1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình lịch sử tiếng việt

272 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Lịch Sử Tiếng Việt
Trường học Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 272
Dung lượng 24,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn làm đượ c điều này, nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt phải có trong tay một nguồn tư liệu khá p h o n g phú thuộc nhiều ngành khoa học nhân văn khác nhau: tư liệu t huần ngôn ngữ họ

Trang 2

TRẦN TRÍ D Õ I

GIÁO TRÌNH

NHÀ X U Ẩ T BẢN GI ÁO DỤC VI ỆT N A M

Trang 3

C ô n g ty C ổ p h ầ n S á c h Đ ạ i h ọ c - D ạ y n g h ề

- N h à x u ấ t b ả n G i á o d ụ c V i ệ t N a m g i ữ q u y ề n c ô n g b ố t á c p h ẩ m

Trang 4

MỤC LỤC

Nh ữ ng chữ viết tắt 6

Quy ước trình b à y 7

Lời nói đ ầ u 9

Chương I : VỊ TRÍ CỬA TIÉNG VIỆT TRONG KHU v ự c NG Ô N N G Ừ - VĂN HOÁ Đ Ô N G N A M Á 13

1.1 N h ữ n g nét chính về địa lý ngôn ngữ - văn hoá vùng Dông Na m Á , 14

1.1.1 Các nước Đông Nam Ả và địa lý ngôn ng ữ - văn hoá vùng Đông Nam Á 15

1.1.2 Vê một vài đặc điêm địa lý ngôn ngữ - văn hoá vùng D ông Nam Á 20

1.2 Giản yếu về các họ ngôn ngữ ở vùng Đô n g N a m Á văn h o á 29

1.2.1 Gian y ế u về các họ ngôn ngữ ớ D ông Nam Ả văn h o á 29

1.2.2 vè họ ngôn ngữ Nam Á ở Đ ông Nam Ả văn h o á 39

1.2.3 Nhỏm ngôn ng ữ Việt - M ư ờ n g 47

C hương I I: C H U N G Q U A N H VÁN ĐỀ N G U Ỏ N G ỐC C ỦA T I Ế NG V I Ệ T 60

2 1 v ề k h u y n h h ư ớ n g k h ô n g x ế p t i ế n g V i ệ t v à o h ọ n g ô n n g ữ N a m Á 60

2.1.1 về ỷ kiến “tiếng Việt chi là nhánh thoái hoá cùa tiếng Hán ” 61

2.1.2 về ỷ kiến xếp tiếng Việt vào họ Nam Đảo (Mã laiĐa đ ả o ) 64

2.1.3 về ỷ kiến xếp tiếng Việt vào các ngôn n g ữ Thái 68

2.2 Cơ sở cho việc xếp ti ếng Việt vào họ ngôn ngữ N a m Á 78

2.2.1 Những lập luận chính của A.G H au d rico u rt : 78

2 2.2 Những bố sung cho lập luận của A.G H au d rico u rt 88

2.2.3 Bài học lý luận từ việc xác định nguồn gốc của tiếng Việt 92

Trang 5

Q U Á T R Ì N H P H ÁT T RI ẾN CỦA T I Ế NG V I Ệ T 98

3.1 Cơ sở để phân định các giai đoạn lịch sử tiếng V i ệ t 99

3.1.1 Tư liệu ngôn ngữ là cơ s ở để p h â n định các giai đoạn p h á i triển trong lịch s ử tiếng Việt 100

3.1.2 Vấn để tư liệu dùng trong nghiên cứu lịch sử tiế n g Việt 107

3 2 C á c g ia i đ o ạ n p h á t t r i ể n c h í n h t r o n g lị ch s ử t i ế n g V i ệ t 126

3.2.1 Giai đoạn p h á t triển Môn - Khmer (Mon - K h m e r) 127

3.2.2 Giai đoạn tiền Việt - M ường (Proto Việt - M ư ờ n g ) 130

3.2.3 Giai đoạn Việt - M ường cổ (Archaic Việt - M ư ờ n g ) 1 39 3.2.4 Giai đoạn Việt - M ường chung (Việt - M ường c o m m o n ) 146

3.2.5 Giai đoạn tiếng Việt cổ ịO ỉả Vietnamese) 1 55 3.2.6 Giai đoạn tiếng Việt trung cổ (Middle Vietnamese) 164

3.2.7 Giai đoạn tiếng Việt hiện đại (Modern Vietnam ese) 168

Chương IV : M Ộ T VÀI BIẾN ĐỔI C HÍ NH T R O N G LỊCH SỪ PHÁT TRIÊN CỦA TIÉNG VIỆT 175

4.1 Một vài biến đổi chính về ngữ âm lịch sử t iếng V i ệ t 175

4.1.1 Quy luật vô thanh hoá trong ngữ âm lịch sử tiếng Việt 1 75 4.1.2 Quy luật mũi hoá trong ng ữ âm lịch s ử tiếng Việt 186

4.1.3 Tiểu kết cho mục 4 1 198

4.2 T ừ nguyên, từ vựng và ngữ pháp lịch sử tiếng V i ệ t 199

4.2.1 Vấn để từ nguyên trong lịch sử tiếng Việt 199

4.2.2 Vấn đề từ vựng và ngữ p h á p lịch sử tiếng Việt 206

Chương V : M Ộ T VÀI VẨN ĐỀ VĂN H O Á GẮN LIỀN VỚI LỊ CH S Ử T I Ế NG V I Ệ T 21 8 5 1 T ì m hiểu sự đa d ạ n g văn hoả trong lịch s ử dân tộc V iệt N a m q u a lịch sử tiến g V i ệ t 21 8 5.1.1 Lịch s ử tiếng Việt trong tiến trình lịch s ử dân tộc Việt N a m 21 8 5.1.2 Lịch sử tiếng Việt và dấu tích về sự đa dạng văn hoá trong lịch sừ dân tộc Việt N a m 231

Trang 6

5.2 Vấn đề c h ừ viết của người Việt nhìn từ góc độ lịch sử tiếngViệt 2455.2.1 Nói thêm về thời điêm xuất hiện chữ N ỏ m 2465.2.2 Chừ Quốc ng ữ trong lịch sử tiếng Việt 253

Trang 7

NHỮNG CHỮ VIÉT TẮT TRONG GIÁO TRÌNH

1) C H X H C N : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

2) C H D C N D : Cộng hoà dân chủ nhân dân

3) TM: Ti ếng Mườn g

4) TV: Ti ếng Việt

5) VMC: Việt - Mư ờ n g chung

6) T VM: Tiền Việt - Mư ờ n g

7) T ĐVB L: T ừ điển Việt - Bồ - La

8) T VA N: Từ vị A n n a m - Latinh

9) IPA: C h ữ phiên âm quốc tế (I nternat ional Phoneti c Alphabet ) 10) TP: Ti ếng Pháp

11) TCN: Tr ước công nguyên

12) VX: Việt - Xô ( Tư liệu tiếng Mường)

Trang 8

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1 Tr ong cuốn sách này, có hai cách ghi các ví dụ minh hoạ Cách thứ nhất, về cơ bản, là theo cách ghi của chữ Quốc ngữ. Cách ghi này tuy có tiện lợi về mặt ấn loát, dễ hiểu cho nhiều độc giả nhưng không thật chính xác về ngữ âm như cách ghi theo phiên âm quốc tế Cho nên hầu hết các ví

dụ ghi theo kiểu này, các con chữ không được để trong ngoặc vuông ([ ]).Cách ghi thứ hai là cách ghi theo phiên âm quốc tế IPA Cách ghi này, về cơ bản, được chúng tôi sử dụng theo phông chù' cùa “ SIL Int ernational Publi shi ng Ser vi ces ” Cách ghi này chỉ được dùng trong một

số t r ườ n g hợp có thể, nhằm cung cấp các ví dụ minh hoạ chính xác về ngữ âm Cách ghi theo phiên âm quốc tế IPA, tuy vậy, cũng có những

t r ườ n g hợp không có ký hiệu để thể hiện giá trị ngừ âm cần thiết trong nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Đối với n h ững t r ường hợp như thế, chúng tôi có thế kết hợp t hêm những ký hiệu phụ (ví dụ con c h ữ thể hiện âm [o]

có dấu hai chấm (:) bên cạnh sẽ t hành [o:j để chỉ âm ô dài). Khi thêm ký

hi ệu phụ cho các ký hiệu cùa IPA, chúng tôi sẽ chú thích rõ từng t r ường hợp cụ thể

2 Tr ong cuốn sách, c húng tôi có sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn khác nha u để mi nh hoạ v ề đại thể, chúng tôi đều giữ theo cách ghi cùa tài liệu nguồn dế người đọc có điều kiện theo dõi lập luận của những tài liệu ấy hoặc c ứ liệu gốc mà họ đã sử dụng Ch ẳ n g hạn, khi lấy n hững ví dụ từ

tiếng Cuối trong bài của M Ferlus, chúng tôi sẽ vẫn dùng con số để ghi thanh điệu của ngôn ngữ này như tác giả đã làm T r o n g khi đó, những ví

dụ tiếng Mường lấy từ từ điển do Nguyễ n Văn Khang và đồng sự biên soạn, c húng tôi lại để nguyên cách ghi thanh điệu đã có trong từ điển

3 Để giảm bớt số lượng con chữ, tr ong cuốn sách, thỉnh t hoảng

c húng tôi cũng sử d ụ n g mộ t số c hữ viết tắt Tuy nhiên, n h ững chữ viết tắt này đều ghi sau khi đã có những dạ ng thức đầy đủ và đặt c húng trong dấu ngoặc đơn Ví dụ, cách viết tắt T V chỉ được dùng sau khi đã có sự giải thích tiếng Việt và đặt trong ngoặc đơn (TV),

4 Tr ong cuốn sách này, ngoài việc chúng tôi lập danh sách tài liệu tham khảo ở phần cuối, chúng tôi còn liệt kê những tài liệu đọc thêm ở mỗi một chương viết Cách làm này là để phân biệt những tài liệu được người

Trang 9

biên soạn sử dụng để biên soạn sách và những tài liệu người đọc cần dọc thêm để hoàn chỉnh kiến thức thu nhận của mình Do đó, phần tài liệu đọc thêm này dược chúng tôi cân nhắc và chỉ liệt kê ở mức độ vừa phải.

5 Là một cuốn sách viết về lịch sử ngôn ngữ, t heo t h ô n g lệ, c h ú n g tôi

sử dụng một số ký hiệu sau đây:

- Dạ ng thức ngữ âm được tái lập hay dạ ng tiền ngôn ngữ (pr ot ot vp) được thể hiện bằng dấu hoa thị bên trái con c hữ (ví dụ: *k) Đâ y là dạng thức ngữ âm được già định nó tồn tại trong lịch sử ngôn ngữ c h ứ không phải là dạng thức có t hực hiện nay

- Dấu > có nghĩa là chuyển đổi thành. Ví dụ: *k > g, có nghĩ a là dạng thức tiền ngôn ngữ, phụ âm *k đã chuyển đổi t hành phụ âm g hi ện nay chẳng hạn

- Dấu ~ có nghĩa là h oặc/ hay, tức là có thể t ương ứng như thế này, cũng có thể t ương ứng như thế kia Ví dụ: *k > g ~ k h, có nghĩ a là *k

chuyển thành g hoặc kh tuỳ theo t ừng điều kiện

Trang 10

LỜI NÓI ĐÀU

T r o n g nhiều năm gần dây nhu cầu hiểu biết về lịch sử tiếng Việt

k h ô n g chi là một nhu cầu về học thuật của các nhà ngôn ngữ học, lịch sử dân tộc, lịch sử văn hoá, mà còn là một nhu cầu của d ô n s đào bạn đọc khác nhau Bới vì nếu có thể hiếu biết đầy đù về lịch sử tiếng Việt, người

ta sẽ hiểu rõ hơn lịch sử phát triển văn hoá truyền thống của dân tộc Sở dĩ

có thể nói được như vậy là vì ngôn ngữ của bất kỳ một dân tộc nào cũng đồng thời vừa là phương tiện thể hiện nét đặc trưng văn hoá của dân tộc, vừa là t hành tố cấu t hành nên nền văn hoá đó

T ừ lâu đã có rất nhiều người vẫn đặt cho mì nh một câu hỏi tại sao

t i ếng Vi ệ t của dân tộc Việt N a m trải qua mấy nghìn năm thử thách (đất nước liên tục bị ngoại xâm thôn tính và chia cắt, dân tộc không ngừng chịu sức ép cùa chính sách đồng hoá) mà vẫn giữ được sắc thái riêng cùa

nó, đáp ứng đượ c nhu cầu là p h ươ n g tiện giao tiếp để giữ vừng tinh thần

và ý chí cho sự phát triển dân tộc Nói mộ t cách khác, trong sự phát triển của dân tộc đế có đ ượ c như ngày hôm nay, đ ươ n g nhiên có sự đóng góp qua n t r ọ n g cùa ngôn ngữ dân tộc với tư cách là c ông cụ giao tiếp quan

t r ọng nhất

Vấn dề là n h ư vậy n h ưng cho đến nay lịch sử tiếng Việt vẫn còn chưa đượ c các nhà ngôn ngữ học nước ta quan tâm một cách đúng mức Lý do thi có nhi ều n h ưng có lẽ cái chính là vì tr ong nghiên cứu ngôn ngữ, việc

n ghi ê n cứu lịch sử t i ếng Việt vừa có cái phức tạp vừa có cái hàn lâm của

nó Cái phức tạp thể hiện ở chỗ tuy là bộ môn nghiên cứu của ngôn ngữ học nhirng vấn đề mà nó quan tâm lại nằm ờ chỗ giao t hoa giữa ngôn ngữ học, lịch sử dân tộc, lịch sử văn hoá dân tộc và dân tộc học khu vực, Cho nên, để tiếp cận một vấn đề như vậy, c húng ta phải làm sầo vừa đứng trên n g uyê n tắc của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử (historical and

c o mp a r a t i v e linguistics, c o mp a r a t i v e) vừa phải tính đến tất cả các yếu tố ngoài ngôn n g ữ có tác động đến lịch sử phát triển cùa tiếng Việt Muốn làm đượ c điều này, nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt phải có trong tay một nguồn tư liệu khá p h o n g phú thuộc nhiều ngành khoa học nhân văn khác nhau: tư liệu t huần ngôn ngữ học, tư liệu lịch sử, tư liệu văn hoá, tư liệu dân tộc học, tư liệu địa lý học, Vậy là c h ú n g ta có thể nhận thấy sự phức tạp cùa việc nghi ên cứu lịch sử tiếng Việt nằm ở mức nào

Trang 11

Còn cái hàn lâm cùa công việc thể hi ệ n ở chỗ, nói đến lịch sử t i ếng Việt có thể nói ờ mức độ đại cươ n g , n h ư n g c ũ n g có thể nói mức độ chuyên sâu tới mức không phải nhi ều ngườ i đều đã có đủ cơ sở ban đầu

để theo dõi nó Ch ẳ n g hạn, khi nói về n g ữ âm lịch s ử của t i ếng Việt, việc xác lập một quy luật ngữ âm của nó t ừ khởi thủy cho đến hiện nay vừa trừu t ượng, vừa phải tôn tr ọng n ghi ê m ngặt n h ữ n g q u y tắc biến đổi lịch sử

mà nếu chưa tr ang bị đầy đù về ngôn n g ữ học so sánh - lịch s ử người ta

sẽ rất khó t heo dõi T h ê m vào đó, để có đ ư ợ c tư liệu cho nghi ên cứu lịch

sử ti ếng Việt, chúng ta không thể có nga y đượ c n h ư khi nghiên cứu ngữ pháp, từ vựng hay ngữ âm tiếng Việt Đe làm đượ c điều này, ngoài việc nghiên cứu những văn bản cổ liên q u a n đến ngôn ngữ có t r ong lịch sử người ta nhất định phái nghiên cứu kỹ p h ư ơ n g ngữ t i ếng Việt, nghiên cứu

ở mức cần thiết n h ững ngôn ngữ hay thổ n g ữ có q u a n hệ họ hàng với tiếng Việt,

Có lẽ chính sự phức tạp và hàn lâm c ủa c ô n g vi ệc, cộng với sự eo hẹp

về thời gian đủ để giải thích vì sao vấn dề lịch sử t i ếng Việt tuy hấp dẫn

và có nhu cầu cao trong xã hội như vậy n h ư n g có thể nói, cho đến nay, vẫn chưa thực sự lôi cuốn nhiều nhà n g ô n n g ữ học tr ong nước t ham gia giải quyết nó Tr ong khi đó, các học giả n ướ c ngoài ngay từ cuối thế kỷ

t hứ XIX đã quan tâm thảo luận đến vấn đề này

Có thể nói đóng góp của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài cho tri

t hức về lịch sử tiếng Việt là rất lớn T r ư ớ c hết, đó là H Mas pér o, nhà bác học Pháp đầu thế kỷ XX đã có một c h u y ê n luận nổi ti ếng về lĩnh vực này;

đó là A.G Haudricourt, nhà bác học Pháp bậc thầy về nghiên cứu lịch sử tiếng Việt và ngôn ngữ văn hoá vùng Đ ô n g N a m Á; đó là M Ferlus, nhà nghiên cứu Pháp đã có công lặn lội nhi ều n ă m trong nhóm Việt - Mường

để giải thích nhiều quy luật phát triển lịch sử c ủa ti ếng Việt; đó là nhà bác học Nga S.E Jakhont ov và nhiều người khác như N K Xokolovskaj a, G Diffloth, Vương Lực, Họ đã có n h ữ n g kết quả nghi ên cứu đáng khâm phục, cùng chúng ta từng bước làm sáng tỏ lịch sử phát triển của tiếng Việt

Ờ trong nước, c ũng đã có n h ữn g đ ó n g g ó p q u a n trọng của các nhà nghiên cứu như GS Ng u y ễ n Tài c ẩ n , GS N v St a nke vi c h, GS Vương Lộc, GS Phạm Đức Dương, GS H o à n g Thị Châu, và nhiều nhà nghiên cứu ở mi ền N a m trước đây Tr ong số n h ữ n g nhà n g hi ê n cứu t r ong nước,

GS Ng u y ễ n Tài c ẩ n là người dành n h i ề u c ô n g sức và thu được những kết

Trang 12

qua có giá trị tổng kết nhất N h ờ n h ữn g kết quả đã công bố của giáo sư như cách dục Hán - Việt, lịch sử ngữ â m tiếng Việt, việc phân kỳ lịch sử tiếng

Vi ệ t lịch sử tiếng Việt ngày càng dược sáng tỏ Khi viết cuốn sách này,trong ý thức, chúng tôi gấng tiếp thu, vận dụng cao nhất những thành tựu cùa các nhủ bác học đã nói ở trên cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác để giúp bạn đọc hình d u n e dược dầy đủ vấn đề lịch sử tiếng Việt Nhưng điều

đó có đạt được như mo n g mu ố n hay không thì không dề dàng chút nào

Sở dĩ chúng tôi phải nói rõ cái khó khăn và phức tạp khi nghiên cứu lịch sử tiếng Việt như trên là để độc giả hiếu rằng, việc soạn thảo cuốn

Lịch s ư tiếng Việt là một c ô n g việc quá sức của chúng tôi Biết là quá sức, n h ưn g chúng tôi vân phải làm là nhăm đáp ứng nhu câu của xã hội hiện nay Bời vì t r ong nhiều n ă m qua, không chỉ sinh viên chuyên ngành

Ng ô n -ngữ học, sinh viên c h u y ê n ngành Lịch sử, chuyên ngành Văn hoá

t hi ếu sách tham khảo mà cả đ ô n g đảo bạn đọc khi muốn có được một

t h ô n g tin cập nhật về một t h à n h tố văn hoá quan tr ọng trong quá trình phát triến lịch sử người Việt là ngôn ngữ đế phục vụ cho chuyên môn cùa

mì nh vẫn chưa có đủ sách để t h a m khảo Và để khoả lấp sự thiếu hụt đó, nhiều khi người ta đã phải sử d ụ n g n h ững tài liệu chưa đầy đủ và chưa hệ

t hống viết về lịch sử t i ế ng Việt

C h í n h vì trong m ộ t tình hì nh n h ư vậy, c húng tôi k h ô n g có t ham vọng nói tới tất cả những vấn đề c ủa lịch sừ tiếng Việt mà chỉ lựa chọn những vấn đề c ơ bàn nhất để trình bày t r o n g cuốn sách này Đồ n g thời c húng tôi

c ũ n g lường trước đ ượ c rằng, sẽ có rất nhiều những thiếu sót khó bề tránh khỏi Clúing tôi mo n g mu ố n và c ả m tạ trước các bạn đọc xa gần sẽ góp ý kiến cho chúng tôi để việc n g h i ê n c ứu lịch sử tiếng Việt ngày càng đầy đủ hơn và chính xác hơn

Bả n thảo ban đầu của c u ố n s á c h này dưới dạ ng t ập Bài giả n g và sau

đó là Giáo trình (sơ th à o) do c h ú n g tôi biên soạn đã đượ c trình bày nhiều năm cho sinh viên, học viên c a o học và nghiên cứu sinh cùa nhiều khoa thuộc tr ường Đại học T ổ n g h ợ p H à Nội và nay là t r ường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn T ậ p bài giảng và giáo trinh ấy đã nhận được Sừ góp ý t hẳng thắn, chi tiết của GS TS Phạm Đức Dương, GS TS Đinh Văn Đức, GS TS Lê Q u a n g T h i ê m , GS.TS Ng u y ễ n Thi ện Giáp, GS.TS

N g u y ễ n Văn Khang, GS TS N g u y ễ n Đức Tồn và PGS TS Nguyễn Hồng Con với trách nhi ệm là t h à n h viên của các Hội đồng nghi ệm thu tập Bài

Trang 13

giángGiáo trình. N h ữ n g đóng góp quý báu nói trên là sự động viên lớn lao đối với c húng tôi, giúp chúng tôi bố sung đề có tập sách này Khi đọc cuốn Giáo trình (sơ thào), GS Phạm Hồng Q u ý ( Tr ung Qu ố c ) đã có

n h ững góp ý và c ung cấp t hêm tư liệu cho c húng tôi N h â n đây, xin bày tỏ lòng biết ơn của c húng tôi về sự chia sẻ và giúp đ ỡ đó

T h ư góp ý xin gửi về: Công ty c ổ phần s ách Đại học - Dạy nghề

H E V O B C O , Nh à xuất bản Giáo dục Vi ệt N a m , 25 H à n T h u y ê n - Hà Nội

K h ở i thảo ngày 5 - 4 - 1 9 9 9 Hoàn thành tại Hà N ội ngày 5 - 4 - 2011

( Nh ữn g ngày Giỗ T ổ H ù n g V ư ơ n g năm 201 1)

T R Ả N TRÍ DÕI

Trang 14

Chương I

VỊ TRÍ CỦA TIẾNG VIỆT TRONG KHU vực

NGỒN NGỮ - VĂN HOÁ ĐÔNG NAM Á

Tr o n g nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, khi nói tới lịch sử cùa một ngôn ngữ cụ thể, t hường t h ư ờ n g người ta phải định vị nó thuộc vào một họ ngôn ngữ hào đó và tr ong một vùng địa lý xác định Điều đó cũng có níỉhĩa là neười ta sẽ đặt vấn đề xem xét lịch sử phát triển của ngôn ngữ ấy

tr ong bối cảnh địa lý - văn hoá của một khu vực cụ thể Đối với t r ường hợp tiếng Việt, c ô n g việc này về thực chất là xác định xem tiếng Việt có

bà con họ hàng, hay nói một cách khác có liên hệ về nguồn gốc với những ngôn ngữ nào ở khu vực Đông N a m Á, mộ t địa bàn hay một vùng địa lý

mà Việt Nam là mộ t phầ n lãnh thổ cấu thành nên nó Nói một cách khác,

tr ước khi xem xét lịch sử phát triển của ti ếng Việt, c h ú n g ta sẽ phải xem xét n h ững vấn đề địa lý - văn hoá của khu vực Đô n g N a m Á

Nh ư chúng ta đều biết, việc nghiên cứu nguồn gốc ngôn ngữ và quá trình phát triển của nó là công việc của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử Khuynh hướng nghi ên cứu này của khoa học ngôn ngữ ra đời từ cuối thế

kỷ XVI11 ở châu Âu N ó rất phát triển ở thể kỷ thứ XIX với việc xác lập

họ ngôn ngữ Ẩn - Âu và đã thu đượ c n hững kết quả rất quan trọng cả về mục đích cũng n h ư p h ư ơ n g pháp N h ữ n g hệ t hao tác mà khuynh hướng nghiên cứu này xác lập nên đã c ung cấp và giúp cho các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu n h ữ n g họ ngôn ngữ ở n h ững vùng khác nhau trên thế giới.Vào thế kỷ XX, c ù n g với việc hoàn chình n h ữn g thành tựu đã thu được trước đây, c ù n g với việc mở r ộng địa bàn ngôn ngữ được nghi ên cứu

ở những vùng địa lý k há c nhau, ngôn ngữ học so sánh - lịch sử vươn tới xác lập họ hàng ngôn n g ữ ở những vùng lãnh thổ khác ngoài địa bàn Ẩn -

Âu trong đó có vùng châu Á và Đ ô n g N a m Á Việc nghi ên cứu nguồn gốc và quá trình phát triển lịch sử của tiếng Việt chính là một tr ường hợp

áp dụng phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử đối với những ngôn ngữ cụ thể ở vùng Đô n g N a m Á này Do đó, việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, n h ờ tính đặc thù của nó, sẽ góp phần bổ sung và làm phong phú các thao tác của khuynh huớng nghiên cứu so sánh - lịch sử ngôn ngữ nói chung và ở Việt Nam cũng như vùng Đông N a m Á nói riêng

Trang 15

N h ư trên đã nói, với góc nhìn so sánh - lịch sử như vậy, trước khi trình bày n h ũ n g vấn đề cụ thể về nguồn gốc và quá trình phát triển của

t i ếng Việt, nhất thiết chúng ta phải tìm hiểu những vấn đề địa lý liên quan đến tiếng Việt Bởi vì, mối liên hệ giữa lịch sử phát triển, t ức về mặt thời gian, với môi t r ường phát triển, tức về mặt không gian, là mối liên hệ có tính bản chất của bất kỳ một sự phát triển nào Đối với ngôn ngữ học, mối liên hệ này đã được F Saussure, nhà ngôn ngữ học đặt nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại, phân tích khá rõ trong Giáo trình N gôn ngữ học đại cương khi ông trả lời cho câu hỏi do chính ông nêu ra về nguyên nhân tạo nên sự khác biệt trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ: “ tính đa dạng địa lý phải được phiên dịch ra t hành tính đa dạ ng t r ong thời gian" [F de Saus s ur e (1973), tr.334] N h ư vậy, vấn đề nhận biết rõ môi t r ường địa lý

mà ở đó ngôn ngữ phát triển là một đòi hỏi có tính lý luận trong nghiên cứu so sánh - lịch sử Ở mặt cụ thể, khi nhận biết rõ môi t r ường địa iý mà

ở đó tiếng Việt phát triển, c h ú n g ta sẽ có thêm điều kiện để phân biệt

nh ữn g nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ nhưng rất quan t r ọng tác động đến sự phát triển cùa ngôn ngữ, qua đó có t hêm điều kiện để nhận biết

nh ữn g mối quan hệ khác nhau liên quan đến quá trình phát triển cùa bản thân nó

VÙNG ĐÔNG NAM Á

Việt N a m là một quốc gia thuộc vùng địa lý Đông N a m Á Tr ong quốc gia đa dân tộc và vì thế đa ngôn ngữ này, tiếng Vi ệt là một ngôn ngữ của c ư dân vừa có số người nói đông đào, vừa là c ư dân c hủ thể ở Việt

N a m nên nó là mộ t tr ong số n h ữn g ngôn ngữ qua n trọng nhất ờ trong vùng Đông N a m Á Cho nên, để nghi ên cứu thật đầy dù lịch sử của ngôn

n g ữ này, tr ước hết c húng ta phải đặt và x e m xét nó t r ong bối cảnh địa lý - ngôn ngữ vùng Đô n g N a m Á, là môi t r ườ n g địa lý tự nhiên đa dạng và

p h o n g phú Khi nói rằng, đây là vùng địa lý đa dạng và p h o n g phú vì ở đó

t i ếng Việt chỉ là một trong n h ữn g cá thể tồn tại và phát triển trong suốt chi ều dài lịcn sử của mì nh bèn c ạ nh rất nhiều n h ững ngôn n g ữ khác

Nói đến vùng địa lý Đ ô n g N a m Á phục vụ cho nghi ên cứu lịch sử ngôn ngữ, c húng ta sẽ phải qua n tâm đến một nội dung, m à theo nhện

t hức của c húng tôi, liên quan đến không chỉ lịch sử ngôn n g ữ mà cả lịch

s ử văn hoá Th e o đó, vùng địa lý Đ ô n g N a m Á hoàn toàn k h ô n g bó hẹp

Trang 16

t r ong khuôn khố địa lý hành chính hiện tại mà phải mở rộng tr ong một

k h ô n g gian văn hoá có t ừ cổ xưa cho đến hiện nay Troníí không íĩian văn hoá ấy, chắc chan dã có n h ững vay mượn và tiếp xúc lẫn nhau tác dộng đên quá trình phát triển c ủa ngôn ngữ

1.1.1 Các nước Đông Nam Á và địa lý ngôn ngữ - văn hoá vùng Đông Nam Á

1.1.1.1 Việt Nam và các nước Đông Nam Á

Vào thời đi ểm hiện nay (năm 2011) ở địa bàn đa ng đượ c quan tâm, về mặt địa lý hành chính, c h ú n g ta có thể nói dến một Đô n g N a m Á với mười một quốc gia khác nhau Mỗi quốc gia tr ong vùng, không phân biệt thể chế chính trị, là một chủ thể hành chính nên có thể thấy việc liệt kê các nướ c trong khu vực là cách nhìn nhận dịa lý Đô n g N a m Á theo cách nhìn thuần tuý hành chính Do đó, chúng ta c ũ n g có thể nói đây là vùng

Đô n g N a m Á hành chính Phạm vi địa lý của vùng Đô n g N a m Á này, như vậy, là căn c ứ vào ranh giới hành chính quốc gia của mười một nước Dông N a m Á

Th e o đó, c húng ta có thể kể tên các quốc gia Đ ô n g N a m Á như sau:

a) N h ữ n g quốc gia t r ong p h ầ n đất liền (hay còn được gọi là Dông Nam Á lục địa) Ớ về phí a cực Tây Đông N a m Á lục địa là quốc gia

M i a n m a (hay trước đây có tên là Mi ến Điện) T ừ Mi a n ma , chuyển sang phía Đ ô n g là Vương quốc Thái Lan Tiếp t heo là nước C H D C N D Lào ờ

về phía Bắc và V ư ơ n g quốc C ă mp u c h i a ở về phía Na m Ờ phần phía Đông cùa lục địa Đô n g N a m Á là nước C H X H C N Việt Na m Phần iãnh thổ phía Tây của V ư ơ n g quốc Mal ayxi a ( M ã Lai), tức là bán đảo Mal ayxi a, cũng là phần lãnh thổ nằm trong lụe địa Đông N a m Á và là phần cực Nam của lục địa này

N h ư vậy, nhìn ở phầ n đất liền, ranh giới phí a Tây của vùng Đông

Na m Á hành chính là đ ư ờ n g biên giới giữa Ẩn Độ, Băngl ađét , vịnh Bengai và Mi anma; t r ong khi đó, ranh giới phí a Bắc của khu vực này là biên giới giữa Tr ung Q u ố c với các nước Mi a n ma , Thái Lan, Lào và Việt

Na m; còn lại, hai phía Đ ô n g và N a m là ven biển Đ ô n g của Việt N a m và biến Ấn Độ Dương của Mal ayxi a Ở phạ m vi địa lý này, c h ú n g ta dễ dàng nhận thấy vùng Đô n g N a m Á đất liền gắn liền với n hững phần lãnh thổ khác bên cạnh là Án Độ và Tr ung Hoa Đây là n h ữ n g vùng lãnh thổ được

Trang 17

các nhà nghiên cứu nhân văn cho rằng, vốn có nền văn hoá cổ xưa rất phát triển Tr ong thực tế hai nền văn hoá cổ xưa láng giềng k h ỏ n g chỉ giới hạn ở riêng khu vực Đô n g N a m Á mà có ảnh h ườ n g to lớn cá trên thế giới Tr ong tình hình đó, nền văn hoá Tr ung Hoa và nền văn hoá Ản Độ,

n hư mọi người đều biết, từ xưa đã có n h ững ảnh hườ ng quan t r ọ n g và sâu sắc đến sự hình thành đặc trưng văn hoá trên lãnh thổ Việt N a m Tr ong

n h ững ảnh hưở ng quan tr ọng đó, có sự ảnh h ưở n g đến việc phát triển của tiếng Việt

■ b) N h ữ n g quốc gia t huộc ph ầ n hải đảo. Ngoài phần lục địa ra, Đông

Na m Á còn có một phần quan trọng nằm ở biển Thái Bình Dư ơ n g và biển

Ẩn Độ Dương Phần lãnh thổ này t hường được gọi là phần Đ ô n g Na m Á hải đảo Phần hải đảo cùa vùng Đông N a m Á là một vùng địa lý nằm giữa biển Thái Bình Dương và biển Án Độ Dương Phía Bắc là nước C ộ n g hoà Philippin (có tên gọi khác là Phi Luật Tân); tiếp theo là hai quốc gia có diện tích không lớn Br unây và Si ngapor; sau đó là phần lãnh thổ phía Đông (phần hải đào) của Vươ n g quốc Mal ayxi a trên đảo Broneo ở phần phía N a m lãnh thổ phía Đông Vươ n g quốc Mal ayxi a là nước C ộ n g hoà

I nđônêxi a với nhiều đảo lớn nhỏ khác nhau Phần phía cực Đô n g nước

Cộ n g hoà Inđônêxi a là nước C ộ n g hoà Đô n g T i mo vừa mới thành lập

N h ư vậy, nhìn về không gian địa lý, phía Tây của các quốc gia Đông

Na m Á hải đảo là phần Đông N a m Á lục địa; ba mặt còn lại giáp với hai đại dương là biển Thái Bình Dương và biển Ẩn Độ Dương Do vị trí địa lý

n hư trên, phần Đông Na m Á hải đảo, thoạt nhìn có vẻ tách biệt với phần Đông Nam Á lục địa Tuy nhiên, về thực chất sự ngăn cản cùa biến không những không tách biệt mà còn tạo thành một vùng lãnh thồ t ương đối thống nhất N h ư sau này chúng ta sẽ thấy, sự t hống nhất ấy thể hiện ở nhiều

p hương diện khác nhau, trong đó có mặt ngôn ngữ cùa các dân tộc khác nhau trong toàn vùng Đông N a m Á Chính vì vậy, cũng có thể nói về mặt địa lý hành chính, Đông Na m Á là một vùng lãnh thổ t ương đối thống nhất

v ề mặt chính trị, hiện nay các quốc gia Đ ô n g N a m Á đa ng t ập hợp và đoàn kết trong một khối h ư ớ n g tới sự t hống nhất về kinh tế, gọi là khu vực A S E A N Sự tập hợp này, tr ong một c h ừ n g mực nào đó, là sự phản ánh một số nét t ương đồng về mặ t văn hoá truyền t hống giữa các quốc gia

t r ong khu vực Tr ong thực tế, ở khía cạnh ngôn ngừ, khu vực Đ ô n g Na m

Á đã có n h ững t ư ơ n g đồng, n h ữn g mối liên hệ, n h ữn g mối liên quan với

Trang 18

nhau khá chặt chẽ từ xa xưa Và tr ong một mức độ nhất định chính ngôn ngữ đã góp phần làm cho sự t ương đồng về mặt văn hoá giữa các quốc gia

t r ong khu vực càng thêm bền chặt không chỉ trong quá khứ trước đây, mà

•trong cả hiện tại và t ương lai

Tr ong nghiên cứu xã hội nhân văn vùng Đông Nam Á, khi nói tới địa lý hành chính, cũng có nghĩa là chúng ta chỉ nói đến trạng thủi địa lý hiện nay. Nhưng đối tượng mà chúng ta quan tâm là lịch sừ tiếng Việt Vi thế, nếu chúng ta chỉ khuôn sự phát triển của nó trong trạng thái địa lý hiện nay thì sẽ khó thấy hết những sự tiếp xúc trong quá khứ Chính vì vậy, chúng tôi cho ràng chúng ta cần nói đến một trạng thái địa lý của lịch sử. Và tạm thời chúng tôi gọi vùng địa lý ấy là vùng địa lý Đông Nam Ả văn hoá.

1.1.1.2 Vùng địa lý Đông Nam Á lịch sử hay Đông Nam Á văn hoá

N h ư đã trình bày lý do ở trên, trong tinh hình nghiên cứu hiện nay, nhất là đối với công việc tìm hiểu lịch sử ngôn ngữ, chúng ta phải nói tới một vùng Đông Na m Á khác Vùng Đông Na m Á mà chúng ta sẽ nỏi tới ở đây là một khu vực lãnh thổ địa lý không thể chỉ thuần tuý bó hẹp gồm mười một nước Đông N a m Á như đã trình bày ở trên Nó còn phải bao gồm

cả phần lãnh thổ phía N a m Tr ung Quốc và phía Đông Ấn Độ

Ở phần lãnh thổ Tr ung Quốc, tức là vùng phía Bắc của Đông N a m Á, ranh giới t ự nhiên gần n h ư t r ùng khít với sông T r ư ờ n g Gi a ng (hay còn có tên gọi khác là sông Dươ n g Tử) Còn phần phía Đ ô n g Ấn Độ hiện nay (gồm cả phần đất Bă n g l a đ é t và n hững bang t huộc vùng Đô n g sông Hằng của Án Độ) là vùng phía Tây cùa Đô n g N a m Á N h ư vậy, ranh giới tự nhiên của phần lãnh thổ Đ ô n g N a m Á văn hoá này với n h ững vùng lân cận c ũng là n h ữn g con sông lớn cùa Ấn Độ (sông Hằng) và Tr ung Quốc ( Tr ư ờ n g Giang) Và c húng ta biết đây là n h ững con sông có vị trí văn hoá rất quan tr ọng t r ong vùng lãnh thổ

Qua ranh giới tự nhiên vừa trình bày ở trên, có thể nói, địa lý Đông

Na m Á lịch sử mà c húng ta đang quan tâm là mộ t phần lãnh thổ châu Á rộng lớn hơn nhiều so với vùng địa lý Đông N a m Á hiện nay Nói một cách khác, đây chính là vùng Đ ô n g N a m Á mở rộng và là vùng lãnh thổ của các khoa học nhân văn tr ong đó có ngành ngôn ngữ học Kh ô n g gian văn hoá Đ ô n g N a m Á này đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hoá khác nhau nói đến Ch ẳ n g hạn, ở Việt Na m, khi Hà Văn Tấn nhìn nhận vùng lãnh thổ Đô n g N a m Á ở khía cạnh khảo cổ học, ông viết: “ Tr ong thời tiền

Trang 19

sử và sơ sử, vùng đất từ phía N a m sông Dương T ử nên coi là t huộc khu vực văn hoá Đông N a m Á thì đúng hơn là t huộc Đ ô n g Á ” [Hà Văn Tấn (1981), tr.l 86] Hay như Đào Duy Anh khi viết về đị a lý lịch sử Việt Nam

đã cho biết rằng: “ sách Độc sử p h ư ơ n g dư kỷ yếu c ủ a c ố Tổ Vũ xuất bản năm 1667, từ quyển 106 đến quyển 112 nói về t ỉ nh Q u ả n g Tây có mục phụ lục chép nhiều tài liệu địa lý học về nước t a” [ Đào Duy Anh (1997),

tr 15] Với cách nhìn nhận vùng Đông Na m Á văn hoá không bị bó hẹp

n hư thế, có thể nói vùng Đông Na m Á mà chúng ta qua n tâm có địa lý đấl liền t ương đối rộng, nằm giữa hai tiểu lục địa Ấn Độ và Tr ung Hoa Ờ đó, trong quá trình phát triển cùa mình, ti ếng Việt đã có n h ững tiếp xúc vay

mư ợ n với nhiều ngôn ngữ khác nhau của những c ộ n g đ ồ n g cư dân khác nhau trong khu vực

Hình 1.1: Anh Bức hoạ Hoa Sơn trên vách đá (huyện Ninh Minh, Sùng Tả,

Trang 20

hoá I rung Quốc xác định là có cách chúng ta ngày nay khoảng 2400 -

2600 năm hai học giả Hoà ng Nh ữ Huấn và Hoàng Hỷ đã cho rằng, những hình vẽ trong bức “ nhai bích h o ạ ” này hình như không chì mô tả những bước nhảy của " c ư dân Lạc Việt (#fl / H) ” mà còn thể hiện " p h o n g tục hôn nhân cồ dại của người Lạc Vi ệ t ” [ Hoàng N h ữ Huấn (2005)] Đây là một bức hoạ cổ xưa được cho là có từ thời Tần Hán, vẽ trên vách đá t huộc dãy núi chạy dọc sông Mi n h Giang, đoạn ở huyện Ni nh Minh tỉnh Quả ng Tây Với cách mô tả giả đị nh của hai học giả nói trên, người ta có quyền nghĩ rằng, chú nhân bước nhảy t r ong bức hoạ Hoa Sơn gắn liền với cư dân Lạc Việt Mà nói đến cư dân Lạc Việt, người ta không thể không nói đến vùng

Đô n e N a m Á văn hoá Điều đó cũng có nghĩa bức hoạ Hoa Sơn ở Tr ung Quốc còn lưu lại cho đến ngày nay cho c húng ta biết rằng nơi đây cổ xưa

là một vùng văn hoá gắn liền với vùng Đông N a m Á hiện nay

Một người nước ngoài khác, nhà nghiên cứu người Pháp M Ferlus khi bàn về tên gọi “ V i ệ t ” từ góc độ từ nguyên học lịch sử cũng đã cho

c h ú n g ta biết mộ t tình hình t ương tự Tr ong bài viết cùa mì nh, ông đã viết rằng: “ T h u ậ t n g ữ y u è ( l i ) được nhắc đến lần đầu tiên trong bộ Sử Ký (Shijì ) của T ư Mã Thi ên ( Si mă Qian pj | f ị f , 145 - 86 T CN) trong tập hợp Bách Việt ( Bă i y u è có nghĩa là trăm họ/trăm nước). Đây làcách gọi của người T r u n g Quốc dùng để chỉ n h ững c ư dân phía Na m sông Dươ n g Tử ( Yángzi ĩ ^ ) Thuật ngữ Việt (ỵuè ÍỀ) cũng thấy được ghi trong Hán T h ư ( H à n s h ú m m là cuốn sách ghi lại lịch sử thời tiền Hán (206 T C N - 25), ví dụ Lạc Việt (Luòyuè 81 ÍỀ ) là người Việt có vật tổ là

c h i m [M Perl us (2008) , t r l ] Với cách viết này rõ ràng đối với ông, vùng văn hoá Việt t r o n g đó có Lạc Việt mà sử sách Tr ung Quốc cổ xưa đã viết bao gồm cả phần N a m Tr ung Quốc, tức “ phía N a m sông Dương T ử ”

N h ư vậy, xin nhấn mạ nh đến việc phân biệt giữa vùng Đông N a m Á hành chính đã đ ượ c trình bày ở phần trên với vùng địa lý mà c húng tôi gọi đây là vùng Đ ô n g N a m Á lịch sử, hay vùng Đ ô n g N a m Á văn hoá hay với nghĩa rộng hơn nữa là vùng Đông N a m Á nhân văn Sự phấn biệt này

là cần thiết cho nghi ên cứu lịch sử ngôn ngữ Vì vùng Đông N a m Á văn hoá mới chính là v ù n g địa lý mà trong đó n hững vấn đề biến đổi ngôn ngữ

đã xảy ra và là địa bàn mà ờ đó các ngôn ngữ thuộc nhánh Môn - Kh me r bao gồm n h ó m Việt - Mường, nhóm ngôn ngừ trong đó có tiếng Việt và

Trang 21

các ngôn ngữ Việt - Mư ờ n g khác, phát triên t ừ cô x ưa cho đên ngày nay Người ta có thể nói tới điều đó là vì các nhà nghi ên cứu lịch sử ngôn ngữ

ở khu vực dườ ng như đều nhất trí ghi nhận rằng, n h á n h ngôn ngữ Môn - Khmer , nhánh ngôn ngữ cội nguồn cùa tiếng Việt, phân bố hầu như rộng khắp ở vùng lãnh thổ này Bởi thế, nếu c húng ta chỉ x e m xét lịch sử tiếng Việt ở phần lãnh thổ Việt N a m thì sẽ chưa hoặc khó có thể có mộ t cách nhìn đầy đù và toàn diện về vấn đề đang được quan tâm

N h ư vậy, khi nói tới vùng Đông Na m Á văn hoá, chúng ta sẽ nói tới một vùng địa lý rộng lớn hơn rất nhiều so với vùng Đô n g N a m Á hành chính Tuy nhiên, khi mở rộng như thế cũng có sự khác biệt giữa phần Đông Na m Á lục địa và phần Đông Na m Á hải đảo Ở phần Đông Na m Á hải đảo, gần như ranh giới cùa vùng văn hoá và v ù n g hành chính là như nhau Tr ong khi đó, ở phần lục địa, ranh giới phía Tâ y cũng như phần phía Bắc của vùng Đông N a m Á văn hoá mở rộng hơn rất nhiều

Điều này cũng là một dấu hiệu nữa cho phé p c h ú n g ta đoán trước rằng, trong quá trình lịch sử, phần Đô n g N a m Á lục địa đã có hay đã chịu những biến đổi quá nhiều và đồng thời n h ững biến đổi đó ít nhiều c ũ n g đã

có những tác động khá quan t r ọng đến sự phát triển c ủa ngôn ngữ Vậy là, nếu như chưa ý thức rõ sự khác biệt về địa lý giữa lịch s ử và hiện tại này, rất có thể chúng ta sẽ có n h ững lẫn lộn nhất định về một hiện t ư ợ n g nào

đó của lịch sử ngôn ngữ Ch ẳ ng hạn, có lẽ c ũ n g vì lý do này mà thi

t h oả ng c h ú n g ta vẫn thấy có mộ t vài tài liệu khi viết đến mộ t vài vấn đề liên quan đến lịch sử t i ếng Việt hay văn hoá Việt N a m , nếu t hấy sách xưa ghi là của “ Vi ệ t ” đã nghĩ ngay rằng đó là của “ Vi ệ t N a m ” mà c h ưa có sự giải thích cụ thể hoặc khảo cứu cặn kẽ để c h ứn g mi n h một cách thuyết phục cái “V i ệ t ” xưa ấy quả đúng là thuộc vào văn h o á Việt N a m hiện nay

1.1.2 vể một vài đặc điểm địa lý ngôn ngữ - văn hoá vùng Đông Nam Á

N h ư đã trình bày ở trên, n h ững vấn đề lịch sử ngôn n g ữ mà c h ú n g ta quan tâm trong cuốn sách này đã xảy ra tr ong v ù n g Đ ô n g N a m Á văn hoá

và đó là một vùng lãnh thổ rất rộng lớn hơn vùng lãnh thổ Đ ô n g N a m Á hành chính Sự biến đổi của lịch sử ngôn ngữ, đ ư ơ n g nhiên, sẽ không thể không chịu tác động hay ảnh hưở ng của những điều kiện địa lý vùng lãnh thổ Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng, việc nhận biết rõ m ộ t vài đặc điểm địa 'lý cũng như lịch sử quan trọng của vùng này sẽ rất hữu ích cho chúng ta khi giải thích những biến đổi lịch sử của ngôn ngữ từ xa x ưa cho tới ngày nay

Trang 22

Cách nhìn nhận vân đê như thê cùa chúng tôi phản ánh một nhận thức

về mối tương quan, về mối liên hệ lẫn nhau giữa quá trình biến dổi của ngôn ngữ và n h ữn g t hay đổi về địa lý - xã hội mà trong đó ngôn ngữ như

là một phươ ng tiện gi ao tiếp của xã hội và nằm trong vùng địa lý cụ thể

đó Cá c h nhận thức ấy iấy đối t ượng địa lý làm cơ sở, trong đó nhìn nhận tất cả n h ững t ư ơ n g q u a n lẫn nhau của ngôn ngữ, văn hoá, lịch sử và địa lý làm nên đặc t r ưng v ù n g văn hoá đó

Nam Á văn hoá

Nhìn một cách khái quát nhất địa lý vùng Đ ô n g N a m Á văn hoá,

c h ú n g ta sẽ thấy đây là mộ t vùng được bao bọc c h u n g quanh chủ yếu bằng sông và biến Vì thế, nếu hình dung vùng địa lý này nằm trong một hình vuông thì cạnh phía Đ ô n g là biển Thái Bình Dương, cạnh phía Na m cũng

là biển Ẩn Độ Dương; tr ong khi đó cạnh phía Tây mộ t phần là sông Hằng thuộc lãnh thổ Ẩn Độ và phần còn lại của cạnh này cũng là biển Ấn Độ Dương; ở cạnh phía Bắc về cơ bản là con sông Tr ường Giang thuộc lãnh thổ miền Nam Tr ung Quốc Tr ong một khung cảnh như vậy, người ta có thể nói, đặc điểm địa lý qua n trọng nổi bật của vùng Đô n g Nam Á văn hoá thể hiện ở chỗ nó là một vùng địa lý rộng lớn được nước của những con sông lớn và biển bao bọc c h u n g quanh

Tr ong địa bàn t ư ơ n g đ ươ n g với hình vuông địa lý nói trên, lại còn có rất nhiều những con s ô n g thuộc loại lớn nữa và c h ú n g đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc hoặc phí a Bắc rồi đổ ra biển t heo h ướ n g N a m, Đô n g Nam hoặc Đông N h ữ n g con sông này tạo t hành n h ữn g đ ồ n g bằng nổi tiếng về diện tích cũng n h ư độ m à u m ỡ và sự trù phú Đó là n h ữn g đồng bằng Hoa

N a m rộng lớn của s ô n g Tr ườ n g Gi a ng và đòng bằng sông Châu Gi ang ( Tr ung Quốc), là đ ồ n g bằ ng sông Hồ n g và sông Mê C ô n g (ở Việt N a m và

Că mpuc hi a ) , là đ ồ n g b ằ n g sông Chao Phya ( M ê n a m ) và sông Me Khl ong (ở mi ền Tr ung Thái Lan), là đồng bằng của hai con sông Iravvady và Xal uen ở Mi anma Có t hể thấy trong một hoàn cảnh địa lý c hung như vậy,

c ư dân chù thể từ xa x ưa của vùng Đô n g N a m Á văn hoá lục địa nằm

tr ong một khung cảnh “ n ư ớ c ” , chịu sự tác động trực tiếp của một khung cảnh hay môi t r ườ n g “ n ư ớ c ” đó

Do tính chất sông ngòi nói trên, vùng Đô n g N a m Á văn hoá lục địa có đặc điểm địa lý xã hội qua n tr ọng nhất là vùng đ ồ n g bằng trù phú với cư

Trang 23

dân nông nghiệp lúa nước cư trú Đây có lẽ là một đặc điểm nổi trội cùa vùng Đông N a m Á văn hoá lục địa Đặc điểm này, n h ư dưới đây chúng tôi

sẽ sơ bộ phân tích, có ảnh hưở ng rất nhiều đến cách t hức sinh s ốne cùa CU' dân và do đó tình trạng ấy sẽ có những tác đ ộ n g nhất định tới sự phát triển các họ ngôn ngữ từ xa xưa cho đến ngày nay

Hệ quả thứ nhất mà c húng ta có thể nhận t hấ y từ đặc điểm nồi trội nói trên là c ư dân nông nghiệp lúa nước t hường c a nh tác theo những đơn

vị c ư trú khép kín Có canh tác theo một đơn vị c ư trú khép kín như vậy,

họ mới có thể đoàn kết chống chọi với sức mạnh lũ lụt của các con sông

để đảm bảo duy trì được đời sống của cộng đồng dân cư Điều này cũng

có nghĩa là các c ộng đồng sử dụng ngôn ngữ tr ong v ù n g Đông Na m Á lục địa t hường bị khuôn vào những “ hộp địa lý” cụ thể xác định theo đơn vị

cư trú khép kín ấy Ch ẳ ng hạn như ở Việt Na m, đây chính là lý do về mặt

tự nhiên - xã hội để chúng ta hiểu vì sao mồi mộ t làng t hường là những

đi ểm cư trú khép kín, có một “tiếng nói r i ê ng” c ủa mình, t hường không

gi ống với n h ững làng khác bên cạnh Ở đây, gần n h ư mỗi một làng là một thổ ngữ, một giọng nói “ riêng bi ệt ” Vỉ thế, khi có n h ữn g tác nhân xã hội khiến cho cái hộp địa lý ấy di chuyển từ nơi này s ang nơi khác, nó t hường

di chuyển theo cả một khối trọn vẹn và rõ ràng là phải “ bảo t h ủ ” cái ban

mộ t chu kỳ, có thể người ta lại có n hững di c h u y ể n đến những nơi khác

n hưng sự di chuyển ấy xảy ra một cách hết sức c h ậ m chạp Do đó từng đơn vị khép kín có những thay đổi địa lý khác nhau, đan xen và thậm chí lồng vào nhau tạo nên một bức tranh dân c ư k h ô n g t huần nhất Rất có thể

n hững hiện t ượng ngôn ngữ hoặc giống nhau, hoặc khác nhau mà xét về

k hoảng cách địa lý nó t h ư ờ n g có vẻ không thể hiện tính lôgíc của vấn đề chính là do hiện t ượng ngoài ngôn ngữ này chi phối

Trang 24

Như vậy chính những đặc điểm địa lý tự nhiên của vùng Đông Nam

Ả văn hoá lục địa gợi ý cho chúng ta biết rằng, sự di chuyển theo chu kỳ

và ma ng tính đan xen của cư dân sứ dụng ngôn ngữ là bản chất, có tính

" t ự nhiên" của vùng lãnh thổ Đồng thời, cũng chính những đặc đi ểm địa

lý tự nhiên đó cho phép chúng ta suy luận rằng, sự di chuyển ấy phải là sự

di chuyển đều đặn, t hường xuyên, chậm chạp theo kiểu tằm ăn lên Vì thế, nó rất dễ khiến cho ngôn ngữ của nhũng “ l àng” khác nhau đan chéo vào nhau, v ề sau, cùng với thời gian kéo dài, sự đan chco ấy khiến cho ngôn ngữ có sự gi ống nhau hay khác nhau khá đặc biệt và nó làm cho người nghiên cứu phải mất nhiều công sức mới hy vọng tìm thấy mối dây lịch sử thực sự Nói một cách khác, điều kiện địa lý tự nhiên của vùng Đông Nam Á văn hoá lục địa như vậy sẽ tạo ra một sự biến đổi ngôn ngữ vừa tuần tự theo lịch sử, vừa không tuần tự, phi lịch sử do hiện tượng phát triển đan xen của cộng đồng dân cư

Trở sang phần Đông Nam Á hải đảo, c húng ta thấy tình hình như sau Neu như trong vùng Đông N a m Á lục địa là những con sông vừa dài, vừa phân bố đều khắp ở trong toàn phần lãnh thổ thỉ ở vùng Đông Na m Á hải đào lại được biển bao bọc xung quanh Đặc điểm tự nhiên này cấp cho toàn vùng Đông N a m Á một lợi thế hết sức quan trọng về giao t hông đi lại Nốu nhìn ờ mặt kỹ thuật thuộc thời điểm cổ xưa thỉ lợi thế này là một

ưu đãi đặc biệt của điều kiện tự nhiên đối với con người Bởi vì chúng ta đều biết, ngày xưa việc di chuyển trong một khoảng cách xa không có gì

t huận lợi hơn đ ườ n g thuỷ Do đó, khoảng cách giữa những vùng tưởng như rất xa nhau sẽ trở nên đơn giản hơn khi có đườ ng thuý thuận lợi Có

lẽ vỉ điều kiện tự nhiên này, trong cư dân ở vùng Dông N a m Á văn hoá cổ xưa đã có những đợt di dân rất lớn và rất xa so với điểm định cư ban đầu Điều này dẫn đến mộ t thực tế là vào thời điểm hiện nay, những nhóm cư dân nói những ngôn ngữ được coi là có thể có họ hàng gần nhau lại có khoảng cách địa lý rất xa nhau Tr ong tình hình như vậy, những giả thuyết cho rằng, cư dân nói tiếng Mel ayu ở vùng Đô n g Na m Á hải đảo vốn có nguồn gốc t ừ mi ền đất liền hay vùng ven biển phía Na m Trung Quốc là những giả thuyết rất có cơ sờ về mặt vật chất, cho dù khoảng cách địa lý giữa c húng vào thời đi ể m hiện nay khá xa nhau

Qua một vài nội dung vừa trình bày ở trên, có thể có cơ sở để nói rằng, những đặc điểm tự nhiên của vùng Đô n g N a m Á văn hoá như vậy,

Trang 25

vừa thể hiện tính khép kín của những đơn vị c ư trú, lại vừa thể hiện khả năng có thể xáo trộn khá lớn cùa những đơn vị cư trú ấy Mặt khác, do

đ ồ n g thời có thể có cả hai khả năng như thế cùng xảy ra trong một vùng địa lý cụ thể nên dẫn đến tính đan xen giữa những cư dân có gốc gác

t huộc những vùng khác nhau Và cũng do đó sẽ có tình tr ạng ngôn ngừ

mà họ sử dụng vốn ban đầu là khác nhau Điều này, n h ư c h ú n g ta sẽ thấy khi phân tích dưới đây, chắc chắn có ảnh hưở ng không ít tới sự phát triển của lịch sử ngôn ngữ tr ong khu vực

hội vùng Đông Nam Á văn hoá

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, ở vùng Đô n g N a m Á văn hoá, các dân tộc có những nét văn hoá gi ống nhau có thể sinh sống gần nhau,

n h ưn g cũng có thể phân bố với những k h oả ng cách khá xa nhau trong toàn khu vực Ch ẳ n g hạn, trải dài khắp vùng phía N a m T r u n g Quốc, dọc theo vùng ven biển phía Đông Đông N a m Á lục địa và đặc biệt là vùng

Đ ô n g N a m Á hải đảo, dấu ấn văn hoá của cư dân N a m Đảo đều đượ c các nhà khoa học tìm thấy một cách rải rác, khi đậm khi nhạt khác nhau

T r o n g một bức tranh như thế, địa lý cư trú cùa c ư dân N a m Đảo là một

k h oả ng không gian quá rộng Đi ều này chỉ có thể giải thích là do một quá trình di dân trước đây dẫn tới một sự phân tán rộng rãi về mặt không gian

n h ư hiện nay Tr ong quá trình di cư ấy, những chỗ họ tạm dừng đã ghi lại dấu ấn cư trú của họ

N h ư n g tình trạng n h ư thể không chỉ là riêng cho c ư dân N a m Đào Nhi ề u cộng đồng cư dân thuộc một vài họ ngôn ngữ khác c ũ n g có hiện

t ư ợ n g t ương tự Người ta có thể kể đến, c hẳng hạn như, c ư dân của họ ngôn ngữ Thái - Kađai, cư dân của họ ngôn ngữ Mô n g - Dao N h ư vậy, nói một cách khác, trong toàn vùng Đô n g N a m Á văn hoá, hiện t ượng di dân trong lịch sử là mộ t đặc đi ểm phải được chú ý đúng mức Tình trạng

có nhiều cộng đồng cư dân m ang những nét văn hoá g iố n g nhau, tương tự nhau và p h â n bố ở những khoảng cách khả xa nhau là một đặc điểm khá đặc trưng và điều đó đều có thế giải thích bằng nguyên nhân địa lý, lịch

sử Và đây chính là đặc điểm địa lý, lịch s ử và văn hoá - x ã hội thứ nhắt cùa vùng Đ ông Nam Ả văn hoớ.

Nét đặc t r ưng nói trên cũng thấy lặp lại tr ong bức tr anh ngôn ngữ của

k h ô n g chi n h ững họ khác nhau mà trong nội bộ cùa một họ Tình hình này

Trang 26

sẽ được c húng tôi phân tích tóm tắt ở phần tiếp theo sau dây ở đây xin nói ngay ràng, họ ngôn ngữ Nam Á có mặt không chi ở miền Đông Ẩn Độ, miền Nam Tr ung Quốc, mà còn trải dài hầu khắp vùng Đông Nam Á lục địa

và phần nào còn có mặt ở cả vùng Đông Nam Á hai dáo Trong một vùng địa lý mênh mô n g đó, các cá thể ngôn ngữ khác nhau cùa họ này vừa phàn

bố dan xen ngay trong nội bộ họ ngôn ngữ, vừa đan x.en vào những họ ngôn ngữ khác, tạo thành một cộng đồng ngôn ngữ hết sức đông đúc và phức tạp như kiểu tiếng Việt ỏ' Vi ệ t Nam

Tuy nhiên, người ta cũng lại nhận thấy, có khi các cá thể ngôn ngữ

k h á c ' n h a u của họ lại tạo t hành những nhóm khá biệt lập, giống như các ngôn ngữ thuộc nh ó m Pear của nhánh Môn - K h me r ở vùng biên giới giữa Thái Lan và Mal ayxia Hay như lại có n h ững cá thế ngôn ngữ có số người nói quá ít như một vài ngôn ngữ thuộc n h ó m Kh mú ở Tây Bắc nước ta T r o n g mộ t điều kiện như vậy, cái cá thể ngôn ngữ ấy nhiều khi bị biệt lập tới mức bị các ngôn ngữ bên cạnh “ đồng h o á ”

Cho nên xét về khôrrg gian cư trú, khó có thể không đồng ý với lời nhận xét cho rằng, bức tranh ngôn ngữ ở Đông Na m Á là sự xáo trộn, chồng khít lên nhau nhiều lần của quá khứ Không cần phải quan sát hiện tượng này ở đâu xa mà chúng ta có thể thấy nó ngay trong phạm vi phương ngữ cùa tiếng Việt Nơi đây, giữa các làng khác nhau ở sát nách nhau là những giọng nói rất khác nhau Sự khác nhau ấy nhiều khi không đơn thuần chỉ là những khác nhau về ngữ âm, tức là thuần tuý giọng nói, mà là những nét khác nhau thuộc cả lĩnh vực từ vựng, t hậm chí có cả sự khác nhau ở địa hạt ngữ pháp ( chẳng hạn như cách sử dụng các ngữ khí từ ở cuối cầu hỏi khác nhau trong một số thổ ngừ thuộc tỉnh Thanh Hoá) Tình hình như vậy khiến cho người ta có cơ hội để nghĩ rằng, rất có thể hai làng láng giềng nhau ấy nói những ngôn ngữ khác nhau chứ không phải cùng một ngôn ngữ

Và đặc đi ểm “c hồng khít lên nhau nhiều lần trong quá khứ” có thể chính là đặc điếm địa lý, lịch sử và văn hoá - xã hội t hứ hai cùa vùng Đông Na m Á văn hoá này

Như c h ú n g ta đã sơ bộ phân tích ở trên, trong khu vực Đô n g Na m Á văn hoá, có rất nhiều n h ững ngôn ngữ quan trọng t huộc nhiều họ ngôn ngữ khác nhau Các ngôn ngữ cùa những họ ngôn ngữ ấy khi thì cư trú trong một địa bàn có tính liên tục, nhưng cũng có khi cư dân c ư trú một cách đứt quãng, rời rạc đan xen với nhau Nếu trạng thái trên được thể hiện

Trang 27

bàng màu sắc, nó sẽ là một bức tranh pha màu rất phức tạp, c hồng chéo lên nhau Vì thế địa bàn Đông Na m Á là một địa bàn có hiện trạng ngôn ngữ học rất đa dạng Chính tính đa dạng này khiến cho mối quan hệ giữa các ngôn ngữ xảy ra theo nhiều chiều khác nhau, làm cho việc theo dõi lịch sử phát triển của chúng là không hề đơn giản.

Tr ong một tình hình như vậy, c húng tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng người ta có thể giải thích những nét đặc tr ưng về văn hoá và ngôn ngữ có tính đan xen như vừa kể ở trên là do tác động của nguyên nhân địa lý Chí nh điều kiện địa lý quy định nền sản xuất nông nghi ệp thể hiện đặc

t r ưng là sản xuất lúa nước, khiến cho sự di dân xảy ra t heo kiểu tằm ăn lên, vừa c hậ m chạp, vừa loang lổ Cũng chính điều kiện địa lý sông nước trong vùng tạo điều kiện t huận lợi về giao thông cho n hững người di dân trước đây rời chuyển thật xa nơi ở cũ cùa mì nh để đến một nơi mới mà hiện nay về mặt khoảng cách địa lý người ta t h ư ờ n g khó t ướng t ư ợ n g lại

có thể xảy ra vào thời cổ xưa

Khi nói đến đặc điểm địa lý lịch sử và văn hoá - xã hội v ù n g Đông

Na m Á văn hoá, người ta không thể không nói đến vị trí địa lý “ trung gian" của nó Tính “trung gi an” này được thể hiện là nó nằm íỉiữa hai tiểu lục địa

có nền văn hoá phát triển rực rỡ từ cổ xưa là Án Độ và Tr ung Hoa Hai tiểu lục địa này, đương nhiên đã có những tác động không nhỏ đến vùng Đông Nam Á văn hoá Vì thế, không ít thì nhiều sự tác động ấy có ảnh hưở ng đến ngôn ngừ, trong đó có lịch sử tiếng Việt

Để chứng minh cho thực tế này, c húng tôi xin nêu một hiện t ư ợ n e ngôn ngữ liên quan đến sự tác động đồng thời của hai nền văn hoá chủ thể

cổ xưa của Ẩn Độ và Tr ung Hoa đến vùng Đông N a m Á văn hoá, qua đó

c húng ta nhận rõ hệ quả cùa vị trí địa lý “ trung gi an" của nó Đây chí nh là tình trạng phân bố c h ữ viết cổ của cộng đồng người Thái - Kađai ở vùng

Đô n g Na m Á văn hoá Sự khác biệt giữa hai khối cư dân Thái - Kađai, với một bên là dùng c hữ cổ t heo truyền thống Ẩn Độ và mộ t bèn khác dùng c hữ cổ theo truyền thống Tr ung Hoa là một mi nh c h ứ n g thú vị thể hiện sự tác động “tr anh c h ấ p ’' đó

Trang 28

Hình 1.2: Sơ đồ ranh giới Thải Tây nam và Thái Trung tâm (nguồn: [M Ferlus, 1999])

T r o n g hai báo cáo khoa học trình bày ở T r u n g Quốc và Thái Lan [Trần Trí Dõi (2009a), ( 2 0 l 0 b ) ] đã chỉ ra rằng, sông Hồng d ườ n g như là con s ông ranh giới của sự tác động về c h ữ viết cổ của cư dân Thái - Kađai ở vùng Đô n g N a m Á văn hoá Th e o đó, t huộc về phía Tây sông Hồng, các cư dân của họ ngôn ngữ này từ xưa đến nay đều dùng c h ữ viết theo t r uyền t hống Ẩn Độ Ch ẳ n g hạn, ở Việt Na m, đó là c hữ viết cổ của

n h ữn g nhóm c ư dân Thái - Kađai như người Thái Đen, Thái Trắng, Thái

Đè ng (hay Thái Thanh) , Thái Do và Thái Lai Pao Ở Lào, đó là c h ữ viết

Trang 29

c ủ a c ư dân Lào ( n h ư c h ữ Lào T h a m , Thái Đèng, ) ơ Thái Lan, dó là

c h ừ c ù a ngườ i Th á i X i ê m , c h ữ c ủa người Lào, c h ừ của người Thái Yuan, Ở Vâ n N a m - T r u n g Qu ố c , đó là c h ữ c ù a người Thái T e h o n g ( Đ ứ c Hồ n g ) , ngườ i Th á i X i p s o n g p a n n a , Còn ở Mi a n ma , đó là c h ữ của

n gườ i Thái Shan, Th á i K h u n , Thái Lu và Khamt i , Nh ữn g dạng c h ữ cổ

c ủa ngườ i Thái t h e o t r u y ề n t h ố n g Án Độ ờ phầ n lãnh thổ này đều hoặc

t h u ộ c ki ểu c h ữ K h m e r , h oặ c t h u ộ c kiểu c h ữ M ô n n h ư M Perlus đã công

bố [M Fer l us ( 1 999) ] Đ o ạ n c h ữ viết c ủa người Thái Lan hiện nay sau

đ ây là ví dụ cho ki ểu c h ữ t h e o t r u y ề n t h ố n g Ẩn Độ của khối cư dân Thái

- Kađai ở p h ầ n lãnh t hổ này: ' STMĩnívniírnlvm ( phi ê n âm Latinh: R acha-

a n a ch a k Thai “ V ư ơ n g q u ố c Thái L a n ” )

R i ê n g p h ầ n l ãnh t hổ còn lại phầ n phí a Đ ô n g s ô n g Hồng ở Vân N a m -

Q u ả n g T â y ( T r u n g Q u ố c ) và phí a Bắc Vi ệt N a m, ngượ c lại, chữ viết của

c ư dân Th á i — Kađai lại t h e o t r uyề n t h ố n g T r u n g Hoa Người ta gọi n h ững

ki ểu c h ữ viết cổ này là c h ữ N ô m Đó là c h ữ N ô m c ủ a người Tày - N ù n g ở

Vi ệ t N a m ; đó là loại c h ữ N ô m c ủa ngườ i C h o a n g ở Vân Na m - Qu ả n g

T â y ( T r u n g Quốc) , v ề bàn chất , đây là n h ữn g ki ểu c h ữ cổ d ù n g ký tự Hán để ghi â m t i ế n g nói của ngườ i Thái định c ư t r o n g khu vực C h ú n g tôi xin lấy loại c h ữ N ô m T à y do ngườ i Tà y d ù n g ký t ự Hán tạo ra để c h ứn g

mi n h c ho t ì nh t r ạ n g này Đâ y là loại c h ữ cổ q u a n t r ọng nhất t r o n g kho

c h ữ N ô m Tày Ớ loại này, c h ữ N ô m T à y chia làm hai tiểu loại: 1) C h ữ

N ô m T à y đon, tức là loại c h ữ k h ô n g p h â n tích ra t hà nh những yếu tố thứ cấp; 2) C h ữ N ô m T à y gh ép , tức là người ta nhận t h ấ y chúng có c ấ u tạo từ hai yếu tố t h u ộ c ký t ự Hán N ế u n h ư ti ểu loại t h ứ nhất là sự s áng tạo

r i êng c ủ a ngườ i T à y (ví dụ, kh ó i “t ô i ” , í ẵ th ả n g “ đ ế n ” , ) thì tiểu loại t h ứ hai có ba ki ể u k há c nhau Ba ki ểu tự tạo đ ó gồm cách thêm dấu

p h ụ (ví dụ, Ạ ” liệ n g “ n u ô i ” g ồ m c h ữ bi ểu â m lệnh (4*') và dấu xéo ” ),

c á c h g h é p hai y ế u tổ (ví dụ, c h ữ À t r ên c h ữ 7 ' đọc là slâu có nghĩa là

“ n g u ờ i tôi t ớ ” t r o n g đ ó c h ữ À nhân có nghĩ a là “ n g ư ờ i ” và chữ 1' hạ

n g h ĩ a là “t hấ p, ở d ư ớ i ” ) và cách lồ n g chữ, tức lồng hai âm vào m ộ t chữ

để thể hi ện mộ t t ừ g h é p (ví dụ, c h ữ p i “ a n h ” lồng với chữ $ ịn ọ n g

“ e m ” t h à n h t ừ g h é p ỉfe.ỳẾ p i n ọ n g “ a nh e m ” ),

N h ữ n g k há c biệt về t r u y ề n t h ố n g c h ữ viết ở trên lại trùng khớp với sự

p h â n c h i a hai n h ó m c ư dân c ủ a họ Thái - Kađai N h ữ n g người Thái thuộc

Trang 30

phía Tây sông Hồ n g là người Th á i t h u ộ c n h ó m Thái T â y N a m (southvvestern tai) t heo phân loại c ùa Lý P h ư ơ n g Q u ế [Li F.K (1977) ]

N h ó m Thái Tây Na m này bao g ồ m n h i ề u " b ộ p h ậ n ” Thái khác n h a u và c ư trú trên một địa bàn t ư ơ n g đối r ộ n g t r o n g lục địa v ù n g Đ ô n g N a m Á Còn

p hầ n phía Đô n g s ông n ồ n g là c ư dân Th á i - Ka đ ai t h u ộ c n h ó m Thái

T r u n ẹ t âm (Central tai), trải dài cả tr ên lãnh thổ phí a Bắc Vi ệt N a m và

N a m T r u n g Quốc N h ư vậy, tuy là c ư dân cùa c ù n g m ộ t họ ngôn n g ữ Thái

- Kađai , n hưng n h ữ n g người Th á i t h u ộ c hai ti ểu v ù n g khác n h a u t r ong vùng Đô n g Na m Á văn hoá chịu sự chi phối c ủa hai ki ểu văn t ự có tr uyền

t h ố n g khác nhau Rõ ràng, k h ô n g c ò n nghi n g ờ gì nữa, vị trí t r u n g gian cua vùng Đô n g N a m Á văn hoá đã “ m a n g l ại ” c h o nó khả n ă n g lựa c h ọ n nướ c dôi dó Nói mộ t cách khác, đó c h í n h là hệ q u ả t i ếp x ú c rất khác nhau từ hai nền văn hoá cổ xưa là Ấ n Độ và T r u n g Ho a c ùa v ù n g Đ ô n g

Na m Á văn hoá

T ừ n h ữ n g gì vừa phâ n tích ở tr ên, c h ú n g ta có t hể nhậ n t hấy rằng, nhìn ở khía cạnh địa lý, lịch sử và văn h o á - xã hội v ù n g Đ ô n g N a m Á văn hoá từ xưa đến nay đã có m ộ t s ự xáo t r ộn dân cư Đ ồ n g thời, sự xáo trộn dân cư ấy lại khá phức tạp, khi thì có lớp lang, khi thì đ a n x e n c h ồ n g khít lên nhau T h ê m vào nữa, t ì nh t r ạ n g x á o t r ộn ấy lại chị u tác đ ộ n g t heo thế giằng co từ hai nền văn hoá p h á t triển ờ bên cạ n h Đâ y c h í n h là n h ữ n g đặc đi ểm lịch sử - văn hoá - xã hội tác đ ộ n g vào n g ô n n g ữ c ùa khu vực

Đ ô n g N a m Á văn hoá t r ong đó t i ế n g Vi ệ t hì nh t h à n h và p h á t triển

1.2 Giản yếú về các họ ngôn ngữ ở vùng Đông Nam Á văn hoá

mục 1.1 nói t r ên đã trình bày v ắ n tắt về m ộ t vài đ ặ c đ i ể m đị a lý nơi

c ư dân nói t i ếng Vi ệt c ư trú và s i nh sống N h ữ n g đ ặ c đ i ể m địa lý ấy, ở khía cạnh này hay khác, sẽ có tác đ ộ n g đ ế n s ự p h á t t r i ển c ủ a t i ế n g Việt, ở

mục 1.2 này, c h ú n g tôi sẽ sơ bộ giới t hi ệ u về các họ n g ô n n g ữ ở v ù n g

Đ ô n g N a m Á văn hoá C ô n g v i ệ c n à y là n h ằ m c u n g c ấ p c h o n g ườ i đọc nhậ n thấy t r ong quá trình phá t t r i ển c ủ a t i ế n g Vi ệt , nó đã p h á t t r i ển t r o n g

mộ t môi t r ường ngôn n g ữ của khu v ự c n h ư t hế nào

1.2.1 Giản yếu về các họ ngôn ngữ ở Đông Nam Á văn hoá

1.2.1.1 Cách hiểu về “họ (tamily) ngôn ngữ”

Tr ướ c khi nghi ên cứu lịch sử m ộ t n g ô n n g ữ c h ú n g ta c ầ n có s ự t h ố n g nhất với nhau về c á c h hiểu thế n à o là m ộ t họ n g ô n ngữ Đ â y là mộ t t huậ t

Trang 31

ngữ của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử chỉ về một tập hợp những ngôn ngữ được cho là có liên quan với nhau về nguồn gốc Cách quan niệm này chỉ ra rằng, các ngôn ngữ nằm trong một họ được giả định là đã được chia tách ra từ một ngôn ngữ c hung ờ một thời kỳ quá khứ nào đó Cái ngôn ngữ c hung ấy là ngôn ngữ gốc, “tiền ngôn ngữ (proto - l a n g u a g e ) ” hay

“ ngôn ngữ cơ s ở” hoặc “ ngôn ngữ m ẹ ” (tuỳ t heo cách nói của n h ữn g nhà khoa học khác nhau), đã từng hiện diện ở một thời kỳ cụ thế tr ong sự phát triển của họ ngôn ngữ ấy

v ề mặt xã hội, điều này có nghĩa là, ở vào một thời kỳ nhất định

tr ước đây có một tập đoàn người nói một ngôn ngữ chung N h ư n e do

n h ữn g nguyên nhân lịch sử nhất định nào đấy và theo thời gian, “ Một tập đoàn người nói bằng một ngôn ngữ, ở một thời đại nhất định do nhữntỉ nguyên nhân lịch sử nào đấy đã bị phân chia ra, và mỗi bộ phận cùa tập đoà n đó trong n hững điều kiện phát triển độc lập, và t ương đối biệt lập, ngôn ngữ bị biến đổi “t heo cách của m ì n h ” , kết quả là tạo ra n hững ngôn ngữ riêng biệt t ương ứ n g ” [Kasevich V.B (1998), tr 197] Các c ư dân nói

c ùng một họ ngôn ngữ đã dược hình t hành theo cách phân chia lịch sử

n h ư thế

Th e o một quan ni ệm như vậy, c húng tôi cho rằng, “ mộ t họ ngôn ngữ

là một tập hợp nhiều ngôn ngữ mà giữa chúng có thể xác lập được n h ững nét c hung cho phép giải thích c húng c ùng dẫn xuất từ một dạ ng thức cội nguồn t heo những quy luật nhất đ ị n h ” [Trần Trí Dõi (2000) , tr 128] Theo cách định nghĩa này, khi nói tới một họ ngôn ngữ, người ta phải tlioả mãn

n h ững điều kiện sau đây: Thứ nhất, đó là một tập hợp n h ững cá thế ngôn ngữ; thứ hai, đồng thời, tập hợp những cá thể ngôn ngữ ấy phải có n h ững đặc đi ể m c hung để qua n hững đặc đi ểm c hung ấy, người ta có thể nhận biết những quy luật biến đổi được xác định trong họ ngôn ngữ; th ứ ba,

đến lượt mi nh, chính n hững quy luật biến đổi nói trên là c ơ sở để nhà nghi ên cứu tái lập lại tiền ngôn ngữ của một họ, mộ t nhánh hay một n h ó m ngôn ngữ cụ thể nào đó Khi nói về mộ t họ ngôn ngữ, tr ong mộ t vài

t r ườ n g hợp người ta c ũng có thể nói tới một khái ni ệm tiểu họ (TP: s o u s -

í a mi l l e) n h ư là những phần khác nhau trong một họ ngôn ngữ

Mỗi một họ ngôn ngữ, tr ong thực tế, lại được chia t hà nh các nhánh

( br anch) ngôn ngữ khác n h a u (!) Nhá nh ngôn n g ữ là một bộ phận c ủa họ ngôn ngữ nhất định bao gồm n hững ngôn ngữ có những nét giống nhau

Trang 32

nhiều hơn những ngôn ngữ thuộc bộ phận khác hay một nhánh khác trong

c ùng một họ Lý do là, sự chia tách của "tiền ngôn ngữ" tuy sẽ dẫn dến

n h ững sự khác biệt nhau, nhưng trong một quá trình chia tách lâu dài,

n h ững bộ phận khác nhau ấy vẫn tiếp tục còn bị chia tách Nguyên nhân của tình trạng ấy cũng chính là những nguyên nhân đã làm cho họ ngôn ngữ tr ước đây chia tách thành các nhánh Ket quả là, vào thời đi ể m hiện nay, tr ong một họ ngôn ngữ, c húng ta thấy một số ngôn ngữ này sẽ giống nhau nhiều hơn một số ngôn ngừ kia Sự khác biệt như vậy chính là sự khác biệt giữa những nhánh ngôn ngữ khác nhau trong cùng mộ t họ ngôn ngữ nào đó Nh ư vậy, trong ngôn ngữ học so sánh - lịch sử, sau họ ngôn ngữ, bao giờ người ta cũng nói đến nhánh ngôn ngữ Đôi khi, để chi tiết hơn, người ta còn phân chia nhánh t hành n h ững tiểu nhánh.

Đen lượt của mình, mỗi nhánh lại được chia t hành n hững nhóm

(gr oup) ngôn ngữ Nh ó m ngôn ngừ là những bộ phận ngôn ngữ nằm trong mỗi nhánh có sự gần gũi nhau nhiều hơn so với những ngôn ngữ nằm

tr ong nhóm khác của cùng một nhánh Có thể nói một cách khác, nhóm ngôn n g ừ là sự khác biệt của những ngôn ngữ khác nhau làm thành những

bộ phận khác nhau riêng lẻ trong một nhánh ngôn ngữ Tr ong nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, nhóm ngôn ngữ mới chính là cội nguồn hiện t hực nhất của mồi một ngôn ngữ cụ thể Bởi vì chính từ đây người ta mới dễ dàng theo dõi sự diễn tiến, c hẳng hạn về mặt ngữ âm, của một ngôn ngữ cụ thể

đó Khi nói tới nhóm ngôn ngữ, tr ong t r ường hợp cần thiết, người ta cũng

có thể nói đến tiểu nhóm, tức là phân chia sự khác biệt tr ong nội bộ nhóm thành n hững phần khác nhau

Tù mỗi nhóm ngôn ngữ này người ta sẽ nhận diện các cá thể ngôn ngữ ( l anguage) là t hành viên cùa mỗi nhóm Nói một cách khác, trong nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, một nhi ệ m vụ qua n tr ọng là phải t ừng bước xác lập cho được danh sách các ngôn ngữ t hành viên có trong mộ t nhóm ngôn ngữ cụ thể Có như vậy, khi tiến hành xác lập n h ững quy luật biến đổi của nhóm ngôn ngữ tr ong lịch sử, người ta mới có cơ sở đề lựa chọn

tư liệu phục vụ cho công việc nghi ên cứu của mình

T r o n g t hực tế, đây t hực sự là yếu tố quyết định khả năng nhận diện một nhóm ngôn ngữ để từ đó người ta nhận diện ra nhánh và sau đó nữa

là nhận diện họ ngôn ngữ Vì thế, khi nói tới nguồn gốc của bất kỳ một cá thể ngôn ngữ nào, bao giờ người ta cũng định vị nó tr ước hết thuộc nhóm

Trang 33

ngôn ngữ cụ thể xác định nào đó, rồi sau đó mới định vị nó t huộc n há nh ngôn ngữ t ương ứng và cuối cùng mới định vị nó thuộc họ ngôn ngữ Iihât định Tr ong nghi ên cứu lịch sử ngôn ngữ, đây là một c ô n g việc k h ô n g hề đơn giản Bởi vì, t r ong lý luận ngôn ngữ ranh giới giữa một cá thê ngôn ngữ và n hững thổ ngữ hay phươ ng ngừ gần với nó k h ô n g phài lúc nào cũng thực sự rõ ràng và mi nh bạch.

Sau khi nhận diện t ừng ngôn ngữ cụ thể t r ong một n h ó m ngôn ngữ, người nghiên cứu lịch sử bao giờ c ũng tiếp tục quan sát n h ữn g p h ư ơ n g

n g ữ (dialect) của mộ t ngôn ngữ cụ thể ấy P h ư ơ n g ngữ là những vùng khác nhau của một ngôn ngữ có n h ững nét c h u n g khiến vùng đó ít nhiều khác biệt với n h ữn g vùng p h ư ơ n g ngữ khác Mỗi một p h ươ n g ngừ như vậy lại bao gồm nhi ều thổ ngữ (subdialect , TP: les parl ers) khác nhau Điều này, đến lượt nó, cho c húng ta biết thổ n g ữ là n h ữn g bộ phận gồm

nh ững nét đặc tr ưng ri êng nằm tr ong mộ t vùng p h ư ơ n g ngữ nhất định Tuy nhiên, cả sự khác biệt có tính p h ươ n g ngừ lẫn sự khác biệt có tính thổ ngữ chỉ 14 n h ữn g khác biệt ma n g tính nội bộ tr ong mộ t ngôn ngữ thống nhất Nó' chỉ vượt ra ngoài khuôn khổ của ngôn ngữ nếu n h ư sự khác biệt n h ư thế đượ c nhân lên và duy trì trong mộ t q u ã n g thời gian lịch

sử khá dài và khi đó có thể sự khác biệt như thế sẽ k h ô n g còn là sự khác biệt gi ũa p h ươ n g n g ữ với p h ư ơ n g ngữ nữa

N h ư vậy, t ừ n h ữ n g gì vừa trình bày sơ bộ ở trên, c h ú n g ta có thể thấy rằng, tr ong quan hệ họ hà ng giữa các ngôn ngữ, n h ữ n g ngôn ngữ cùng nhóm là n h ữn g ngôn n g ữ có họ hàng gần nhất, n h ữ n g ngôn ngữ cùng nhánh là n h ữn g ngôn n g ữ có họ hàng xa và các ngôn ngữ cùng họ là

n h ững ngôn ngữ có họ hà ng rất xa Việc t heo dõi lịch sử một ngôn ngữ có tính hiện t hực nhấ t t h ư ờ n g ỉà t heo dõi quá t r ình biến đổi của nó trong

k hông gian của mộ t n h ó m ngôn n g ữ cụ thế T u y nhi ên c ũng có những

t r ường hợp người ta có thể hoặc cần phải t heo dõi sự biến đổi của ngôn

n g ữ trong không gi an của mộ t nhánh hay của nhi ều nhánh Đổi với t r ường hợp lịch sử ti ếng Việt, tình hì nh nghi ên cứu c ơ bản c ũ n g không nằm ngoài t h ô n g lệ ấy

C h ú n g ta biết ràng, t r ong nghiên cứu so s ánh - lịch sử ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã xác lập một họ ngôn ngữ Ân - Âu với những n h á n h n h ư n há nh Ấn Độ - Iran, n h á n h Gi é c ma n h , nhánh Rômanh, Ở Đ ô n g N a m Á người ta c ũ n g xác đị nh có mộ t họ ngôn ngữ

Trang 34

Nam Á với các nhánh như Môn - Khmer, Munđa, trong đó nhánh Môn

Kh me r được chia thành nhiều nhóm như Môn, Khmer , Katu, Việt - Mường Khmú, [Trần Trí Dõi (2000), tr 131- 139] Đến lượt mình, nhóm Việt - Mườn g lại được chia t hành tám cá thể ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, tiếng Mường, tiếng Cuối, Mỗi một ngôn ngữ trong số đó lại

có n h ững phương ngữ cùa riêng chúng Vì thế, nghiên cứu lịch sử tiếng Việt chắc chắn sẽ hữu ích cho việc nghiên cứu so sánh - lịch sử không chỉ đối với nhóm ngôn ngữ Việt - Mư ờ n g nói riêng mà hữu ích cho cả nghi ên cứu so sánh - lịch sử các ngôn ngữ ở Đô n g N a m Á nói chung

1.2.1.2 Về các họ ngôn ngữ ở Đông Nam Á văn hoá

T r o n g tình hình nghiên cứu hiện nay, tuy vẫn còn có những ý kiến khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu so sánh - lịch sử cho thấy ở vùng Đông N a m Á văn hoá có thế xác định là vùng lãnh thổ có năm, họ ngôn ngữ (tạm gọi là kết quả phân loại thứ nhất). Cả năm họ ngôn ngữ này ít hay nhiều đều có các cá thể ngôn ngữ có mặt trên lãnh thổ Việt

N a m vì thế ít hay nhiều có liên quan đến sự phát triển lịch sử tiếng Việt

C h í n h vì thế, dưới đây c húng tôi sẽ nói qua về các họ ngôn ngữ ấy để

c h ú n g ta có được một bối cảnh c h u n g cùa toàn khu vực khi tìm hiểu lịch

sử phát triển của bản thân ti ếng Việt C ũ n g xin lưu ý rằng, ngoài cách phân loại có năm họ ngôn ngữ ở vùng Đô n g N a m Á văn hoá, chúng ta

c ũ n g có thể bắt gặp một sự phân loại khác hoặc có ba họ hoặc chỉ có hai

họ n h ư một vài nhà nghiên cứu tr ước đây đề xuất (tạm gọi là kết quả phân loại thứ hai). Danh sách năm họ ngôn ngữ mà c h ú n g tôi xác định [Trần Trí Dõi ( 1999)] là như sau:

a) Họ thứ nhất là họ ngôn ngữ Nam Ả (Austroasiatic) Đây là họ ngôn

n g ừ được nhiều nhà nghiên cứu coi là cùa cư dân bản địa trong vùng Đông

N a m Á văn hoá Người ta ước chừng t rong họ này có khoảng 150 ngôn ngữ

t hà nh viên chia thành nhiều nhánh, nhiều nhóm khác nhau [R Parkin (1991)] Do chỗ họ Na m Á là họ ngôn ngữ của tiếng Việt nên nó sẽ được

c h ú n g tôi trình bày chi tiết ở phần sau dưới đây

b) Họ thứ hai, họ ngôn ngữ Nam Đảo ( Aust r onesi an) , hay còn có tên gọi khác gần t ương đươ ng M ã Lai - Đa Đảo ( Ma l a yo - Polynesian), là họ

đ ư ợ c xác định có khoảng 500 ngôn ngữ thành phần với số người sử dụng

ư ớ c c h ừn g hơn 150 triệu Họ ngôn ngữ này phân bố chủ yếu trên các đảo

t h u ộ c vùng biển phía Tây, phía Bắc và phía Đ ô n g quầ n đảo Inđônêxia,

Trang 35

tức là toàn bộ các đảo có tr ong biển Ấn Độ Dươ n g từ M a đ a g a s c a ven biển châu Phi đến các đảo trong Thái Bình Dương n h ư Havvaii, và c ũ n g có một bộ phận nhò c ư trú tr ong phần Đô n g N a m Á lục địa.

Họ ngôn ngữ Na m Đảo được nhiều nhà nghiên c ứu chia t hà nh hai nhánh là nhánh phía Tây (hay nhánh I ndones i an) và nhánh phí a Đô n g (hay còn gọi là nhánh Đại dương) N h á n h N a m Đảo phí a Tâ y lại được chia thành hai nhánh nhỏ là tiểu nhánh Đông I ndones i an và tiểu nhánh Hesper onesi an Tiểu nhánh Đô n g I ndones i an gồm n h ữn g ngôn ngữ sử dụng ở Tân Ghinê, ở đảo Mol uccan, , còn tiểu n h á n h He s p e r o n e s i a n được chia ra làm hai nhóm là nh ó m Tây I ndone s i a n và n h ó m Bắc Indonesian Đến lượt mình, cả hai nhóm ngôn ngữ ấy lại được chi a t hành các tiểu nh ó m nhỏ hơn

Na m Đảo được sử dụng ở Inđônêxia, Brunây, Malayxia, và tiểu nhóm Nam Đảo lục địa hay còn gọi là tiểu nhóm Chăm/ Chàm Tiểu nhóm này chính là gồm những ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số Gia Rai, Êđê, Chăm, Raglai và

Trang 36

Chu Ru thuộc các tỉnh Nam Trung Bộ, Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ của Viột Nam và nhiều ngôn ngừ khác có ở những nước láng giềng thuộc vùng Dông Na m Á lục địa.

c) Hụ th ứ ba, họ imôn ngữ Thái - Kađai (Tai - Kadai, Kradai) gồm các ngôn n g ữ có mặt hầu hết trên lãnh thổ các nước vùng Đông Nam Á lục địa từ phía N a m Tr ung Quốc đến phần Dông Án Độ Họ ngôn ngữ này được ước chừng có khoảng 50 ngôn ngừ thành viên với hơn 100 triệu người

sử dụng Tr ong số đó, tiếng Thái Lan (tiếng Xiêm) chiếm khoảng 60 triệu người và là ngôn ngữ quốc gia cùa vương quốc Thái Lan Theo tổng kết sơ

bộ của M Perlus [M Ferlus (1994), tr 130] từ nhiều kết quả phân loại khác nhau, họ ngôn ngữ này được chia thành hai tiểu họ là tiểu họ Kađai (Kadai)

và tiểu họ Kam - Thái (Kam - Tai)

K ra d a i L a n g u a g e s Ỷ ' ì

*■' :"Ỹ '

r Ỳ ° - ■ - - V - Í - V ;

Hình 1.4: Sơ đồ họ ngôn ngữ Thái - Kađai ở Đông Nam Á

(VVikipedia, the free encyclopedia)

Tiểu họ Kađai tách riêng và phát triển t hành mộ t nhóm riêng biệt, là nhóm Kađai hiện nay Ở Việt N a m, các ngôn ngữ t huộc nhóm này là những ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số La Chí, La Ha, Cơ Lao và Pu Péo ở vùng mi ền núi phía Bắc, dọc theo biên giới Việt N a m - Tr ung Quốc Ti ể u họ Ka m - Thái được tách thành hai nhánh là nhánh Kam -

Trang 37

Sui và nhánh Bê - Thái Đến lượt mì nh, nhánh Ka m - Sui cũng được tách

t hành một nhóm đặc biệt, gọi là nhóm Ka m - Sui hay còn gọi là các ngôn ngữ Đồng (Dong) hiện có mặt ở mi ền N a m Tr ung Quốc Còn n h á n h Bê - Thái được chia t hành hai tiểu nhánh là tiểu nhánh Bê và tiểu n h á n h Thái

- Day Tiểu nhánh Bê về sau cũng được các nhà nghiên cứu xếp t hành nhóm Bê duy nhất

Tiểu nhánh Thái - Day, như vậy, là nhánh chính của họ ngôn ngữ Thái

- Kađai Đến lượt mì nh nó được chia t hành ba nh ó m khác nhau là nhóm Tày - Thái, nhóm Cao Lan và nhóm Day - Sek Ở Việt Na m, ngôn ngữ của người Cao Lan là ngôn ngữ thuộc vào nhóm Cao Lan N h ó m Tày - Thái lại được chia thành tiểu nhóm Tày - Choang và tiểu n h ó m Thái

N h ó m Day - Sẹk cũng được chia t hành tiểu nhóm Day và tiểu n h ó m Sek Tiểu nhóm Day hay Dai được Lý Phương Quế [Li F K (1977)] gọi là nhóm Thái Bắc (northern tai) gồm những ngôn ngữ Thái - Kađai có mặt ở khu tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây và các tỉnh lân cận khu tự trị này cùa Trung Quốc Tiểu nhóm Tày - Choang có tên gọi khác là nhóm Thái trung tâm (Central tai) gồm các ngôn ngữ của người Tày, người Nùng, người Bố Y ở vùng núi phía Bắc nước ta, người Ch o a n g ( Zhuang) và một

số dân tộc thuộc nhóm này ở miền N a m Trung Quốc Tiểu nhóm Thái còn được gọi là nhóm Thái Tây Na m (southvvestern tai), hay theo cách nói của A.G Haudriourtlà tiếng Thái chung (Thai c o mm u n ) [A.G Haudricourt (1972, tr 135)] gồm tất cả các tiếng Thái ở Tây Bắc Việt Na m ( như tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Lự), ở các nước Lào, Thái Lan, Mi anma, N h ư đã nói ở trên, đây ià nhóm các ngôn ngữ Thái - Kađai quan trọng nhất trong

họ ngôn ngữ này Qua n trọng trước hết là về số lượng người sử dụng, sau

đó là về những vấn đề về ngôn ngữ, trong đó có vấn đề chữ viết truyền

t hống của họ

c) Họ thứ tư, họ ngôn ngữ Mô n g - Dao hay Mè o - Dao ( Mi a o - Yao, Hmo n g - Mien) T r o n g tình hình nghi ên cứu hiện nay, người ta có nói tới một họ ngôn ngữ Mè o - Dao với hai nhánh chính là n há nh Mô n g hay Mèo (Mi ao) và nhánh Dao (Yao) Hi ện nay, cả hai n há nh này đồng thời cũng

là hai n h ó m ngôn n g ữ gồm các ngôn ngữ Mè o và Dao c ư trú ở khắ p nơi thuộc phía N a m T r u n g Quốc, Bắc Vi ệt N a m, Lào, Thái Lan

Ở Việt Na m, các ngôn ngữ thuộc nhóm M ô n g hay Mè o là ti ếng nói cùa các dân tộc Mô n g và Pà Thèn Ri êng n h ó m Dao thì chỉ có mộ t ngôn

Trang 38

ngữ duy nhất của các vùng Dao khác nhau Các dân tộc nói tiếng Mông - Dao này c ư trú ở vùng miền núi trung du Bắc Bộ, từ Nghệ An trở ra và chú yếu là dọc bicn giới Việt - Lào và Việt - Trung.

e) Họ thứ năm là họ ngôn ngữ Hán - T ạ n g (Sino - Tibetan) Đây là một họ ngôn ngữ có số lượng người nói lớn nhất ở khu vực Nó không chi phân bố ở vùng Đô n g Nam Á mà còn phân bố ở cả vùng Đông Á Họ này

có hai n há nh lớn là nhánh Hán (Sinitic) và nhánh Tạ n g - Karen (Tibeto - Karen) Nh á n h Hán hay cũng là nhóm Hán gồm có tiếng Hán ở Trung Quốc và ngôn ngữ của người Hoa, người Sán Dìu, người Ngái và rất có thê cả người Sán Chỉ ở Việt Nam

Nhánh Tạng - Karen đến lượt mình lại được chia thành hai tiểu nhánh

là tiểu nhánh Karen và tiểu nhánh Tạng - Miến (Tibeto - Burman) Tiểu nhánh Kar en về sau cũng chỉ có nhóm Karen là ngôn ngữ của những cư dân sinh sống ở vùng giữa Thái Lan và Mianma Tiểu nhánh Tạng - Miến được chia tách thành năm nhóm ngôn ngữ !à nhóm Tạng (Tibetan) sinh sống ở lãnh thổ Tâ y Tạng, nhóm Bôđô - Naga - Kachin ở bang Assam (Ắn Độ), nhóm Gy a r ung - Mishmi ở Nêpan, Đông Bắc Án Độ và Nam Tây Tạng, nhóm Na ga - Kuki - Chin gồm các ngôn ngữ ờ Bắc Mi anma, Đông Bắc Án

Độ và cuối cùng là nhóm Miến - Lôlô (Burmese - Lolo)

N h ó m ngôn ngữ Miến - Lôlô gồm có hai tiểu nhóm: tiểu nhóm Miến

và tiểu n h ó m Lôlô Tiểu nhóm Miến gồm các ngôn ngữ của các cư dân cư trú trên iãnh thổ Mi anma Ti ểu nhóm Lôlô là các ngôn ngữ Tạ n g - Miến cùa n h ữn g c ư dân như Hà Nhì, Phù Lá, La Hù, Lôlô, c ố n g và Sila ở miền Bắc Việt N a m và những c ư dân sống dọc vùng biên giới giữa Việt Nam, Lào và T r u n g Quổc,

Tr o n g năm họ ngôn ngữ được nhiều người xác lập ở vùng Đông Nam

Á như đã trình bày ở trên, họ ngôn ngữ Na m Á là họ ngôn ngữ của tiếng Việt Do đó, những gì tiếng Việt lưu giữ lại đượ c từ họ ngôn ngữ này đều

được coi là n hững yêu tô cội nguôn Các ngôn ngữ của những họ khác chỉ

là những ngôn ngữ láng giềng với tiếng Việt mà k h ô n g phải là bà con với

nó Qua n hệ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ láng giềng này chỉ là những quan hệ tiếp xúc hay vay mư ợ n lẫn nhau do chỗ c h ú n g hoặc có địa lý cư trú gần nhau, hoặc trong quá k h ứ đã có sự tiếp xúc lâu dài với nhau hay vay mư ợ n lẫn nhau Tuy nhiên, sự gần gũi về địa lý khiến cho những tiếp xúc trong quá khứ cũng rất đặc biệt, dẫn đến n h ững hiện t ượng vay mượn

Trang 39

thoạt nhìn rất khó xác định, nhiều khi được coi là những yếu tố cội nguồn Đây cũng là một trong n h ững khó khăn không nhỏ, t h ậ m chí gây nhiều tranh cãi, khi c húng ta thực hiện công việc xác định tính c hấ t cội nguồn hay vay mư ợ n lẫn nhau của nhiều yếu tố tr ong lịch sử ti ếng Việt, đặc biệt là những đơn vị từ vựng thuộc lớp từ cơ bản.

Ngoài cách phân loại có năm họ ngôn ngữ ở vùng Đô n g N a m Á văn hoá như c húng tôi đã trình bày ở trên, tr ong mộ t vài tài liệu phân loại khác, cả ở trong nước cũng như nước ngoài, người ta còn nói đến một vài cách phân loại nữa ở vùng Đô n g N a m Á văn hoá Th e o đó, ờ vùng lãnh thổ này hoặc chỉ có ba họ ngôn ngữ hoặc chỉ có hai họ ngôn ngữ Tình hình cụ thể của n h ững ý kiến này là như sau

Ch ẳ ng hạn, khi đưa ra khái niệm họ ngôn n g ữ N a m - Thái ( Aust ro - Tai), P.K Benedi ct cho rằng, họ ngôn ngữ mà ô n g xác định này bao gồm

cả họ N a m Đảo, Thái - Kađai và Mô n g - Dao đã được nói tới ở trên [P.K Benedi ct (1976)] Theo cách quan ni ệm đó của ông, v ù n g Đông

N a m Á văn hoá chỉ hiện diện ba họ ngôn ngữ Đó là các họ N a m - Thái,

N a m Á và Hán - Tạng Còn như khi nói về ngữ hệ Đông N a m Á, Phạm Đức Dươ n g cho c h ú n g ta biết rằng, vùng lãnh thổ Đông N a m Á văn hoá với một bên là toàn bộ các ngôn ngữ t huộc ngữ hệ này và bên kia là họ ngôn ngữ Hán - T ạ n g [Phan Ngọc (1983); Phạm Đức Dươ n g (2007) ] Hay như còn có một vài tài liệu khác nói về một tập hợp các ngôn ngừ Nam

P hương (Aust ro) ở vùng lãnh thổ rộng hơn t r ong đó có khu vực Đông

N a m Á và đối ứng với nó trong khu vực này là n h ữn g ngôn n g ữ thuộc họ Hán - Tạng

Ngoài ra, tr ước đây cũng có một quan niệm khác về họ ngôn ngữ Hán

- Tạng Theo đó, họ ngôn ngữ này còn bao gồm cả các ngôn n g ữ Thái Kađai, các ngôn ng ữ M ông - Dao hay Mèo - Dao Cá c h quan niệm dó không được trình bày một cách hiển ngôn n h ưng với cách sử d ụ n g tư liệu trong việc chứng mi nh nguồn gốc một ngôn ngữ cụ thể (ví dụ Mas pér o [H Maspéro (1912), Vương Lực (2003)] chúng ta nhận thấy được điều này Và nếu quan niệm như vậy, khu vực Đông Na m Á văn hoá cũng chỉ có ba họ ngôn ngừ là Hán - Tạng, Nam Đảo và N a m Á

v ề thực chất, n h ữn g cách phân loại coi khu vực Đô n g N a m Á chí có

ba họ ngôn ngữ ( Na m - Thái, N a m Á và Hán - T ạ n g hoặc N a m Á, Nam Đảo và Hán - Tạ n g ) hay hai họ ( Nam Phương và Hán - T ạ n g hoặc ngữ

Trang 40

hệ Dỏne N a m Á và Hán - Tạng) là một cách phân loại có thời gian lịch

sử ••quá cô xưa" nên đập nhập sự đa dạng của toàn vùng vào một cái duy nhất Bình luận về cách làm như thế, trong một tài liệu liên quan đến vấn

đề phân loại cội nguồn ngôn ngữ ở Việt N a m [Trần Trí Dõi (1999)], chúng tôi đã sơ bộ giải thích lý do vì sao những kết quả phân loại không phái năm họ ngôn ngữ ở Đông N a m Á như thế là không gần với thực tế

C h ú n g ta có thể nói được như vậy là vì nếu nhất quán tôn trọng các thao tác phục nguyên cùa so sánh - lịch sử thì c húng ta sẽ khó có thể xác lập được quy luật ngữ âm thực sự chứng mi nh cho những kết luận nghiên cứu ấy Và có thể nhận thấy rõ tình tr ạng đó khi tr ong kết quả phân loại thứ hai, c h ú n g ta chưa thấy người nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu “ xác lập được quy luật ngừ âm thực s ự” Có lẽ đoạn viết sau đây cùa F de Saussure: " Kh ó lòng có thể tin rằng, tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều

có quan hệ thân t huộc với nhau, n h ưng dù cho điều đó có đúng sự thật chăng nữa - o Tr ombet t i , mộ t nhà ngôn ngữ học Ý, tin như vậy - thì nó cũng k h ô n g thể ch ứn g mi nh được, vì số lượng quá lớn của những biến đổi

đã xảy r a ” [F de Saussure (1973), tr.325] đã giải thích rõ nguyên nhân của sự bất cập đó Nói một cách khác, kết quả phân loại t hứ nhất cho rằng

ở vùng Đông N a m Á văn hoá có mặt của năm họ ngôn ngữ là kết quả phân loại phù hợp với các thao tác nghiên cứu so sánh - lịch sử hơn cả

1.2.2 Về họ ngôn ngữ Nam Á ở Đông Nam Á văn hoá

1.2.2.1 Khái quát chung

Nh ư đã trình bày ở trên, họ ngôn ngữ N a m Á là một tr ong năm họ có mặt ở vùng Đông N a m Á Người ta ước c h ừn g có kh.oảng gần 100 triệu người sử d ụ n g ngôn ngữ của họ này và phân bố ở hầu hết các nước trong vùng Đô n g Na m Ả văn hoá như Mi a n ma , Thái Lan, Mal ayxia, Inđônêxia, Việt Na m, Lào, Că mpuc hi a , N a m T r u n g Quốc, Ấn Độ, Nê p a n , Butan và

cả Bănglađét Tr ừ tiếng Việt với k h oả ng 70 triệu người, tiếng K h me r ở

C ă m p u c h i a với hơn 6 triệu người, ti ếng Santal ở phần phía Đông Ắn Độ

có 4 triệu người sử dụng sinh sống, các ngôn ngữ còn lại của họ này phần lớn đều có số người sử dụng rất ít và hiện nay bị chia t hành n h ững nhóm nhỏ, đan xen tr ong không gian của các ngôn ngữ khác không c ùng họ hàng cả ở Đ ô n g N a m Á lục địa lẫn ở Đ ô n g N a m Á hải đảo

Ngày đăng: 05/10/2023, 05:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm