1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình liên hiệp quốc tổ chức và hoạt động tập 1

111 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Liên Hợp Quốc Tổ Chức Và Hoạt Động
Tác giả PGS. Ts. Võ Khánh Vinh, Ts. Nguyễn Trung Tín
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 521,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Khái niệm tổ chức quốc tế cấp chính phủ (4)
  • II. Thành lập và giải thể tổ chức quốc tế cấp chính phủ (5)
  • III. Cơ sở pháp lý của tổ chức quốc tế cấp chính phủ (6)
  • IV. Thẩm quyền, quyền hạn và chức năng của tổ chức quốc tế cấp chính phủ (8)
  • V. Các cơ quan của tổ chức quốc tế cấp chính phủ (9)
  • VI. Thông qua quyết định của tổ chức quốc tế cấp chính phủ (10)
  • VII. Lịch sử ra đời, mục đích, nguyên tắc của LHQ (10)
  • VIII. Hiến ch−ơng LHQ - một văn bản pháp lý nền tảng (12)
  • I. Đại hội đồng (15)
  • II. Hội đồng Bảo an (17)
  • III. Hội đồng kinh tế - xã hội (28)
  • IV. Ban th− ký (29)
  • V. Toà án quốc tế (30)
  • VI. Hội đồng quản thác (32)
  • I. Vai trò của LHQ trong việc bảo vệ hòa bình (35)
  • II. Vai trò của LHQ trong sự phát triển kinh tế và xã hội (61)
  • I. Vai trò của liên hợp quốc trong việc bảo vệ quyền con ng−ời (79)
  • II. Vai trò của LHQ trong vấn đề nhân đạo (90)
  • I. Điều chỉnh pháp lý các tranh chấp quốc tế (95)
  • II. Sự phát triển và quá trình pháp điển hóa luật quốc tế (99)
  • I. Các tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, th−ơng mại và năng l−ợng (0)
  • II. Các tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính (0)
  • III. Các tổ chức chuyên môn về giao thông vận tải (0)
  • IV. Các tổ chức chuyên môn của LHQ về văn hóa khoa học và giáo dục (0)
  • V. Các tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực bưu điện (0)
  • VI. Các tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực lao động và sức khỏe (0)
  • VII. Tổ chức khí t−ợng quốc tế (0)

Nội dung

Khái niệm tổ chức quốc tế cấp chính phủ

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ đóng vai trò quan trọng trong hợp tác giữa các quốc gia và ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống quốc tế hiện nay.

Vào cuối thế kỷ XIX, sự hình thành của các tổ chức quốc tế cấp chính phủ phản ánh xu hướng quốc tế hóa đời sống nhân loại, trong đó có sự ra đời của Tổ chức Điện tín quốc tế.

1865 Tổ chức Bưu chính quốc tế 1874)

Trên thế giới hiện có khoảng 4000 tổ chức quốc tế, trong đó có khoảng 300 tổ chức cấp chính phủ, với Liên hợp quốc (LHQ) là tổ chức lớn và quan trọng nhất Thuật ngữ "Tổ chức quốc tế" bao gồm cả tổ chức cấp chính phủ và phi chính phủ, mặc dù cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của chúng có nhiều khác biệt.

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ có những đặc điểm chung như: thành viên là các quốc gia, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia thành viên và có điều kiện hoạt động rõ ràng.

Các tổ chức quốc tế được thành lập thông qua các văn bản như Hiến chương Liên Hợp Quốc, trong đó có sự hiện diện của các cơ quan thường trực Điều này là điểm khác biệt quan trọng so với các hội nghị quốc tế.

Tổ chức quốc tế cấp chính phủ là sự liên kết giữa các quốc gia, hoạt động dựa trên các điều ước quốc tế nhằm đạt được những mục đích chung, đồng thời tôn trọng chủ quyền của các quốc gia thành viên Ngược lại, tổ chức quốc tế phi chính phủ được thành lập từ sự kết nối của các cá nhân hoặc pháp nhân, không dựa trên điều ước quốc tế, như Tổ chức Chữ thập đỏ quốc tế Bài viết này sẽ tập trung làm rõ khái niệm về các tổ chức quốc tế cấp chính phủ.

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ đ−ợc phân thành các loại khác nhau căn cứ vào các cơ sở phân loại nhất định

Các tổ chức quốc tế được phân loại dựa trên số lượng thành viên tham gia, bao gồm tổ chức quốc tế cấp chính phủ phổ biến như Liên Hợp Quốc và các tổ chức chuyên môn của nó, cũng như tổ chức quốc tế cấp chính phủ không phổ biến, chẳng hạn như các tổ chức khu vực như ASEAN ở Đông Nam Á.

Tổ chức quốc tế được phân loại dựa trên thẩm quyền và lĩnh vực hoạt động thành hai loại chính: tổ chức chung, như Liên Hợp Quốc và Tổ chức Đông Nam Á, và tổ chức chuyên môn, như Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế và Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới.

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ được phân loại thành hai loại dựa trên quyền hạn: tổ chức liên quốc gia và tổ chức trên quốc gia Tổ chức liên quốc gia tập trung vào sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên, với quyết định chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia này Ngược lại, tổ chức trên quốc gia hướng tới việc quốc tế hóa, do đó quyết định của chúng có tác động trực tiếp đến cá nhân và pháp nhân trong các quốc gia thành viên, ví dụ như Liên minh châu Âu.

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ được phân loại thành hai loại dựa trên trật tự kết nạp thành viên: tổ chức mở, cho phép bất kỳ quốc gia nào gia nhập, và tổ chức đóng, nơi một số quốc gia không đủ điều kiện tham gia do mục đích và thẩm quyền của tổ chức.

Thành lập và giải thể tổ chức quốc tế cấp chính phủ

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ là chủ thể phái sinh của luật quốc tế Quá trình thành lập các tổ chức này diễn ra qua ba giai đoạn: thông qua văn bản thành lập, xây dựng cơ sở vật chất và triệu tập các cơ quan chính để khởi động hoạt động thực tế của tổ chức.

Sự thoả thuận giữa các quốc gia thành viên về việc thành lập tổ chức quốc tế cấp chính phủ có thể được thực hiện thông qua hai phương thức: điều ước.

(1) Đa số các tổ chức quốc tế cấp chính phủ hiện nay là loại này, ví dụ nh− LHQ

5 quốc tế; quyết định của tổ chức quốc tế đang tồn tại - tổ chức quốc tế sinh ra tổ chức quốc tế

Phương thức ký kết điều ước quốc tế là cách phổ biến nhất để thành lập tổ chức Thông thường, quá trình này diễn ra thông qua các hội nghị quốc tế nhằm soạn thảo và thông qua các văn bản Các văn bản này có thể mang nhiều tên gọi khác nhau như Hiến chương, quy chế, điều lệ, hay công ước.

−ớc) Ngày các văn bản đó có hiệu lực là ngày thành lập tổ chức

Giai đoạn hình thành cơ cấu vật chất của tổ chức là bước thứ hai trong quá trình thành lập, trong đó các quốc gia thành viên thống nhất thành lập các cơ quan hỗ trợ chuyên môn Các cơ quan này chịu trách nhiệm soạn thảo quy chế cho các cơ quan chính, giải quyết các vấn đề liên quan đến trụ sở chính, chuẩn bị chương trình nghị sự cho cuộc họp đầu tiên và cung cấp tài liệu cùng kiến nghị cho tất cả các vấn đề trong chương trình nghị sự.

Các quốc gia không phải là thành viên của các tổ chức quốc tế cấp chính phủ có thể cử quan sát viên tham dự các cuộc họp nếu được ghi nhận trong văn bản thành lập của tổ chức Một số tổ chức quốc tế cho phép các quốc gia không phải là thành viên cử phái đoàn quan sát viên thường trực, như Vatican và Thụy Sĩ tại Liên Hợp Quốc.

Sự triệu tập cuộc họp của các cơ quan chính trong tổ chức đánh dấu giai đoạn hoàn tất việc thành lập tổ chức quốc tế cấp chính phủ Khi các quốc gia thành viên đồng thuận, tổ chức quốc tế cấp chính phủ sẽ chấm dứt mọi hoạt động của mình Thông thường, việc giải thể được chính thức hóa thông qua một điều ước quốc tế dưới dạng biên bản giải thể, như trong trường hợp của Tổ chức Hiệp.

Vào ngày 1 tháng 7 năm 1991, Ủy ban tư vấn chính trị của tổ chức tại Praha đã thông qua biên bản giải thể Ủy ban Vacsava Đồng thời, Hội đồng Tương trợ kinh tế cũng đã được giải thể theo biên bản tại Budapest vào ngày 28 tháng 6 năm 1991.

Cơ sở pháp lý của tổ chức quốc tế cấp chính phủ

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, đóng vai trò chỉ đạo trong việc thành lập và hoạt động của các tổ chức quốc tế Các khía cạnh của nguyên tắc này được thể hiện rõ ràng trong các quy định và cam kết quốc tế.

Văn bản thành lập tổ chức được xây dựng dựa trên sự đồng thuận tự nguyện và bình đẳng của các quốc gia thành viên Mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia và lợi ích chung của tổ chức được giải quyết trong văn bản này, đảm bảo không có mâu thuẫn nào xảy ra, miễn là các quốc gia thành viên tự nguyện thực hiện các cam kết theo điều lệ và nguyên tắc đã được thừa nhận.

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý quốc tế, có sự đồng thuận rằng các quốc gia thành viên khi thành lập tổ chức quốc tế đã trao cho tổ chức này năng lực pháp lý và hành vi quốc tế Do đó, các tổ chức quốc tế có khả năng tham gia vào việc xây dựng và thông qua các quy phạm luật quốc tế, cũng như đảm bảo việc tuân thủ các quy định đó Vì lý do này, các tổ chức quốc tế cấp chính phủ được xem là các chủ thể của luật quốc tế.

Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên cho tổ chức quốc tế không đồng nghĩa với việc tổ chức này có tư cách chủ thể luật quốc tế như các quốc gia Quyền năng của tổ chức quốc tế hẹp hơn so với các quốc gia Quá trình chuyển giao phải tuân thủ hai nguyên tắc: quốc gia thành viên chỉ được phép chuyển nhượng các quyền mà mình sở hữu, và không thể chuyển giao những quyền đặc thù như chủ quyền lãnh thổ.

Quyền năng chủ thể luật quốc tế của các tổ chức quốc tế có hai đặc điểm chính: tính chất mục đích và chức năng, cùng với tính chất điều ước Tính chất mục đích và chức năng thể hiện qua việc các quốc gia chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể, như LHQ được trao quyền duy trì hòa bình và an ninh nhân loại, thể hiện rõ nhất qua quyền hạn của Hội đồng bảo an Tính điều ước cho thấy các tổ chức quốc tế có quyền ký kết các điều ước trong phạm vi thẩm quyền của mình.

Các tổ chức quốc tế có quyền tham gia vào quan hệ ngoại giao, bao gồm việc cử đại diện tại các quốc gia và trao đổi đại diện với các tổ chức quốc tế khác Họ cũng có quyền lựa chọn nhân viên hành chính và kỹ thuật dựa trên hợp đồng.

Các tổ chức quốc tế, với tư cách là chủ thể của luật quốc tế, cần thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế dựa trên các quy định của luật quốc tế và các cam kết đã đưa ra.

Các tổ chức quốc tế phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế khi vi phạm luật pháp quốc tế Nguồn tài chính của mỗi tổ chức quốc tế được hình thành từ sự đóng góp của các quốc gia thành viên dựa trên các thỏa thuận, và được sử dụng cho các mục đích chung được quy định trong văn bản thành lập Ngoài ra, các tổ chức quốc tế cấp chính phủ còn hoạt động như pháp nhân dân sự theo luật pháp của các quốc gia.

Các tổ chức quốc tế có quyền ký hợp đồng dân sự, sở hữu tài sản và tham gia vào các vụ kiện tại tòa án dân sự của các quốc gia Tuy nhiên, các tổ chức cấp chính phủ và các quốc gia thành viên đều có quyền miễn trừ tư pháp trong các vấn đề này.

Thẩm quyền, quyền hạn và chức năng của tổ chức quốc tế cấp chính phủ

Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ được thành lập với mục đích và nhiệm vụ cụ thể, có thẩm quyền, quyền hạn và chức năng rõ ràng được ghi nhận trong văn bản thành lập của từng tổ chức tương ứng.

Thẩm quyền của tổ chức quốc tế cấp chính phủ được hiểu là lĩnh vực hoạt động của tổ chức, tuy nhiên mức độ quyền hạn này phụ thuộc vào quyền hạn cụ thể của tổ chức đó Chẳng hạn, trong lĩnh vực hòa bình và an ninh, thẩm quyền của các tổ chức quốc tế khu vực thường hạn chế hơn nhiều so với Liên Hợp Quốc Do đó, việc xác định khái niệm thẩm quyền một cách chính xác cần phải dựa vào quyền hạn mà tổ chức được giao Tóm lại, thẩm quyền của tổ chức quốc tế cấp chính phủ là lĩnh vực mà tổ chức thực hiện hoạt động dựa trên các quyền hạn đã được quy định.

Chức năng của tổ chức quốc tế cấp chính phủ là các phương thức hoạt động nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền của mình Các chức năng cơ bản của tổ chức này được phân loại thành ba loại: chức năng điều chỉnh, chức năng kiểm tra và chức năng hành động.

Chức năng điều chỉnh của tổ chức được thể hiện qua việc ban hành văn bản nội bộ, như các quyết định của các cơ quan tổ chức, và ký kết các điều ước quốc tế với các chủ thể khác trong luật quốc tế, phản ánh chức năng điều chỉnh bên ngoài.

Chức năng kiểm tra của tổ chức được thực hiện thông qua việc cử các đoàn kiểm tra hoặc thu thập thông tin từ các quốc gia thành viên, nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định và tiêu chuẩn.

Việc thực hiện các cam kết thông qua chức năng điều chỉnh là rất quan trọng Chức năng hành động nhằm khôi phục các quyền dựa trên văn bản thành lập, cũng như trên cơ sở thực hiện chức năng điều chỉnh và kết quả từ chức năng kiểm tra Ví dụ, Liên Hợp Quốc quyết định triển khai lực lượng vũ trang để bảo vệ hòa bình và thực hiện các biện pháp cấm vận.

Các cơ quan của tổ chức quốc tế cấp chính phủ

Cơ quan của tổ chức quốc tế là bộ phận cấu thành được hình thành và hoạt động dựa trên văn bản thành lập hoặc các văn bản khác của tổ chức Chẳng hạn, Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định rằng LHQ bao gồm sáu cơ quan chính.

Cơ quan của tổ chức quốc tế có thẩm quyền và quyền hạn rõ ràng, cùng với chức năng xác định Cấu trúc bên trong của cơ quan này được tổ chức theo trật tự thông qua các quyết định, đồng thời có quy chế pháp lý xác định vai trò và trách nhiệm của từng thành viên.

Thẩm quyền, quyền hạn và chức năng của các cơ quan trong tổ chức quốc tế được xác định dựa trên thẩm quyền, quyền hạn và chức năng của chính tổ chức đó Mặc dù các cơ quan có thể có những thẩm quyền và chức năng khác nhau, nhưng chúng không bao giờ vượt quá giới hạn của tổ chức mà chúng thuộc về Các cơ quan trong tổ chức quốc tế được phân loại thành nhiều loại khác nhau.

Các cơ quan quốc tế được phân loại dựa trên tính chất thành viên thành ba loại: liên chính phủ, liên quốc hội (như Liên minh châu Âu) và hành chính Trong đó, các cơ quan liên chính phủ đóng vai trò quan trọng nhất Các cơ quan hành chính, bao gồm những cá nhân hoạt động độc lập và chịu trách nhiệm trước tổ chức, là yếu tố thiết yếu của mọi tổ chức quốc tế Việc bổ nhiệm và tuyển chọn các viên chức này được thực hiện dựa trên thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên.

Căn cứ vào số lượng thành viên, tổ chức quốc tế có hai loại cơ quan: cơ quan chung, bao gồm đại diện của tất cả quốc gia thành viên, và cơ quan hạn chế, với đại diện từ một số quốc gia được bầu theo nhiệm kỳ Cơ quan chung giải quyết các vấn đề quan trọng như xác định chính sách, thông qua điều ước, quản lý ngân sách, sửa đổi điều lệ và xử lý các vấn đề liên quan đến thành viên như kết nạp hay khai trừ Trong khi đó, cơ quan hạn chế tập trung vào các vấn đề liên quan đến hoạt động thường xuyên của tổ chức.

Thông qua quyết định của tổ chức quốc tế cấp chính phủ

Các quyết định của tổ chức quốc tế được thông qua bởi các cơ quan của nó, thể hiện ý chí chung của các quốc gia thành viên Quy trình thông qua quyết định phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm quy định trong văn bản thành lập, quy chế và thành phần của cơ quan, cũng như bầu không khí chính trị giữa các quốc gia thành viên tham gia.

Quy trình ra quyết định trong tổ chức bao gồm ba bước chính: đề xuất sáng kiến, thảo luận trong cơ quan và biểu quyết để thông qua quyết định Quyết định được thông qua dựa trên một trong các nguyên tắc: sự đồng thuận hoàn toàn, quá bán tối thiểu hoặc quá bán tối đa.

Lịch sử ra đời, mục đích, nguyên tắc của LHQ

LHQ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình và an ninh toàn cầu, đồng thời thúc đẩy sự hợp tác kinh tế - xã hội giữa các quốc gia.

Sự thành lập của Liên Hợp Quốc (LHQ) đánh dấu chiến thắng của các quốc gia đồng minh trong Thế chiến thứ hai, đồng thời phản ánh sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế và chính trị toàn cầu, cũng như tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới.

Sự kiện đầu tiên dẫn đến việc thành lập Liên Hợp Quốc là Tuyên bố chung Đại Tây Dương, được ký bởi Tổng thống Mỹ F.D Roosevelt và Thủ tướng Anh W Churchill vào ngày 14 tháng 8 năm 1941, cùng với Tuyên bố của Chính phủ Liên Xô tại hội nghị đồng minh ở London vào ngày 24 tháng 9 năm 1941 Những văn bản pháp lý này đã khởi xướng các tư tưởng về việc xây dựng một trật tự thế giới hòa bình và hợp tác sau chiến tranh.

Tuyên bố chung giữa Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Ba Lan vào ngày 4 tháng 12 năm 1941 đánh dấu văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên về việc thành lập một tổ chức quốc tế mới nhằm duy trì hòa bình và an ninh nhân loại Tuyên bố khẳng định rằng, một thế giới hòa bình và công bằng chỉ có thể được đảm bảo thông qua một tổ chức quốc tế mới, dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia dân chủ.

B−ớc đi thực tế đầu tiên trong quá trình thành lập LHQ chính là Tuyên bố Matxcơva ngày 30 tháng 10 năm 1943 của đại diện bốn quốc gia là Liên Xô,

Mỹ, Anh và Trung Quốc đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nhanh chóng thành lập một tổ chức chung nhằm duy trì hòa bình và an ninh nhân loại Tuyên bố này cũng đề ra các nguyên tắc quan trọng cho tổ chức quốc tế tương lai, bao gồm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và trách nhiệm đặc biệt của các siêu cường trong việc duy trì hòa bình thế giới Tại hội nghị, một ủy ban đã được thành lập để soạn thảo các vấn đề liên quan đến việc thành lập tổ chức này, và quyết định của Hội nghị Matxcơva đã được Hội nghị Tê-hê-ran khẳng định vào cuối năm 1943.

Vào tháng 10 năm 1944 tại Đum Bác-tơn, đại diện bốn quốc gia đã thông qua "Những đề xuất sơ bộ về việc thành lập tổ chức an ninh quốc tế chung", làm nền tảng cho Hiến chương LHQ Tuy nhiên, vấn đề biểu quyết của Hội đồng Bảo an chưa được giải quyết tại hội nghị này, mà được thảo luận tại hội nghị I-an-ta vào tháng 2 năm 1945, theo nguyên tắc thống nhất hành động của các siêu cường Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Điều 27 của Hiến chương LHQ Tại hội nghị I-an-ta, thời gian và địa điểm tổ chức hội nghị thành lập LHQ cũng đã được xác định.

Vào ngày 25 tháng 4 năm 1945, hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc đã được tổ chức tại San Francisco Tại hội nghị, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã được xem xét và thông qua, với việc chính thức có hiệu lực vào ngày 24 tháng 10 năm 1945 sau khi được thông qua vào ngày 26 tháng 6 năm 1945.

Theo quyết đinh của Đại hội đồng LHQ năm 1974, ngày Hiến chương có hiệu lực là ngày thành lập LHQ Bởi vậy hàng năm cứ đến ngày 24 tháng

Ngày 10 tháng 10 hàng năm, nhân dân toàn thế giới kỷ niệm ngày thành lập Liên Hợp Quốc, đánh dấu một sự kiện vĩ đại trong lịch sử nhân loại Đây là biểu hiện của tinh thần hợp tác và đoàn kết vì sự tiến bộ, cũng như quyết tâm đấu tranh chống lại các thế lực cực đoan và hiếu chiến, nhằm bảo vệ hòa bình và nền văn minh nhân loại Mục đích và nguyên tắc hoạt động của Liên Hợp Quốc là thúc đẩy hòa bình, an ninh và phát triển bền vững trên toàn cầu.

Hiến chương LHQ ghi nhận các mục đích sau:

- Củng cố hoà bình và an ninh quốc tế;

- Phát triển các quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc;

Liên Hợp Quốc thúc đẩy hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo, đồng thời khuyến khích tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người Để đạt được các mục tiêu này, LHQ hoạt động dựa trên nguyên tắc hợp tác và tôn trọng lẫn nhau.

- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia thành viên;

- Nguyên tắc phải tuân thủ có thiện chí các cam kết đ−ợc ghi nhận trong Hiến ch−ơng;

- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình;

- Nguyên tắc không đ−ợc dùng vũ lực và đe doạ sử dụng nó;

Các thành viên Liên Hợp Quốc có trách nhiệm hỗ trợ và ủng hộ tổ chức trong mọi hành động phù hợp với Hiến chương, đồng thời cần tránh việc giúp đỡ bất kỳ quốc gia nào đang bị Liên Hợp Quốc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc cưỡng chế.

Nguyên tắc của Liên Hợp Quốc yêu cầu các quốc gia không phải là thành viên phải hành động dựa trên các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương, nhằm mục đích củng cố hòa bình và an ninh toàn cầu.

- Nguyên tắc LHQ không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia bÊt kú

Trong số các nguyên tắc của luật quốc tế, một số nguyên tắc được coi là cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tiến bộ của luật quốc tế sau Đại chiến thứ hai Việc ghi nhận những nguyên tắc này là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống pháp lý quốc tế.

Hiến ch−ơng LHQ - một văn bản pháp lý nền tảng

Hiến chương Liên Hợp Quốc là một điều ước quốc tế quan trọng, tạo dựng nền tảng pháp lý quốc tế, đảm bảo tính pháp chế và công bằng Nó điều chỉnh hoạt động của Liên Hợp Quốc, các cơ quan của tổ chức này và hành vi của các quốc gia thành viên, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra dựa trên các nguyên tắc đã nêu.

Hiến chương Liên Hợp Quốc là một hiệp ước quốc tế đặc biệt, vì vậy việc thay đổi các quy định của nó không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của một quốc gia hay một nhóm quốc gia, mà còn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự nghiệp hòa bình và an ninh toàn cầu.

Các quy định của Hiến chương ảnh hưởng sâu sắc đến chính sách của các quốc gia và kết quả của các cuộc đàm phán liên quan đến nhiều vấn đề trong đời sống quốc tế.

Hiến chương Liên Hợp Quốc không chỉ là nền tảng quan trọng cho việc hoàn thiện cấu trúc và hoạt động của tổ chức này, mà còn định hướng cho việc củng cố hòa bình thế giới trong tương lai, nhằm ngăn chặn thảm họa do các loại vũ khí giết người hàng loạt.

Hiến chương Liên Hợp Quốc không chỉ tạo nền tảng cho việc củng cố hòa bình và an ninh quốc tế, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế, nhân đạo và các lĩnh vực khác trong đời sống quốc tế.

Hiến chương đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy chính trị mới, khi ngày càng nhiều quốc gia tiến bộ trên thế giới áp dụng quy chế biểu quyết để giải quyết các vấn đề quan trọng trong đời sống quốc tế.

Câu hỏi h−ớng dẫn học tập

1 Thế nào là tổ chức quốc tế cấp chính phủ?

2 Hãy cho biết trình tự thành lập và giải thể của tổ chức quốc tế cấp chính phủ?

3 Cơ sở pháp lý của tổ chức quốc tế cấp chính phủ là gì?

4 Thẩm quyền, quyền hạn và chức năng của tổ chức quốc tế cấp chính phủ đ−ợc quy định ra sao?

5 Tổ chức quốc tế cấp chính phủ có những cơ quan gì?

6 Các tổ chức quốc tế cấp chính phủ thông qua quyết định của mình nh− thế nào?

7 Hãy cho biết lịch sử ra đời, mục đích và nguyên tắc của LHQ?

8 Tại sao nói Hiến ch−ơng LHQ là văn bản pháp lý quan trọng?

Các cơ quan chính của liên hợp quốc

LHQ bao gồm 6 cơ quan chính: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế-xã hội, Hội đồng Quản thác, Ban thư ký và Tòa án quốc tế Trong số đó, Đại hội đồng là cơ quan toàn thể không thường trực, trong khi các cơ quan còn lại là thường trực Bên cạnh đó, LHQ còn có các tổ chức chuyên môn, tuy nhiên, những tổ chức này không phải là cơ quan chính của LHQ.

Đại hội đồng

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên, thực hiện nhiệm vụ theo Hiến chương LHQ Đại hội đồng có quyền thảo luận mọi vấn đề thuộc phạm vi Hiến chương, ngoại trừ những vấn đề quy định tại Điều 12 Theo Điều 12, khi Hội đồng Bảo an đang xử lý một vụ tranh chấp, Đại hội đồng không được đưa ra kiến nghị liên quan đến vụ tranh chấp đó trừ khi có yêu cầu từ Hội đồng Bảo an.

Trong số các quyền hạn của Hội đồng, quyền hạn quan trọng nhất là việc

Đại hội đồng có trách nhiệm xem xét các nguyên tắc hợp tác nhằm củng cố hòa bình và an ninh thế giới, theo Điều 12 Hiến chương Cơ quan này có quyền đưa ra khuyến nghị về các biện pháp thích hợp để giải quyết hòa bình mọi tình huống phát sinh, đặc biệt là những tình huống có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung và gây tổn hại đến quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Điều này bao gồm cả những tình huống phát sinh từ việc vi phạm các mục đích và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, như quy định tại Điều 14 Hiến chương.

Đại hội đồng có thẩm quyền rộng lớn được ghi nhận trong Hiến chương, với cơ sở hợp lý rõ ràng Đầu tiên, đây là cơ quan dân chủ, thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa các quốc gia có chủ quyền mà không bị áp đặt Thứ hai, Đại hội đồng không phải là "nghị viện" quốc tế, cho phép thảo luận mọi vấn đề liên quan đến hợp tác giữa các quốc gia, miễn là không can thiệp vào công việc nội bộ của họ Cuối cùng, Đại hội đồng không cần thông qua các quyết định liên quan đến việc áp dụng vũ lực, một vấn đề thuộc thẩm quyền riêng biệt của Hội đồng Bảo an.

Đại hội đồng là diễn đàn quan trọng để thảo luận các vấn đề toàn cầu, bao gồm hòa bình, an ninh quốc tế và hợp tác kinh tế - xã hội giữa các quốc gia Qua các cuộc thảo luận này, Đại hội đồng tạo điều kiện cho việc trao đổi quan điểm và đạt được thỏa thuận trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của cộng đồng Vai trò của Đại hội đồng trong việc soạn thảo các điều ước quốc tế, như Công ước về luật biển quốc tế năm 1982 và các công ước về quyền con người, là rất lớn Theo Điều 13 Hiến chương LHQ, Đại hội đồng cũng thực hiện pháp điển hóa luật quốc tế, góp phần quan trọng vào việc xây dựng một hệ thống pháp lý toàn cầu.

Đại hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu và thông qua các kiến nghị nhằm thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chính trị, đồng thời khuyến khích việc pháp điển hóa và phát triển tiến bộ của luật quốc tế.

Đại hội đồng tổ chức các cuộc họp thường kỳ hàng năm, cuộc họp bất thường và cuộc họp đặc biệt để thực hiện các hoạt động cơ bản của mình, với sự hỗ trợ từ hơn 200 cơ quan phụ trợ Trong các cuộc họp thường kỳ, các cuộc họp toàn thể là quan trọng nhất, nơi các nguyên thủ quốc gia, chính phủ và lãnh đạo trình bày quan điểm về các vấn đề quốc tế trong ba tuần đầu tiên Ngoài các cuộc họp toàn thể, Đại hội đồng còn hoạt động thông qua các uỷ ban như uỷ ban chung, uỷ ban kiểm tra tư cách đại biểu và bảy uỷ ban chuyên môn khác Quyết định của Đại hội đồng được thông qua dựa trên nguyên tắc mỗi thành viên một phiếu, với các vấn đề quan trọng yêu cầu quá bán tối đa tương đối (2/3 số thành viên có mặt tham gia bỏ phiếu).

16 bán tối thiểu tương đối (50% + 1 phiếu của số thành viên có mặt tham gia bỏ phiÕu)

Các vấn đề quan trọng bao gồm bầu cử uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an, thành viên của Hội đồng Kinh tế - xã hội, và Hội đồng Quản thác, cùng với việc kết nạp, bãi miễn thành viên và đình chỉ quyền ưu đãi của họ Hệ thống quản thác và ngân quỹ mang tính chất pháp lý, có nghĩa vụ thi hành, trong khi các vấn đề khác, bao gồm hòa bình và an ninh, chỉ mang tính chất khuyến nghị.

Hội đồng Bảo an

Hội đồng Bảo an đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ quốc tế và bảo vệ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh Từ năm 1946 đến 1986, Hội đồng đã tổ chức hàng trăm cuộc họp và thông qua 580 nghị quyết liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế Các quyết định của Hội đồng không chỉ giúp ngăn chặn đổ máu và thiệt hại về tính mạng, tài sản mà còn đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp toàn cầu.

Các quyết định của Hội đồng Bảo an không chỉ là công cụ giải quyết tranh chấp mà còn là các văn bản pháp lý quốc tế, thể hiện sự dung hòa ý chí của các quốc gia Điều 25 của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định rằng các thành viên phải phục tùng và thực hiện các quyết định và nghị quyết của Hội đồng Bảo an, do đó chúng có ý nghĩa bắt buộc đối với các quốc gia.

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hội đồng Bảo an có thẩm quyền sử dụng các công cụ và phương thức của LHQ để giải quyết các vấn đề quan trọng như ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, hạn chế cuộc chạy đua vũ trang, thực hiện giải trừ quân đội, và củng cố hệ thống an ninh quốc tế.

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, với vai trò là cơ quan lãnh đạo chính trị, hoạt động theo Hiến chương và đại diện cho tất cả các thành viên nhằm thúc đẩy hòa bình và an ninh quốc tế.

Hội đồng Bảo an là cơ quan duy nhất trong các cơ quan chính của Liên Hợp Quốc có thẩm quyền quyết định về việc duy trì và khôi phục hòa bình, an ninh quốc tế.

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, chỉ có Hội đồng Bảo an mới có thẩm quyền quyết định việc tiến hành các chiến dịch quân sự bằng lực lượng vũ trang Để thực hiện các chiến dịch này, Hội đồng Bảo an sẽ quyết định về việc thành lập lực lượng vũ trang, xác định nhiệm vụ, chức năng, thành phần, số lượng, cơ cấu chỉ huy và các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chiến dịch, bao gồm thời hạn và tài chính.

Hội đồng Bảo an có quy chế biểu quyết đặc biệt trong việc thông qua các quyết định, phản ánh tính chất phức tạp của quan hệ hợp tác quốc tế Điều này được hình thành từ nhiều yếu tố lịch sử và chính trị khác nhau, tạo nên sự độc đáo trong cơ chế hoạt động của tổ chức này.

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc gồm 15 thành viên, trong đó có 5 thành viên thường trực (Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc và trước đây là Liên Xô) và 10 thành viên không thường trực được bầu theo quy định của Hiến chương Cấu trúc này giúp Hội đồng Bảo an hoạt động hiệu quả và nhanh chóng, đồng thời duy trì sự cân bằng giữa các thành viên thường trực và không thường trực.

Trụ cột của Hội đồng Bảo an là các thành viên thường trực, được xác định dựa trên nhiều yếu tố như vai trò trong đời sống quốc tế, lãnh thổ, dân cư, trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật, tiềm lực quân sự và vai trò chống xâm lược trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Quy chế thành viên thường trực được quy định trong Hiến chương, với quyền ngang nhau trong thảo luận và quyết định các vấn đề Hiến chương không chỉ đảm bảo sự thường trực của Hội đồng Bảo an mà còn ấn định nguyên tắc nhất trí trong hành động để nâng cao hiệu quả hoạt động Mức độ hợp tác giữa các uỷ viên thường trực ảnh hưởng lớn đến kết quả của Hội đồng và tình hình thế giới, như trong thời kỳ chiến tranh lạnh hiệu quả thấp và khả quan hơn sau đó Quy chế này vừa tạo điều kiện cho các uỷ viên đóng góp vào việc củng cố hòa bình và an ninh quốc tế, vừa đặt ra trách nhiệm cho họ trong sứ mệnh này.

Các uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của Hội đồng Họ được Đại hội đồng bầu ra để đảm bảo sự đại diện và tham gia đa dạng trong quá trình ra quyết định.

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc có 18 ghế bầu cho các uỷ viên không thường trực với nhiệm kỳ hai năm Để một quốc gia được bầu vào vị trí này, cần đáp ứng các điều kiện như vai trò trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế cũng như phân bố theo khu vực địa lý Quy trình bầu cử uỷ viên không thường trực khá phức tạp, thường yêu cầu nhiều đợt bỏ phiếu Tuy nhiên, gần đây đã có sự thay đổi trong quy trình đề cử, giúp việc bầu cử diễn ra nhanh chóng hơn.

Từ năm 1965, số lượng các ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an đã tăng từ 6 lên 10, theo sự sửa đổi các khoản 1, 2 và 3 Điều 27 của Hiến chương Sự thay đổi này không chỉ làm thay đổi đáng kể trình tự thông qua quyết định tại Hội đồng Bảo an mà còn nâng cao vai trò của các ủy viên không thường trực Để thông qua các quyết định về vấn đề thủ tục, cần ít nhất 9 ủy viên đồng ý.

Chín uỷ viên của Hội đồng Bảo an phải đạt được sự đồng thuận, với điều kiện có phiếu nhất trí từ năm uỷ viên thường trực, mỗi người trong số họ đều có quyền phủ quyết Nếu tất cả năm uỷ viên thường trực bỏ phiếu trắng hoặc từ chối biểu quyết, thì số phiếu của các uỷ viên không thường trực sẽ đủ để thông qua quyết định liên quan đến các vấn đề hòa bình và an ninh nhân loại.

Theo Nghị quyết Đại hội đồng số 1991 ngày 19 tháng 12 năm 1963, số ghế của các uỷ viên không thường trực được phân bổ như sau: 5 uỷ viên từ châu Á và châu Phi, 1 uỷ viên từ Đông Âu, 2 uỷ viên từ châu Mỹ La tinh, và 2 uỷ viên từ Tây Âu và châu Đại dương.

Ngày đăng: 05/10/2023, 05:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w