Theo Thông tư số 28/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, tổ chức sử dụng bao gồm:
Trang 1HOÀNG VĂN HÒA
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
GIAI ĐOẠN 2015 – 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - năm 2021
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HÒA
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
GIAI ĐOẠN 2015 – 2019
Ngành:Quản lý đất đai
Mã số: 8 85 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Văn Điền
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn
2015 - 2019” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ
rõ nguồn gốc Và Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban chức năng của Quận cùng các đồng chí đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hoà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban chức năng, các ban ngành, đoàn thể, các đồng chí đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan UBND huyện Đông Anh đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua Cảm ơn sự đóng góp chân thành của tất cả đồng nghiệp, người thân, bạn bè để luận văn của tôi được hoàn chỉnh
Và người mà tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới
PGS.TS.Trần Văn Điền, người đã chỉ bảo, góp ý những ý tưởng đúng đắn
để tôi có thể lựa chọn đúng đề tài mà mình đang trực tiếp hàng ngày phải xem xét, đề xuất, tháo gỡ mà phù hợp với tính chất công việc tôi được giao
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến chân thành của các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hoà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học về đất đai và vai trò của đất đai đến phát triển kinh tế xã hội 4
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội 4
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 7
1.1.3 Khái quát chung về các tổ chức sử dụng đất 9
1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 11
1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý sử dụng đất của các tổ chức 11
1.3.Tổng quan về tình hình quản lý sử dụng đất liên quan đến việc quản lý
sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam 13
1.3.1 Tình hình quản lý sử dụng đất của một số nước trên thế giới 13
1.3.2 Tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam 13
1.3.3 Tình hình sử dụng đất đai của thành phố Hà Nội 22
1.4 Nhận xét, đánh giá chung 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh 26
Trang 62.3.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai, hiện trạng quản lý sử dụng đất đai
trên địa bàn huyện Đông Anh 26
2.3.3 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2015 - 2019 26
2.3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất
của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu 27
2.4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 29
2.4.3 Phương pháp thống kê, so sánh 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 35
3.1.3 Đánh giá chung 40
3.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai, hiện trạng quản lý sử dụng đất đai
trên địa bàn huyện Đông Anh 42
3.2.1 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai 42
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Đông Anh năm 2019 44
3.3 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức kinh tế trên địa bàn
huyện Đông Anh giai đoạn 2015 - 2019 46
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị hành chính 46 3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo mục đích sử dụng 48 3.3.4 Tình hình quản lý sử dụng đất được giao, thuê của các tổ chức kinh tế 50
3.3.5 Nguyên nhân chính của việc sử dụng đất không đúng mục đích
của các tổ chức kinh tế 52
3.3.6 Tình hình cấp giấy nhận quyền sử dụng đất cho một số tổ chức kinh tế 54
3.3.7 Tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các tổ chức
kinh tế được giao, cho thuê đất tại huyện Đông Anh 55
Trang 73.3.8 Kết quả điều tra về công tác giao, cho thuê đất cho các tổ chức
trên địa bàn huyện Đông Anh 57
3.3.10 Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 64
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của các tổ chức
kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 66
3.4.1 Giải pháp về chính sách pháp luật 66
3.4.2 Giải pháp về kinh tế 67
3.4.3 Giải pháp về khoa học kỹ thuật công nghệ 68
3.4.4 Các giải pháp khác 69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 8GCN Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất UBND Ủy ban nhân dân
VPĐKĐĐ Văn phòng Đăng ký đất đai
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình đất chưa sử dụng của các tổ chức sử dụng đất ở nước ta 19
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đông Anh năm 2019 44
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị
hành chính 46
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo mục đích
sử dụng 48
Bảng 3.4 Hình thức giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế tại huyện Đông Anh giai đoạn 2015 – 2019 49
Bảng 3.5 Tình hình quản lý sử dụng đất được giao của các tổ chức kinh tế 50
Bảng 3.7 Nguyên nhân chính của việc sử dụng đất không đúng mục đích của các tổ chức kinh tế 52
Bảng 3.8 Tình hình cấp giấy nhận quyền sử dụng đất cho một số tổ chức kinh tế
huyện Đông Anh 54
Bảng 3.9 Tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường 56
Bảng 3.10 Kết quả điều tra về công tác giao, cho thuê đất cho các tổ chức
trên địa bàn huyện Đông Anh 57
Bảng 3.11 Kết quả điều tra về thủ tục hành chính và thái độ phục vụ
của cán bộ Nhà nước 58
Bảng 3.12 Kết quả điều tra về mức độ áp dụng, thực hiện các quy định của nhà nước trong công tác quản lý, sử dụng đất 61
Bảng 3.13 Kết quả điều tra về tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức sử
dụng đất qua ý kiến của cán bộ chuyên môn 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện Đông Anh 30
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Nếu không có đất thì con người không có nơi sinh sống và sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động nào và không thể có sự tồn tại của loài người Chính vì tầm quan trọng của đất đai đối với cuộc sống, con người, cần thiết phải sử dụng vốn đất một cách tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả Một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải sử dụng nguồn tài nguyên này hợp lý, hiệu quả và bền vững
Ở nước ta trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đất đai mới chỉ được coi trọng về mặt hiện vật, các nguồn lực tài chính từ đất đai chưa được quan tâm nhiều, việc khai thác sử dụng chưa thực sự có hiệu quả, kết quả thu được cho Nhà nước, xã hội từ đất đai chưa lớn Kể từ khi đổi mới, với
sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất Từ chỗ kinh tế quốc doanh chiếm đa số thì đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh liên kết phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân Từ đó, vai trò đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước không những thể hiện qua sự quản lý, khai thác, sử dụng đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất mà còn thể hiện qua việc khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính quan trọng từ đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện, kinh tế đất nước ngày càng phát triển Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra với cơ quan quản lý đất đai là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng của các thành phần kinh tế, trên tổng quỹ đất nhất định của đất nước Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết Sự quan tâm
Trang 12đó được thể hiện qua Luật Đất đai và hàng loạt các văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan với mục đích là quản lý, sử dụng hợp lý, hiệu quả
và bền vững tài nguyên đất
Đông Anh là huyện ngoại thành ở phía Đông Bắc Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 15 km theo đường quốc lộ số 3 (Hà Nội - Thái Nguyên), với tổng diện tích tự nhiên là 18.213,90 ha Năm 2019 dân số của huyện Đông Anh là 329.938 người với 56.496 hộ, trong đó có 273.385 nhân khẩu nông nghiệp (chiếm 80,00% tổng dân số) Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 1.811 người/km2 Với lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, huyện Đông Anh đã và đang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Các ngành dịch vụ du lịch, thương mại, công nghiệp phát triển mạnh, đã và đang thu hút rất nhiều nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện Chính vì vậy, dẫn đến nhu cầu về đất đai gia tăng, gây sức ép lớn đến quỹ đất cho các ngành kinh tế nói riêng và quỹ đất đai nói chung Các tổ chức nói chung và tổ chức kinh tế nói riêng đã và đang được nhà nước giao đất, cho thuê đất có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý sử dụng quỹ đất Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải nắm được tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế nói riêng và các tổ chức sử dụng đất nói chung để có những biện pháp quản lý, sử dụng đất đai phù hợp nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hợp lý
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn khách quan, việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng là đất đai nói chung và đối với diện tích mà các tổ chức đang quản
lý sử dụng nói riêng Vì vậy việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng đất, tránh việc để lãng phí là việc làm bức thiết
Trang 13Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi triển khai nghiên cứu đề tài "Đánh
giá công tác quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 - 2019"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 - 2019
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
vô hạn về thời gian sử dụng Bên cạnh đó, đất đai có khả năng sinh lợi vì trong quá trình sử dụng, nếu biết sử dụng một cách hợp lý về giá trị của đất
1.1.1.2 Giao đất, cho thuê đất
- Giao đất: Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho người có nhu cầu sử dụng đất Việc giao đất dựa vào các căn cứ được quy định tại theo Điều 52 của Luật Đất đai năm 2013 như sau: kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu
tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất dưới hai hình thức là giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất Và một trong các đối tượng được giao đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị -
Trang 15xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao Nếu như việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất là để đảm bảo lợi ích chính đáng của người trực tiếp lao động sản xuất, bảo vệ tốt quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nhằm bảo đảm cho hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước hoặc sử dụng đất vào lợi ích chung, lợi ích công cộng, thì việc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất
là đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
(Quốc hội, 2013)
Thời hạn giao đất: Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì thời hạn giao đất được chia theo loại đất sử dụng đất gồm đất sử dụng ổn định lâu dài và đất sử dụng có thời hạn (tùy vào mục đích sử dụng đất)
- Cho thuê đất: Cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho thuê cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Việc cho thuê đất dựa vào các căn cứ được quy định tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 như sau: kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt; Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Nhà nước cho thuê đất theo hai hình thức: cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm hoặc cho thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê Một trong đối tượng được cho thuê đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức
ngoại giao (Quốc hội, 2013)
Khác với Luật đất đai năm 2003 thì theo Luật Đất đai năm 2013 thì việc thuê đất của các tổ chức kinh tế được lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất, cụ thể tại Điều 56 quy định Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm
hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đất (Quốc hội, 2013)
Trang 161.1.1.3 Quản lý sử dụng đất đai
Quản lý sử dụng đất là sự kết hợp của tất cả các công cụ và kỹ thuật được sử dụng bởi chính quyền để quản lý cách mà đất được sử dụng và phát triển Quản lý sử dụng đất tập trung vào cách đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, bảo tồn và thẩm mỹ Quản lý sử dụng đất yêu cầu ra quyết định và được xác định bởi mục đích sử dụng nó ví dụ cho sản xuất lương thực, nhà ở, giải trí, du lịch, khai khoáng…
1.1.1.4 Quản lý đất đai
Quản lý đất đai là các hoạt động quản lý gắn liền đối với đất đai mà đất được coi như một nguồn tài nguyên cả về ý nghĩa môi trường và kinh tế Quản lý đất đai là một ngành khoa học có truyền thống lâu đời và ngày nay càng có vai trò quan trọng, mang tính liên tục theo thời gian và không gian Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua bán, cho thuê, hoặc thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất
1.1.1.5 Tổ chức sử dụng đất
- Tổ chức sử dụng đất (còn gọi là đối tượng sử dụng đất) là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng
- Tổ chức kinh tế: Theo điều 3, Luật Đầu tư năm 2014, tổ chức kinh
tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh (Luật Đầu tư, 2014) Tổ chức kinh
tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông
Trang 17(Luật Đầu tư, 2014)
Theo Thông tư số 28/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện
trạng sử dụng đất, tổ chức sử dụng bao gồm:
- Tổ chức trong nước gồm: (1) Tổ chức kinh tế gồm các doanh nghiệp
và các hợp tác xã; (2) Cơ quan, đơn vị của Nhà nước gồm cơ quan nhà nước (kể cả Ủy ban nhân dân cấp xã); tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị quốc phòng, an ninh; (3) Tổ chức sự nghiệp công lập gồm các đơn vị
sự nghiệp do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công theo quy định của pháp luật; (4) Tổ chức khác gồm tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác (không phải là cơ quan, đơn vị của Nhà nước, tổ chức sự nghiệp công lập, tổ chức kinh tế)
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý sử dụng đất của các tổ chức
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai Tổng diện tích tự nhiên của một phạm vi lãnh thổ nhất định là không đổi Nhưng khi sản xuất phát triển, dân số tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với đất đai ngày càng gia tăng Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có xu hướng tăng lên Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau
Vì vậy, để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững thì việc quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết Quản lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa
Trang 18hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác
- Điều kiện tự nhiên khí hậu: Các yếu tố khí hậu, thủy văn ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện tự nhiên sinh hoạt của con người
- Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng): Địa hình, địa mạo và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu quy hoạch, xây dựng đồng ruộng để thủy lợi hóa và cơ giới hóa Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá thành xây dựng công trình và gây khó khăn cho việc đưa đất vào sử dụng
Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện tự nhiên ánh sáng, nhiệt độ nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội,
môi trường và kinh tế
1.1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ, dân số và lao động, thông tin và quản
lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai
1.1.2.3 Nhân tố không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất (như các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, xây dựng, mọi hoạt động kinh tế
Trang 19và hoạt động xã hội) đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động Không gian bao gồm cả vị trí mặt bằng Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đem lại giá trị kinh tế
1.1.3 Khái quát chung về các tổ chức sử dụng đất
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Chương II Điều 18 quy định "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
(Quốc hội, 1992)
Việc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đúng mục đích, hợp lý,
có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của đất đai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế
- xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Theo Luật Đất đai năm 2013, một số khái niệm liên quan đến các tổ
chức quản lý sử dụng đất được hiểu như sau:
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai bằng
quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất (Quốc hội,
2013)
Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng
hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất (Quốc hội, 2013)
Người sử dụng đất quy định tại Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến tổ
chức như sau:
Các tổ chức trong nước bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
Trang 20tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền
sử dụng đất (Quốc hội, 2013);
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại
diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất (Quốc
sử dụng đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
Tổ chức kinh tế là tổ chức trong nước (kể cả trường hợp người Việt
Nam định cư ở nước ngoài lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm) được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ… nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ
chức kinh tế (Quốc hội, 2013) Bao gồm các tổ chức sau:
a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ
Trang 21sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông - lâm nghiệp, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công trình, đáp ứng nhu cầu về mặt bằng để phát triển kinh tế - xã hội, dân sinh, an
ninh quốc phòng (Hiến pháp, 1992)
Cùng với sự phát triển của xã hội, dân số tăng lên, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với đất đai cũng ngày càng gia tăng Có nghĩa cung là cố định còn cầu luôn có xu hướng gia tăng Điều này dẫn đến những mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất và giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết Quản
lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước Việc quản lý nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai Mặt khác, quản lý đất đai còn
có vai trò quan trọng trong việc kết hợp hài hòa các nhóm lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân nhằm hướng tới mục tiêu phát triển Công tác quản lý đất đai dựa trên nguyên tắc quan trọng nhất là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
Do đó quản lý sử dụng đất đai là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý sử dụng đất của các
Trang 22- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, 2013
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về GCN
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính
- Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về bản đồ địa chính
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 củaBộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Thông tư sô 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị dính số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
- Quyết định số 6383/QĐ-UBND ngày 04/12/2009 của UBND thành phố
Hà Nội về việc quy định, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Quyết định số 3162/QĐ-UBND ngày 26/09/2014 của UBND thành phố
Hà Nội về việc ban hành quy định một số trường hợp cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 231.3 Tổng quan về tình hình quản lý sử dụng đất liên quan đến việc quản
lý sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình quản lý sử dụng đất của một số nước trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ngoài ý thức và tính pháp chế thực thi pháp luật của chính quyền nhà nước và mọi công dân, chính sách pháp luật về lĩnh vực đất đai của các quốc gia đang ngày càng được hoàn thiện Trên cơ sở chế độ
sở hữu về đất đai, ở quốc gia nào cũng vậy, nhà nước đều có những chính sách, nguyên tắc nhất định trong việc thống nhất chế độ quản lý sử dụng đất đai Một trong những chính sách lớn được thực hiện tại nhiều quốc gia là chính sách giao đất cho người sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bình ổn chính trị, tạo sự công bằng trong xã hội, cụ thể tình hình quản lý sử dụng đất của một số nước trên thế giới như sau:
1.3.1.1 Thụy Điển
Việc quản lý đất đai tại Thụy Điển bắt nguồn từ quá trình bảo vệ quyền
sử dụng đất và từ việc cai quản đất đai Việc bảo vệ quyền sử dụng đất và thực hiện những giao dịch hợp pháp luôn có tầm quan trọng đối với người dân Trước đây, các tòa án địa phương là thể chế chính thực hiện những công việc quản lý đó Một trong những nhân tố quan trọng đối với mỗi nhà nước chính là việc bảo đảm quyền sử dụng đất, thúc đẩy sự phát triển tài nguyên đất cũng như việc tài trợ cho các hoạt động dựa trên các khoản đóng góp từ việc sử dụng đất và thuế Hệ thống địa chính đầu tiên được thành lập ở Thụy Điển bởi quốc vương nước này nhằm thu thuế từ người sử dụng đất Từ hệ thống đó, việc quản lý đất đai đã phát triển thành cở sở hạ tầng chung của cả nước
cung cấp thông tin về đất đai (Tổng cục Quản lý đất đai, 2017b)
Quyền sở hữu đất ở Thụy Điển được quy định tại Bộ Luật Đất đai từ năm 1970 Theo đó, tất cả đất đai tại Thụy Điển đều được chia thành những đơn vị bất động sản, và được xác định trong sổ đăng ký bất động sản Quyền
sở hữu đất là các quyền đối với các đối tượng, thửa đất hay không gian ba
Trang 24chiều (3D) khoảng không gian trên mặt đất, cả trong nhà và trên không
(Nguyễn Đình Bồng và cs, 2014)
Phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý và sử dụng đất
là mối quan tâm chung của toàn xã hội Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu đất đai và đều được luật hóa Pháp luật và chính sách quản lý đất đai của Thụy Điển về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường, được sự giám sát chung của xã hội Từ năm 1970 đến nay, pháp luật và chính sách đất đai của Thụy Điển gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân bao gồm: quy định các tài sản cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai và thế chấp, quy định về hoa lợi, quyền thông hành địa dịch và các hoạt động khác như vấn đề bồi thường, quy hoạch
sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất và hệ thống đăng ký
(Nguyễn Đình Bồng và cs, 2014)
Một khía cạnh quan trọng khác của quá trình lập kế hoạch sử dụng đất là việc độc quyền lập quy hoạch đô thị tồn tại trong các thành phố ở Thụy Điển Điều này có nghĩa là phát triển đô thị không thể diễn ra mà không có kế hoạch
đô thị được phê duyệt Một chủ sở hữu đất không có quyền lập một kế hoạch như vậy mà không có sự đồng ý của chính quyền thành phố Nếu chủ đất muốn phát triển mảnh đất của mình nhưng từ chối lập kế hoạch phát triển theo chính quyền thành phố quy định thì chủ đất không có quyền được bồi thường cho các giá trị phát triển có thể mất do từ chối lập kế hoạch Một chủ đất có quyền phát triển tài sản của mình như đầu tư vào cải tạo miễn là tiếp tục sử dụng đất hiện có Nếu một số quy định trong quy hoạch hoặc quy định về sử dụng đất khác buộc các chủ đất dừng các hoạt động đang diễn ra của họ hoặc phải trả lại đất thì chủ đất có quyền được bồi thường cho những thiệt hại liên quan đến việc sử dụng đất đang diễn ra Giá trị liên quan đến việc thay đổi
Trang 25mục đích sử dụng đất sẽ không được bồi thường Thay đổi mục đích sử dụng đất sẽ phải xin phép, thường ở dạng một quyết định quy hoạch hoặc giấy phép xây dựng Nếu không được cho phép, các chủ sở hữu đất không có quyền được bồi thường cho bất kỳ tổn thất về giá nào do từ chối thay đổi mục đích
sử dụng (Nguyễn Đình Bồng và cs, 2014)
1.3.1.2 Úc (Australia)
Tuy có những đặc thù riêng về mặt lịch sử và phát triển pháp luật, nhưng nhìn chung, Pháp luật đất đai/bất động sản Úc chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống pháp luật Anh quốc (Common Law)
Liên bang Úc thực hiện việc quản lý sử dụng và phát triển đất đai trên cơ
sở quy hoạch Quy hoạch thể hiện như là sự hướng dẫn việc thực thi quyết định cho thuê đất thông qua cơ quan quản lý đất đai của Chính phủ từng Bang Đối với những khu vực có nhu cầu phát triển cao, Chính phủ Bang thành lập Công
ty đất đai, đây là công ty thuộc sở hữu nhà nước có chức năng kinh doanh đất đai qua các phương thức: phát triển đất (cải tạo, san lấp, xây dựng cơ sở hạ tầng
kỹ thuật) rồi bán cho người có nhu cầu; giao cho các công ty phát triển đất (Land Developer) để họ phát triển rồi bán; hợp tác với các công ty phát triển xây dựng nhà rồi bán Dù qua hình thức nào thì đây đều là việc bán quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai cho các đối tượng có nhu cầu Bên cạnh đó, quyền sở hữu đất đai cũng được mua bán giữa những người có nhu cầu sở hữu đất Để đảm bảo an toàn, thuận lợi cho các giao dịch về đất đai, Liên bang Úc
có một hệ thống thiết chế hỗ trợ gồm hệ thống đăng ký cung cấp đầy đủ các thông tin chính thống về đất đai, thị trường đất đai minh bạch và hệ thống các công ty cung cấp dịch vụ tư vấn và môi giới Hệ thống đăng ký đất đai Torrens chứng nhận quyền và được Nhà nước đảm bảo về tính chính xác của việc đăng
ký Với hệ thống này, các giao dịch về đất đai được thực hiện thuận lợi, an toàn
và chi phí giao dịch thấp Như vậy, các tổ chức sử dụng đất của Úc, nhất là doanh nghiệp tiếp cận đất đai chủ yếu thông qua thị trường, kể cả trong trường
Trang 26hợp mua bán đất của Nhà nước Vai trò công quyền của Nhà nước là quản lý về
mặt thủ tục pháp lý và cung cấp các dịch vụ liên quan (Nguyễn Đình Bồng và
cs, 2014)
1.3.1.3 Trung Quốc
Luật Đất đai của Trung Quốc được xây dựng vào các năm 1954, 1975,
1978 và năm 1982 Trong đó, Luật Đất đai năm 1982 là bộ luật hoàn chỉnh nhất Từ năm 1982, Luật Đất đai Trung Quốc đã được sửa đổi 4 lần (qua các năm 1988, 1993, 1999 và năm 2004) Trong Luật Đất đai của Trung Quốc và quy định của Chính phủ Trung Quốc về quản lý đất đai có quy định rõ, tách bạch nội dung giám sát quản lý đất đai và kiểm tra việc sử dụng đất, gắn với các quy định về chế tài xử lý Điều này đã bảo đảm việc quản lý được tăng cường trách nhiệm và hạn chế những sai phạm phát sinh về quản lý đất đai trong các cơ quan nhà nước, đồng thời có căn cứ xử lý triệt để đối với các trường hợp quản lý sai quy định hoặc sử dụng đất vi phạm pháp luật Quy định chỉ giao đất ở cho các tổ chức đầu tư kinh doanh nhà ở và không giao đất ở cho
hộ gia đình cá nhân sử dụng tại đô thị giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhưng chưa tạo điều kiện thuận lợi về chỗ ở cho các hộ gia đình có mức thu nhập thấp hoặc gia đình có nhiều thế hệ sinh sống Chính sách và cơ chế về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định rõ và đầy đủ Giữa các địa phương còn có sự khác nhau trong việc thực hiện
Trung Quốc là quốc gia có 2 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong chính sách giao đất cũng áp dụng hai hình thức
là giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất Để
sử dụng đất hiệu quả và tiết kiệm, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện các
Trang 27và kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án
- Nhà nước chỉ cho phép sử dụng đất vào mục đích sản xuất trong các khu công nghiệp theo quy hoạch được duyệt mà không giao đất cho các cơ sở sản xuất hay tổ chức cá nhân riêng lẻ nhằm khai thác tối đa các công trình kết cấu hạ tầng Trong trường hợp đặc biệt không thể bố trí trong khu, cụm công nghiệp (CCN) thì mới giao đất cho dự án có vị trí ngoài khu công nghiệp
1.3.2 Tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
Theo kết quả kiểm kê quỹ đất của các tổ chức đang quản lý sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ:
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê đất:
Năm 2019, cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn chiếm tỷ lệ 2,74%
Tổ chức kinh tế có 49.723 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 458.179,32 ha, đạt 90,42% so với tổng diện tích đang quản lý sử dụng; các tổ chức kinh tế có 992 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 1.608,56 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 21,60% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 12,31% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước)
* Sử dụng vào mục đích khác:
Tình trạng sử dụng sai mục đích được giao, được thuê xảy ra ở hầu hết các loại hình tổ chức, cả nước có 3.311 tổ chức sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích là 25.587,82 ha, trong đó chủ yếu là các tổ chức sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (1.527 tổ chức với diện tích 21.499,68 ha, chiếm 84,02%), số tổ chức sử dụng vào mục
Trang 28đích làm nhà ở là 1.828 tổ chức với diện tích 4.088,24 ha Trong số diện tích sử dụng vào mục đích làm nhà ở chủ yếu xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên của các tổ chức kinh tế chiếm tới 57,98%
* Tình hình tranh chấp, lấn chiếm:
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 313.969,03 ha, trong đó đất có tranh chấp có 1.184 tổ chức với diện tích 34.232,63 ha, đất lấn chiếm có 4.077 tổ chức với 25.703,21 ha và đất bị lấn,
bị chiếm có 3.915 tổ chức với diện tích 254.033,19 ha
- Diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường, UBND cấp xã, tổ chức sự nghiệp công Như vậy qua kiểm kê đã cho thấy, số
tổ chức có diện tích đất đang tranh chấp có số lượng không nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do khi thực hiện giao đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể; một số khu đất đã có mốc giới nhưng qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Do vậy khi phát sinh tranh chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn
- Diện tích đất bị lấn, bị chiếm: tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao ở hầu hết các loại hình tổ chức đã dẫn đến một phần diện tích bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ yếu các loại hình
tổ chức như: Tổ chức sự nghiệp công, UBND cấp xã, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân của tình trạng này là do việc sử dụng đất của các tổ chức không được kiểm tra thường xuyên; việc lập hồ sơ
và lưu giữ các giấy tờ để theo dõi, quản lý không được quan tâm đúng mức Mặt khác các mốc ranh giới khu đất đã được giao không được quản lý chặt chẽ, chưa xây dựng tường rào hoặc căm mốc giới để phân định với đất của người dân Mặt khác thời gian giao đất trước đây đã quá lâu, thủ tục không đầy đủ; thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn giao cho người sau
Trang 29để tiếp tục quản lý, Xuất phát từ nhiều nguyên nhân cho nên trong suốt quá trình sử dụng, các tổ chức đã để cho người dân lấn, chiếm, cá biệt có tổ chức không biết ranh giới đất của đơn vị mình sử dụng đến đâu, nên khi kiểm kê hiện trạng rất khó khăn, phải mất rất nhiều thời gian mới xác định được diện tích đất được giao
Một số tổ chức do quản lý đất không chặt chẽ, diện tích đất sử dụng không hết, Bên cạnh đó, ở các địa phương nhiều tổ chức sử dụng đất đầu tư xây dựng hoàn thành đã đưa vào sử dụng (một số điểm trường học) nhưng sau một thời gian vì nhiều lý do phải dời đi nơi khác, nhưng tổ chức và chính quyền địa phương không báo cáo để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi
và quản lý, mà bỏ hoang không sử dụng, từ đó người dân đã lấn, chiếm để sản xuất hoặc làm nhà ở
Ngoài ra, còn có nguyên nhân do thiếu kiên quyết trong xử lý các trường hợp lấn chiếm, giải quyết tranh chấp kéo dài hoặc tái chiếm đất đã bồi thường
* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức:
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 299.719,45 ha do 4.120 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 250.862,79 ha do 2.455 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 48.888,90 ha do 1.681 tổ chức quản lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu
đô thị mới, dự án xây dựng các khu công nghiệp, các dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư,… Một số dự án tiến độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn để thực hiện), được thể hiện chi tiết tại bảng 1.1
Bảng 1.1 Tình hình đất chưa sử dụng của các tổ chức
sử dụng đất ở nước ta STT Tổ chức kinh tế tổ chức Số Diện tích
(ha)
Trang 301 Cơ quan nhà nước 293 863,42
11 Nông - lâm trường 129 153.926,13
(Nguồn: Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2019)
Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức theo loại hình tổ chức cụ thể như sau:
- Cơ quan nhà nước có 293 tổ chức với diện tích là 863,42 ha;
- Tổ chức chính trị có 32 tổ chức với diện tích là 21,64 ha;
- Tổ chức xã hội có 12 tổ chức với diện tích là 12,46 ha;
- Tổ chức chính trị - xã hội có 24 tổ chức với diện tích là 1.081,05 ha;
- Tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp có 17 tổ chức với diện tích là 12,95 ha;
- Tổ chức sự nghiệp công có 856 tổ chức với diện tích là 120.345,44 ha;
- Tổ chức ngoại giao có 05 tổ chức với diện tích là 4,42 ha;
- Tổ chức kinh tế có 1.922 tổ chức với diện tích là 20.619,90 ha;
- UBND cấp xã có 812 tổ chức với diện tích là 2.603,57 ha;
- Quốc phòng, an ninh có 18 tổ chức với diện tích là 228,47 ha;
- Nông - lâm trường có 129 tổ chức với diện tích là 153.926,13 ha
* Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức:
Đến nay, cả nước đã có 52.004 tổ chức được cấp giấy chứng nhận
Trang 31quyền sử dụng đất, đạt 35,99% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 83.299 giấy và diện tích đã cấp là 3.100.040,38 ha, đạt 39,58% diện tích cần cấp giấy Tuy nhiên nếu so sánh tỷ
lệ diện tích đã được cấp giấy chứng nhận với tổng diện tích cần cấp của từng loại hình sử dụng đất thì tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp chiếm tỷ lệ diện tích đã cấp cao nhất (395,48 ha, chiếm 54,83% diện tích đang quản lý sử dụng);
tổ chức kinh tế (237.868,55 ha, chiếm 46,94%); nông - lâm trường (2.736.185,70
ha chiếm 44,85%); tổ chức xã hội (520,38 ha, chiếm 36,54%); cơ quan nhà nước (11.331,93 ha, chiếm 32,03%); quốc phòng, an ninh (92.708,11 ha, chiếm 27,78%); tổ chức xã hội (740,83 ha, chiếm 23,34%); tổ chức ngoại giao (3,01 ha, chiếm 14,10%); tổ chức chính trị xã hội (367,65 ha, chiếm 7,52%) và đất do UBND cấp xã quản lý (2.397,91 ha, chiếm 0,73%)
Phần lớn diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là của các tổ chức nông - lâm trường, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, tổ chức sự nghiệp công và đất của UBND cấp xã
Kết quả nghiên cứu tình hình quản lý sử dụng đất đai của các tố chức trong thời gian qua cho thấy có một số vấn đề còn tồn tại trong việc sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao, cho thuê như sau: Sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê; cho mượn, cho thuê, chuyển nhượng trái phép, sử dụng không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, bỏ hoang không
sử dụng hoặc bị tổ chức cá nhân chiếm dụng, Về phía các cơ quan quản lý nhà nước cũng còn những điều bất cập như: diện tích đất trong quyết định giao đất, cho thuê đất không trùng với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho tổ chức, tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn khá thấp, khả năng chuẩn hóa dữ liệu để quản lý bằng phần mềm chuyên ngành còn gặp rất nhiều khó khăn,
Việc sử dụng quỹ đất này không phù hợp đã gây lãng phí trong việc sử dụng tài nguyên đất, thất thu cho ngân sách nhà nước, tạo nhiều tiêu cực trong quản lý sử dụng đất và gây khiếu kiện trong nhân dân
Trang 321.3.3 Tình hình sử dụng đất đai của thành phố Hà Nội
Trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như trong cả nước đều chịu sự ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các thành phố Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc
Bộ với Trung Bộ nên thu hút nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước Do
đó, để đáp ứng như cầu của các nhà đầu tư, thành phố Hà Nội luôn coi trọng công tác quản lý đất đai để tạo sự phù hợp, thu hút các nguồn lực tạo nên những bước nhảy vọt đáng kể, đó là do có những chính sách phát triển kinh tế hợp lý, khai thác tốt nguồn tài nguyên đất để phát triển công nghiệp
1.3.3.1 Tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội
Theo kết quả kiểm kê quỹ đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ:
Tổng diện tích các tổ chức sử dụng đất trong cả thành phố được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là 292.785,60 ha, chiếm 26,30% tổng diện tích tự nhiên của cả thành phố với 4003 tổ chức và 6924 thửa đất, khu đất, trong đó:
Trong tổng số 292.785,60 ha đất do các tổ chức sử dụng đất chủ yếu là diện tích đất của khối tổ chức là cơ quan nhà nước (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công) thì tổ chức sự nghiệp công sử dụng đất là chủ yếu, chiếm đến 48,81% tổng diện tích của các tổ chức sử dụng đất), tổ chức kinh tế (chiếm 18.59%) diện tích đất của UBND xã (chiếm 24,08% tổng diện tích của các tổ chức sử dụng đất)
Diện tích quản lý sử dụng đất của các tổ chức là 292.785,60 ha được phân theo các hình thức sử dụng chủ yếu giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Tình hình giao đất của các tổ chức:
Theo kết quả kiểm kê đối với diện tích được nhà nước giao thì diện tích đất giao cho các loại hình tổ chức sử dụng trên phạm vi toàn thành phố
Trang 3341.045,78 ha, chiếm 14,01% tổng diện tích của các hình thức do các loại hình
tổ chức sử dụng và chiếm 3,69% so với tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, trong đó giao đất không thu tiền 32.091,00 ha và giao đất có thu tiền 9.954,78 ha Như vậy, diện tích sử dụng đất của các tổ chức chủ yếu được nhà nước giao đất (giao đất không thu tiền), trong đó cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền; tổ chức sự nghiệp công được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích 337,01ha, giao đất
có thu tiền sử dụng đất 12,8ha
1.3.3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý sử dụng đất của các tổ chức
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
Cả thành phố có 4003 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 292.912,34 ha, chiếm 98,91% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn chiếm
tỷ lệ 1,09%
Tổ chức kinh tế có 927 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 82.139,46 ha, đạt 94,64% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức kinh tế có 11 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 94,72 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê trái pháp luật Có 56 tổ chức chưa sử dụng đất với diện tích 187,33ha, trong đó 6
tổ chức đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang với diện tích 88,55 ha, 50 tổ chức xây dựng đầu tư chậm với diện tích 878,77ha Diện tích lấn, chiếm là
157 tổ chức với diện tích 316,72 ha
Trang 34hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể; một số khu đất đã có mốc giới nhưng qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Do vậy khi phát sinh tranh chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn
- Diện tích đất bị lấn, bị chiếm: tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao ở hầu hết các loại hình tổ chức đã dẫn đến một phần diện tích bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ yếu các loại hình tổ chức như: tổ chức sự nghiệp công, UBND cấp xã, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân của tình trạng này là do việc sử dụng đất của các tổ chức không được kiểm tra thường xuyên; việc lập hồ sơ
và lưu giữ các giấy tờ để theo dõi, quản lý không được quan tâm đúng mức Mặt khác các mốc ranh giới khu đất đã được giao không được quản lý chặt chẽ, chưa xây dựng tường rào hoặc căm mốc giới để phân định với đất của người dân Mặt khác thời gian giao đất trước đây đã quá lâu, thủ tục không đầy đủ; thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn giao cho người sau để tiếp tục quản lý, Xuất phát từ nhiều nguyên nhân cho nên trong suốt quá trình sử dụng, các tổ chức đã để cho người dân lấn, chiếm, cá biệt có tổ chức không biết ranh giới đất của đơn vị mình sử dụng đến đâu, nên khi kiểm kê hiện trạng rất khó khăn, phải mất rất nhiều thời gian mới xác định được diện tích đất được giao
Trang 35* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 1187,89 ha do 79 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 128,77 ha do 18 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 1059,12 ha do 61 tổ chức quản
lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu đô thị mới,
dự án xây dựng các khu công nghiệp, các dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do
có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư,… Một số dự án tiến độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn
để thực hiện)
* Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Hiện nay, cả thành phố đã có 3893 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 202.038,60 ha Phần lớn diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất của các tổ chức kinh tế và đất
của UBND cấp xã (Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội, 2019)
1.4 Nhận xét, đánh giá chung
Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy vấn đề quản lý sử dụng đất của các
tổ chức kinh tế trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai
có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên nhiều trường hợp các tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện đang có sự chênh lệch diện tích giữa quyết định giao, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và hiện trạng đang sử dụng đất Đặc biệt đối với các tổ chức kinh
tế, việc bỏ hoang đất vẫn còn diễn ra Đây cũng là một trong những khó khăn cần phải có biện pháp xử lý nhằm hoàn thiện hồ sơ của các tổ chức để quản lý đất đai tốt hơn
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 6/2020 - 9/2021
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh
2.3.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai, hiện trạng quản lý sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Đông Anh
Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai
Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Đông Anh năm 2019
2.3.3 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2015 - 2019
Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị hành chính Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo mục đích sử dụng Hình thức giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế tại huyện Đông Anh giai đoạn 2015 - 2019
Tình hình quản lý sử dụng đất được giao, thuê của các tổ chức kinh tế
Trang 37Nguyên nhân chính của việc sử dụng đất không đúng mục đích của các
tổ chức kinh tế
Tình hình cấp giấy nhận quyền sử dụng đất cho một số tổ chức kinh tế Tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các tổ chức kinh tế được giao, cho thuê đất tại huyện Đông Anh
Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được giao đất, cho thuê đất qua khảo sát lấy ý kiến của cán bộ quản lý, lãnh đạo và cán bộ chuyên môn
Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
2.3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Giải pháp về chính sách pháp luật
Giải pháp về kinh tế
Giải pháp về khoa học kỹ thuật công nghệ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp
- Các văn bản pháp quy có liên quan về công tác quản lý sử dụng đất của các tổ chức
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh
- Số liệu về tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Đông Anh
- Số liệu về hiện trạng sử dụng đất năm 2015-2019 huyện Đông Anh
- Số liệu về hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất và tình hình
quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Đông Anh
- Số liệu về bổ sung tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh
tế từ năm 2015 đến năm 2019
- Số liệu về giao đất, thuê đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện
Trang 38Đông Anh
Thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, UBND thành phố
Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu được thu thập từ việc điều tra các tổ chức được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất thông qua bảng hỏi được chuẩn bị sẵn và các nội dung phỏng
vấn trực tiếp
Số liệu điều tra nhằm tìm hiểu về tình hình công tác giao đất, cho thuê cho các tổ chức thực hiện dự án đầu tư của Nhà nước; tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức; các đề xuất, kiến nghị đối với công tác giao, cho thuê đất liên quan đến chính sách pháp luật của nhà nước
Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra trực tiếp
từ các tổ chức kinh tế sử dụng đất thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn và điều tra
bổ sung ngoài thực địa Hiện nay trên địa bàn huyện Đông Anh có 282 tổ chức kinh tế Tiêu chí điều tra gồm: thông tin chung về tổ chức kinh tế, diện tích đất tổ chức kinh tế sử dụng, nguồn gốc đất sử dụng, mục đích sử dụng các loại đất, về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các
tổ chức đó
Phỏng vấn 30 phiếu điều tra về cán bộ quản lý bằng bảng hỏi bao gồm: Lãnh đạo xã, thị trấn (24 người), lãnh đạo các phòng, ban thuộc UBND huyện Đông Anh (6 người)
Phỏng vấn 30 phiếu điều tra về cán bộ làm công tác chuyên môn bằng bảng hỏi bao gồm: cán bộ địa chính xã, thị trấn (24 người), cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện (03 người), Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (3 người)
Phỏng vấn tổ chức kinh tế: Đề tài chọn 60 tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn huyện Đông Anh, bao gồm: 10 tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất và 50 tổ chức kinh tế được nhà nước giao, cho thuê đất có thu tiền Đối tượng điều tra là một thành viên hiểu biết
Trang 39về công tác quản lý, sử dụng đất đai của tổ chức, ngoài ra có thể có sự đóng
góp ý kiến của các thành viên khác trong tổ chức Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác
* Phương pháp điều tra trực tiếp:
- Điều tra phỏng vấn:
- Thu thập các thông tin, số liệu về tình hình quản lý sử dụng đất bằng phương pháp điều tra trực tiếp thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn và điều tra bổ sung ngoài thực địa Các tiêu chí điều tra bao gồm:
+ Diện tích, mục đích đất được giao, được thuê;
+ Hình thức giao đất, cho thuê đất;
+ Hiện trạng sử dụng đất sau khi được giao đất, cho thuê đất;
+ Giấy tờ về nguồn gốc khu đất;
+ Việc chấp hành chính sách pháp luật về đất đai và môi trường;
+ Kiến nghị của tổ chức sử dụng đất
2.4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp trình bày kết quả: các số liệu thu thập, tính toán, phân tích theo bảng, biểu kết hợp với phần thuyết minh Các số liệu đầu vào thu thập được phân tích, xử lý bằng phần mềm Excel để xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ cho xây dựng báo cáo tổng hợp
2.4.3 Phương pháp thống kê, so sánh
Thống kê, so sánh một số chỉ tiêu về cơ cấu các loại đất của các tổ chức kinh tế được giao đất, cho thuê đất
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Đông Anh nằm ở phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 15 km theo đường quốc lộ số 3 (Hà Nội - Thái Nguyên), với tổng diện tích tự nhiên là 18.230 ha, có 24 đơn vị hành chính, trong đó có
23 xã và 1 thị trấn Huyện tiếp giáp với các địa điểm sau:
- Phía Bắc, Đông Bắc huyện giáp huyện Sóc Sơn (TP Hà Nội) và huyện
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Đông giáp huyện Gia Lâm (TP Hà Nội);
- Phía Tây giáp huyện Mê Linh (TP Hà Nội);
- Phía Nam giáp quận Tây Hồ và huyện Từ Liêm (TP Hà Nội)
Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện Đông Anh