gian mà không bị trừng phạt, các tín đồ của Đức Chúa Trời sẽ bị chúng tấn công rộng rãi hơn
Trang 33nhiều Vì lý do này, tôi, hay đúng hơn là Chúa, cầu xin các bạn với tư cách là sứ giả của Chúa Kitô hãy công bố điều này ở khắp mọi nơi và thuyết phục tất cả mọi người thuộc bất kỳ cấp bậc nào, binh lính và hiệp sĩ, người nghèo và người giàu, hãy nhanh chóng viện trợ”[65]
Lời kêu gọi đó đã được hoan hô nhiệt liệt, ngay sau đó họ đã nhanh chóng khâu những cây Thánh giá màu đỏ để biểu thị quyết tâm của mình Và những nhà sử học cho rằng, chính bài phát biểu này đã châm ngòi cho cuộc Thập tự chinh đầu tiên và mở đầu cho hàng loạt các cuộc Thánh chiến trong gần hai thế kỷ Mở đầu bằng cuộc Thập
tự chinh của nhân dân, họ là nông dân chưa được đào tạo quân sự và các quý tộc nhỏ dưới sự lãnh đạo của Linh mục Peter Hermit đã khởi hành đến Jerusalem Tuy nhiên, dọc đường số lượng chỉ còn một nửa do bị giết chết bởi người Hungary khi cướp bóc thức ăn và bị quân đồn trú ở Nis tấn công đánh tan hoàn toàn
Tiếp theo là cuộc Thập tự chinh của các hoàng tử - đại quý tộc Tháng 8 năm
1096, đội quân theo những con đường khác nhau khởi hành đến Constantinople Ước tính số quân khoảng 30.000-35.000 người, 5000 kỵ binh [18] Đoàn quân chia làm ba nhánh hành quân trên đất liền và trên biển: nhánh thứ nhất xuất phát từ Bouillon, nhánh thứ hai từ Lyon, nhánh thứ ba từ Toulouse Xuất phát từ địa điểm khác nhau và đều gặp nhau tại Constantinople Khi đến thành phố Constantinople họ được vua Alexios yêu cầu phải thề trung thành và trả lại cho đế quốc Byzantine những vùng đất
họ thu hồi lại từ tay người Thổ Nhĩ kỳ Nhà vua đã cấp cho đoàn quân một số lương thực, thực phẩm và hộ tống họ đến miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ thì bị quân Hồi giáo tấn công Tại vùng Anatolia đã diễn ra trận Dorylaeum giữa quân Thập tự và người Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả quân viễn chinh giành thắng lợi và thu được nhiều chiến lợi phẩm
“Tất cả người Thổ Nhĩ Kỳ đều khiếp sợ khi nhìn thấy trại của họ bốc cháy và bởi sự
tàn khốc và độ bền của các hiệp sĩ, vì áo giáp của các hiệp sĩ bảo vệ họ khỏi các mũi tên và che chắn cho họ khỏi bị thương từ ngay cả những nhát đâm, chém của gươm giáo và họ (người Thổ ) nhanh chóng bỏ chạy, bỏ lại trại của họ ở phía sau và buộc Kilij Arslan-vua Thổ phải rút lui khỏi chiến trường Quân viễn chinh đã thực sự trở nên giàu có, ít nhất là trong một thời gian ngắn, sau khi thu giữ được kho bạc của Kilij Arslan” [18]
Một trong những cuộc chiến lớn trong cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất phải kể đến cuộc tấn công của quân Thập tự vào thành phố Antioch vào năm 1098 Đây là một
Trang 34thành phố bị người Seljuk chiếm từ tay đế quốc Byzantine Trong cuộc vây hãm thành phố Antioch, quân viễn chinh bị quân Hồi giáo Iraq bao vây bên ngoài, chính vì vậy quân Thập tự không phá được vòng vây nên gặp phải nạn đói lớn, nhiều hiệp sĩ bị chết, một số hiệp sĩ và binh lính bắt đầu đào ngủ Sau đó, người Anh nhanh chóng viện trợ cho quân Thập tự, đến tháng 6 năm 1098, quân viễn chinh đã kiểm soát hết các thành phố
Sau khi kiểm soát được Antioch quân viễn chinh đã tiến thẳng đến Jerusalem tổ chức cuộc vây hãm diễn ra từ ngày 7 đến ngày 15 tháng 7 năm 1099 Trong thành Jerusalem thống đốc Atimid Iftikhar Ad-Daula đã cho trục xuất hầu hết các Kitô hữu Trong số khoảng ước tính 5.000 hiệp sĩ đã tham gia vào cuộc Thập tự chinh của các Hoàng tử - Đại quý tộc, chỉ còn có khoảng 1.500 người vẫn đứng vững, cùng với 12.000 binh sĩ khỏe mạnh, (trong số có lẽ có đến 30,000 người) 2 Sau khi công phá thành quân viễn chinh tiến vào Jerusalem tàn sát 40.000 người Hồi giáo cũng với 1.000 lính phòng thủ Mặc dù quân Thập tự chinh đã giết rất nhiều người Hồi giáo và người dân Do Thái, các nhân chứng (Gesta Francorum, Raymond của Aguilers và tài liệu của Cairo Geniza) đã chứng minh rằng một số người Hồi giáo và người dân Do Thái được phép sống, miễn là họ phải rời Jerusalem [17]
Tóm lại, cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất là cuộc viễn chinh quân sự thành công giành được chiến thắng quyết định và thành lập lãnh thổ của vương quốc Jerusalem và các thành bang Thập tự khác như công quốc Tripoli, Antioch và công quốc Edessa Đây chính là bước tiến lớn đầu tiên thúc đẩy các cuộc Thập tự chinh khác diễn ra và đánh dấu sự trở lại của thương mại quốc tế ở phương Tây sang phương Đông sau sự sụp đổ của đế chế La Mã
1.3.2.2 Cuộc Thập tự chinh thứ hai (1147-1149)
Đây là cuộc Thập tự chinh được dẫn dắt bởi các vị vua châu Âu đó là vua Louis VII của Pháp và vua Conrad III của Đức được tuyên bố bởi Đức Giáo hoàng Eugene III và nhận được sự giúp đỡ của một số quý tộc châu Âu Năm 1144, Thống đốc Mad al-Din Zangi Hồi giáo chiếm thành phố Edessa và một nửa phía Tây của Công quốc Edessa, nước Antioch bị đe doạ nên đã cầu viện Giáo hoàng đó là nguyên nhân dẫn
2 Atimid Iftikhar Ad-Daula đã cho trục xuất hầu hết các Kitô hữu Trong số khoảng ước tính 5.000 hiệp sĩ đã tham gia vào cuộc Thập tự chinh của các Hoàng tử-Đại quý tộc, chỉ còn có khoảng 1.500 người vẫn đứng vững, cùng với 12.000 binh sĩ khỏe mạnh, (trong số có lẽ có đến 30,000 người)
Trang 35đến cuộc viễn chinh lần thứ hai Tuy nhiên, khi hành quân qua vùng Anatolia quân Pháp, Đức phải đối mặt với người Thổ Nhĩ Kỳ và nạn đói bệnh tật Khi đến Jerusalem các quý tộc đã tổ chức hội đồng quân sự để quyết định mục tiêu tốt nhất tiếp theo của quân viễn chinh Năm 1148 tại hội đồng quân sự Acre, quân Thập tự quyết định tấn công thành phố Damascus, mặc dù mục tiêu ban đầu của họ là Edessa Tại trận Damascus, quân Thập tự bị thất bại thảm hại
Sau sự thất bại của quân Thập tự, tình hình ở phương Đông trở nên xấu hơn Damacus một đồng minh của người Kitô giáo không còn tin vào Thập tự chinh nữa Đặc biệt, vào năm 1171, Saladin (Salah ad-Din Yusuf ibn Ayyub) tuyên bố làm Sultan của Ai Cập và thống nhất Ai Cập với Syria và hoàn toàn bao quanh các vương quốc Thập tự chinh sáng lập ra triều đại Ayyubid, chính vì điều đó đã đưa Ai Cập vào sâu hơn trong các cuộc xung đột
1.3.2.3 Cuộc Thập tự chinh thứ ba (1189-1192)
Sau khi thống trị cả một đế quốc rộng lớn gồm Ai Cập, Syria, Lưỡng Hà, Saladin đã tạo ra một thay đổi lớn ở vùng đông Địa Trung Hải ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của các quốc gia của quân Thập tự Năm 1187, ông đánh bại quân Thập tự chiếm được Jerusalem, sau đó tiếp tục tràn lên phía bắc để chiếm các thành bang khác của quân Thập tự và sự kiện này đã làm cho Tây Âu hoang mang dẫn đến cuộc Thập
tự chinh lần thứ ba xuất hiện Các vua Henry II của Anh và Philip II của Pháp đã ban một sắc lệnh kêu gọi mới, ngay lập tức hoàng đế La Mã Frederick Barbarossa đáp lại lời kêu gọi Ông cũng là người đầu tiên khởi hành về Jerusalem với đội quân khoảng 15.000 người, gồm 3000 hiệp sĩ Hoàng tử Hungary cũng dẫn một đoàn quân khoảng
2000 người đến Đất Thánh Trong tháng 7 năm 1190, vua Philip II đã cùng khởi hành
từ Marseille, Pháp đến Sicily Philip II đã thuê một đội tàu vận tải của người Genova
để vận chuyển quân đội của mình trong đó bao gồm 650 hiệp sĩ, 1.300 ngựa chiến và 1.300 hộ sỹ đến Đất Thánh [19]
Năm 1189, tại Acre, một trận chiến lớn nổ ra giữa đội quân Thập tự chinh đến
từ châu Âu, tổ chức hiệp sỹ thánh chiến và quân Hồi giáo gồm quân đội từ Ai Cập, Turkestan, Syria và Lưỡng Hà Sau một thời gian dài tiến đánh, cả hai lực lượng đều bị thiệt hại nặng nề, nhưng thắng lợi nghiêng về quân Thập tự chinh, chiến dịch được tạm dừng theo yêu cầu đàm phán của Saladin tuy ông không đích thân tham gia vào các cuộc đàm phán nhưng đã chấp nhận cho thành phố đầu hàng Vào ngày 7 - 9-1191, sau
Trang 36một loạt các cuộc tấn công quấy rối bởi lực lượng của Saladin, vua Richaed 3 đã hành quân đến Arsuf Baha ad-Din ibn Shaddad - sử gia Hồi giáo mô tả cuộc hành quân
như sau: “Người Hồi giáo bắn tên vào các bên sườn của họ, cố gắng để khuấy động
họ phá vỡ hàng ngũ, nhưng họ vẫn kiểm soát được một cách kiên nhẫn đội hình của mình và tiếp tục hành quân, họ vẫn tiến binh một cách rất đều đặn cùng với các con tàu của họ lúc này di chuyển dọc theo bờ biển song song với họ ( vừa hỗ trợ vừa cung cấp bảo vệ từ phía biển cho lục quân ), cho đến khi họ kết thúc từng giai đoạn hành quân và hạ trại” [19] Đến gần Jaffa, Saladin đã quyết định mở cuộc tấn công quân
Thập tự tại Arsuf, kết quả quân Thập tự giành chiến thắng, quân đội Hồi giáo phải tháo chạy, người ta nói rằng trận Arsuf đã làm hoen ố danh tiếng của Saladin ông không còn là chiến binh bất khả chiến bại Còn về phía Richard giữ được Jaffa tạo điều kiện thuận lợi để chiếm lại Jerusalem
Năm 1192, trận chiến cuối cùng của quân Thập tự lần thứ ba diễn ra tại Jaffa giữa phe quân Thập tự chinh do Richard I của Anh chỉ huy với phe Hồi giáo do Saladin chỉ huy Được hỗ trợ bởi cung thủ bắn nỏ của mình, Richard I đã tạo ra hàng loạt những trận mưa tên, chính vì vậy đã ép được quân đội Saladin lùi bước Vua Richard I đã chiếm lại Jaffa cho quân Thập tự chinh, sau đó, Saladin và vua Richard I
đã thương lượng một thoả thuận ngừng bắn Có thể nói rằng, trận Jaffa là trận chiến mang tính chất quyết định, thể hiện tinh thần quyết tâm của Saladin và sự dũng cảm của vua Richard I Sau trận này, quân Thập tự chinh được hiện diện ở phía Nam và người hành hương Kitô giáo được phép nhập cảnh vào thành phố, quân Thập tự giữ lại quyền kiểm soát từ Beirut đến Jaffa, tại thời điểm này người Kitô giáo đã hiện diện bên ngoài Đất Thánh
1.3.2.4 Cuộc Thập tự chinh thứ tư (1202-1204)
Sau cuộc Thập tự chinh lần thứ ba, mặc dù thắng lợi những vẫn còn nhiều hạn chế, thành Jerusalem vẫn nằm trong tay triều đại Ayyubid, quân Thập tự chỉ mới chiếm được Acre và lập một vương quốc La tinh ở Cyprus Chính vì vậy cuộc Thập tự
3 Richard I (Ngày 8 tháng 9 năm 1157 – 6 tháng 4 năm 1199) là Vua của Anh từ 06 tháng 7 năm 1189 cho đến khi ông chết Ở tuổi 16 Richard đã chỉ huy quân đội của mình dấy lên những cuộc nổi loạn tại Poitou chống lại vua Henry II-cha của ông ta Richard là một trong các nhà lãnh đạo cao cấp của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba, các chiến dịch do ông chỉ huy sau sự ra đi của Philip Augustus đã rất thành công và thu được những chiến thắng đáng kể trước Saladin-thủ lĩnh của người Hồi giáo, nhưng Richard đã không thể chiếm lại Jerusalem
Trang 37chinh lần thứ tư được tiến hành với dự định để chinh phục người Hồi giáo và giành lại quyền kiểm soát Jerusalem bằng cách xâm lược Ai Cập
Để thực hiện được kế hoạch đó, quân Thập tự phải nhờ Venezia dùng thuyền chở quân Thập tự đi viễn chinh, với điều kiện phải trả cho họ 85.000 đồng mác bằng bạc và cho họ một nửa đất đai và chiến lợi phẩm cướp được, trả nợ họ bằng cách đánh chiếm thành phố Zara ở Dalmatia4 Năm 1195, thái tử lưu vong Alexios của Byzantium cầu cứu quân Thập tự, yêu cầu quân Thập tự tấn công Constantinople để khôi phục ngôi vị hoàng đế với điều kiện hoàng đế Byzantine trả cho quân Thập tự 200.000 mác, 10000 binh lính và 500 kỵ sĩ Thoả thuận được thiết lập vì phù hợp với mong muốn của tầng lớp xã hội ở Tây Âu và Venezia cũng không muốn tấn công Ai Cập vì ảnh hưởng đến việc buôn bán của họ, nếu tấn công Byzantine sẽ giúp họ khống chế được việc buôn bán ở vùng này [6].Tháng 7 năm 1203, quân Thập tự đổ bộ lên Constantinople, hoàn thành lời đề nghị của Alexios nhưng ông ta lại không kiếm đủ số tiền nộp cho quân Thập tự như thoả thuận Năm 1203, Thập tự quân đã tấn công một nhà thờ Hồi giáo (ở Constantinople vào thời gian này có khá nhiều dân Hồi giáo) vốn
được bảo vệ bởi một lực lượng kết hợp của người Hồi giáo và người Byzantine đối lập
Ngày 12 tháng 4 năm 1204, quân Thập tự tấn công Constantinople một lần nữa, quân Thập tự chinh đã gây ra một tội ác khủng khiếp và man rợ tại Constantinople trong ba ngày, vào lúc đó rất nhiều giá trị văn hoá của La Mã và Hy Lạp đã được bị lấy cắp hoặc bị phá hủy Thư viện của thành phố Constantinople cũng đã bị phá hủy, bất chấp lời thề của họ và mối đe dọa của sự rút phép thông công, quân Thập tự chinh
đã phá hủy một cách tàn bạo và có hệ thống các nhà thờ tu viện của thành phố, họ phá hủy, làm ô uế hoặc ăn cắp tất cả những thứ họ có thể lấy được [20] Đế quốc Byzantine chỉ còn lại ở vùng biển Adriatic và phần đất đai ở Tiểu Á Quân viễn chinh
đã thành lập Đế quốc Latinh (1204-1261) và các thành bang khác tại vùng đất của Byzantine mà họ chinh phục được
Tóm lại, cuộc Thập tự chinh lần thứ tư đã khoét sâu thêm mâu thuẫn và gia tăng khoảng cách của giáo hội Chính thống giáo phương Đông và giáo hội Công giáo La
Mã Cái mà cuộc Thập tự chinh lần thứ tư để lại là ý nghĩa sâu xa về sự phản bội mà người Latinh đã gieo vào lòng những đồng đạo người Byzantine của mình Với các sự
4 Thành phố đã nằm trong sự thống trị về kinh tế của Venice trong suốt thế kỷ 12, nhưng đã trỗi dậy trong năm
1181 và liên minh với vua Emeric của Hungary và Croatia
Trang 38kiện của năm 1204, sự ly giáo giữa giáo hội ở phương Tây và phương Đông không chỉ
là hoàn thành mà còn được củng cố [20]
1.3.2.5 Các cuộc Thập tự chinh còn lại
Cuộc Thập tự chinh thứ năm (1219-1221) được xem là một cố gắng tuyệt
vọng để chiếm Ai Cập nơi đã trở thành thành trì của Hồi giáo Dưới sự tham gia của vua Hungary, lãnh chúa phong kiến Đức, Áo, Netherlands, may mắn chiếm được thành phố Dannietta của Ai Cập Người Ai Cập thương thuyết rằng nếu nhà vua chịu trả lại thành phố Dannietta cho Ai Cập thì Hồi giáo sẽ trả lại Jerusalem cho giáo hội Kitô giáo nhưng đề nghị này không được chấp nhận, cuối cùng quân Hồi giáo Ai Cập phẫn nộ phản công tiêu diệt hoàn toàn đội quân của vua Andrew của Hungary
Cuộc Thập tự chinh thứ sáu (1228- 1229) Là cuộc Thập tự chinh do vua
Frederic II Đức thực hiện, ông đã ký với Ai Cập một hoà ước, chiếm lại được Jerusalem và nhiều thành phố khác ở Palestine Tuy nhiên, do mâu thuẫn với toà thánh Roma, bị Giáo hoàng khai trừ giáo tịch và cho quân tấn công lãnh địa ông ở Nam Italia nên ông phải rút quân về Năm 1244, Ai Cập nhân cơ hội chiếm lại thành Jerusalem và Đất Thánh lại nằm trong tay người Hồi giáo
Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy (1248-1254) và lần thứ tám (1270) do vua
Luix IX Pháp chỉ huy, tham gia còn có phong kiến Pháp, quý tộc và kỵ sĩ Anh Mục tiêu của cuộc viễn chinh lần thứ bảy là Ai Cập nhưng bị thất bại nặng nề, đến năm
1254 rút về nước Đến năm 1270, ông tấn công Tunis nhưng lại bỏ mạng vì bệnh dịch hạch Chính vì vậy, quân Thập tự nhanh chóng tan rã Về sau Giáo hoàng nhiều lần hô hào viễn chinh nhưng không còn ai hưởng ứng Năm 1289 Ai Cập chiếm và phá huỷ Toripoli và Arcno, cứ điểm cuối cùng của quân Thập tự ở Đông Địa Trung Hải không còn
Tóm lại, qua các cuộc viễn chinh của quân Thập tự ta thấy rằng lực lượng tham gia chủ yếu là các tín đồ Cơ Đốc giáo, vua chúa, hoàng tử, đại quý tộc châu Âu, các lãnh chúa, bá tước, công tước của giới quý tộc Pháp, Đức, Anh và Italia, các tu sĩ dòng
tu và nông dân Vào các cuộc viễn chinh đầu tiên lực lượng tham gia đông đảo, là sự hội tụ của tất cả tầng lớp của xã hội Tây Âu lúc bấy giờ Tuy nhiên, các cuộc Thánh chiến về sau lại gặp khó khăn bởi sự eo hẹp về kinh tế và lực lượng ủng hộ là người Kitô giáo hạn chế dần do sự thiệt hại nặng nề và thất bại liên tiếp Mục đích của Thập
tự chinh lúc bấy giờ là muốn ngăn chặn lấy lại vùng đất do quân Hồi giáo chiếm
Trang 39nhưng một số quý tộc tham gia chủ yếu để làm giàu, nhận được danh hiệu cao quý, bổng lộc và thám hiểm Sau thời gian dài tiến hành, cuối cùng thời kỳ của các cuộc Thập tự chinh vào vùng Đất Thánh đã kết thúc sau 208 năm kể từ ngày Giáo hoàng Urban II ra lời kêu gọi đầu tiên cho các cuộc Thánh chiến
Mặc dù, cuộc Thập tự chinh đầu tiên thắng lợi đã thành lập Lãnh thổ của Vương quốc Jerusalem nhưng thắng lợi chủ yếu vẫn thuộc về những người Hồi giáo
Vì các cuộc Thập tự chinh tiếp theo mặc dù có lúc thắng lợi nhưng chỉ dừng lại ở chỗ phục hồi các khu vực bị người Hồi giáo chiếm đóng hơn là mở rộng, đặc biệt giai đoạn sau thánh địa Jerusalem bị tái chiếm và vẫn nằm trong tay Hồi giáo Nhìn chung, đối với phương Tây, Thập tự chinh là những cuộc viễn chinh mạo hiểm nhưng được xem
là tiêu biểu cho sự dũng cảm và tinh thần hiệp sĩ, là ý muốn của Thiên Chúa “Tiến lên
hỡi những người (Kitô giáo) Xông vào trận chiến đánh bại kẻ thù… Chúa Kitô hoan
hỉ với các chết của kẻ thù và Người hài lòng hơn, để trở thành phần thưởng an ủi của những người lính đã chết vì người”[8, tr.62] Đối với người Hồi giáo, Thập tự chinh
được coi là những sự kiện đầy tàn bạo, dã man và những cuộc chiến đấu của họ chống lại Thập tự quân đối với người Hồi giáo là Thánh chiến Như vậy, tuy đem lại nhiều hệ quả bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực xong bản chất của các cuộc viễn chinh của quân Thập tự vẫn là các cuộc chiến phi nghĩa
Tóm lại, các cuộc Thập tự chinh diễn ra đã đem lại nhiều tác động to lớn cho nhân loại Bên cạnh những hậu quả nặng nề, các cuộc viễn chinh còn tác động tích cực đến thương mại, giao lưu văn hoá Những vùng đất mà quân viễn chinh đi qua đều để lại những giá trị văn hóa rõ nét, không quan giao lưu văn hóa được mở rộng, bao trùm
và trải dài từ Tây sang Đông
Trang 40CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU HIỆN CỦA QUÁ TRÌNH GIAO LƯU
VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY QUA PHONG TRÀO THẬP TỰ CHINH
2.1 Ngôn ngữ, văn học
Ngôn ngữ và văn học là một trong những thành tựu nổi bật của văn minh, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển xã hội loài người Nhờ có nó mà các mối liên hết xã hội được tạo dựng, lịch sử văn minh dày lên qua những trang sử sách được lưu truyền qua ngàn đời Vì vậy, ngôn ngữ và văn học là hai phương diện nổi bật cho quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây
Đầu tiên, ta thấy rằng sự khác biệt về ngôn ngữ và tôn giáo có thể là những trở ngại đáng kể đối với quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa Vì vậy, khi tiến hành các cuộc viễn chinh về phương Đông việc áp dụng các ngôn ngữ phương Đông là một phép thử về mức độ tiếp thu của quân Thập tự chinh đối với các nền văn hóa khác Và
đã có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng, giữa khu vực rộng lớn mà quân Thập tự đi qua đã
có sự giao lưu về khía cạnh ngôn ngữ Tại Tây Ban Nha, việc sử dụng ngôn ngữ Ả Rập khá phổ biến, họ đã thành lập những thư viện, trung tâm dịch thuật, bảo tàng và học viện ở đó cho phép các học giải nghiên cứu thảo luận về các cuốn sách khoa học
chẳng hạn như trong cuốn sách Avicenna Canon of Medicine được viết vào năm 1025
bằng tiếng Ả Rập và vẫn là cuốn sách tiêu biểu về y học ở châu Âu cho đến thế kỷ 18 Vào những năm 1100, các học giả Cơ đốc giáo từ châu Âu bắt đầu đến thăm các thư viện Hồi giáo ở Tây Ban Nha Rất ít học giả phương Tây biết tiếng Hy Lạp nhưng hầu hết đều biết tiếng Latinh Vì vậy, các học giả Do Thái sống ở Tây Ban Nha đã dịch các phiên bản tiếng Ả Rập của các tác phẩm của Aristotle và các nhà văn Hy Lạp khác sang tiếng Latinh [38] Ngay lập tức, người châu Âu đã có được một lượng kiến thức khổng lồ mới, và không thể trở thành một nhà toán học hoặc nhà thiên văn học chính thức mà không có kiến thức tốt về tiếng Ả Rập
Theo tài liệu ghi chép, một số người Frank đã học ngôn ngữ Ả Rập để hoà nhập với vùng Cận Đông để phục vụ các mục đích tư pháp, ngoại giao và các công
việc hành chính Chẳng hạn như “một hiệp sĩ phương Tây, William de Preaux, đã học
được tiếng Ả Rập cho vua, malik, trong cuộc Thập tự chinh lần thứ ba, sử dụng nó để đánh lạc hướng sự chú ý của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ khỏi Richard I trong một cuộc phục kích gần Jaffa vào năm 1119” Trong cuộc đàm phán giữa vua Richard I và Saladin