Trong phần hai của công trình, Voloshinov dường như đã dự kiến cả khái niệm «đại tự sự» của chủ nghĩa Hậu hiện đại, khi ông viết: «Như vậy, hành ngôn in dường như tham gia vào một cuộc
Trang 1Valentin Nikolaevich Voloshinov
(Валентин Николaевич Волошинов) (18/06/1895, St Petersburg — 13/06/1936, Leningrad)
Вторая вёрстка (+ правка из Вьетнама)_17-06-2014
Trang 3V N VOLOSHINOV
CHỦ NGHĨA MARX
VÀ TRIẾT HỌC
NGÔN NGỮ
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP
XÃ HỘI HỌC TRONG NGHIÊN CỨU
NGÔN NGỮ
Ngô Tự Lập dịch
LOKID PREMIUM
2014
Trang 5LỜI CÁM ƠNDịch giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các bạn bè, người thân đã giúp đỡ tôi bằng cách này hay cách khác trong quá trình dịch tác phẩm này Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn:Tiến sĩ Natasha Kraevskaya, đã giúp tôi tìm kiếm tác phẩm của Voloshinov và nhiều văn bản khác bằng tiếng Nga;
Dịch giả Đoàn Tử Huyến và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây; Tiến sĩ Phùng Trọng Toản và Phân viện Pushkin tại
Hà Nội; Th ạc sĩ Phạm Xuân Hoàn và thư viện Khoa Quốc Tế — ĐHQGHN, đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt tư liệu
Nhà phê bình trẻ Trần Th iện Khanh đã bỏ thời gian đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cả về bản dịch lẫn kỹ thuật trình bày
Các anh Phạm Trần Long, Phó giám đốc, và Nguyễn Chí Hiếu, cán bộ Nhà xuất bản Th ế giới, đã tận tình chăm sóc cho việc xuất bản cuốn sách này
Ngô Tự Lập
Trang 6Lời giới thiệu
LỜI GIỚI THIỆU
Ngô Tự Lập và Ngô Minh Th ủy
I.
Cuốn sách Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ mà các bạn
đang cầm trên tay được xuất bản lần đầu tiên tại Liên Xô năm
19291 và ngày nay được coi là một trong những thành tựu quan trọng nhất của triết học ngôn ngữ nói riêng, của tư tưởng nhân loại nói chung, trong thế kỷ XX Tác giả của cuốn sách là Valentin Nikolaevich Voloshinov (Валентин Николаевич Волошинов), một nhà triết học và ngôn ngữ học kiệt xuất của Liên Xô và thế giới Trong cuộc đời khá ngắn ngủi của mình (ông mất năm 41 tuổi), Voloshinov đã kịp để lại một sự nghiệp sáng chói với nhiều
tác phẩm quan trọng, trong đó hai cuốn Chủ nghĩa Freud: Một
phác thảo phê phán (1927) và Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ đã trở thành những công trình kinh điển Voloshinov và
hai tác giả cùng thời, cũng là hai người bạn, Pavel Nikolaevich Medvedev (1892–1938) và Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895–1975), hợp thành một nhóm — có một thời gian được gọi là «Nhóm Bakhtin» hoặc nhóm «BMV» (Bakhtin, Medvedev, Voloshinov) Có thể coi họ là những vị tiền bối của chủ nghĩa Hậu hiện đại
II.
Voloshinov sinh ngày 18 tháng Sáu năm 1895 tại St Petersburg Ông học một thời gian ngắn tại khoa Luật trường đại học Petrograd trước khi chuyển đến dạy học tại Izocha, một thị trấn phía bắc Nevel Chính ở đây, Voloshinov tham gia «Nhóm Nevel»
do M I Kagan, một trí thức trẻ mới nhận bằng tiến sĩ ở Đức trở
1 Chúng tôi sử dụng bản in năm 1930 của nhà xuất bản Priboi Xem «Một số lưu ý về dịch thuật».
Trang 7Lời giới thiệu
về, làm thủ lĩnh Trong số các thành viên khác của «Nhóm Nevel», phải kể đến I V Pumpyanski, M V Yudina, V Z Rugevich,
B M Zubakin và M M Bakhtin Năm 1921, Voloshinov chuyển đến Vitebsk, một trung tâm văn hóa của nước Nga thời đó Phần lớn các thành viên khác của «Nhóm Nevel», người trước người sau, cũng chuyến đến Vitebsk Tại đó, họ tham gia một nhóm khác cùng với I Sollertinski và P Medvedev Medvedev sống và làm việc ở Vitebsk từ năm 1917 và khi đó đã trở thành một thủ lĩnh văn hóa tại địa phương Trong cuộc trò chuyện với Duvakin, Bakhtin gọi nhóm này là «nhóm Medvedev»1 Tại Vitebsk, Voloshinov giảng dạy tại trường Đại học Vô sản do Medvedev làm hiệu trưởng, công bố nhiều bài viết về âm nhạc và nghệ thuật
trên tạp chí Iskusstvo (Nghệ thuật) do Medvedev chủ trương Với
ảnh hưởng của mình, Medvedev cũng giúp nhiều thành viên của nhóm cả về vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là Bakhtin, người bạn
bị bệnh viêm xương tủy và không có công ăn việc làm ổn định.Năm 1922, nối tiếp Medvedev, Voloshinov trở về Petrograd (Năm 1924, Bakhtin cũng chuyển đến đó) Tại Leningrad (Petrograd được đổi tên tháng 1/1924), Voloshinov tham gia salon của nữ nghệ sĩ piano M V Yudina Ông thường đọc thơ, diễn thuyết và trình tấu các tác phẩm âm nhạc Cũng năm 1924, Voloshinov tốt nghiệp ngành ngữ văn, trường đại học Leningrad
và tham gia vào nhóm nghiên cứu phương pháp nghiên cứu văn học dưới sự hướng dẫn của V.A Desnitski và N Yakovlev tại Viện Lịch sử So sánh Văn học và Ngôn ngữ Đông Tây (ИЛЯЗВ)
Năm 1926, Voloshinov công bố bài báo Từ trong đời sống và từ
trong thơ, trong đó ông không chỉ đưa ra những tư tưởng nền
tảng cho thi pháp xã hội học, mà còn đề xuất nhiều kiến giải mới
mẻ về các vấn đề đối thoại, phong cách và truyền đạt lời kẻ khác
mà ông sẽ phát triển đầy đủ trong cuốn Chủ nghĩa Marx và triết
học ngôn ngữ.
Năm 1927 Voloshinov bắt đầu làm luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của V A Desnitski Đề tài luận án tiến sĩ của ông là
vấn đề truyền đạt lời kẻ khác Bài báo Vấn đề truyền đạt lời kẻ
khác — một thử nghiệm nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội được
đăng trong tuyển tập Chống chủ nghĩa duy tâm trong ngôn ngữ
1 Jean-Paul Bronckart, Cristian Bota, Bakhtine démasqué, Droz, Genève,
2011, tr 264
Trang 8Lời giới thiệu
học (ГИЗ — ИЛЯЗВ, 1928) chính là nội dung phần ba của cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ Năm 1927, Voloshinov
cũng công bố một công trình quan trọng khác, đó là Chủ nghĩa
Freud: Một phác thảo phê phán (ГИЗ, 1927)1
Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, Voloshinov trở thành Phó giáo sư (доцент) tại Viện Lịch sử So sánh Văn học và Ngôn ngữ Đông Tây (ИЛЯЗВ), Giáo sư tại Đại học sư phạm Leningrad mang tên Gertsen (Ленинградском педагогическом институте имени А И Герцена), Viện văn hóa ngôn ngữ (Институте речевой культуры) và Trường đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ các ngành nghệ thuật Leningrad (Ленинградский Институт повышения квалификации кадров работников искусств, ЛИПКРИ)
Từ năm 1930, Voloshinov bị lao phổi nặng Ông mất ngày 13 tháng Sáu năm 1936 tại Pushkin, Leningrad
III.
Công trình Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ gồm có ba
phần Phần I: Tầm quan trọng của triết học ngôn ngữ đối với chủ nghĩa Marx; Phần II: Những con đường của triết học ngôn ngữ Marxist; Phần III: Tiến tới một lịch sử hình thức phát ngôn trong
các cấu trúc ngôn ngữ Mỗi phần, mỗi chương của cuốn sách đều chứa đựng những phát kiến, lý giải, nhận định sâu sắc, mới mẻ
và thậm chí mang tính cách mạng Dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng tóm lược một số điểm, mà theo thiển ý của chúng tôi, là quan trọng nhất
Phần thứ nhất của cuốn sách, Voloshinov viết, «có nhiệm vụ chỉ ra vị trí của các vấn đề triết học ngôn ngữ trong tổng thể thế giới quan Marxist thống nhất» Điều này hết sức cấp thiết vào thời
điểm đó, bởi vì cuốn sách của ông, trên thực tế, là nỗ lực đầu tiên vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu ngôn ngữ, một nhiệm vụ mà theo ông là cực kỳ quan trọng để xây dựng một cơ sở vững chắc của «khoa học Marxist
về sáng tạo tư tưởng» — thuật ngữ được Voloshinov sử dụng để
1 Th eo hồ sơ Nghiên cứu sinh của Voloshinov, trong Бахтин M M (под маской), Лабиринт, Москва, 2000, tr 573.
Trang 9Lời giới thiệuchỉ hàng loạt lĩnh vực như khoa học luận, nghiên cứu văn học, nghiên cứu tôn giáo, đạo đức học, và nhiều ngành nghiên cứu khác…
«Khoa học về sáng tạo tư tưởng» theo cách hiểu của Voloshinov chính là ký hiệu học, bởi lẽ với Voloshinov, mọi thứ có tính tư
tưởng đều có tính chất ký hiệu Ông khẳng định: «Lĩnh vực của
tư tưởng trùng hợp với lĩnh vực của ký hiệu Giữa chúng có thể đặt một dấu bằng» Vì thế, trong phần này Voloshinov tập trung nghiên cứu bản chất của ký hiệu Ông và Medvedev chính là những người đi tiên phong trong việc xây dựng ngành ký hiệu học Marxist Không những thế, trong khi phê phán triết học và văn hóa học tâm lý (chủ trương đặt tư tưởng vào lĩnh vực ý thức), Voloshinov đưa ra những kiến giải cực kỳ độc đáo về sự hiểu và
về cơ chế hoạt động của ký hiệu: «Cả chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa tâm lý đều không nhận ra, rằng bản thân sự hiểu chỉ có thể diễn ra thông qua một chất liệu ký hiệu nào đó (ví dụ, ngôn ngữ bên trong) Không nhận thấy, rằng ký hiệu dựa vào ký hiệu, và rằng bản thân ý thức chỉ có thể thể hiện mình và trở thành một
sự kiện thực tế khi hiện thân bằng chất liệu ký hiệu Bởi lẽ, hiểu một ký hiệu có nghĩa là đối chiếu ký hiệu cần phải hiểu đó với một
ký hiệu khác đã quen thuộc; nói cách khác, sự hiểu đối đáp lại ký hiệu bằng ký hiệu Chuỗi sáng tạo tư tưởng và sự hiểu như vậy — đi
từ ký hiệu đến ký hiệu và từ ký hiệu đó đến một ký hiệu mới — là một chuỗi nhất quán và liên tục: từ một mắt xích ký hiệu, cũng tức
là một mắt xích vật chất, chúng ta di chuyển một cách liên tục đến một mắt xích ký hiệu khác (NTL và NMT nhấn mạnh) Không
nơi nào bị đứt đoạn, không nơi nào chuỗi xích ấy rơi vào cái thực tại bên trong phi vật chất, không nơi nào không hiện thân thành
ký hiệu»
Độc giả có thể nhận thấy rằng những kiến giải này không phải
là cái gì khác hơn là ý tưởng trung tâm của lý thuyết về văn bản của các nhà tư tưởng Hậu hiện đại như Roland Barthes, Derrida, Foucault… và nhất là Kristeva với khái niệm «liên văn bản» của bà
Một luận điểm quan trọng khác của Voloshinov trong phần này là bản chất liên cá nhân của ký hiệu Ông viết: «Ký hiệu chỉ
có thể xuất hiện trên lãnh địa liên cá nhân, và lãnh địa này không
phải là «tự nhiên» theo nghĩa trực tiếp của từ này: ngay cả giữa
hai homo sapiens ký hiệu cũng không xuất hiện Hai cá nhân cần
Trang 10Lời giới thiệuphải được tổ chức theo nguyên tắc xã hội, phải tạo thành tập thể, chỉ khi đó giữa họ mới có thể hình thành môi trường ký hiệu Ý thức cá nhân không những không thể giải thích bất cứ điều gì
ở đây, mà ngược lại, chính nó cũng cần được giải thích từ môi trường tư tưởng xã hội… Định nghĩa khách quan của ý thức chỉ
có thể là một định nghĩa xã hội học»
Luận điểm này dẫn đến một kết luận quan trọng: tư tưởng không xuất phát từ tự nhiên (như trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cơ học ngây thơ và tâm lý học khách quan hiện đại), cũng không xuất phát từ ý thức (như cách hiểu của chủ nghĩa duy tâm
và chủ nghĩa thực chứng tâm lý), mà có bản chất ký hiệu và được tạo ra trong quá trình giao tiếp xã hội của tập thể có tổ chức» [NTL
và NMT nhấn mạnh] Luận điểm này rất giống luận điểm của Vưgotski (1896–1934), một người cùng thời của Voloshinov.Trong các ký hiệu, theo Voloshinov, ngôn từ là ký hiệu thuần khiết nhất và có tính biểu đạt cao nhất «Cần phải có một phân tích sâu sắc và tinh tế về từ, với tư cách một ký hiệu xã hội, thì mới có thể hiểu được chức năng của nó như là một phương tiện của ý thức Chính vai trò đặc biệt ấy của từ, với tư cách là phương
tiện của ý thức, xác định thực tế là từ đồng hành với mọi sáng tạo tư tưởng nói chung Từ đồng hành và chú giải mọi hành vi tư
tưởng Quá trình hiểu bất cứ hiện tượng tư tưởng nào (tranh vẽ,
âm nhạc, lễ nghi, hành động) đều không thể diễn ra nếu không
có sự tham gia của ngôn ngữ bên trong Mọi thể hiện của sự sáng tạo tư tưởng — tất cả các dạng ký hiệu phi ngôn ngữ khác — đều thấm đẫm dòng chảy lời nói, lơ lửng trong nó, không thể tách rời hoặc ly khai hoàn toàn khỏi nó»
Voloshinov chỉ ra rằng, lời nói tạo ra một thứ giống như là một khí quyển tư tưởng bao quanh mọi ký hiệu văn hóa khi ký hiệu ấy được tiếp nhận và được hiểu: «Không ký hiệu văn hóa nào, một
khi được tiếp nhận và được hiểu, lại đứng cô lập, lại không gia nhập vào khối thống nhất của ý thức tạo nên bằng lời nói Ý thức
có khả năng tìm ra cách tiếp cận nó bằng lời nói Do đó, xung quanh ký hiệu tư tưởng dường như hình thành những vòng sóng
lan tỏa của các hồi đáp và âm vọng bằng lời Mọi khúc xạ tư tưởng của thực tại đang hình thành, bất kể vật liệu mang nghĩa của nó
là gì, đều kèm theo sự khúc xạ tư tưởng bằng ngôn từ như là hiện
tượng đồng hành tất yếu»
Trang 11Lời giới thiệuRất tinh tế, Voloshinov nhận ra rằng mỗi thời đại và nhóm xã hội có những hình thức giao tiếp tư tưởng đời sống riêng biệt, được quy định bởi các quan hệ sản xuất và hệ thống chính trị —
xã hội Th ực tại được phản ánh trong ký hiệu không chỉ được phản ánh, mà còn bị khúc xạ do sự giao thoa của các lợi ích xã hội khác nhau trong một tập thể ký hiệu Tuy nhiên, khác với quan điểm Marxist máy móc, Voloshinov khẳng định rằng «Giai cấp không trùng với tập thể ký hiệu, tức là với tập thể những người sử dụng chung các ký hiệu giao tiếp tư tưởng Do đó, cùng một ngôn ngữ có thể được các giai cấp khác nhau sử dụng Hệ
quả là, trong mỗi ký hiệu tư tưởng có sự giao thoa của nhiều trọng
âm khác nhau Ký hiệu trở thành vũ đài đấu tranh giai cấp» Cái
«khối thống nhất của ý thức tạo nên bằng lời nói» không phải là cái gì khác hơn là cái «diễn ngôn» của chủ nghĩa Hậu hiện đại sau này; còn ở «sự giao thoa của nhiều trọng âm đánh giá khác nhau» trong mỗi ký hiệu chúng ta thấy thấp thoáng khái niệm
«interpellation» của Althusser (Trong phần hai của công trình, Voloshinov dường như đã dự kiến cả khái niệm «đại tự sự» của
chủ nghĩa Hậu hiện đại, khi ông viết: «Như vậy, hành ngôn in
dường như tham gia vào một cuộc trò chuyện tư tưởng quy mô lớn: nó trả lời một cái gì đó, phản đối một cái gì đó, khẳng định một cái gì đó, dự đoán các câu trả lời và sự phủ nhận có thể, tìm kiếm những sự ủng hộ, v.v…)
Những luận giải về vai trò quyết định của quan hệ sản xuất và
hệ thống chính trị — xã hội đối với các liên hệ bằng lời nói giữa người với người và mọi hình thức và phương pháp giao tiếp lời
nói của họ dẫn Voloshinov đến những ý tưởng độc đáo về loại hình lời nói Ông viết: «Mỗi thời đại và mỗi nhóm xã hội đều có
danh mục những hình thức giao tiếp tư tưởng đời sống riêng Tương ứng với mỗi nhóm các hình thức cùng loại, nghĩa là, với mỗi loại hình lời nói trong đời sống, là một nhóm chủ đề riêng Giữa hình thức giao tiếp (ví dụ: giao tiếp kỹ thuật trực tiếp trong lao động), hình thức phát ngôn (ví dụ: lời đáp ngắn trong công việc) và chủ đề của nó tồn tại một sự thống nhất hữu cơ không
thể tách rời Do đó, việc phân loại các hình thức phát ngôn phải dựa trên sự phân loại các hình thức giao tiếp lời nói Các hình thức
giao tiếp lời nói này được quy định hoàn toàn bởi các quan hệ sản xuất và hệ thống chính trị — xã hội»
Trang 12Lời giới thiệu
Ý tưởng về các loại hình lời nói, đến lượt nó, lại là cơ sở cho một cách nhận thức lại bản chất và vai trò của các thể loại văn học
IV
Trong phần thứ hai, Voloshinov tập trung giải quyết những
vấn đề cơ bản của triết học ngôn ngữ như sự hình thành ngôn ngữ, tương tác lời nói, sự hiểu, ngữ nghĩa, loại hình lời nói… và đặc biệt là vấn đề về thực tại của các hiện tượng ngôn ngữ, mà theo ông
là vấn đề trung tâm của khoa học về ngôn ngữ
Như chúng ta đều biết, những nghiên cứu ngôn ngữ học sớm nhất mà chúng ta còn biết đến ngày nay là của người Ấn Độ, liên quan đến tiếng Phạn (Sanskrit), nhằm phân tích, chú giải và truyền giảng kinh Vệ Đà (Veda) Tác phẩm nghiên cứu ngôn ngữ
cổ nhất còn giữ được đến ngày nay là của Panini (khoảng 520–
460 TCN), trong đó ông tổng kết thành tựu nghiên cứu của các thế hệ đi trước và đưa ra các quy tắc ngữ pháp chính của tiếng Phạn Ở phương Tây, ngôn ngữ học bắt đầu với tư cách là một bộ phận của triết học Những luận giải sớm nhất về ngôn ngữ còn
giữ được đến ngày nay có thể tìm thấy trong tác phẩm Cratylus
của Plato, trong đó Socrates, Cratylus và Hermogenes thảo luận
về mối liên hệ giữa ngôn từ và sự vật: nghĩa của từ là quy ước,
là sản phẩm của thần thánh, hay có nguồn gốc tự nhiên? Việc nghiên cứu ngôn ngữ sau đó được tiếp tục trong tác phẩm của Aristotle và các nhà Ngữ pháp học (grammarians) Cũng giống như ở Ấn Độ, nghiên cứu ngôn ngữ ở Hy Lạp có liên hệ tới việc
chú giải các anh hùng ca, trước hết là Iliad và Odyssey, được cho
kể, đã quyết định toàn bộ tư duy ngôn ngữ học châu Âu Lối tư duy này hình thành và trưởng thành trên xác chết của ngôn ngữ viết Hầu như tất cả các phạm trù, cách tiếp cận và kỹ năng của
Trang 13Lời giới thiệulối tư duy này được phát triển trong quá trình làm sống lại những xác chết đó».
Trong các luồng tư duy về ngôn ngữ ở châu Âu, cho đến đầu
thế kỷ XX, ta có thể phân biệt hai xu hướng khác nhau căn bản
trong việc giải quyết những nhiệm vụ chính của ngôn ngữ học Hai xu hướng tư tưởng triết học ngôn ngữ đó được Voloshinov
gọi là «chủ nghĩa chủ quan cá nhân» và «chủ nghĩa khách quan trừu tượng».
Chủ nghĩa chủ quan cá nhân coi hành động sáng tạo lời nói cá
nhân là cơ sở và coi tâm lý cá nhân là cội nguồn của ngôn ngữ
Vì thế, nhiệm vụ của ngôn ngữ học, nói cho cùng, quy về việc nghiên cứu các quy luật tâm lý cá nhân trong hoạt động sáng tạo ngôn ngữ «Ngôn ngữ, từ quan điểm này», Voloshinov viết,
«tương tự như các hiện tượng tư tưởng khác, đặc biệt là nghệ thuật và hoạt động thẩm mỹ»
Voloshinov tóm tắt quan điểm của xu hướng thứ nhất về ngôn ngữ qua bốn luận điểm chính mà chúng tôi trích nguyên văn dưới đây:
1) Ngôn ngữ là một hoạt động, một quá trình tạo lập không ngừng (energeia), được thực hiện bởi các hành động nói cá nhân; 2) Các quy luật sáng tạo ngôn ngữ về bản chất là các định luật tâm lý — cá nhân;
3) Sự sáng tạo ngôn ngữ — đó là một sự sáng tạo có ý thức, tương
tự như nghệ thuật;
4) Ngôn ngữ, với tư cách một sản phẩm đã hoàn thành (ergon), một hệ thống ngôn ngữ ổn định (từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm), có thể coi là một thứ trầm tích đã chết, một thứ dung nham đã đông cứng của sáng tạo ngôn ngữ, được ngôn ngữ học kiên cố hóa một cách trừu tượng để phục vụ cho mục đích học tiếng với tư cách một công cụ đã làm sẵn.
Người đặt nền móng và cũng là đại diện xuất sắc nhất của
«chủ nghĩa chủ quan cá nhân», theo Voloshinov, là Wilhelm von
âm, ngữ pháp và từ vựng của ngôn ngữ» Voloshinov viết: «Nếu
như đối với xu hướng thứ nhất, ngôn ngữ là cái dòng chảy không
Trang 14Lời giới thiệungừng của hành động nói, trong đó không có gì là ổn định và tự đồng nhất, thì với xu hướng thứ hai, ngôn ngữ — đó là một chiếc cầu vồng cố định bên trên dòng chảy ấy» Th eo quan điểm của
xu hướng thứ hai, mặc dù mỗi phát ngôn là duy nhất, nhưng nó đồng thời cũng có những yếu tố ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
đồng nhất, lặp đi lặp lại, và do đó là chuẩn cho mọi phát ngôn,
cái đảm bảo sự thống nhất của một ngôn ngữ và sự hiểu của mọi thành viên trong một cộng đồng Các quy tắc ấy tạo nên một
hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn độc lập với các hành động, ý định hay động cơ sáng tạo cá nhân «Từ quan điểm của xu hướng thứ
hai không thể nói gì về sự sáng tạo ngôn ngữ có chủ định của
cá nhân người nói Ngôn ngữ đối diện với cá nhân như là thứ quy tắc bất biến và bất khả xâm phạm, mà từ phía cá nhân chỉ
có thể chấp nhận Nếu một cá nhân không tiếp nhận được quy tắc, thì nó không tồn tại với anh ta như một hình thức ngôn ngữ,
mà đơn thuần là một khả năng tự nhiên của bộ máy tâm — vật
lý cá nhân Cá nhân tiếp nhận hệ thống ngôn ngữ từ cộng đồng những người nói dưới dạng đã hoàn chỉnh, và mọi thay đổi bên trong hệ thống này nằm ngoài ý thức cá nhân của anh ta Hành động phát ra một âm thanh bất kỳ chỉ trở thành một hành động ngôn ngữ trong chừng mực nó tương thích với một hệ thống ngôn ngữ — bất biến tại mỗi thời điểm và không thể tranh cãi đối với cá nhân»
Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa khách quan trừu tượng được Voloshinov tóm tắt qua bốn nguyên lý cơ bản sau đây:
1) Ngôn ngữ là một hệ thống ổn định bất biến của các hình thức ngôn ngữ tự đồng nhất quy chuẩn (нормативно тождественных языковых форм), có trước và không bị ảnh hưởng bởi ý thức cá nhân.
2) Các quy luật ngôn ngữ về bản chất là các quy luật ngôn ngữ học đặc thù của mối quan hệ giữa các ký hiệu ngôn ngữ bên trong một hệ thống khép kín Các quy luật này là khách quan đối với mọi
ý thức chủ quan
3) Các quy luật của mối quan hệ ngôn ngữ đặc thù không có
gì chung với các giá trị tư tưởng (nghệ thuật, nhận thức, v.v…)
Các hiện tượng ngôn ngữ không có động cơ tư tưởng Giữa từ
và ý nghĩa của nó không hề có mối quan hệ đơn nhất nào có thể hiểu được bằng tri thức, cũng không có quan hệ nào về mặt nghệ thuật
Trang 15Lời giới thiệu
4) Các hành động nói cá nhân, nhìn từ quan điểm ngôn ngữ, chỉ
là các khúc xạ và biến thể hoặc đơn thuần là biến dạng ngẫu nhiên của các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn; nhưng chính những
hành động nói cá nhân này giải thích sự thay đổi lịch sử của các hình thức ngôn ngữ — mà, trên thực tế, nhìn từ quan điểm hệ
thống ngôn ngữ, là phi lý và vô nghĩa Giữa hệ thống ngôn ngữ và lịch sử của nó không có liên hệ, cũng không có điểm chung về động
cơ Chúng xa lạ với nhau».
Đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa khách quan trừu tượng là Ferdinand de Saussure và «Trường phái Geneva»
Ferdinand de Saussure (1857–1913), với tác phẩm Cours de
linguistique générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương), do
học trò in năm 1916 sau khi ông mất, được công nhận rộng rãi như là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại Saussure quan niệm ngôn ngữ như là một hệ thống ký hiệu mang tính đồng đại chứ không phải là lịch đại Trong hệ thống này, mỗi tín hiệu được tạo
nên bởi một cái năng biểu (signifi er; trong ngôn ngữ nói, đó là âm) tương ứng với một nghĩa mà ông gọi là sở biểu (signifi ed)
Th eo Saussure, ý nghĩa hoàn toàn do sự khác nhau giữa những
cái năng biểu quyết định Mối quan hệ giữa năng biểu và sở biểu
mang tính võ đoán Chẳng hạn, âm «h-a-i» tương ứng với «cao»
(high) trong tiếng Anh, nhưng lại có nghĩa là «số hai» trong tiếng
Cấu trúc luận ngôn ngữ của Saussure có ảnh hưởng rất to lớn trong thế kỷ XX, không chỉ đối với ngôn ngữ học mà cả với nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn khác Trong lý luận văn học, điều này có thể thấy ở Chủ nghĩa hình thức, coi văn chương là một thứ ngôn ngữ đặc biệt, khác với ngôn ngữ hàng ngày («ordinary language») Từ ngôn ngữ học, cấu trúc luận tràn vào các lĩnh vực khác Vào khoảng đầu thập kỷ 1960, khi cấu trúc luận đạt đến thời hoàng kim của nó, người ta được nghe thấy tính từ «cấu trúc luận» trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu: nhân chủng học cấu
Trang 16Lời giới thiệutrúc luận của Claude - Lévi Strauss, tâm phân học cấu trúc luận của Jacques Lacan, phê bình văn học cấu trúc luận của Roland Barthes, và cả chủ nghĩa Marx cấu trúc luận của Louis Althusser
Th eo Voloshinov, cả hai xu hướng triết học ngôn ngữ — chủ nghĩa khách quan trừu tượng và chủ nghĩa chủ quan cá nhân — đều không có khả năng tiếp cận bản chất thực sự của ngôn ngữ
Trước hết là chủ nghĩa khách quan trừu tượng Voloshinov bắt
đầu bằng câu hỏi: «Hệ thống các chuẩn mực ngôn ngữ tự đồng nhất — nghĩa là hệ thống ngôn ngữ như cách hiểu của các đại diện của xu hướng thứ hai – là có thực đến đâu?» Ông trả lời: nếu chúng ta nhìn nhận một cách thực sự khách quan, một hệ thống bất biến các quy tắc tự đồng nhất như vậy không tồn tại trên thực
tế Ngôn ngữ, Voloshinov chỉ rõ, là một quá trình hình thành liên
tục của các quy tắc ngôn ngữ: «Hệ thống đồng đại, do đó, nhìn từ quan điểm khách quan, không tương ứng với bất kỳ thời điểm thực nào của quá trình phát triển lịch sử Và quả thật, đối với nhà sử
học ngôn ngữ, đứng trên quan điểm lịch đại, hệ thống đồng đại
là không có thực và chỉ là một thứ sơ đồ ước lệ dùng để ghi lại những sai lệch xảy ra tại mỗi thời điểm thực»
Th eo Voloshinov, hệ thống ngôn ngữ đồng đại nếu tồn tại thì cũng chỉ tồn tại từ quan điểm ý thức chủ quan của cá nhân người
nói, tức là từ quan điểm của một thành viên của cộng đồng ngôn ngữ tại một thời điểm lịch sử «Chúng ta có thể giả định rằng, khi
Caesar đang viết các tác phẩm của ông, tiếng Latin đối với ông
là một hệ thống ổn định và không thể cải biến của các hình thức quy tắc tự đồng nhất, nhưng đối với người nghiên cứu lịch sử tiếng Latin — tại chính thời điểm Caesar đang sáng tác — đó là một quá trình liên tục những biến đổi ngôn ngữ (ngay cả khi sử gia không có khả năng ghi nhận chúng)»
Nhưng ngay cả phương thức tồn tại của ngôn ngữ trong ý thức chủ quan của người nói, ông viết, cũng không tồn tại trên thực tế
Đó chỉ là một sản phẩm trừu tượng hóa Hệ thống ngôn ngữ, theo cách quan niệm của chủ nghĩa khách quan trừu tượng, là sản phẩm của sự tư biện bên trên ngôn ngữ, được thực hiện không phải bởi ý thức của chính người nói ngôn ngữ đó và không phục
vụ cho mục đích trực tiếp của sự nói, mà bởi nhà ngôn ngữ học,
vì những mục đích đặc biệt của mình Voloshinov khẳng định:
«Đối với người nói, hình thức ngôn ngữ quan trọng không phải như là một tín hiệu (сигнал) ổn định và luôn luôn tự đồng nhất
Trang 17Lời giới thiệu
với chính mình, mà như là một ký hiệu (знак) linh hoạt và luôn luôn thay đổi».
Ở đây, cần đặc biệt nhấn mạnh sự phân biệt của Voloshinov
giữa tín hiệu và ký hiệu: «Tín hiệu (сигнал) là cái cố định nội
tại, vật duy nhất, trên thực tế không thay thế cái gì, không phản ánh hoặc khúc xạ cái gì, mà chỉ đơn thuần là một phương tiện
kỹ thuật để dẫn chiếu đến vật này hay vật khác (xác định và cố định) hoặc đến hành động này hay hành động khác (cũng xác định và cố định!) Tín hiệu trong bất cứ trường hợp nào cũng không thuộc về lĩnh vực tư tưởng, tín hiệu thuộc về thế giới của những đồ vật kỹ thuật, về các công cụ sản xuất hiểu theo nghĩa rộng Th ậm chí còn xa lạ với lĩnh vực tư tưởng hơn nữa, là những tín hiệu liên quan đến phản xạ Các tín hiệu này không có bất kỳ mối liên quan nào đến kỹ thuật sản xuất, xét trong mối quan hệ với cơ thể của động vật thí nghiệm, tức là, như là tín hiệu đối với
nó Với tư cách như vậy, chúng không phải là tín hiệu, mà là một dạng kích thích đặc biệt; chúng chỉ là công cụ sản xuất khi ở trong tay người làm thí nghiệm Những sai lầm nhận thức đáng buồn
và thói quen cố hữu của tư duy máy móc là những lý do duy nhất khiến người ta cố gắng biến những «tín hiệu» này thành một thứ gần như là chìa khóa để hiểu ngôn ngữ và tâm lý con người (nội ngôn từ)»
Trong phần này, Voloshinov phân tích sâu hơn về sự hiểu, nhất
là tính tích cực và tính tình huống của sự hiểu Ông chỉ rõ, rằng quá trình hiểu không phải là, tuyệt đối không phải là, một quá
trình nhận biết tín hiệu, mà là quá trình hiểu ký hiệu Ông viết:
«Chừng nào một hình thức ngôn ngữ nào đó còn đơn thuần là tín hiệu và tín hiệu đó được nhận biết bởi người hiểu, thì đối với anh
ta nó hoàn toàn chưa phải là hình thức ngôn ngữ Không có tính chất tín hiệu thuần túy ngay cả khi bắt đầu học tiếng Ngay cả khi
đó, hình thức cũng được định hướng trong một bối cảnh cụ thể,
và ngay cả khi đó nó đã là một ký hiệu, mặc dù vẫn hiện hữu các yếu tố của tính chất tín hiệu cùng sự nhận biết tương ứng»
Th ế nào là hiểu? Lý giải thiên tài của Voloshinov thể hiện ở đoạn dưới đây: «Ý thức ngôn ngữ của người nói và người nghe — hiểu, như vậy, trong thực tế xử lý tiếng nói sống động, hoàn toàn không phải liên hệ với hệ thống trừu tượng các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn của ngôn ngữ, mà với lời nói, theo nghĩa là tập hợp các ngữ cảnh có thể sử dụng của một hình thức ngôn ngữ
Trang 18Lời giới thiệunhất định Từ, đối với người nói bằng bản ngữ — không phải là một mục từ trong từ điển, mà một từ đã được sử dụng trong vô
số các phát ngôn của các đồng thành viên A, đồng thành viên B, đồng thành viên C… của cộng đồng ngôn ngữ, và được chính người đó dùng trong các phát ngôn đa dạng của mình Nếu muốn
đi từ đây đến một ngôn từ tự đồng nhất trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ nhất định — nghĩa là đến một từ trong từ điển — cần phải có một sự định hướng cụ thể, đặc biệt Vì vậy, thành viên của một tập thể ngôn ngữ bình thường không bao giờ cảm thấy sự trói buộc của các quy tắc ngôn ngữ bất di bất dịch Hình thức ngôn ngữ chỉ thể hiện giá trị chuẩn mực của nó trong những trường hợp xung đột cực kỳ hiếm hoi, không điển hình cho đời sống ngôn ngữ bình thường (đối với con người hiện đại — gần như chỉ có trong ngôn ngữ viết)» Nói cách khác, bất
kỳ từ nào cũng có thể có vô số nghĩa tùy thuộc vào ngữ cảnh, và
từ điển chỉ đơn thuần là một bản liệt kê một số nghĩa ở những bối cảnh ít nhiều điển hình trong đời sống mà thôi
Cội nguồn những sai lầm của chủ nghĩa khách quan trừu tượng chính là mục đích thực tế và lý thuyết của việc nghiên cứu và giảng dạy thứ ngôn ngữ chết chứa đựng trong các kinh sách mà chúng tôi đã nói ở trên Ông viết: «Sinh ra trong quá trình nghiên cứu nhằm làm chủ thứ ngoại ngữ đã chết, tư duy ngôn ngữ học còn phục vụ một mục đích khác, không phải là nghiên cứu mà là giảng dạy: không phải là giải mã ngôn ngữ, mà là dạy thứ ngôn ngữ đã được giải mã Các di tích trong các văn bản heuristic được chuyển đổi thành những tài liệu giáo khoa, những hình mẫu cổ điển của ngôn ngữ Nhiệm vụ cơ bản thứ hai này của ngôn ngữ học — nhiệm vụ tạo ra một bộ máy, cần thiết để dạy thứ ngôn ngữ đã được giải mã, có thể nói như vậy, mã hóa nó hướng theo các mục tiêu của việc giảng dạy — để lại dấu ấn sâu sắc của nó
lên tư duy ngôn ngữ học Ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng — đó là ba
bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, ba trung tâm có tổ chức của các phạm trù ngôn ngữ học — đã hình thành trong dòng kênh của
hai nhiệm vụ của ngôn ngữ học — heuristic và sư phạm».
Nếu như chủ nghĩa khách quan trừu tượng gắn liền với chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa tân cổ điển, thì chủ nghĩa chủ quan cá nhân gắn liền với chủ nghĩa lãng mạn Tuy nhiên, giống như chủ
nghĩa khách quan trừu tượng, chủ nghĩa chủ quan cá nhân cũng coi phát ngôn độc thoại là thực tại cuối cùng, đồng thời là điểm
Trang 19Lời giới thiệuxuất phát, của tư duy về ngôn ngữ Điều khác biệt chỉ là ở chỗ họ coi cái phát ngôn độc thoại ấy là sản phẩm của một hành động hoàn toàn cá nhân, một biểu hiện của ý thức cá nhân Voloshinov viết: «Định nghĩa đơn giản nhất và thô mộc nhất của nó là: một cái gì đó được hình thành và xác định, bằng cách này hay cách khác, trong tâm lý cá nhân và được thể hiện ra bên ngoài đối với những người khác nhờ một số ký hiệu bên ngoài».
Lý thuyết về biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan cá nhân giả
định hai yếu tố: cái được biểu hiện (bên trong) và sự biểu hiện của
nó ra bên ngoài cho những người khác thuộc cùng một cộng đồng
ngôn ngữ và tham gia vào cuộc trò chuyện Th eo lý thuyết này, toàn bộ sức mạnh sáng tạo và sự tổ chức biểu hiện, hay nói đúng hơn, toàn bộ sự biểu hiện, được tạo nên ở bên trong trước khi di chuyển ra ngoài Do đó, nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học là xuất phát từ sự biểu hiện bên ngoài rồi thâm nhập vào bên trong để giải thích các hiện tượng ngôn ngữ Lý thuyết này, theo Voloshinov, sai lầm từ gốc rễ: «Trải nghiệm — cái được biểu hiện — và sự cụ thể hóa bên ngoài của nó, như chúng ta biết, được tạo ra từ cùng một vật liệu Bởi lẽ, không có trải nghiệm nằm bên ngoài sự thể hiện bằng tín hiệu Vì vậy, ngay từ đầu, đã không thể bàn về sự khác biệt nguyên tắc về chất giữa cái bên trong và cái bên ngoài Hơn thế nữa, trung tâm tổ chức và hình thành [trải nghiệm — NTL và NMT] không nằm bên trong (tức là, không ở trong một vật liệu của ký hiệu bên trong), mà ở bên ngoài Không phải trải
nghiệm tổ chức sự biểu hiện, mà ngược lại, sự biểu hiện tổ chức trải nghiệm, lần đầu tiên mang lại cho nó một hình thức và tính
định hướng»
Voloshinov chỉ ra rằng, mọi phát ngôn đều được xác định bởi các điều kiện thực tế, đặc biệt là bối cảnh xã hội gần nhất, và có tính định hướng giữa những cá nhân có tổ chức về mặt xã hội — ngay cả trong trường hợp không có người nghe thực sự Khi đó, luôn luôn có một người nghe được người nói/viết hình dung như
là đại diện điển hình của một nhóm xã hội nhất định Voloshinov nhận định: «Không thể có cái gọi là người đối thoại trừu tượng, có thể nói vậy; bởi vì, nếu có, người đó và chúng ta sẽ không có một ngôn ngữ chung, cho dù là theo nghĩa đen hay nghĩa bóng (…)
Th ế giới bên trong và sự tư duy của mỗi người đều có một khán giả xã hội ổn định của mình, trong môi trường đó mọi suy luận,
động cơ nội tâm, đánh giá v.v… được hình thành Người càng có
Trang 20Lời giới thiệuvăn hóa thì khán giả xã hội này càng gần hơn với khán giả bình thường của sự sáng tạo tư tưởng, nhưng trong mọi trường hợp, người đối thoại lý tưởng không thể ra khỏi biên giới của một giai cấp nhất định và một thời đại nhất định».
Như vậy, theo Voloshinov, từ không phải là một âm thanh cụ thể trong một hệ thống và tương ứng với một sự vật ổn định nào
đó, mà được xác định như nhau bởi cả hai yếu tố, của ai và cho
ai Với tư cách là một từ, nó đích thị là sản phẩm của mối quan hệ của người nói và người nghe Mỗi từ đều biểu hiện «một người»
trong quan hệ với một «người khác»
Cá nhân người nói, Voloshinov khẳng định, về bản chất cũng
là một sản phẩm của các mối quan hệ xã hội Điều này rất đúng với khẳng định nổi tiếng của Marx: Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội Những trải nghiệm bên trong của các cá nhân cũng là một địa hạt xã hội; toàn bộ quá trình biểu hiện, từ trải nghiệm bên trong tới sự cụ thể hóa bên ngoài của nó dưới dạng
«phát ngôn», đều nằm trọn trong trong địa hạt xã hội: chỉ có tiếng kêu bản năng của động vật, ông viết, mới có thể được coi là sản phẩm của bộ máy sinh lý của cá thể, còn ngay cả những phát ngôn thô sơ nhất của con người đã mang tính xã hội, đã được tổ chức trong các điều kiện xã hội bên ngoài cơ thể Phát ngôn, như vậy, hoàn toàn không phải là một sản phẩm của cá nhân, mà là sản phẩm của tương tác xã hội Voloshinov khẳng định: «Như vậy, cần phải từ bỏ lý thuyết biểu hiện, nền tảng của chủ nghĩa
chủ quan cá nhân Trung tâm tổ chức của mọi phát ngôn, mọi sự biểu hiện — không phải bên trong, mà ở bên ngoài: ở môi trường
xã hội bao quanh cá nhân (…) Chủ nghĩa cá nhân chủ quan đúng
khi cho rằng các phát ngôn đơn lẻ là thực tại cụ thể đích thực của ngôn ngữ, rằng ý nghĩa sáng tạo trong ngôn ngữ thuộc về
chúng Nhưng chủ nghĩa chủ quan cá nhân đã sai lầm khi bỏ qua
và không hiểu bản chất xã hội của phát ngôn, khi cố gắng lấy nó
ra từ thế giới nội tâm của người nói như là một biểu hiện của thế giới nội tâm này»
V.
Voloshinov nhìn nhận các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa khách quan trừu tượng như là phản đề của các luận điểm cơ bản
Trang 21Lời giới thiệucủa chủ nghĩa chủ quan cá nhân Cả hai xu hướng đều chưa thể cho ta một cách tiếp cận biện chứng đối với ngôn ngữ thực tế, một hiện tượng mang bản chất xã hội sâu sắc và không ngừng phát triển.
Vậy chân lý nằm ở đâu? «Chúng tôi tin rằng — Voloshinov viết — ở đây, cũng như ở bất kỳ nơi nào khác, sự thật không nằm ở trung điểm vàng và không phải là một sự thỏa hiệp giữa các luận đề và phản đề, mà nằm bên ngoài và cách xa chúng, là
cái phủ định cả luận đề lẫn phản đề, tức là, một sự tổng hợp biện chứng»
Voloshinov bắt đầu bằng việc xác định đối tượng nghiên cứu — nhiệm vụ đầu tiên của mọi ngành khoa học.
Việc xác định đối tượng nghiên cứu thực sự của triết học ngôn ngữ, trên thực tế, không phải là một công việc dễ dàng Như Voloshinov phân tích, nếu chúng ta chỉ chú ý đến ngữ âm như là
một hiện tượng âm thanh thuần túy, ngay cả khi chúng ta thêm vào đó quá trình sinh lý sản xuất và tiếp nhận âm thanh, thì đó
cũng chỉ là một đối tượng nghiên cứu của vật lý học và sinh lý học Ngôn ngữ chỉ có thể nảy sinh trong giao tiếp xã hội có tổ chức «Để quan sát quá trình cháy, cần phải đặt chất cháy vào môi trường không khí» — Voloshinov viết — «Để quan sát một hiện tượng ngôn ngữ, cần phải đặt các chủ thể phát và nghe âm thanh, cũng như chính âm thanh, vào bầu không khí xã hội Bởi
lẽ, người nói và người nghe phải thuộc về cùng một cộng đồng ngôn ngữ, cùng một xã hội có tổ chức nhất định Tiếp nữa, cả hai
cá nhân của chúng ta phải ở trong cùng một bối cảnh xã hội gần gũi, tức là, họ phải có liên hệ với nhau, với tư cách con người với con người, trên cùng một cơ sở nhất định Chỉ có trên cùng cơ sở nhất định, thì sự trao đổi bằng lời nói mới có thể diễn ra, bất luận
cơ sở chung đó là chung về cái gì, và như ta vẫn thường nói, có tính ngẫu nhiên như thế nào»
Dựa trên những phê phán đối với hai xu hướng của tư duy triết học ngôn ngữ đương thời (chủ nghĩa khách quan trừu tượng và chủ nghĩa chủ quan cá nhân), Voloshinov chỉ ra rằng mọi phát ngôn đều chỉ là một điểm trong sự giao tiếp lời nói liên tục, và sự giao tiếp bằng lời nói này cũng chỉ là một điểm trong quá trình phát triển liên tục và mọi mặt của một tập thể
xã hội Vì thế, giao tiếp lời nói chỉ có thể hiểu được trong mối liên hệ với một tình huống cụ thể «Chính ở đây, chính trong
Trang 22Lời giới thiệu
sự giao tiếp cụ thể bằng lời nói, chứ không phải trong hệ thống các hình thức ngôn ngữ, không phải trong tâm lý cá nhân của những người nói, ngôn ngữ sống và phát triển trong lịch sử»
Voloshinov kết luận: «Th ực tại đích thực của ngôn ngữ — đó không phải là một hệ thống trừu tượng của các hình thức ngôn ngữ, không phải là phát ngôn độc thoại cô lập, và cũng không phải
là hành động tâm lý — sinh lý của việc thực hiện nó, mà là sự kiện
xã hội của sự tương tác bằng lời nói, được thực hiện bởi các phát ngôn và các phát ngôn Như vậy, tương tác lời nói chính là thực
tại cơ bản của ngôn ngữ»
Vấn đề thứ hai là vấn đề về ý nghĩa, một trong những vấn đề khó khăn nhất của ngôn ngữ học.
Cả chủ nghĩa khách quan trừu tượng lẫn chủ nghĩa chủ quan
cá nhân đều không giải quyết được vấn đề, vì cả hai đều nhìn
nhận phát ngôn từ quan điểm độc thoại, một chiều Với chủ nghĩa
chủ quan cá nhân, phát ngôn độc thoại là một hành động cá nhân (trong đó «một cái gì đó được hình thành và xác định, bằng cách này hay cách khác, trong tâm lý cá nhân và được cụ thể hóa ra bên ngoài cho những cá nhân khác nhờ một số tín hiệu bên ngoài nào đó») Với chủ nghĩa khách quan trừu tượng, sự khác biệt của
cái năng biểu (âm) quyết định sự khác biệt của cái sở biểu (nghĩa)
Trên thực tế, phát ngôn luôn luôn được xác định bởi các điều kiện
cụ thể của sự thực hiện phát ngôn ấy, đặc biệt là bối cảnh xã hội gần nhất, chứ không chỉ bởi các yếu tố tâm — sinh lý bên trong
của người nói hay sự khác biệt của năng biểu Xin nhắc lại luận
điểm của ông về tính định hướng của từ: «Về bản chất, từ là một hành động hai mặt Nó được xác định ở mức độ như nhau bởi cả hai yếu tố, của ai và cho ai Với tư cách là một từ, nó đích thị là sản phẩm của mối quan hệ giữa người nói và người nghe Mỗi từ đều
biểu hiện «một người» trong quan hệ với một ‘người khác’ Trong
từ, tôi tạo ra một diện mạo của chính mình bằng lời từ quan điểm của người khác, và nói cho cùng, từ quan điểm của tập thể mà mình là thành viên»
Khác với Saussure, Voloshinov phân biệt Chủ đề («nội dung của chỉnh thể phát ngôn») với Ý nghĩa («một tiềm năng, khả
năng có nghĩa trong một chủ đề cụ thể») Xin trích một đoạn phân tích dài của ông: «Bất kỳ một phát ngôn nào, như là một
chỉnh thể, đều có một ý nghĩa xác định và duy nhất, một nội dung duy nhất Hãy gọi nội dung của tổng thể phát ngôn là chủ đề của
Trang 23Lời giới thiệu
nó Chủ đề phải duy nhất, nếu không, chúng ta sẽ không có bất
kỳ cơ sở gì để nói về một phát ngôn Chủ đề của phát ngôn, về bản chất, mang tính cá nhân và không lặp lại, như bản thân phát ngôn Chủ đề là biểu hiện của tình huống lịch sử cụ thể đã sản sinh ra phát ngôn Phát ngôn «mấy giờ rồi?» mỗi lần sử dụng lại
có một ý nghĩa khác, và do đó, nói bằng thuật ngữ của chúng ta,
có một chủ đề khác, tùy thuộc vào tình huống lịch sử cụ thể (lịch
sử ở đây được hiểu với một quy mô rất nhỏ), trong đó nó được phát ra và, về bản chất, nó cũng là một bộ phận cấu thành… Tuy nhiên, nếu chúng ta tự giới hạn ở tính độc nhất và không lặp lại của từng phát ngôn cụ thể cùng chủ đề của phát ngôn ấy, chúng
ta sẽ là những nhà biện chứng tồi Bên cạnh chủ đề, hay đúng
hơn, bên trong chủ đề, phát ngôn còn có ý nghĩa Ý nghĩa, khác
với chủ đề, ở đây được quan niệm là tất cả những yếu tố của phát
ngôn, được lặp lại và tự đồng nhất ở tất cả các lần lặp lại Tất
nhiên, những yếu tố này là trừu tượng: chúng không tồn tại độc lập và cụ thể dưới hình thức biệt lập nhân tạo, nhưng đồng thời chúng cũng là bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời của phát ngôn Chủ đề của một phát ngôn, về bản chất, không thể chia tách được Ý nghĩa của phát ngôn, ngược lại, được chia nhỏ thành ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nên phát ngôn
ấy Chủ đề không lặp lại của phát ngôn «mấy giờ rồi?» gắn chặt với một tình huống lịch sử cụ thể, không thể phân chia thành các yếu tố Còn ý nghĩa của phát ngôn «mấy giờ rồi?» — là như nhau, tất nhiên, trong mọi hoàn cảnh lịch sử mà nó được phát
ra — được tạo nên từ ý nghĩa của các từ, các hình thức quan hệ hình thái học và cú pháp, ngữ điệu nghi vấn v.v… tham gia cấu thành nên nó»
Jacques Derrida về sau cũng phê phán quan điểm của Ferdinand de Saussure Ông viết: «Khái niệm được biểu đạt không bao giờ hiện diện trong bản thân nó, trong một sự hiện diện đúng mức chỉ dẫn chiếu đến chính nó mà thôi Mỗi khái niệm bắt buộc và thực chất được gắn với một chuỗi hay một hệ thống, trong đó nó dẫn chiếu đến một và những khái niệm khác, thông qua sự vận hành hệ thống của những khác biệt».1 Derrida
minh họa bằng việc thay chữ «e» trong «diff érence» (khác biệt)
1 Derrida, Jacques «Diff érance», trong “Literary Th eory: An Anthology” Ed Julie Rivkin and Michael Ryan Blackwell, Malden, 1998, tr 392.
Trang 24Lời giới thiệu
bằng» chữ «a» để sáng tạo ra từ «diff érance» đồng âm nhưng
khác cách viết.1
Th eo Voloshinov, chủ đề là «một hệ thống năng động, phức tạp của các ký hiệu, có xu hướng tương thích với một thời điểm nhất định của quá trình phát triển Chủ đề — đó là phản ứng của ý thức đang phát triển đối với sự phát triển của thực tại Ý nghĩa — đó là
bộ máy kỹ thuật để thực hiện chủ đề».
Các từ được nói ra đều không chỉ có chủ đề và ý nghĩa, mà còn có sự đánh giá «Không thể có một phát ngôn mà không có
sự đánh giá Mỗi phát ngôn trước hết là sự định hướng có đánh giá Vì vậy, trong một phát ngôn trong đời sống, mỗi yếu tố đều
không chỉ mang ý nghĩa mà còn đánh giá Chỉ có những yếu tố trừu tượng, được tiếp nhận trong hệ thống ngôn ngữ, chứ không phải trong cấu trúc phát ngôn, mới có vẻ không có sự đánh giá Chủ trương chỉ nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ trừu tượng còn dẫn đến một thực tế là hầu hết các nhà ngôn ngữ học tách rời sự đánh giá với ý nghĩa, xem nó là phụ, là một yếu tố của ý nghĩa, một sự biểu hiện quan hệ của cá nhân người nói đối với đối tượng của lời nói»
Ngữ điệu chính là ví dụ thường gặp nhất về hàm ý đánh giá của từ (Tuy không phải mọi đánh giá đều được thể hiện bằng ngữ điệu) Cùng một từ, nhưng khi được nói cùng với những ngữ điệu khác nhau sẽ thể hiện sự đánh giá khác nhau Trong ngôn ngữ mà chúng ta gặp hàng ngày trong đời sống, Voloshinov chỉ
rõ, ngữ điệu thường có một ý nghĩa hoàn toàn độc lập với các thành phần mang nghĩa của lời nói
Ngữ điệu cũng có thể có vai trò quan trọng hơn Voloshinov
trích dẫn Dostoievski, trong «Nhật ký một nhà văn», khi ông kể
lại chuyện sáu người thợ lần lượt văng tục bằng cùng một từ để nói những điều khác nhau: «Vậy đấy, không nói bất một từ nào khác, họ lần lượt lặp đi lặp lại chỉ một từ, cái từ yêu thích nhất
ấy, sáu lần liên tiếp, và hiểu nhau một cách hoàn hảo Đó là một chuyện thực mà tôi được chứng kiến!»
Muốn hiểu sự hình thành lịch sử của chủ đề và ý nghĩa do nó thực hiện, Voloshinov kết luận, chúng ta không thể không nghiên cứu sự đánh giá của xã hội
1 Trong tiếng Việt chúng ta cũng có thể làm tương tự: thay «c» trong «Khác biệt» bằng «k» để thành «Khák biệt».
Trang 25Lời giới thiệu
Vấn đề thứ ba là tính đối thoại và sự tiếp nhận chủ động.
Lý luận về tính đối thoại của ngôn ngữ thường được coi là một trong những điểm độc đáo nhất của Voloshinov và của nhóm Bakhtin—Medvedev—Voloshinov nói chung Lý thuyết này được
thể hiện tập trung và hệ thống nhất chính trong Chủ nghĩa Marx
và triết học ngôn ngữ Th eo Voloshinov, phát ngôn độc thoại chỉ
là một sự trừu tượng hóa, bị cắt đứt khỏi mọi liên hệ với toàn bộ
sự hình thành lịch sử cụ thể của nó, rằng «ý thức ngôn ngữ của người nói và người nghe không phải liên hệ với hệ thống trừu tượng các hình thức đồng dạng quy chuẩn của ngôn ngữ, mà với ngôn ngữ nói, theo nghĩa là tập hợp các ngữ cảnh có thể sử dụng
của một hình thức ngôn ngữ nhất định… Tách rời ngôn ngữ và nội dung tư tưởng của nó — đó là một trong những sai lầm sâu
sắc nhất của chủ nghĩa khách quan trừu tượng» Th eo ông, mặc
dù chủ nghĩa cá nhân chủ quan đã đúng khi coi phát ngôn đơn lẻ
là thực tại đích thực của ngôn ngữ, rằng không thể tách rời hình thức ngôn ngữ với nội dung tư tưởng của nó, nhưng vẫn chưa hiểu bản chất xã hội của phát ngôn khi cố chiết xuất nội dung tư tưởng của từ ra từ tâm lý cá nhân
Th ật ra, như Voloshinov đã chỉ ra, «bất kỳ phát ngôn nào, kể
cả một phát ngôn bằng văn bản đã hoàn tất, cũng đều đáp lại một cái gì đó và đều trù tính để có một lời đáp nào đó» Nói cách khác, ngôn ngữ luôn luôn có tính đối thoại Hiểu phát ngôn, theo Voloshinov, có nghĩa là hướng về nó, tìm cho nó một vị trí thích hợp trong ngữ cảnh Trong quá trình đó chúng ta tìm cho mỗi từ trong phát ngôn một tập hợp các từ đối ứng để lựa chọn «Như vậy, mỗi yếu tố khả phân mang nghĩa của phát ngôn, và toàn bộ phát ngôn như một chỉnh thể — được chúng ta phiên dịch sang
một ngữ cảnh tương ứng, chủ động khác Mọi sự hiểu đều mang tính biện chứng Sự hiểu đối lại với phát ngôn, hệt như những lời
đối đáp trong một cuộc đối thoại Sự hiểu tìm kiếm cho mỗi từ
của người nói một đối từ Chỉ khi cố hiểu một từ trong tiếng nước
ngoài ta mới tìm kiếm «chính từ ấy» trong ngôn ngữ của mình
mà thôi»
Ở Nga, vấn đề đối thoại đã được Iakubinski nghiên cứu trong một công trình công bố năm 1923 Tuy nhiên, Voloshinov là người đưa ra những phát triển căn bản và độc đáo khi chỉ ra rằng đối thoại không chỉ là một hình thức giao tiếp cụ thể, mà chính là thuộc tính của mọi hoạt động giao tiếp lời nói Hơn nữa, mọi phát
Trang 26Lời giới thiệu
ngôn «đều chỉ là một điểm trong sự giao tiếp lời nói liên tục» mà
«đến lượt nó, cũng chỉ là một điểm trong quá trình phát triển liên
tục và mọi mặt của một tập thể xã hội nhất định Từ đó nảy sinh một vấn đề quan trọng: nghiên cứu mối liên hệ của một tương tác lời nói cụ thể với tình huống bên ngoài lời nói, tình huống gần nhất, và qua đó là tình huống rộng lớn hơn Các hình thức của mối quan hệ này rất khác nhau, và trong mối liên hệ với hình thức này hay hình thức khác, những yếu tố khác nhau của tình huống lại có những ý nghĩa khác nhau (ví dụ, các mối quan hệ này khác nhau với các yếu tố khác nhau của tình huống giao tiếp
trong nghệ thuật hoặc khoa học) Giao tiếp lời nói không bao giờ
có thể hiểu và diễn giải bên ngoài mối liên hệ với một tình huống
cụ thể Giao tiếp lời nói đan quyện chặt chẽ với các loại hình giao
tiếp khác phát triển trên cùng một nền tảng với chúng — giao tiếp sản xuất»
Do đó, theo Voloshinov, việc nghiên cứu ngôn ngữ phải tuân theo trình tự sau:
1) Các hình thức và kiểu tương tác lời nói trong mối liên hệ với các điều kiện cụ thể của nó
2) Hình thức của các phát ngôn riêng biệt, các phát biểu riêng biệt trong mối liên hệ chặt chẽ với sự tương tác, mà trong đó chúng là các yếu tố, tức là, nghiên cứu các loại hình phát ngôn trong cuộc sống và sáng tạo tư tưởng được xác định bởi tương tác lời nói
3) Từ đó, nhìn nhận lại các hình thức ngôn ngữ trong cách giải thích quen thuộc của ngôn ngữ học
VI.
Phần thứ ba của tập sách khảo sát một vấn đề cực kỳ thú vị: sự truyền đạt phát ngôn của kẻ khác, một vấn đề rất quan trọng, đặc
biệt là đối với nghiên cứu văn học Voloshinov viết: «Nhưng bản
thân chủ đề của phần thứ ba — vấn đề phát ngôn của kẻ khác —
cũng đã rất quan trọng, vượt xa khỏi phạm vi của cú pháp học
Bởi lẽ hàng loạt hiện tượng văn học quan trọng bậc nhất — lời nói của nhân vật (và sự xây dựng nhân vật nói chung), tự sự, phong cách hóa, giễu nhại, — chỉ là những khúc xạ khác nhau của «lời
Trang 27Lời giới thiệu
kẻ khác» Hiểu cách nói này cùng các quy luật xã hội điều chỉnh
nó là điều kiện tiên quyết cho việc khảo sát thành công tất cả hiện tượng văn học mà chúng ta đã liệt kê»
Những khảo sát của Voloshinov về sự truyền đạt phát ngôn của kẻ khác, đến lượt nó, lại dựa trên sự khảo sát sâu sắc và những
ý tưởng cực kỳ mới mẻ của ông về cú pháp học Trước công trình
của Voloshinov, ngôn ngữ học hầu như chỉ giới hạn trong ngữ
âm học và hình thái học Vì thế, các vấn đề của cú pháp học cũng
được nhìn nhận thông qua lăng kính của ngữ âm học và hình thái học Nhưng, như Voloshinov đã chỉ ra, việc xem xét lại các vấn đề
cú pháp là điều kiện cực kỳ quan trọng để hiểu về ngôn ngữ và sự phát triển của ngôn ngữ «Bởi lẽ, trong tất cả các hình thức của
ngôn ngữ, các hình thức cú pháp là gần gũi nhất với các hình thức
cụ thể của phát ngôn, với các hình thức cụ thể của các phát biểu
bằng lời Mọi sự phân tích cú pháp của lời nói đều là phân tích cơ thể sống của phát ngôn, và do đó việc quy chúng về một hệ thống trừu tượng của ngôn ngữ sẽ vô cùng khó khăn»
Để nghiên cứu cú pháp một cách hiệu quả, Voloshinov viết, cần phải có một lý thuyết sâu sắc về chỉnh thể phát ngôn, mà đó lại chính là thứ còn thiếu «Trên thực tế, tất cả các phạm trù ngôn ngữ, nói một cách công bằng, chỉ áp dụng được bên trong lãnh thổ của phát ngôn Tất cả các phạm trù hình thái học chỉ có giá trị bên trong phát ngôn; chúng từ chối phục vụ với tư cách như
là cái định nghĩa cho chỉnh thể Tương tự như vậy là các phạm trù cú pháp, ví dụ như phạm trù «câu»; nó chỉ là định nghĩa của câu như là một thành phần bên trong phát ngôn, chứ tuyệt nhiên không phải như là một chỉnh thể»
Ngôn ngữ học trước Voloshinov cũng chưa hiểu đúng về đoạn văn, cái vẫn được tin một cách máy móc là chứa đựng một ý nghĩa hoàn chỉnh Nhưng, Voloshinov viết, nếu như có cái ý nghĩa hoàn chỉnh ấy, thì đó cũng không phải là một định nghĩa nhìn từ quan điểm ngôn ngữ học «Th ành phần cú pháp học của các đoạn văn vô cùng đa dạng: chúng có thể bao gồm từ một từ duy nhất đến một số lượng lớn các câu phức tạp Khi nói rằng một đoạn văn phải có một ý hoàn chỉnh, thật ra là chẳng nói bất kỳ cái gì Bởi lẽ, cái cần có là một định nghĩa từ quan điểm ngôn ngữ, mà tính hoàn chỉnh của một ý, dù ở bất kỳ mức độ nào, đều không phải là một định nghĩa ngôn ngữ Nếu không thể
Trang 28Lời giới thiệutách hoàn toàn các định nghĩa ngôn ngữ khỏi các định nghĩa tư tưởng, chúng tôi tin tưởng như vậy, thì cũng không thể thay thế chúng cho nhau».
Voloshinov có lẽ là người đầu đầu tiên nhận ra tính đối thoại của các đoạn văn: «Nếu đào sâu hơn vào bản chất ngôn ngữ của đoạn văn, chúng ta sẽ thấy rằng các đoạn văn ấy, trong một số đặc điểm cốt yếu, tương tự như các đoạn đối thoại Đây dường như
là đối thoại được giảm nhẹ và nhập vào các phát ngôn độc thoại
Cảm giác về người nghe và người đọc cũng như những phản ứng
có thể có của ông ta là cơ sở của sự phân chia lời nói thành các đoạn, mà trong văn bản được đánh dấu như là các đoạn văn Cảm giác về người nghe và dự tính về các phản ứng có thể của ông ta càng yếu thì tính phân đoạn, theo nghĩa là chia thành các đoạn văn, của lời nói càng ít»
Để khảo sát một cách hiệu quả các vấn đề cú pháp, đặc biệt là chỉnh thể phát ngôn và đoạn văn, chỉ có một con đường, đó là thông qua sự nghiên cứu các hình thức giao tiếp lời nói và những hình thức tương ứng — đó là kết luận của Voloshinov Điều đó cũng có nghĩa là «cần phải đánh giá lại một cách toàn diện tất cả các phạm trù ngôn ngữ học chủ yếu»
Vấn đề về hình thức truyền đạt phát ngôn của người khác (những hình mẫu cú pháp của «lời nói trực tiếp», «lời nói gián tiếp», «lời nói cận trực tiếp) cùng các biến thể của chúng vốn không được ngôn ngữ học coi trọng «Trong hiện tượng này, một hiện tượng thoạt nhìn chỉ là thứ yếu của cú pháp học, người ta
đã không nhìn thấy một vấn đề có tầm quan trọng lý thuyết và ngôn ngữ chung vô cùng to lớn» Th eo Voloshinov, cách tiếp cận tốt nhất để khảo sát hiện tượng này là cách tiếp cận xã hội học
«Lời kẻ khác», như Voloshinov phân tích, «đó là lời trong lời, phát ngôn trong phát ngôn, nhưng đồng thời, đó cũng là lời về lời, phát ngôn về phát ngôn» Phát ngôn của kẻ khác không chỉ là
chủ đề của lời nói, mà còn có thể thâm nhập vào lời nói và cấu trúc cú pháp của lời nói, trở thành một yếu tố cấu thành của nó:
«Trong suy nghĩ của người nói, lời kẻ khác được nhìn nhận như
là phát ngôn của một chủ thể khác, ban đầu hoàn toàn độc lập,
hoàn chỉnh về cấu trúc, và nằm ngoài bối cảnh đã cho Chính từ
sự tồn tại độc lập đó, lời kẻ khác được di chuyển vào bối cảnh của tác giả, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khách thể của nó và chí
ít là những nét cơ bản nhất của tính toàn vẹn ngôn ngữ và tính
Trang 29Lời giới thiệuđộc lập cấu trúc ban đầu Phát ngôn của tác giả, khi tiếp nhận một phát ngôn khác vào thành phần của nó, sẽ tạo ra những quy tắc cú pháp, phong cách và kết cấu để đồng hóa nó một phần, để làm cho nó phù hợp với sự thống nhất cú pháp, kết cấu và phong cách của phát ngôn của tác giả, đồng thời vẫn giữ nguyên, ít nhất
là ở dạng thô sơ, tính độc lập ban đầu (về cú pháp, kết cấu, phong cách) của phát ngôn của kẻ khác, điều không thể thiếu để nắm bắt nó»
Những phân tích vô cùng tinh tế của Voloshinov về sự truyền đạt và tiếp nhận tích cực lời kẻ khác trong mối quan hệ với tính đối thoại dẫn đến một luận điểm cực kỳ quan trọng, đó là tác phẩm văn chương luôn luôn mang tính đa thanh, và mỗi tác phẩm văn chương đều là một vùng giao thoa lời nói, hay giao thoa của các diễn ngôn theo cách nói ngày nay Việc khảo sát mối quan hệ giữa các lời nói (của tác giả, người kế chuyện, nhân vật) chính là điểm tựa lý thuyết để nghiên cứu các tác phẩm văn học, đặc biệt là tiểu thuyết phức điệu, trong đó các giọng điệu là bình đẳng, như ở Dostoievski hay Nam Cao
Bằng những nghiên cứu của mình, Voloshinov chính là người đặt nền móng cho siêu ngôn ngữ học
VII.
Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, cũng như các tác phẩm
khác của Voloshinov và chính tác giả của chúng, có số phận rất long đong Xuất bản vào một thập niên đầy biến động ở Liên
Xô, những tác phẩm của Voloshinov chỉ được biết đến bởi một
số lượng không nhiều các chuyên gia May thay, như Ladislav Matejka và I R Titunik đã viết, trong số các chuyên gia đó, có Roman Jakobson, một người khổng lồ mà ảnh hưởng bao trùm gần như trọn vẹn thế kỷ XX Roman Jakobson đã hết lời ca ngợi tác phẩm này là một tác phẩm siêu đẳng về các vấn đề ngôn ngữ1
Th ông qua Roman Jakobson, những ý tưởng của Voloshinov có
1 Roman Jakobson to Nikolai Trubtzkoy, «N S Trubetzkoy’s Letters and Notes», trích theo Ladislav Matejka và I R Titunik, «Translators’ Preface,
1986», trong Marxism and the Philosophy of Language Harvard University
Press, Cambridge, 1986, tr vii
Trang 30Lời giới thiệuảnh hưởng to lớn đối với trường phái ngôn ngữ học Praha Trong
khi đó, ở Liên Xô, các tác phẩm của ông (và cuốn Phương pháp
hình thức trong nghiên cứu văn học của Medvedev) bị lãng quên,
nói đúng hơn là bị chôn vùi, trong suốt mấy thập niên kể từ khi Voloshinov mất (1936) và Medvedev bị chính quyền Stalin xử bắn (1938), cho đến khi chúng được dịch ra các thứ tiếng phương Tây đầu thập kỷ 1970 và nhanh chóng trở thành những cuốn sách không thể không đọc trong lĩnh vực ngôn ngữ học nói riêng và các khoa học xã hội và nhân văn nói chung
Th ế nhưng trong ba thập niên sau đó, hầu hết các tác phẩm về ngôn ngữ và triết học của Voloshinov1 (cùng với cuốn Phương
pháp hình thức trong nghiên cứu văn học của Medvedev) lại
bị gán một cách bất công và vô căn cứ cho một người bạn của ông là Mikhail Mikhailovich Bakhtin Bản thân Voloshinov (và Medvedev) bị một số tác giả, đặc biệt là học trò của Bakhtin,
hạ thấp thành những tác giả xoàng xĩnh, những «học trò» của
Bakhtin Trong «Lời giới thiệu» bản tiếng Việt tác phẩm Những
vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki của M Bakhtin, Giáo sư Trần Đình
Sử — có lẽ là người đầu tiên giới thiệu Bakhtin ở Việt Nam — viết: «Từ năm 1924 đến 1929 ông [tức Bakhtin — NTL và NMT] đội tên bạn bè công bố ba tác phẩm: Chủ nghĩa Phrơt, Chủ nghĩa Mac và triết học ngôn ngữ, Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học Lí đo đội tên có người giải thích là do Bakhtin có tính thích hóa trang theo kiểu cacnavan Trước khi mất M. Bakhtin đã lập di chúc xác nhận tác quyền của ông đối với ba tác phẩm này».2
Dịch giả Phạm Vĩnh Cư, trong cuốn tuyển dịch M Bakhtin —
Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, cũng viết: «Bakhtin viết về những
vấn đề ngôn ngữ học từ những năm 20 Năm 1929, ông mượn tên
một người bạn và học trò của mình cho xuất bản cuốn sách Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ, ở đó ông xây dựng những luận
cứ lý thuyết cho một bộ môn khoa học học mới – siêu ngôn ngữ học».3
1 Chúng tôi không đề cập đến các tác phẩm thơ, nhạc và phê bình âm nhạc của Voloshinov (NTL và NMT).
2 M Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên
Ân, Vương Trí Nhà dịch, tái bản lần thứ nhất, Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr 7
3 M Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và
dịch, in lần thứ hai, Hội nhà văn, Hà Nội, 2003, tr 338
Trang 31Lời giới thiệuNhững nhận định của dịch giả Phạm Vĩnh Cư, ngoài ra nội dung về vấn đề tác quyền của cuốn sách, cũng cho thấy tầm quan
trọng của tác phẩm Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ Có
thể nói rằng Bakhtin, và cái gọi là «Nhóm Bakhtin», không thể có được tầm vóc và danh tiếng của mình nếu thiếu các tác phẩm của Voloshinov và Medvedev mà người ta quy tất cả cho Bakhtin Jean
Paul Bronckart và Cristian Bota, trong Bakhtine démasqué —
Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif
(Lột mặt nạ Bakhtine — Câu chuyện về một kẻ lừa dối, một trò bịp bợm và một cơn mê sảng tập thể), chỉ ra bằng thống kê: trong bài báo năm 1973 của Ivanov (học trò của Bakhtin, người đầu tiên công bố giả thuyết rằng Bakhtin là tác giả của hầu như tất cả
các tác phẩm quan trọng của Voloshinov và cuốn Phương pháp
hình thức trong nghiên cứu văn học của Medvedev), khi bàn đến
các «luận điểm của Bakhtin», chỉ có 25 lần trích dẫn Những vấn
đề thi pháp Dostoievski và 23 lần trích dẫn François Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung đại và Phục Hưng, và 28 lần trích
dẫn 6 tác phẩm khác của Bakhtin; trong khi đó Ivanov 47 lần
trích dẫn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, 14 lần trích dẫn
Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học và 13 lần trích
dẫn các công trình khác ký tên Voloshinov1
Tương tự như vậy, I R Titunik nhận thấy trong hai cuốn
sách của A A Leotiev, Ngôn ngữ học tâm lý (Leningrad, 1967)
và Ngôn ngữ, lời nói và hoạt động nói (Moskva, 1969), trong
đó ông lần đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự tồn tại của cái gọi là
«Nhóm Bakhtin», tất cả các luận điểm được coi là của Bakhtin lại
được dẫn ra từ cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ của
Voloshinov.2
Tôi không rõ Trần Đình Sử lấy thông tin ở đâu, nhưng căn cứ vào tất cả các nguồn mà tôi được biết, Bakhtin chưa bao giờ xác nhận bằng văn bản rằng ông là tác giả của những «tác phẩm tranh
1 Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, Bakhtine démasqué — Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif, Droz, Genève, 2011, tr 9.
2 I R Titunik, “Th e Formal Method and the Sociological Method (M M Bakhtin, P N Medvedev, V N Voloshinov) in Rusian Th eory and Study of
Literature”, trong V V Voloshinov, Marxism and the Philosophy of Language,
Trans Ladislav Matejka and I R Titunik, Harvard U.P., Cambridge, 1986, tr 176.
Trang 32Lời giới thiệucãi» Điều này cũng được Jean - Paul Bronckart và Cristian Bota khẳng định trong công trình công phu dày 600 trang về vấn đề tác quyền của những tác phẩm ký tên Voloshinov và Medvedev, cuốn
Bakhtine démasqué xuất bản năm 2012 đã nhắc ở trên.1 Cho đến những năm 1960, Bakhtin luôn luôn khẳng định rằng ông không phải là tác giả của các «tác phẩm tranh cãi» Bakhtin viết trong
lá thư ngày 10 tháng Giêng năm 1961 gửi Koginov, một trong ba học trò đã đóng vai trò quyết định trong việc phục hồi và quảng
bá tác phẩm của ông: «…Tôi biết rất rõ hai cuốn Phương pháp
hình thức trong nghiên cứu văn học và Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ V N Voloshinov và P N Medvedev là bạn tôi; vào
thời gian khi hai cuốn sách ấy được viết, chúng tôi làm việc trong một mối quan hệ sáng tạo cực kỳ thân thiết Quả thực, hai cuốn
đó và cuốn nghiên cứu Dostoievski của tôi cùng dựa trên một quan niệm chung về ngôn ngữ và tác phẩm ngôn từ Từ quan điểm này, Vinogradov hoàn toàn có lý Tôi phải nói thêm rằng quan niệm chung ấy, cũng như quan hệ chặt chẽ của chúng tôi trong khi làm việc không hề làm giảm tính độc lập cũng như tính độc đáo của mỗi cuốn trong ba cuốn sách đó Còn về các công trình khác của Medvedev và Voloshinov, chúng nằm trên một bình diện khác và không phản ánh quan niệm chung: tôi hoàn toàn không tham gia vào quá trình viết nên chúng».2
Tuy nhiên, đầu những năm 1970, sau khi Ivanov đưa ra giả thiết rằng Bakhtin là tác giả thực sự của các «tác phẩm tranh cãi», trong một số cuộc trả lời phỏng vấn, Bakhtin bắt đầu tự nhận là
tác giả của cuốn Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn
học của Medvedev và hầu như tất cả các tác phẩm của Voloshinov
1 Họ dẫn lời Koginov (Kozhinov), một trong ba học trò thận cận đóng vai trò chủ chốt trong sự tuyên truyền cho Bakhtin, trong một văn bản công bố năm 1994: “Il (Koginov — NTL và NMT) ajoute encorre que Bakhtine a toujours refusé de signer le document confi rmant qu’il était le véritable auteur de ces textes, mais qu’il aurait quand même declare, sur son lit de mort: “ceci, après tout, est mon péché, et je dois l’avouer” (Koginov nói thêm rằng Bakhtin luôn luôn từ chối ký giấy xác nhận rằng ông là tác giả đích thực của các tác phẩm này, mà trên giường lúc hấp hối ông lại tuyên bố: “đó, sau tất cả, là tội lỗi của tôi, và tôi phải thú nhận”) Sđd., tr 246.
2 Trích theo Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, Bakhtine démasqué — Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif, Droz, Genève,
2011, tr 240–241.
Trang 33Lời giới thiệuMặc dù không hề có bất cứ bằng chứng nào và cũng chưa có ai, kể
cả Bakhtin, giải thích được thỏa đáng tại sao ông phải đội tên bạn
bè để in sách (trong khi cuốn sách về Dostoievski cũng được in trong cùng một năm), giới học giả (trong đó có chúng tôi, những người viết những dòng này) đã nhanh chóng tin tưởng và lan truyền huyền thoại này
Nhưng huyền thoại này hóa ra chỉ là huyền thoại Những nghiên cứu hồ sơ, văn bản và phong cách học gần đây cung cấp các bằng chứng thuyết phục cho phép khẳng định dứt khoát bản quyền trọn vẹn của Voloshinov và Medvedev đối với những kiệt tác của họ Voloshinov và Medvedev hoàn toàn không phải là những tác giả tầm thường, những «học trò» của Bakhtin Trái lại, vào thập niên 1920, họ đã là những học giả với sự nghiệp học thuật sáng chói, làm việc trong những trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu của Leningrad (Bakhtin khi đó không
có công việc ổn định, phải chấp nhận những công việc lặt vặt, tạm thời) Các tác phẩm mà Bakhtin tuyên bố tác quyền thật ra không chỉ là kết quả cụ thể của chương trình nghiên cứu của Voloshinov và Medvedev tại Viện Lịch sử So sánh Văn học và Ngôn ngữ Đông Tây (ИЛЯЗВ), mà còn là những vấn đề họ theo đuổi trong nhiều năm, từ khi còn là sinh viên, nghiên cứu sinh, cho đến khi trở thành những nhà giáo và nhà nghiên cứu có uy tín
Tại sao Bakhtin lại tuyên bố bản quyền tác giả đối với tác phẩm của bạn ông? Rất có thể đây là sai lầm lớn nhất của ông Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, trong cuốn chuyên khảo nói trên, lên
án Bakhtin không chỉ nhận vơ các tác phẩm của bạn (và cũng
là ân nhân của mình)1, gian dối trong lý lịch học thuật cá nhân (Bakhtin chưa tốt nghiệp phổ thông trung học, cũng chưa bao giờ học đại học)2, ngụy tạo thời điểm ra đời của các văn bản, mà còn thường xuyên đạo văn (của Scheler, Broder Christiansen, Lukas,
1 Ngoài việc giúp đỡ Bakhtin về vật chất và tinh thần, khi Bakhtin bị đi đày năm 1929, Voloshinov và Medvedev cùng bè bạn tổ chức một cuộc vận động ủng hộ Bakhtin Năm 1936, khi được phép rời nơi lưu đày, Bakhtin
về Leningrad gặp Medvedev và được Medvedev xin cho dạy học tại trường Đại học sư phạm Mordovia ở Saransk Xem thêm Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, Sđd, tr 33
2 Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, Sđd., tr 280–281.
Trang 34Lời giới thiệuSpitzer, Cassirer…).1 Vì thế, cuốn sách của Jean-Paul Bronckart
và Cristian Bota có nhan đề là Bakhtine démasqué — Histoire
d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif (Lột mặt
nạ Bakhtin — Câu chuyện về một kẻ lừa dối, một trò bịp bợm và một cơn mê sảng tập thể)
Dĩ nhiên, cuốn sách của Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota,
dù rất công phu, không phải là tiếng nói duy nhất hoặc cuối cùng Hơn nữa, việc phê bình cuốn sách đó không phải là mục đích của chúng tôi Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói thêm, cũng là để kết luận, rằng những nghiên cứu hồ sơ, văn bản và tài liệu của họ cho thấy rằng không hề có cái gọi là «nhóm Bakhtin», mà Bakhtin là linh hồn theo cách A A Leontiev mô tả lần đầu tiên vào năm 1967 Nếu có một nhóm như thế, thì thủ lĩnh của nó là Medvedev, theo chính lời của Bakhtin trong cuộc trò chuyện với Duvakin2 Trong
số ba người bạn — Medvedev, Voloshinov và Bakhtin — theo tôi, người độc đáo và có nhiều cách tân nhất là Voloshinov Phần lớn các ý tưởng mới mẻ làm nên danh tiếng của nhóm là xuất phát
từ Voloshinov Có thể nói rằng Voloshinov (cùng với Medvedev)
là người tạo nên nền tảng triết học để Medvedev áp dụng phê bình một trường phái lý luận văn học (Chủ nghĩa hình thức) và Bakhtin áp dụng để nghiên cứu một tác giả (Dostoievski)
Hà Nội, tháng 5 năm 2013.
1 Poole B viết về một đoạn Bakhtin vay mượn Cassirer mà không chú thích
trong Sáng tác của François Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng như sau: “Đoạn văn trích trên đây là bản dịch từng từ gần nửa
trang tác phẩm “Cá nhân và vũ trụ trong triết lý Phục Hưng” của Cassirer Bản dịch của Bakhtin chính xác đến mức đôi chỗ có thể dùng để chữa lỗi dịch Nga — Anh dựa trên tác phẩm của Cassirer” Trích theo Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, Sđd, tr 299.
2 Trích theo Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, Sđd., tr 264.
Trang 35Lời giới thiệu
Tài liệu tham khảo
Бахтин, M M «Бахтин, M M — под маской)», Лабиринт, Москва 2000
M Bakhtin «Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki», Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, tái bản lần thứ nhất, Giáo dục,
Hà Nội, 1998
Bakhtin, M «Lý luận và thi pháp tiểu thuyết», Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu, in lần thứ hai, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2003 Bronckart J.-P & Bota C «Bakhtine démasqué — Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif», Droz, Genève, 2011.Derrida, Jacques «Diff érance», trong «Literary Th eory: An Antho-logy» Ed Julie Rivkin and Michael Ryan Blackwell, Malden, 1998 385–407
Titunik, I.R «Th e Formal Method and the Sociological Method (M M Bakhtin, P N Medvedev, V N Voloshinov) in Rusian Th eory and Study of Literature», trong V V Voloshinov, «Marxism and the Philosophy of Language», Trans Ladislav Matejka and I R Titunik, Harvard U.P., Cambridge, 1986
Trang 36VALENTIN VOLOSHINOV
MỘT SỐ LƯU Ý VỀ DỊCH THUẬTBản dịch này được thực hiện từ nguyên bản tiếng Nga, bản in
năm 1930 của nhà xuất bản Прибой (Ленинград, 1930), có so sánh với bản in trong Бахтин M.M — под маской (Москва: Лабиринт, 2000) Trong khi dịch, chúng tôi có đối chiếu với bản
tiếng Anh do Ladislav Matejka và I R Titunik dịch (Harvard University Press, 1986) Khác biệt duy nhất giữa bản của Nhà xuất bản Прибой và bản của Nhà xuất bản Лабиринт là các tiểu mục Nhận thấy rằng các tiểu mục này rất có ích cho người đọc, chúng tôi quyết định theo bản Лабиринт
Trong khi dịch, chúng tôi vấp phải hàng loạt vấn đề khó khăn
Trước hết là tình trạng thiếu thống nhất về thuật ngữ trong tiếng Việt Một ví dụ là thuật ngữ «Знак» (tiếng Anh: «sign», tiếng Pháp: «signe»), có thể nói là thuật ngữ trung tâm của công trình này Trong các sách báo của chúng ta, nó thường được dịch theo hai cách khác nhau là «Ký hiệu» và «Tín hiệu» Nhà ngôn
ngữ học Cao Xuân Hạo, khi dịch cuốn Giáo trình ngôn ngữ học
đại cương của Ferdinand de Sausure, lại dùng thuật ngữ «Dấu
hiệu» Sau khi cân nhắc, chúng tôi quyết định dịch thuật ngữ
«Знак» là «ký hiệu» và phân biệt nó với «tín hiệu» (tương ứng với
«сигнал») Trường hợp khác là thuật ngữ «идеология» Th uật ngữ này thường được dịch là «hệ tư tưởng», trong khi tính từ cùng gốc của nó, «Идеологический», lại thường được dịch là «ý thức hệ» Cũng phải nhắc thêm ví dụ thứ ba, đó là từ «акцент», thường được dịch là «trọng âm» Trong bản dịch này, sau khi cân nhắc, chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ ấy, mặc dù trong công trình này nó hàm ý một sự chú trọng, một mối bận tâm, một trọng tâm xã hội của người nói Trong những trường hợp như vậy, chúng tôi chủ trương tìm lối diễn đạt sao cho dễ hiểu nhất, nhưng nếu có thể được, vẫn cố gắng giữ lại thuật ngữ đã được dùng phổ biến
Một số thuật ngữ chưa từng có tương đương trong tiếng Việt, điển hình là «Несобственная прямая речь» (được dịch sang tiếng Anh là «Quasi direct speech») Rất nhiều phương án được đặt ra, cuối cùng chúng tôi quyết định dịch là «Lời nói cận trực
Trang 37CHỦ NGHĨA MARX VÀ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ
tiếp» Ở những trường hợp như vậy, nếu thấy cần thiết, chúng tôi chua thêm thuật ngữ gốc bằng tiếng Nga, và đôi khi cả thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh, tiếng Pháp, để bạn đọc dễ theo dõi
Lưu ý đến đặc tính phân tích của tiếng Việt, ở một số chỗ, nhằm tránh nhầm lẫn và tạo thuận lợi cho người đọc, cùng một khái niệm chúng tôi có thể thể hiện ít nhiều khác biệt, chẳng hạn
«Từ» và «Ngôn từ» được sử dụng với cùng một nghĩa
Cuối cùng là tên riêng Chúng tôi chủ trương phiên chữ chứ không phiên âm Tuy nhiên, với những tên riêng phổ biến, chúng tôi sử dụng cách gọi quen thuộc Đối với các tên riêng xuất hiện trong các trích đoạn tác phẩm đã có bản dịch tiếng Việt, chúng tôi giữ nguyên cách phiên âm trong các bản dịch đó Với những
từ lần đầu tiên được phiên âm ra tiếng Việt, chẳng hạn «Japhetic», trong «Japhetic languages», chúng tôi theo cách phiên âm trong tiếng Anh để bạn đọc dễ tra cứu
Trong bản dịch này, các chú thích cuối chương là của Voloshinov, còn các chú thích cuối trang là của người dịch, trừ phi có thông báo khác
Chúng tôi đã rất cố gắng cẩn trọng Tuy nhiên, do năng lực
còn hạn chế, trong khi Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ là
một tác phẩm phức tạp và chứa đựng nhiều ý tưởng cách mạng, bản dịch của chúng tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót Dịch giả xin chịu trách nhiệm cá nhân về mọi sai sót và sẵn sàng chờ đón mọi ý kiến góp ý, phê bình, nhằm cống hiến cho bạn đọc một bản dịch tốt nhất có thể
Ngô Tự Lập
Một số lưu ý về dịch thuật
Trang 38VALENTIN VOLOSHINOV
DẪN NHẬPCho đến nay, vẫn chưa có một tác phẩm Marxist nào về triết học ngôn ngữ Hơn thế nữa, thậm chí cũng chưa có một nhận định rõ ràng và đầy đủ nào về ngôn ngữ trong các tác phẩm Marxist đề cập đến những chủ đề gần gũi khác [1] Vì thế, rất dễ hiểu, rằng công trình của chúng ta, mà thực chất là công trình đầu tiên, chỉ dám đặt cho mình những nhiệm vụ khiêm tốn nhất Chưa thể nói đến bất kỳ một phân tích Marxist có hệ thống và hoàn chỉnh nào, cho dù chỉ về những vấn đề cơ bản của triết học ngôn ngữ Một phân tích như thế phải là sản phẩm của một công trình tập thể và lâu dài Chúng ta buộc phải tự giới hạn bởi một
nhiệm vụ khiêm tốn, đó là xác định những hướng chính của một
tư duy thực sự Marxist về ngôn ngữ và những điểm tựa phương pháp luận nền tảng mà tư duy đó phải dựa vào khi tiếp cận các
vấn đề cụ thể của ngôn ngữ học
Nhiệm vụ của chúng ta đặc biệt phức tạp vì trong các tài liệu Marxist vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và được chấp nhận rộng rãi về thực tại đặc thù của các hiện tượng tư tưởng [2] Trong đa số các trường hợp, chúng được hiểu như là hiện tượng ý thức, tức là hiểu theo tâm lý học Cách hiểu này gây cản trở rất nhiều cho việc tiếp cận một cách đúng đắn những đặc điểm riêng biệt của các hiện tượng tư tưởng, những hiện tượng không thể quy thành các đặc điểm của ý thức và tâm lý chủ quan Đó là lý do tại sao cả vai trò của ngôn ngữ, với tư cách
là thực tại vật chất cụ thể của sáng tạo tư tưởng, cũng chưa thể được đánh giá đầy đủ
Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng trong tất cả các lĩnh vực mà các nhà lập thuyết — Marx và Engels — còn ít hoặc chưa chạm tay đến, các phạm trù mang tính máy móc vẫn còn cố thủ vững chắc Tất cả các lĩnh vực này về cơ bản vẫn còn ở giai đoạn của chủ nghĩa duy vật máy móc tiền biện chứng Điều này được phản ánh qua thực tế là phạm trù nhân quả máy móc cho đến nay vẫn còn thống trị trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu tư tưởng Cùng với nó, còn có tàn dư của quan niệm thực chứng kinh nghiệm chủ nghĩa, tôn thờ «sự kiện», được hiểu không phải một cách biện chứng, mà như là một cái gì đó thường xuyên và ổn định
Trang 39CHỦ NGHĨA MARX VÀ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ
[3] Tinh thần triết học của chủ nghĩa Marx hầu như vẫn còn chưa thâm nhập vào các lĩnh vực này
Vì những lý do nêu trên, trong lĩnh vực triết học ngôn ngữ, chúng ta hầu như không có cơ hội dựa vào bất kỳ một thành tựu tích cực nào trong các ngành khoa học khác về tư tưởng Ngay
cả nghiên cứu văn học, lĩnh vực phát triển nhất trong các ngành khoa học này, nhờ công của Plekhanov, cũng hầu như không thể cung cấp được gì cho chủ đề của chúng ta
Công trình của chúng ta chủ yếu theo đuổi mục đích nghiên cứu thuần túy, nhưng chúng ta cũng sẽ cố gắng trình bày nó dưới dạng phổ cập nhất có thể được [4] Trong phần đầu tiên của công trình, chúng ta sẽ cố gắng làm rõ tầm quan trọng của các vấn đề triết học ngôn ngữ đối với toàn bộ chủ nghĩa Marx Tầm quan trọng này, như chúng ta đã nói, còn xa mới được đánh giá đúng
mức Trong khi đó, các vấn đề của triết học ngôn ngữ nằm ở giao điểm của hàng loạt lĩnh vực quan trọng bậc nhất của thế giới quan Marxist, trong đó có những lĩnh vực hiện đang thu hút sự quan
tâm rộng rãi của công chúng nước ta.1 [5]
Cũng phải nói thêm rằng, gần đây, cả ở Tây Âu lẫn tại Liên Xô [6], các vấn đề của triết học ngôn ngữ đã trở nên đặc biệt cấp thiết
và có tính nguyên tắc Có thể nói rằng triết học tư sản hiện đại đã
bắt đầu phát triển dưới nhãn hiệu ngôn từ, và xu hướng mới này
của tư tưởng triết học phương Tây vẫn còn trong giai đoạn đầu của nó Hiện đang có một cuộc tranh cãi quyết liệt xung quanh
«ngôn từ» và vị trí của nó trong hệ thống, một cuộc tranh cãi mà
có lẽ chỉ có những tranh cãi giữa chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa duy danh và chủ nghĩa ý niệm thời Trung cổ mới có thể so sánh được Th ật vậy, truyền thống của các xu hướng triết học Trung cổ này bắt đầu được phục hồi ở một mức độ nhất định bởi chủ nghĩa hiện thực của các nhà hiện tượng học và chủ nghĩa ý niệm của những người theo thuyết Kant mới
Trong chính ngôn ngữ học, sau nỗi sợ thực chứng luận đối với mọi nguyên tắc trong việc xác định các vấn đề khoa học và sự thù địch đặc trưng của chủ nghĩa thực chứng gần đây đối với mọi vấn
đề về thế giới quan, việc nhận thức các tiền đề triết học của ngôn ngữ học và liên hệ của nó với các lĩnh vực tri thức khác được đánh thức và trở nên cấp thiết Trong bối cảnh này, ngôn ngữ học
1 Tức Liên Xô.
Trang 40cũng không đưa ra đáp án cuối cùng cho các câu hỏi được đưa ra: trong phần này mối quan tâm của chúng ta chủ yếu không phải
là về mối quan hệ giữa các hiện tượng, mà về mối quan hệ giữa các vấn đề
Phần thứ hai cố gắng giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
ngôn ngữ — vấn đề về thực tại của các hiện tượng ngôn ngữ Vấn
đề này là cái trục mà tất cả các vấn đề quan trọng nhất của tư tưởng triết học — ngôn ngữ hiện đại đều xoay quanh Các vấn
đề cơ bản, như vấn đề sự hình thành ngôn ngữ, vấn đề tương tác lời nói, vấn đề về sự hiểu, vấn đề ngữ nghĩa, và những vấn đề
khác nữa đều quy về nó như là về trung tâm Dĩ nhiên, trong việc giải quyết bản thân vấn đề, chúng ta chỉ có thể xác định những đường hướng chính Hàng loạt vấn đề vẫn hầu như chưa được đề cập đến, hàng loạt sợi chỉ được đề cập đến trong khi trình bày vẫn chưa được theo đuổi đến cùng Nhưng đó là điều không thể tránh khỏi đối với một cuốn sách nhỏ, gần như là cuốn đầu tiên cố gắng tiếp cận những vấn đề này từ quan điểm Marxist
Phần cuối cùng của công trình khảo sát một trong những vấn đề cụ thể của cú pháp học Ý tưởng chính của toàn bộ công
trình — vai trò sản xuất và bản chất xã hội của phát ngôn — cần
được cụ thể hóa: cần chỉ ra tầm quan trọng của nó không chỉ về mặt thế giới quan nói chung và các vấn đề cơ bản của triết học ngôn ngữ, mà cả về các vấn đề riêng và chuyên biệt nhất của nghiên cứu ngôn ngữ Bởi lẽ, nếu ý tưởng là đúng và năng sản, thì tính năng sản cần được phát hiện từ trên xuống Nhưng bản thân
chủ đề của phần thứ ba — vấn đề phát ngôn của kẻ khác — cũng
đã rất quan trọng, vượt xa khỏi phạm vi của cú pháp học Bởi lẽ
hàng loạt hiện tượng văn học quan trọng bậc nhất — lời nói của nhân vật (và sự xây dựng nhân vật nói chung), tự sự, phong cách hóa, giễu nhại, — chỉ là những khúc xạ khác nhau của «lời kẻ
khác» Hiểu cách nói này cùng các quy luật xã hội điều chỉnh nó
là điều kiện tiên quyết cho việc khảo sát thành công tất cả hiện tượng văn học mà chúng ta đã liệt kê [7]