Thông qua việc khảo sát thực trạng tôi nhận thấy việc tổ chức và thiết kế bài học chủ đề Đa thức lớp 7 vẫn chưa thực sự được chú trọng và đem lại hiệu quả, chưa chú trọng đến phương pháp
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Đức Quang Các kết quả được nghiên cứu là mới và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác
Các tài liệu trong luận văn là trung thực, em kế thừa và phát huy các thành quả khoa học của các nhà khoa học với sự biết ơn chân thành
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2021
Người viết luận văn
Đặng Thị Thủy
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Đức Quang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các tập thể và cá nhân đã quan tâm và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên, cộng tác và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học của đề tài 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Ý nghĩa và đóng góp mới của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TRỰC TUYẾN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số vấn đề chung về E-Learning và dạy học online 5
1.1.2 Nguyên tắc triển khai dạy học trực tuyến 8
1.1.3 Chuẩn bị đầy đủ công cụ/phương tiện thiết yếu cho tổ chức bài học trực tuyến 10
1.1.4 Sự khác biệt giữa lớp học online và lớp học truyền thống 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Sơ bộ về E-Learning và dạy học online ở một số nước 12
1.2.2 Sơ bộ thực trạng dạy học trực tuyến trong nhà trường phổ thông ở nước ta hiện nay 15
1.2.3 Sơ bộ về dạy học trực tuyến ở trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm Hạ Long - Cao Xanh - Hạ Long - Quảng Ninh và một số trường THCS trên địa bàn phường Cao Xanh - Hạ Long - Quảng Ninh 19
1.3 Nguyên tắc xây dựng (thiết kế) một bài dạy trực tuyến 24
1.3.1 Đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình GDPT 24
1.3.2 Đảm bảo tương tác và phản hồi 24
1.3.3 Phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của e-learrning 24
1.3.4 Phù hợp với điều kiện địa phương/nhà trường 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Trang 6Chương 2 BIỆN PHÁP THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TRỰC
TUYẾN MÔT CHỦ ĐỀ TRONG MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC 29
2.1 Các nguyên tắc đề xuất khi triển khai dạy học trực tuyến 29
2.2 Các biện pháp xây dựng và tổ chức bài dạy trực tuyến 31
2.2.1 BP 1: Hiểu sâu về dạy học trực tuyến, các bước và nhiệm vụ để thiết kế và tổ chức bài học online 31
2.2.2 BP 2: Khai thác, chuẩn bị nội dung dạy học khi thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến (minh hoạ qua Zoom Cloud Meetings và tích hợp một số phần mềm khác, dạy học chủ đề Đa thức Toán 7) 40
2.2.3 BP 3: Hướng dẫn HS tự học online 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Nội dung và đối tượng thực nghiệm 73
3.3 Thời gian và địa điểm thực nghiệm 73
3.4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 73
3.4.1 Phương pháp thực nghiệm 73
3.4.2 Chọn mẫu thực nghiệm 73
3.4.3 Tổ chức giờ học online 73
3.4.4 Bài kiểm tra 79
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
KẾT LUẬN 84
KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Đọc là
2 CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ đạt những bước tiến thần kỳ, khối lượng thông tin, tri thức nhân loại ngày càng tăng, hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều nhận thức GD&ĐT vừa là nền tảng, vừa là động lực, góp phần quyết định tương lai của mỗi dân tộc Với ý nghĩa đó, Đảng và Nhà nước ta khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH, sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, của các lực lượng xã hội
Dạy học là một nghề đòi hỏi GV phải sáng tạo, luôn trau dồi và cập nhật những kiến thức mới, phương pháp mới cho phù hợp với mục đích, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Để chương trình giáo dục phổ thông 2018 được triển khai thực hiện thành công thì GV đóng vai trò hết sức quan trọng, gốc rễ của đổi mới, góp phần quyết định chất lượng GD&ĐT Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, việc học không chỉ giới hạn ở lớp học, mà còn hướng đến học mọi lúc, mọi nơi,… trong đó có hình thức trực tuyến (online với nền tảng Elearning) Hình thức này có nhiều ưu điểm mà học tập như truyền thống không có Tuy có rất nhiều ưu điểm như vậy nhưng không phải ai cũng hiểu và áp dụng đung, đáp ứng mục tiêu, với phương pháp học tập mới lạ này
Trong tình hình hiện nay, để giảm bớt khó khăn, thách thức cho GV trong nhà trường phổ thông, đặc biệt, trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông
2018 được đưa vào thực hiện, thêm đó là tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp, dạy học trực tuyến (online) được khuyến khích Theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo Dục, Sở Giáo dục đào tạo Quảng Ninh, khi triển khai dạy học trực tuyến môn Toán tại trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm - Cao Xanh - Hạ Long, vào tháng 4 năm 2020 cho thấy nhiều GV còn cảm thấy khá lúng túng
Trang 9Thông qua việc khảo sát thực trạng tôi nhận thấy việc tổ chức và thiết kế bài học chủ đề Đa thức lớp 7 vẫn chưa thực sự được chú trọng và đem lại hiệu quả, chưa chú trọng đến phương pháp tổ chức dạy học trực tuyến, chủ yếu GV vẫn thiết kế bài học chủ yếu theo cách truyền đạt kiến thức theo kiểu giáp mặt khiến HS không hứng thú với bài học , ngoài ra còn thiếu các hoạt động mang tính tương tác với sự định hướng của GV để tích cực hóa người học và phát triển các kỹ năng: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng nhóm, kỹ năng phân tích- tổng hợp,…
Từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Thiết kế và tổ chức dạy
học trực tuyến chủ đề Đa thức trong môn Toán lớp 7 ở THCS” nhằm góp
phần tăng cường dạy học trực tuyến, hướng đến cá nhân hoá việc học, đảm bảo giảng dạy môn Toán ở trường phổ thông, nhất là khi không có điều kiện giáp mặt HS theo lớp tiết như truyền thống, cũng như tăng cường ý thức tự học của HS
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ về dạy học trực tuyến/online làm rõ cách thiết kế và tổ
chức dạy học trực tuyến chủ đề Đa thức trong môn Toán lớp 7 THCS, góp phần giúp HS học tập một cách có hiệu quả mọi lúc mọi nơi, đáp ứng nhu cầu phân hoá của từng đối tượng cũng như hướng vào đáp ứng bối cảnh khẩn cấp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học trực tuyến (online, trên nền tảng E-learning)
- Tìm hiểu sơ bộ thực trạng dạy học trực tuyến với môn Toán tại trường
TH -THCS - THPT Đoàn Thị Điểm Hạ Long, Quảng Ninh
- Minh hoạ thiết kế một số bài học trực tuyến thuộc chủ đề Đa thức trong môn Toán lớp 7 ở THCS
- Thực nghiệm sư phạm để bước đầu kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thi của phương án đề xuất
Trang 104 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Toán ở trường trung học cơ sở Đối tượng nghiên cứu: Cách thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến môn
Toán THCS
5 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu làm sáng tỏ thêm về dạy học trực tuyến từ đó phát huy ưu điểm của dạy học trực tuyến và hạn chế nhược điểm của dạy học trực tuyến và đề xuất được các biện pháp dạy học phù hợp thì có thể thiết kế và tổ chức dạy học trực
tuyến hiệu quả chủ đề Đa thức trong môn Toán lớp 7 ở THCS
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu về dạy học trực tuyến; các sách báo, các bài viết có liên quan đến cơ sở lí luận của đề tài; các công trình
nghiên cứu có liên quan đến dạy học trực tuyến
6.2 Phương pháp điều tra - quan sát
Quan sát việc đón nhận giải pháp học tập trực tuyến môn Toán của HS; xây dựng, tư vấn các tính năng cho phù hợp
Tiến hành điều tra, khảo sát bằng phiếu để tìm hiểu thực trạng kết quả học tập trực tuyến môn Toán của HS, với một mẫu cụ thể ở trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm Hạ Long, Quảng Ninh, trước và sau khi tiến hành giải pháp
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức dạy thực nghiệm một số tiết tại trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm Hạ Long, Quảng Ninh để bước đầu xem xét tính khả thi và hiệu quả của phương án được đề xuất
6.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh
Phân tích các số liệu điều tra thực trạng và số liệu thực nghiệm sư phạm Tổng hợp kết quả thực nghiệm, phân tích về các giải pháp, so sánh các kết quả thu được sau khi dạy học trực tuyến môn Toán, chủ đề Đa thức và đưa ra điều chỉnh, tư vấn dạy học trực tuyến cho GV và HS
Trang 117 Ý nghĩa và đóng góp mới của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Làm sáng tỏ thêm về dạy học trực tuyến (online với nền tảng E-Learning), góp phần phát triển lý luận về dạy học trực tuyến trong môn Toán, đổi mới cách thức dạy học, khai thác và phát huy các ưu điểm của dạy học trực tuyến
7.2 Về mặt thực tiễn
Đề xuất cách thức thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến (online với nền tảng E-Learning) môn Toán, chủ đề Đa thức, chủ yếu qua Zoom meeting và một
số phần mềm khác
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học trực tuyến
Chương 2 Biện pháp thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến môn Toán ở trường THCS
Chương 3 Khảo nghiệm Sư phạm và đánh giá
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TRỰC TUYẾN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề chung về E-Learning và dạy học online
1.1.1.1 Quan niệm về E-Learning và dạy học online
E-Learning (viết tắt của Electronic Learning) đến nay còn là một thuật ngữ có nhiều quan điểm tiếp cận và cách hiểu khác nhau Theo [20] thì:
- E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập
(William Horton)
- E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa
trên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc)
- E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông
khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center)
- Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ
thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc)
- Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM,
video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân (e-learningsite)
- "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển
khả năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới e-learning trong
doanh nghiệp)
-Theo [14], E-Learning là cách thức học mới qua mạng Internet, qua đó học viên có thể học mọi lúc, mọi nơi, học theo sở thích và học suốt đời
(EDUSOFT LTD)
Trang 13Đặc điểm chung của E-Learning
Theo [14] thì E-Learning có một số đặc điểm chung sau đây:
- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán
- Hiệu quả của E-Learning cao hơn so với phương pháp học truyền thống
do E-Learning có tính tương tác cao dựa trên đa phương tiện (multimedia), tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
- E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, E-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới Rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning đã ra đời
Theo [14], Hệ thống E-Learning bao gồm:
- E-Learning có hệ thống quản lý học tập (LMS - Learning Management System) giúp xây dựng các lớp học trực tuyến hiệu quả
- Một thành phần quan trọng nữa của hệ thống e-Learning là hệ thống quản lí nội dung học tập (LCMS - Learning Content Management System) cho phép tạo và quản lý nội dung học tập
- Ngoài ra e-Learning còn cung cấp các công cụ làm bài giảng (authoring tools) một cách sinh động, dễ dùng, và đầy đủ multimedia
- Quan trọng hơn là e-Learning đã được thế giới chuẩn hoá nên các bài giảng có thể trao đổi với nhau trên toàn thế giới cũng như giữa các trường học
ở Việt Nam
1.1.1.2 Các hình thức E-Learning phổ biến
Theo [28], có một số hình thức đào tạo bằng E-Learning, cụ thể như sau:
- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin
- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng
Trang 14máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training
- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với GV, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí
có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có
sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với GV
- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web
1.1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của E- Learning
- Theo [20], E-Learning làm biến đổi cách học cũng như vai trò của người học, người học đóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đào tạo,
có thể học mọi lúc, mọi nơi nhờ có phương tiện trợ giúp việc học
- Người học có thể học theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tuỳ theo khả năng và có thể chọn các nội dung học, do đó nó sẽ mở rộng đối tượng đào tạo rất nhiều Tuy không thể hoàn toàn thay thế được phương thức đào tạo truyền thống, E-Learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục đó là nhu cầu đào tạo của người lao động và số lượng sinh viên tăng lên quá tải so với khả năng của các cơ sở đào tạo
- Cũng theo [20], E-Learning sẽ có sức lôi cuốn rất nhiều người học kể
cả những người trước đây chưa bao giờ bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và
Trang 15rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đang đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ
- Hơn nữa, tài liệu [20] cũng còn cho thấy: Các chương trình đào tạo từ
xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ phong phú về giao diện, sử dụng rất nhiều hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kĩ xảo hoạt hình,… có độ tương tác cao giữa người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng Điều này đem đến cho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quả trong học tập E-Learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi mới những người cùng học hoặc GV ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao
1.1.2 Nguyên tắc triển khai dạy học trực tuyến
Chuyển một khóa học mà GV thiết kế để dạy trực tiếp sang môi trường trực tuyến chắc chắn đặt ra những thách thức nhất định Câu hỏi lớn nhất là phương thức giao tiếp nào thuận lợi với HS, cách HS tương tác thế nào với các tài liệu khóa học thì tốt? Một số khía cạnh của khóa học có thể vẫn không thay đổi Tuy nhiên, sẽ phải có điều chỉnh phù hợp với những cách thức mới mà học viên sẽ tương tác với bạn và giữa học viên với nhau Vì vậy GV cần chú ý ba nguyên tắc chung sau đây:
1.1.2.1 Khám phá các lựa chọn đa dạng
Khi chuyển khóa học trực tuyến hoặc dạy học trực tuyến (qua Zoom), không nhất thiết là GV phải sử dụng một công cụ duy nhất (ví như Zoom) để thay thế mọi chức năng giảng dạy trực tiếp hay thậm chí là từng chức năng Ví
dụ, để hoàn thiện bài giảng GV có thể thử nghiệm bộ công cụ có sẵn như Google Docs, cùng với các phiên làm việc qua video
Trang 161.1.2.2 Tập trung vào sư phạm
Nhu cầu áp dụng công nghệ để hỗ trợ giao tiếp với HS và/hoặc nhận phản hồi về việc học của HS không phải thể hiện sự hạn chế hoặc thiếu sót của
kế hoạch giảng dạy ban đầu GV thậm chí có thể thấy rằng một số chiến lược mình áp dụng trong những phương tiện mới này có hiệu quả hơn trong việc đạt được một số mục tiêu giảng dạy Và GV có thể kết hợp chúng vào giảng dạy ngay cả trong điều kiện bình thường
1.1.2.3 Linh hoạt
Tính linh hoạt của một khóa học trực tuyến là rõ ràng bởi vì bản chất của Internet, nền tảng của công nghệ cho việc học trực tuyến là linh hoạt Từ khi đăng ký học đến lúc hoàn thiện người học có thể học theo thời gian biểu mình định ra Không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học dù bạn vẫn đang ở trong lớp học “ảo” Tính linh hoạt còn thể hiện ở “tự định hướng” và “tự điều chỉnh” như trình bày ở phần trên
a) Đối với người học, phụ huynh:
- Tiết kiệm thời gian và tiền bạc: Người học trực tuyến sẽ tiết kiệm được
cả thời gian và tiền bạc vì trường học của họ sẽ ở ngay trước màn hình máy tính Không giống như trong các khóa học trong các cơ sở đào tạo, HS của dạy học trực tuyến sẽ tiết kiệm thời gian đi lại và tiết kiệm tiền cho các khoản chi phí cho sách giáo khoa, sách hướng dẫn, và các học liệu khác Do đó chi phí cho học tập dành cho con cái đối với phụ huynh cũng sẽ giảm
- Yên tâm hơn: Điều kiện giao thông, ý thức của người tham gia giao thông, tình trạng đường xá cũng làm cho phụ huynh lo lắng khi con đi học Giờ đây, con ở nhà học trực tuyến sẽ tạo tâm lý yên tâm cho phụ huynh HS
b) Đối với xã hội:
- Dạy học trực tuyến sẽ giúp lượng người tham gia giao thông ít hơn nên cũng góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
- Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, dạy học trực tuyến sẽ làm giảm việc tiếp xúc của HS với nhiều người khác Qua đó việc phòng chống dịch bệnh cũng hiệu quả hơn
Trang 17Thực tế, cả dạy học online hay truyền thống đều có những lợi ích riêng cho người học Câu hỏi đặt ra là: Tại sao không kết hợp những tính năng và ưu điểm tuyệt vời nhất của hai cách trên lại với nhau để mang lại tiện ích tốt nhất
và truyền cảm hứng cho người học
Theo đó, nhiều nhà cung cấp giáo dục hiện nay ngày càng sáng tạo hơn
và tạo ra khái niệm giáo dục kết hợp (blended education) Phương pháp này kết hợp giữa công nghệ và kiến thức trực tuyến trao tay, cùng với hỗ trợ truyền thống từ con người cho phép người học tiếp cận được những kiến thức mới nhất, thời sự nhất, chất lượng nhất, đồ sộ nhất mà không phải chi rất nhiều tiền hay tích góp hàng chồng sách giáo khoa bụi bặm Phương pháp này cũng cho phép người dạy và người học chọn lựa nhau, tiếp cận nhau dễ dàng hơn mà không bị ngăn cản bởi vị trí địa lý
1.1.3 Chuẩn bị đầy đủ công cụ/phương tiện thiết yếu cho tổ chức bài học trực tuyến
Để có một bài dạy trực tuyến đáp ứng yêu cầu cần chuẩn bị:
- Giáo án, Giáo án trình chiếu bài Đa thức; phiếu học tập bài tập cá nhân tại nhà trước khi vào bài học; bài tập;
Ví dụ: Bài tập cá nhân
Trang 18
- Thiết bị: webcam; micro; Các thiết bị quay video, chụp ảnh; kênh chữ, kênh hình;
Ví dụ đối với chủ đề Đa thức GV cần chuẩn bị máy tính laptop, điện thoại cá nhân dùng đăng nhập vào lớp như một HS
- Phần mềm: Zoom, shub class room để làm bài kiểm tra thường xuyên sau bài học Các phần mềm xử lý video hình ảnh,
- Cài đặt và tạo phòng học ảo (bởi Zoom, shub class room, )
- Hỗ trợ khác (như zalo, email, ): Lập nhóm lớp zalo 7A1 trong đó có toàn bộ zalo của HS trong lớp, (hoặc lập gmail chung của lớp gửi tài khoản và mật khẩu cho HS đăng nhập)
1.1.4 Sự khác biệt giữa lớp học online và lớp học truyền thống
1.1.4.1 Linh hoạt
- Lớp học Online: Lợi ích lớn nhất của việc học online là sự linh hoạt cho người học Đây là lựa chọn đúng nhất nếu bạn là người bận rộn và bị ràng buộc với gia đình hay công việc
- Lớp học truyền thống: Đây là lựa chọn thích hợp nếu học sinh có quỹ thời gian tốt hơn để theo được thời khóa biểu học có sẵn
1.1.4.2 Kỷ luật
- Lớp học Online: Sẽ phù hợp với các học sinh có ý thức học tập cao Học sinh chủ động lên kế hoạch học tập, lập thời gian biểu và có những ưu tiên hợp lý cho việc học
Trang 19- Lớp học truyền thống: Ngược lại, sẽ tốt hơn cho học sinh, đặc biệt với những học sinh chưa có ý thức tự giác cao trong học tập Vì vậy học sinh cần nhiều kỷ luật và nhắc nhở hơn để hoàn thành công việc mỗi ngày
1.1.4.3 Tương tác xã hội
- Lớp học Online: Học sinh vẫn tương tác với giáo viên và bạn bè, có điều đó là một dạng tương tác hiện đại trong kỷ nguyên công nghệ giao tiếp online qua video, chat hay teleconference Các học sinh online thường rất chủ động và tự tin khi tương tác với giáo viên để giải quyết nhanh chóng các thắc mắc của họ Tiến độ các lớp học online thường nhanh hơn vì mức độ tập trung cao và không có yếu tố ngoài lề như lớp học truyền thống
- Lớp học truyền thống: Trên thực tế, vẫn hiệu quả cho những học sinh cần tương tác theo kiểu trực diện (face-to-face) Tuy nhiên, lớp học truyền thống thường đông Trong trường hợp học sinh không có cơ hội tiếp xúc nhiều với giáo viên, việc đó có thể ảnh hưởng đến chất lượng học của học sinh
Thực tế, cả hai phương pháp học online hay truyền thống đều có những lợi ích cho người học Giáo viên nên kết hợp những tính năng và ưu điểm tuyệt vời nhất của hai phương pháp trên lại với nhau để mang lại tiện ích tốt nhất và truyền cảm hứng cho học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Sơ bộ về E-Learning và dạy học online ở một số nước
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo trực tuyến (E-learning) ra đời như một cuộc cách mạng về dạy
và học, trở thành một xu thế tất yếu của thời đại và đang “bùng nổ” ở nhiều nước đã và đang phát triển
Mô hình E-learning tiên tiến ở những nước có nền giáo dục phát triển, theo [27]:
Nhiều nước phát triển trên thế giới đã triển khai mạnh mẽ E-learning trong hệ thống giáo dục chung trên cả nước Những năm gần đây, E-learning đã
Trang 20và đang triển khai cho HS phổ thông, điển hình là các nước Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Ở Mỹ, đã có hàng triệu HS phổ thông đăng ký học Online Đưa lớp học lên mạng Internet là một trào lưu đang bùng nổ tại những nước này Không chỉ
là một phong trào tự phát, tại nhiều bang ở Hoa Kỳ các nhà quản lý giáo dục đã ban hành quy định trước khi được công nhận tốt nghiệp, mỗi HS phải đăng ký học một số môn nhất định tại các lớp học trực tuyến Theo lý giải của các nhà quản lý, đây là bước chuẩn bị nhằm trang bị cho HS những kỹ năng cần thiết cho việc học tại các trường đại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỷ 21
Đối với Hàn Quốc, Chính phủ xem đây như một công cụ để giảm tải chi phí dạy kèm tại các trung tâm luyện thi, qua đó góp phần bình đẳng trong giáo dục Cùng với đó, kênh truyền hình học đường được mở ra cùng với website cung cấp các bài giảng ôn thi đại học miễn phí, thu hút một số lượng rất lớn HS tham gia Một số GV, giảng viên giỏi ở Hàn Quốc cho rằng e-learning mang lại
cơ hội và sự công bằng hơn cho giáo dục bởi những HS nghèo có thể tham gia vào khóa luyện thi của những thầy giỏi với mức học phí rất ít so với lớp luyện thi thông thường
Ở nhiều nước phát triển, E-learning được triển khai với quy mô sâu rộng với rất nhiều tính năng đi kèm với khóa học Đầu tiên phải nói đến tính linh hoạt trong việc học và thanh toán chi phí học tập bởi vì bản chất của Internet, nền tảng của công nghệ cho việc học trực tuyến là linh hoạt Từ khi đăng ký học đến lúc hoàn tất người học có thể học theo thời gian biểu mình định ra, Không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học dù bạn vẫn đang ở trong lớp học “ảo” Chi phí học thấp tính theo tháng với mỗi môn được thanh toán một cách nhanh chóng bằng các phương thức thanh toán điện tử khác nhau Điều này hoàn toàn phù hợp với những quốc gia có nền công nghệ thông tin phát triển như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…
Trang 21Tại Mỹ, một tính năng rất hay, thường gọi là đào tạo “một - một” 1), là một trong những tiện ích quan trọng được triển khai trên công nghệ mạng Với tính năng này, mỗi HS lại được quản lý và tương tác với một GV chủ nhiệm nhằm theo dõi và bám sát một cách tốt nhất tới quá trình học của từng học viên HS được quản lý và đánh giá chặt chẽ về mức độ chuyên cần và kết quả học tập
(1-on-Mức độ đánh giá HS dựa trên hệ thống Q&A giám sát và quản lý chất lượng (Quality and Assurance), HS sẽ phải trải qua kỳ thi chất lượng mỗi tháng nhằm đánh giá quá trình học và tiếp thu của học viên Với hệ thống này, học viên sẽ phải học lại chương trình cho tới khi họ vượt qua được kì thi đánh giá chất lượng này
Khả năng tương tác với GV của mô hình E-learning cũng được đẩy mạnh, GV chủ nhiệm liên tục kết nối với phụ huynh HS trong suốt khóa học Mọi thông tin về kết quả học tập của học viên được thông báo hàng tuần tới phụ huynh giúp bậc cha mẹ có thể theo dõi sát sao nhất về quá trình học của con em mình Theo khảo sát, có hơn 75% các bậc phụ huynh người Mỹ cho biết họ có được sự an tâm và tin tưởng khi cho con học trực tuyến bởi họ luôn được cập nhật thông tin đầy đủ về tình hình học tập của con em mình
Đội ngũ GV chủ nhiệm E-learning (Cyber Teacher) tại các nước như
Mỹ, Singapore hay Nhật luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và đánh giá học viên Họ là những người nắm rõ nhất quá trình học tập của học viên và có thể đưa ra những biện pháp cần thiết để khắc phục và tăng cường chất lượng học tập cho người học
Nhân sự cho đội ngũ này được tuyển chọn một cách kỹ càng nhất qua nhiều vòng cả về chuyên môn lẫn khả năng nắm bắt tâm lý của người học do ngoài nhiệm vụ quản lý giám sát, GV chủ nhiệm cũng phải luôn sẵn sàng tư vấn cho học viên về những vấn đề ngoài chuyên môn như hướng nghiệp,phương pháp học tập và những điều mà HS muốn chia sẻ về cuộc sống
Trang 22Nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày một cao của người học về nội dung, Chính phủ Singapore khuyến khích những đơn vị triển khai E-learning kết nối với nhau, thành lập kho cơ sở dữ liệu bài giảng chung Người dùng sau khi đăng ký một tài khoản cố định trên trang web thì có thể tải miễn phí không giới hạn những bài giảng các môn học của nhiều giảng viên uy tín cùng với ngân hàng đề thi vô cùng phong phú Sau mỗi bài học, HS được cung cấp bài tập, tài liệu học tập và hướng dẫn giải giúp cho những HS tiếp thu chậm có thể ôn tập
dễ dàng hơn.[27]
Trong môi trường E-learning, việc sử dụng phần mềm tin học cho phép
mô hình hóa bài giảng, thể hiện trực quan giúp người học tiếp thu dễ dàng hơn kiến thức bài học và tăng sự hào hứng trong học tập Bên cạnh đó, học viên được tăng cường tính chủ động, người học có thể tự điều chỉnh khóa học cho phù hợp với bản thân như chọn học với GV khác nếu thấy không phù hợp
Với sự phát triển nhanh và mạnh của công nghệ thông tin và truyền thông, mạng internet với tốc độ cao được phổ cập về các vùng quê, vùng xa nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân E-learning trở thành một phương thức đóng vai trò giải quyết vấn đề thiếu hụt giảng viên cho các vùng sâu, vùng xa
Thay vì cần đến GV giảng dạy trực tiếp, chỉ HS đã có thể cập nhật được nguồn kiến thức vô cùng phong phú và đầy đủ Mô hình này rất có ích cho những nước đang phát triển khi mà trẻ em vùng núi phải vượt hàng chục cho tới hàng trăm km để tới trường Tuy nhiên đi kèm với nó phải có sự đầu tư về
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông và đó đang là khó khăn của hầu hết những nước đang phát triển
1.2.2 Sơ bộ thực trạng dạy học trực tuyến trong nhà trường phổ thông ở nước ta hiện nay
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều năm qua (từ khi chưa có dịch bệnh COVID-19 chưa diễn ra) ngành GDĐT đã có chủ
Trang 23trương và chủ động triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT- VT hỗ trợ quản lý, dạy, học, kiểm tra đánh giá, nghiên cứu khoa học đạt kết quả được ghi nhận Tăng cường ứng dụng CNTT trong dạy và học, thúc đẩy học tập trực tuyến qua mạng Internet, xây dựng kho học liệu số, hàng loạt văn bản chỉ đạo đã được ban hành Điển hình như hướng dẫn triển khai mô hình ứng dụng CNTT trong trường phổ thông (văn bản số 5807/BGDĐT - CNTT); hướng dẫn triển khai nhiệm vụ CNTT hàng năm gửi các địa phương, gồm hướng dẫn triển khai giáo dục trực tuyến, e-learning và xây dựng kho học liệu số từ địa phương đến Trung ương
Từ năm 2010, ngành GDĐT đã tổ chức xây dựng kho bài giảng learning, tuyển chọn từ các cuộc thi Quốc gia thiết kế bài giảng e-learning do
e-GV cả nước đóng góp, đến nay đã tập hợp được trên 4 000 bài giảng của các môn học giáo dục phổ thông dùng chung miễn phí toàn ngành Đặc biệt, đề án tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, hỗ trợ dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới căn bản toàn diện GDĐT tầm nhìn đến 2025 (Quyết định 117/QĐ-TTg) được triển khai một cách hệ thống, đồng bộ ở các
bộ, ngành, địa phương
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19 thời gian qua (cũng là cơ hội đẩy mạnh học tập trực tuyến), ngành GDĐT đã liên tục chỉ đạo các cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường thực hiện các giải pháp đẩy mạnh việc dạy - học từ xa qua truyền hình, trực tuyến qua mạng Internet; hướng dẫn xây dựng chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy, đánh giá công nhận kết quả
và huy động các nguồn lực xã hội hóa tham gia đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực cần thiết
Cụ thể, cho phép các cơ sở giáo dục được áp dụng các hình thức dạy học qua Internet khi HS nghỉ học do dịch COVID-19, khi HS quay trở lại trường học, nhà trường tổ chức đánh giá và công nhận kết quả học tập qua các hình thức từ xa (văn bản số 793/BGDĐT-GDTrH và số 1061/BGDĐT-GDTrH); đề
Trang 24nghị hỗ trợ (miễn phí, giảm giá) đường truyền, giải pháp học trực tuyến trong thời gian diễn ra dịch bệnh (văn bản số 871/BGDĐT-KHTC); đóng góp xây dựng kho học liệu số dùng chung toàn ngành (văn bản số 1007/BGDĐT-GDTrH); hướng dẫn các biện pháp đảm bảo an toàn cho HS trong quá trình học tập trực tuyến qua Internet (văn bản số 1247/ BGDĐT-GDCTHSSV)
Bộ GDĐT và Bộ TTTT đang rà soát, đánh giá các giải pháp học trực tuyến để khuyến cáo các nhà trường, GV sử dụng phù hợp với từng điều kiện
cụ thể; tiếp tục chỉ đạo xây dựng kho bài giảng điện tử dùng chung; hướng dẫn
mô hình tổ chức lớp học trực tuyến, trường học trực tuyến; hướng dẫn quy chế, nội quy lớp học trực tuyến đảm bảo an toàn trên không gian mạng; hướng dẫn, tập huấn GV, cán bộ quản lý giáo dục tổ chức dạy học trực tuyến thông qua hình thức trực tuyến, tài liệu điện tử, video clip; khảo sát cập nhật, đánh giá tình hình triển khai học trực tuyến trên cả nước để tiếp tục chỉ đạo phù hợp, kịp thời và sát với thực tế
Hiện nay tổng số trường mầm non, phổ thông trên cả nước khoảng 53 000 trường, trong đó khối phổ thông khoảng 43 000 trường Tỉ lệ HS tham gia học trực tuyến rất khác nhau giữa các địa phương (tỉ lệ cao hơn các thành phố, vung đồng bằng), giữa các bậc học (tăng dần từ tiểu học, THCS đến THPT), giữa các khối học (tỉ lệ cuối cấp lớp 9 và lớp 12 tăng vọt do áp lực thi cử), giữa các môn học (hiện tập trung nhiều ở các môn Toán, Văn, Tiếng Anh) và giữa các trường công lập, tư thục (các trường tư có điều kiện hơn các trường công lập)
Theo thông tin từ các sở GDĐT tại buổi họp trực tuyến với Bộ GDĐT vừa qua: TP Hồ Chí Minh có tỉ lệ HS tham gia học trực tuyến trung bình khoảng 70 - 80%; con số này ở Quảng Trị là khoảng 83%; Quảng Nam 100% các trường triển khai học trực tuyến, ở địa bàn thuận lợi thì số HS tham gia đạt trên 80%; Điện Biên 73% HS THPT học trực tuyến, tỉ lệ này là 50% và 10% đối với HS THCS và tiểu học; Hà Tĩnh ở bậc THPT tỷ lệ đạt trên 85%, THCS trên 60% và tiểu học đạt trên 45%; Nghệ An tỉ lệ học trực tuyến ở THPT và
Trang 25THCS đạt tỉ lệ tương ứng là 80% và 70%; Đắk Lắk chỉ có 15% HS lớp 4 - 5 và
55 - 60% HS THCS, 75 - 80% HS THPT địa bàn thuận lợi, còn với địa bàn vùng núi thì tỉ lệ này rất thấp Theo số liệu của Viettel và VNPT cung cấp, số trường đã được cấp tài khoản sử dụng Viettelstudy đạt khoảng 25 500 trường còn VNPTedu khoảng 15 500 trường [36]
Cùng với sự phát triển của mạng internet băng thông rộng cùng với nhu cầu học tập của thế kỷ 21 ở Việt Nam có rất nhiều website dạy học trực tuyến được hình thành Có thể kể tới các website dạy học trực tuyến như: Hocmai.vn, website trực tuyến lâu đời với các thầy cô giáo trực tuyến lâu năm đã có kinh nghiệm lâu dài như thầy Lê Bá Trần Phương, thầy Vũ Khắc Ngọc, đây là website dạy học cho HS muốn ôn thi đại học và trung học phổ thông Quốc gia; Shoolbus.vn, là trang học trực tuyến mới nhất hiện nay, người học có thể vừa học vừa giao lưu trực tuyến cùng nhau trong một thời gian nhất định bằng việc trò chuyện qua webcam Đây là cách học vô cùng mới mẻ và hiện đại Từ đó giúp người học có thể trao đổi bài tập cũng như các thắc mắc của mình Web có nhiều học phần đa dạng và phong phú như toán, đồ họa và lập trình, ngoại ngữ,…
Viettelstudy.vn là website học tập chính thức của tập đoàn viễn thông Viettel, một tập đoàn lớn và có thế mạnh trong cả nước Viettelstudy.vn hiện có đa dạng các khóa học dành cho tất cả các bạn HS, sinh viên từ đại học, cao đẳng đến lớp 1 và chuẩn bị bước vào lớp 1 Đặc biệt, chương trình học tiếng Anh miễn phí rất hữu ích sẽ phần nào giúp cho người học cải thiện kỹ năng học tập của mình; Edumall.vn, đây là “siêu thị” các khóa học trực tuyến ngắn hạn lớn tại Việt Nam với hàng nghìn khóa học thuộc mọi lĩnh vực, đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm và mạng lưới học viên rộng khắp cả nước;…
Ứng dụng được GV sử dụng nhiều nhất hiện nay là dạy học trực tuyến đồng thời theo thời gian thực Một số ứng dụng được sử dụng phổ biến là Microsoft Teams, Google Meet, Zoom, Zalo Hầu hết các nhà cung cấp giải pháp cho phân khúc này đến từ nước ngoài, hạn chế là sự hỗ trợ sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ không cao
Trang 26Tuy nhiên các khóa học trực tuyến này thực sự chưa chú trọng đến phương pháp tổ chức dạy học trực tuyến, các khóa học vẫn chủ yếu sử dụng việc số hóa các bài giảng, đưa lên hệ thống để cho học viên tự học; học viên sẽ
tự kiểm tra đánh giá với các bài tập đã xây dựng mà không giới hạn về thời gian học tập; thiếu các hoạt động mang tính tương tác với sự định hướng của giảng viên để tích cực hóa người học và phát triển các kỹ năng: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng nhóm, kỹ năng phân tích- tổng hợp,…
Như vậy có thể nói, bên cạnh các kết quả đạt được thì tỉ lệ HS phổ thông tham gia học trực tuyến ở các địa phương chưa đồng đều; phần lớn GV sử dụng hình thức dạy học trực tuyến đồng thời, tự phát theo phong trào; các hướng dẫn dạy học trực tuyến cho phổ thông chủ yếu giải quyết vấn đề tình thế, áp dụng trong giai đoạn phòng chống dịch là chính
1.2.3 Sơ bộ về dạy học trực tuyến ở trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm Hạ Long - Cao Xanh - Hạ Long - Quảng Ninh và một số trường THCS trên địa bàn phường Cao Xanh - Hạ Long - Quảng Ninh
Việc áp dụng đại trà hình thức giảng dạy trực tuyến ở Việt Nam trong thời gian giãn cách xã hội gần đây cũng bộc lộ những bất cập
Dễ thấy nhất là nhu cầu trang thiết bị cho cả giảng viên và HS Đặc biệt, với bậc học phổ thông, không phải thầy/cô và HS nào cũng có thể dễ dàng giải quyết vấn đề về trang thiết bị Tình trạng này bộc lộ rõ nhất với những trường học và gia đình ở các khu vực khó khăn, còn thiếu thốn về thiết bị, và không phải gia đình nào cũng có người thành thạo công nghệ
Giảng dạy online khiến người học, vốn cách xa nhau, phải tập trung vào màn hình của giảng viên Những khó khăn do tương tác gián tiếp dễ khiến buổi dạy học chuyển thành quá trình tương tác một chiều nhàm chán giữa cá nhân giảng viên với người học còn lại
Nhiều bài học còn ở tình trạng “thầy/cô cứ nói, học trò chỉ nghe và ghi chép” Nguy cơ này sẽ gia tăng nếu như môi trường xung quanh không được kiểm soát tốt Do đặc trưng lứa tuổi, HS phổ thông có thể dễ dàng bị phân tán vào những việc khác, thậm chí bỏ màn hình đó cho thày/cô giáo tự nói và tự nghe
Trang 27Trải nghiệm thực tế cho thấy, những yếu kém phổ biến của HS về tư duy
và kỹ năng phản biện, thảo luận nhóm, trình bày ý kiến cũng bộc lộ rõ hơn với giảng dạy online Do không phải trực tiếp chịu áp lực từ giảng viên và bạn học, người học sẽ có thiên hướng giữ im lặng, và chỉ lên tiếng khi nào bị buộc phải nêu ý kiến Tiến trình này có thể gây tốn thời gian và làm giảm không khí tích cực của các buổi học
Giảng dạy online cũng khiến các giảng viên gặp khó khăn khi muốn áp dụng các liệu pháp tâm lý để tạo cảm xúc, truyền cảm hứng, và sự hưng phấn với bài học Bởi lẽ, những kỹ năng tâm lý này vốn đòi hỏi sự tương tác trực tiếp và tập trung đông người Còn khi bài giảng được truyền đạt gián tiếp với những cá nhân bị tách rời nhau thì hậu quả thường thấy là người giảng cứ nói nhưng họ sẽ không dám chắc người học có đang online để nghe hay không, cảm xúc và thái độ của họ thế nào để mà điều chỉnh
Sự không tập trung tại không gian lớp học, sự tách rời giữa giảng viên và học viên, sự phân tán người học cũng tạo thuận lợi cho “thói xấu” nảy sinh Chỉ cần sự đồng thuận với người học, giảng viên có thể cắt bớt giờ giảng và giảm thiểu những hoạt động đào tạo mà đáng ra họ phải thực hiện Thực tế, sự cách trở và phân tán khiến những giảng viên tích cực nhất cũng đành bất lực, rất khó thực hiện những hoạt động đào tạo mà họ muốn [25]
Ngày 4/4/2020, UBND tỉnh Quảng Ninh họp để chỉ đạo triển khai thí điểm dạy học trực tuyến trong các cơ sở giáo dục và đào tạo Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND tỉnh, chủ trì cuộc họp Báo cáo tình hình triển khai
tổ chức thí điểm dạy học trực tuyến trong các cơ sở giáo dục và đào tạo, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết: Trước diễn biến phức tạp của Covid-19, trong thời gian HS phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên tạm thời nghỉ học, Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo toàn ngành tăng cường các hình thức dạy học qua internet, truyền hình Giải pháp này đã góp phần duy trì liên lạc giữa nhà trường và phụ huynh, giữa GV với HS để giao nhiệm vụ học tập và hướng dẫn HS tự học qua các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với
Trang 28điều kiện thực tế của địa phương Đồng chí Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh việc Quảng Ninh triển khai thí điểm chương trình dạy học trực tuyến của Bộ Giáo dục và Đào tạo là cần thiết và cấp bách Quảng Ninh với kinh nghiệm dạy trực tuyến trước đó sẽ là nền tảng vững chắc để triển khai thành công việc dạy học trực tuyến theo chương trình chính thống của Bộ Hơn nữa, với việc triển khai thí điểm này, ngành giáo dục sẽ có sản phẩm công nghệ tốt để dự phòng những tình huống bất ngờ xảy ra sau này nếu có Việc Quảng Ninh triển khai thành công sẽ là cơ sở để Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai rộng khắp ở các tỉnh, thành phố trên cả nước [26]
Trong kì II năm học 2019-2020 đến tháng 3/2021 được sự chỉ đạo của
Sở GD và ĐT Quảng Ninh dạy học trực tuyến đã được triển khai ở trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm - Cao Xanh - Hạ Long - Quảng Ninh và một số trường THCS ở Quảng Ninh ở một số thời điểm, tuy nhiên theo điều tra khảo sát của tôi đối với thầy cô giáo và HS trong trường TH-THCS-THPT Đoàn Thị Điểm và trường THCS Cao Xanh thì thấy vì dạy học trực tuyến là hình thức dạy và học mới nên GV và HS bước đầu làm quen nên cũng còn gặp nhiều khó khăn Sau khi tạo khảo sát trên google forms đối với 38 GV tại trường tôi thu được kết quả như sau
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%) Thầy cô thấy sự cần thiết của dạy học trực tuyến 50 76,9 15 23,1 Đánh giá hiệu quả tích cực của dạy học trực tuyến
của thầy cô đối với HS 11 16,9 54 83,1 Ngoài phần mềm zoom meetings thầy cô có kết
hợp thêm những phần mềm nào khác trong bài
dạy của mình
15 23,1 50 76,9
Thầy cô có mong muốn tìm ra giải pháp dạy trực
tuyến hiệu quả với bộ môn 60 92,2 5 7,8
Trang 29Một số GV đã nhận ra ưu điểm của việc dạy trực tuyến, tìm hiểu về phương pháp dạy học trực tuyến hiệu quả, biết kết hợp nhiều giải pháp trực tuyến để thực hiện vào bài giảng của mình Bên cạnh đó nhiều GV chưa có nhiều kĩ năng dạy học trực tuyến, chưa thực sự hiểu thế nào là dạy học trực tuyến chủ yếu chỉ là thay đổi cách thức dạy trực tiếp giáp mặt và không trực tiếp giáp mặt Đa phần thầy cô còn lúng túng chưa biết quản lý HS học thế nào
Mà chỉ dạy trực tuyến không kèm theo dõi và thống kê kết quả thì chưa tận dụng được các ưu điểm của công nghệ mang lại GV chưa biết làm cách nào kiểm tra xem HS của mình có hiểu bài hay không, và nếu không hiểu bài thì đặt câu hỏi ở đâu, GV tương tác với HS thế nào
Ví dụ, GV dạy học trực tuyến trên phần mềm zoom meeting GV chỉ sử dụng phần mềm như một giải pháp tương tác với HS, không biết kết hợp nhiều biện pháp để đáp ứng được yêu cầu, mục đích của bài học thì hiệu quả sẽ không cao, HS không hiểu bài và không tích cực chủ động tiếp thu kiến thức trong tiết học
Vì thế nhiều GV mong muốn tìm một giải pháp cụ thể, thiết thực hơn cho dạy học trực tuyến để đáp ứng được nhu cầu soạn giảng của GV và việc giảng dạy học trực tuyến đạt hiệu quả cao nhất
Khi khảo sát lấy ý kiến của 220 em HS tại trường TH-THCS-THPT
Đoàn Thị Điểm và THCS Cao Xanh kết quả như sau:
SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%) Con có phương tiện (điện thoại,
Trang 30Con thấy các tiết học trục tuyến
Con thấy học trực tuyến có hiệu
Con có thường xuyên học bài
và làm bài tập về nhà theo yêu
cầu của thầy cô sau mỗi tiết học
không?
Con có thường xuyên trao đổi
Qua khảo sát cho thấy, hầu như HS có đủ điều kiện về cơ sở vật chất tại gia đình (máy tính kết nối mạng, tai nghe,…) để học trực tuyến Một số em HS ngoan, ý thức tự học tốt, ham học, tỏ ra háo hức làm bài hơn, rất hợp tác với
GV và tìm tòi thêm nhiều tài liệu để học tập
Tuy nhiên, trong quá trình học trực tuyến tại nhà, HS cũng gặp phải một
số khó khăn nhất định, như: tốc độ đường truyền không ổn định,… Nhiều HS vẫn chưa thực sự ý thức hết việc học tập online, nếu GV không ở bên cạnh nhắc nhở như khi học trên lớp các em sẽ không tập trung trong giờ học, chỉ ngồi nhằm mục đích điểm danh Có khi được GV đã nhắc nhở nhưng nhiều HS vẫn nói chuyện riêng với bạn bằng nhiều hình thức (như chat, gửi ảnh,…)
Ngoài ra cũng phần nào do GV có nguồn học liệu và công cụ dạy học trực tuyến chưa tốt nên sẽ gây ít nhiều ảnh hưởng cho HS trong việc tiếp thu kiến thức dẫn đến khả năng tự học của HS cũng ảnh hưởng Có một số em cảm thấy chán khi học trực tuyến
Đa phần những mong muốn của các em đối với bài giảng trực tuyến chủ yếu là bài giảng phải mới lạ, có nhiều bài tập tình huống hấp dẫn và có nhiều kiến thức mở rộng bên ngoài thực tế Ngoài ra các em còn muốn khi học trực
Trang 31tuyến có nhiều bài tập thực hành, dung lượng ngắn gọn nhưng đủ kiến thức và
có thể xem lại video thầy/cô giáo giảng bài khi cần thiết
1.3 Nguyên tắc xây dựng (thiết kế) một bài dạy trực tuyến
1.3.1 Đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình GDPT
Các đặc tính hữu hình của một lớp học không đảm bảo một lớp học có
hiệu quả hay hấp dẫn Điều tương tự cũng xảy ra với các nền tảng trực tuyến
GV cần dành thời gian để suy nghĩ thực sự về cách mình muốn dạy học có sử dụng công nghệ Ngoài ra cần đưa ra các chiến lược giảng dạy trong lớp học phù hợp với thiết lập dạy học từ xa, và cách tiếp cận mới nào mà GV có thể kết hợp để đảm bảo nguyên tắc đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình GDPT
1.3.2 Đảm bảo tương tác và phản hồi
Khi dạy và học thì sự tương tác và phản hồi giữa GV và HS là yếu tố rất quan trọng Nếu ở bài giảng có sự giáp mặt trên lớp, sự tương tác và phản hồi được phát huy hiệu quả thì học trực tuyến, GV chủ yếu là thực hiện bài giảng một chiều, HS tiếp nhận qua mạng, qua các phương tiện, sự tương tác, phản hồi cần thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập sau đó chứ không trực tiếp Điều này,
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bài giảng Vì thế trong quá trình dạy, GV tăng cường tính tương tác và phản hồi với HS qua các kênh để nắm bắt ý thức học tập, chất lượng học tập bài học và những khó khăn của HS qua bài giảng Thường xuyên nhắc nhở HS tham gia học tập, sau đó, có câu hỏi, bài tập để đánh giá kết quả học tập của HS
1.3.3 Phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của e-learrning
Về ưu điểm, đầu tiên phải kể đến sự phân hóa rõ ràng trong nội dung học tập, thông thường, một bài giảng e-learning sẽ ứng với một nội dung học tập, tức là một bài học cụ thể trong chương trình học và thường được sắp xếp theo trật tự logic độ khó của kiến thức, từ thấp đến cao hoặc sắp xếp theo đúng nội dung chương trình học phổ thông, vì thế, dựa vào danh mục và tên bài học trực
Trang 32tuyến, tên bài, trong quá trình sử dụng bài giảng e-learning trong việc dạy và học, người dạy cũng như người học có thể dễ dàng theo dõi quá trình học tập
và giảng dạy Thêm vào đó, không giống như những tài liệu “cứng” như sách giáo khoa, vở bài tập, sách điện tử, bài giảng e-learning có thể được cập nhật,
bổ sung hoặc sửa đổi nội dung kiến thức, và việc phân phối nội dung, kiến thức này đến với người học rất dễ dàng, nhanh chóng, thông qua hệ thống mạng Internet hoặc các phương tiện khác như USB, đĩa CD,… Hơn nữa, khi áp dụng bài giảng e-learning vào dạy học, người dạy có thể giảm được chi phí cho quá trình dạy học, cụ thể là chi phí sử dụng cho đồ dùng, thiết bị dạy học, quá trình chấm, chữa bài, Ngoài ra, trong quá trình sử dụng bài giảng e-learning, thông qua hệ thống mạng Internet, người dạy có thể dễ dàng truy cập nhanh, rà soát được các thông tin về người học, lớp học, theo dõi, lần vết để biết được tiến độ
và tình hình học tập của từng người học, từ đó tiến hành trao đổi nhanh, kịp thời với người học thông qua các công cụ như e-mail, trò chuyện trực tuyến hoặc trực tiếp, diễn đàn,…
Đối với người học, khi sử dụng bài giảng e-learning để học tập, người học có thể học theo khả năng cá nhân, theo thời gian biểu của bản thân, việc học ít bị gò bó bởi khung thời gian và không gian nên việc lựa chọn phương pháp học tập cũng trở nên dễ dàng hơn Ngoài ra, với bài giảng e-learning, người học có thể tự theo dõi, đánh giá được quá trình học tập của bản thân, tự tìm ra được những điều mình còn thiếu xót trong quá trình học, từ đó có thể tự
bổ sung hoặc trao đổi thông tin với người dạy, người học khác bất kì lúc nào và
ở đâu thông qua e-mail, trò chuyện trực tuyến hoặc trực tiếp, diễn đàn,… Học với bài giảng e-learning còn đảm bảo tính công bằng, khách quan nhưng vẫn phân hóa trong giáo dục
Về nhược điểm, vấn đề được đặt ra đầu tiên đó là yêu cầu về sơ sở vật chất, trang bị kĩ thuật, điều này đòi hỏi cần vốn đầu tư ban đầu cao cho các cơ
sở giáo dục cũng như tại gia đình Thực tế, phải nhìn nhận rằng, với sự phát
Trang 33triển và điều kiện kinh tế của cả nước hiện nay, việc đầu tư cho các trường học đồng bộ hệ thống máy tính kết nối mạng với tai nghe, webcam và các phần mềm được mua bản quyền là một vấn đề khá khó thực hiện một cách đồng bộ
và đại trà Mặc khác, nếu sử dụng bài giảng e-learning để học tại gia đình thì đòi hỏi gia đình cũng phải có đầy đủ những điều kiện trên, vì thế, bài giảng e-learning và cách học e-learning thường được đánh giá là phù hợp với điều kiện tại các thành phố hơn ở vùng nông thôn, vùng núi, hải đảo,…
Đến nay, E-learning còn là một hình thức giáo dục mới, có nhiều điểm khác so với phương pháp và hình thức dạy truyền thống, mà việc thay đổi cách dạy, cách học của người dạy và người học không phải là vấn đề một sớm một chiều, vì thế bản thân người dạy và người học trong quá trình sử dụng bài giảng e-learning sẽ gặp một số khó khăn nhất định Thêm vào đó, để sử dụng bài giảng e-learning, người học cũng phải có một khối lượng kiến thức và trình độ nhất định để làm việc, thực hiện các thao tác với máy tính và Internet vì vậy, đối với đối tượng người học là HS tiểu học, đặc biệt là HS ở những lớp nhỏ,
HS không có điều kiện tiếp xúc với công nghệ hiện đại thì việc học với bài giảng e-learning sẽ gặp khó khăn Người dạy sẽ phải tốn thời gian hướng dẫn, thao tác mẫu cho người học và hiệu quả bài giảng sẽ bị giảm sút
Đối với người dạy, việc chuẩn bị cho một bài giảng e-learning để áp dụng vào dạy học là cực kì công phu, đòi hỏi phải có sự đầu tư cả về trí tuệ lẫn tài chính nên tốn thời gian, công sức, nhưng đôi khi vẫn không đạt được hiệu
Trang 34quả như mong muốn, hơn nữa trong quá trình chia sẻ bài giảng tại các trang mạng, diễn đàn, các phương tiện lưu trữ khác (USB, đĩa CD),… còn làm nảy sinh các vấn đề về sở hữu trí tuệ, an ninh mạng,…
Bên cạnh đó, khi sử dụng bài giảng e-learning trong dạy học hoặc tự học, mặc dù vẫn đảm bảo được giao tiếp giữa người dạy và người học, người học và người học khác thông qua các phương tiện đã được nhắc đến ở trên, nhưng vẫn hạn chế khả năng giao tiếp trực tiếp, sử dụng ngôn ngữ trực tiếp của người học
Chính vì thế GV khi dạy học trực tuyến cần phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của e-learrning
1.3.4 Phù hợp với điều kiện địa phương/nhà trường
Vì mỗi nhà trường, địa phương sẽ có những điều kiện và nguồn lực khác nhau Nên khi triển khai dạy học trực tuyến GV cần chú ý đến điều kiện địa phương/nhà trường để triển khai sao cho lớp học đạt hiệu quả nhất
Trang 35Nghiên cứu thực tiễn dạy học ở nước ta, nhất là ở địa bàn Quảng Ninh, nhằm: Xem xét và tìm hiểu tình hình thực trạng dạy học trực tuyến và được những khó khăn trong dạy học trực tuyến ở trường TH - THCS - THPT Đoàn Thị Điểm - Cao Xanh - Hạ Long - Quảng Ninh
Kết quả nghiên cứu cho thấy: E-learning có rất nhiều lợi ích cho GV, HS
và nhà trường khi hiểu đúng và triển khai thích hợp Là một phương thức tổ chức kiến thức hiệu quả và dân chủ, nó cho phép chúng ta dạy và học ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào Đây cũng chính là không gian học tập dân chủ và lành mạnh nhất
Mặc dù hiện nay dạy học trực tuyến đang rất được quan tâm ở nước ta nhưng làm thế nào để thiết kế một tiết dạy học trực tuyến sao cho hiệu quả, phù hợp vẫn còn là nỗi băn khoăn của nhiều thầy cô giáo
Tuy nhiên, các nghiên cứu về sử dụng E-learning trong dạy học trực tuyến còn hạn chế nhất là làm rõ vấn đề tương tác trong dạy học trực tuyến
Luận văn đã tiến hành xây dựng khung lý thuyết cho thiết kế một bài học trực tuyến: thiết kế các hoạt động tương tác, thiết kế kiểm tra đánh giá
Kết quả nghiên cứu của chương 1 sẽ làm cơ sở cho việc thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến cụ thể bài học Đa thức Định hướng triển khai trong chương tiếp theo của luận văn là: Vận dụng để thiết kế bài học trực tuyến cho một bài học cụ thể điển hình cho phần Đại số lớp 7 Từ những căn cứ về lý luận
và thực tiễn đó, tôi đã thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến chủ đề đa thức trong môn toán lớp 7 ở THCS
Trang 36Chương 2 BIỆN PHÁP THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC TRỰC TUYẾN MÔT CHỦ ĐỀ TRONG MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
2.1 Các nguyên tắc đề xuất khi triển khai dạy học trực tuyến
Nguyến tắc 1: Đảm bảo chuẩn Kiến thức - kĩ năng bài học, yêu cầu của chương trình
Dù dạy học theo cách giáp mặt hay trực tuyến thì GV khi thiết kế bài học phải đảm bảo nguyên tắc chuẩn kiến thức - kĩ năng, yêu cầu của bài học Nguyên tắc trên được quán triệt và thể hiện xuyên suốt từ khâu hình thành ý tưởng, thiết kế cấu trúc và xây dựng nguồn tài nguyên học liệu của khóa học trực tuyến
Đảm bảo cho HS tiếp thu được các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với chương trình học Giúp cho việc truyền đạt kiến thức của người dạy được thuận lợi, nhẹ nhàng Phù hợp với phương pháp giảng dạy, khả năng nhận thức của HS, tạo điều kiện để HS tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy lôgic, sáng tạo
Nguyên tắc 2: Cung cấp các tiện ích hỗ trợ khai thác thuận lợi và thân thiện
Hệ thống quản lý dạy và học trực tuyến phải cung cấp các tiện ích hỗ trợ người dùng, giúp cho việc truy cập dễ dàng, tiện lợi và thân thiện (đảm bảo tính
thẩm mỹ và tính sư phạm)
Việc xây dựng bài giảng trực tuyến được triển khai đồng bộ từ khâu bố cục nội dung kiến thức, các chủ đề học phần theo quan điểm dạy học tích cực, phù hợp với các bài giảng điện tử tiên tiến và phương thức đào tạo tín chỉ Giao diện của Bài giảng được thiết kế đơn giản, hài hòa, không lạm dụng các hiệu ứng flash (nhấp nháy), màu sắc, âm thanh để gây chú ý nhưng vẫn đảm bảo hiển thị đầy đủ các tính năng một cách trực quan theo nguyên tắc WYS-WYG
(What You See - What You Get)
Trang 37Nguyên tắc 3: Phải đảm bảo tạo ra môi trường học tập có tính cộng đồng cao
Khóa học trực tuyến được thiết kế nhằm tạo ra một không gian học tập tập thể, ở đó, HS được tạo cơ hội và được khuyến khích trình bày quan điểm, ý kiến của mình, có thể chia sẻ tranh luận và nhận xét với các ý kiến, quan điểm của bạn bè, qua đó bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học và tư suy sáng tạo của HS, được hiện thực hóa bằng việc: Học tập trực tuyến cung cấp rất nhiều công cụ giao tiếp, bao gồm các diễn đàn thảo luận (forum) với phương thức trao đổi online dưới dạng đồng bộ, không đồng bộ và kết hợp giữa đồng bộ và không đồng bộ Được cụ thể hóa dưới dạng nhiều bài tập trực tuyến khác nhau Mặc dù là giao tiếp từ xa, nhưng sự giao tiếp vẫn có thể là trực diện (face to face) nhờ chức năng Lync Online, có thể hội thoại trực tiếp (Điện thoại, phần mềm chat chuyên dụng) và giao tiếp trực tiếp qua các dòng tin (Messege) Giao tiếp có thể là HS với HS, GV với HS (tập thể hoặc cá nhân)
Nguyên tắc 4: Phải có tính tương tác cao
Tương tác trong lớp học trực tuyến là hoàn toàn khác biệt so với tương tác trong dạy học giáp mặt, tương tác ở đây là tương tác không giáp mặt được
diễn ra trong môi trường máy tính và mạng Internet:
Tương tác giữa GV và HS: Mọi tương tác của GV và HS không giáp mặt trực tiếp mà thông qua các phương tiện CNTT&TT Đây là mấu chốt để HS có
động lực và cảm thấy được quan tâm như trong lớp học truyền thống Để giải quyết tốt mối tương tác này luận văn đề xuất một số phương tiện và phương pháp tương tác như: Gọi điện thoại, tạo diễn đàn, tổ chức hội họp trực tuyến,…
Tương tác giữa HS và HS: Như trên đã phân tích điểm yếu của lớp học trực tuyến là HS không được tương tác với bạn học trong lớp Để HS không
cảm thấy nhàm chán, khi tham gia lớp họp họ có cảm giác như đang học trong lớp học truyền thống có bạn bè xung quanh Mặt khác để phát huy kỹ năng tổ chức, phối hợp trong công việc (yếu tố rất quan trọng khi ra đời làm việc) thì
Trang 38mối tương tác này cần được giải quyết tốt trong lớp học trực tuyến Trong luận văn đã đề xuất một số biện pháp như: tổ chức hội họp trực tuyến, tổ chức làm bài tập nhóm,…
Tương tác giữa HS và nội dung: Do không được giảng dạy trực tiếp cho
HS nên vấn đề đặt ra trong dạy học trực tuyến là làm thể nào để HS có thể tích
cực tiếp thu nội dung học tập mọi lúc, mọi nơi một cách tích cực, chủ động Để mối tương tác này có hiệu quả cần có bài giảng điện tử trực quan sinh động; phần mềm dạy học tương tác ảo (phần mềm thực hành ảo, trò chơi giáo dục,…); hệ thống bài kiểm tra trắc nghiệm đa dạng và phong phú
Tương tác giữa GV và nội dung: GV chủ động cung cấp bài giảng, phần mềm dạy học, ra đề thi trắc nghiệm, tổ chức bài tập nhóm, bài tập cá nhân,…
Đặt mức thời gian, chấm bài và phản hồi kết quả học tập cũng như sửa chữa bài tập qua mạng cho HS
2.2 Các biện pháp xây dựng và tổ chức bài dạy trực tuyến
2.2.1 BP 1: Hiểu sâu về dạy học trực tuyến, các bước và nhiệm vụ để thiết kế
và tổ chức bài học online
Mục đích: Do DH online còn là vấn đề mới ở VN nên nhiều GV còn lúng túng, do đó, để DH online nhiệu quả GV cần phải hiểu được các bước và nhiệm vụ cần làm để thiết kế và tổ chức bài học trực tuyến
Tại Việt Nam, việc dạy học trực tuyến trong thời gian dịch bệnh năm
2020 và đầu năm 2021 cho thấy, chất lượng chưa ngang bằng với dạy học trực tiếp, nhưng nó là giải pháp hữu hiệu khi HS không thể đến trường Thực tế cho thấy dạy học trực tuyến có những bất cập, khó khăn
Từ thực tế dạy HS học trực tuyến, chúng tôi thấy rằng một trong những trở ngại, khó khăn khi dạy học trực tuyến đó là sự tương tác giữa GV và HS thua kém hơn rất nhiều so với dạy học trực tiếp Thứ hai là sự không ổn định của ứng dụng và công nghệ, của đường truyền; trong khi đó kỹ năng xử lý kỹ thuật của GV, HS còn hạn chế Cộng với, đa phần GV thiết kế giáo án theo
Trang 39hình thức dạy học trực tiếp chưa biết cách thiết kế sao cho phù hợp với bài học trực tuyến chứ không phải bê nguyên bài giảng trực tiếp lên dạy trực tuyến Các GV phải thấy được ưu điểm, hạn chế của từng kiểu dạy để soạn bài cho phù hợp đặc biệt là đối với môn Toán
Chính vì thế theo chúng tôi khi thiết kế bài học trực tuyến GV phải hiểu được về dạy học trực tuyến, các bước và nhiệm vụ để thiết kế và tổ chức bài học online Sau đâu tôi sẽ nêu các bước tiến hành cụ thể khi thiết kế bài học trực tuyến với chủ đề Đa thức
Cách tiến hành BP:
2.2.1.1 Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học online
- Người thực hiện là GV và tổ bộ môn Lưu ý, bám sát nội dung chương trình; nghiên cứu kỹ giáo trình và tài liệu tham khảo; xác định nội dung trọng tâm Trong dạy học hướng tập trung vào HS, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài,
HS đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy GV cần đọc kĩ sách giáo khoa, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài Đa thức và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa, giáo trình được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp một cách lôgíc, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao Bởi vậy, GV cần bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa Toán 7 tập 2 Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học GV cần kết hợp các điều kiện trên để bài Đa thức trở nên hấp dẫn lôi cuốn với HS từ đó HS sẽ yêu thích tìm tòi và khám khá kiến thức mới của bài học Vì vậy, để xác định được đúng kiến thức
cơ bản mỗi bài, không chỉ đọc sách giáo khoa mà GV cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo như sách GV Toán 7 tập 2, sách thiết kế bài dạy Toán
7 tập 2 và một số tài liệu được kiểm định khác về chủ đề Đa thức…để mở rộng
Trang 40hiểu biết về vấn đề cần giảng dạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản Trong bài Đa thức mặc dù học tập trực tuyến nhưng vẫn yêu cầu HS đảm bảo được chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học:
+ HS nêu được khái niệm đa thức, lấy được ví dụ về đa thức, biết cách xác định đươc các hạng tử của một đa thức
+ HS biết cách thu gọn được đa thức cho trước, biết cách tính giá trị của
đa thức khi biết giá trị của các biến trong đa thức
+ HS biết cách tìm bậc của đa thức bằng cách tìm bậc của các hạng tử trong đa thức từ đó suy ra bậc của đa thức
- Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài, từ đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được dễ dàng Vì tiến hành dạy trực tuyến nên cách bước dạy học GV nên đưa ra những nội dung kiến thức cô đọng trong bài để HS dễ nhớ, dễ hiểu Trong bài Đa thức bao gồm ba nội dung chính: Đa thức, thu gọn đa thức, bậc của đa thức, GV kết hợp các bài tập để chuyển giao giữa các phần sao cho dễ hiểu cô đọng nhưng vẫn phải đảm bảo lôi cuốn HS tìm tòi kiến thức mới nhằm tránh việc nhàm chán của HS khi phải học trực tuyến Cũng cần chú ý việc cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơ bản của bài mà các tác giả sách giáo khoa, giáo trình đã dày công xây dựng Dù sử dụng cách thiết kế nào GV vẫn cần lưu ý đảm bảo độ chính xác của Toán học nói chung
và kiến thức của bài Đa thức nói riêng
- Ngoài ra GV cần chú trọng tới các sản phẩm mà HS có được trước, trong và sau bài học Với bài Đa thức HS cần làm được các bài tập cá nhân: Bài tập chuẩn bị trong phần mở đầu, hoàn thành phiếu học tập cá nhân với bài tập
GV đã gửi file từ trước (phiếu học tập chi tiết dưới phần phụ lục) để ôn lại kiến thức cú trong bài Đơn thức, Đơn thức đồng dạng nhằm tránh mất thời gian học