Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính với bộ dữ liệu thu thập được từ 166 hộ gia đình ở huyện Bù Gia Mập cho thấy các yếu tố tuổi chủ hộ, dân tộc, số người phụ thuộc, số người lao động, diệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
MAI XUÂN TRƯỜNG
20001002
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP ĐỐI VỚI
HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN BÙ GIA MẬP,
TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 8310110
Bình Dương, năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
MAI XUÂN TRƯỜNG
20001002
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP ĐỐI VỚI
HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN BÙ GIA MẬP,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng,
những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình
nào trước đây
Bình Phước, tháng 6 năm 2022
Tác giả luận văn
Mai Xuân Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Bình Dương đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại trường và tạo điều kiện thuận lợi nhất để giúp tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hương vì sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cùng bạn bè đồng nghiệp trên địa bàn huyện
Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong việc thu thập số liệu để hoàn thiện bản luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Bình Phước, tháng 6 năm 2022
Tác giả luận văn
Mai Xuân Trường
Trang 5TÓM TẮT
Hầu hết các hộ gia đình nghèo đang gặp khó khăn trong việc chi trả cho các hoạt động thường ngày trong gia đình, và họ cũng gặp khó khăn trong các hoạt động tạo ra thu nhập cho gia đình Do đó, họ thường có nguồn thu nhập rất hạn chế và không thường xuyên Thu nhập thấp của hộ gia đình nghèo có nguy cơ làm lệch hướng thành tựu của mục tiêu chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 –
2020 và mục tiêu giảm hộ nghèo hàng năm của huyện Bù Gia Mập Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng nghèo ở huyện Bù Gia Mập và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nghèo ở huyện Nghiên cứu thông qua thiết kế nghiên cứu cắt ngang, bảng câu hỏi được thực hiện phỏng vấn cho 166 chủ hộ gia đình được chọn tham gia trả lời Các hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20
Các thống kê mô tả như tần suất, tỷ lệ phần trăm được sử dụng để mô tả cho các biến định tính; giá trị trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng để mô tả cho các biến định lượng Phần tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để thiết lập mối quan
hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Kết quả được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
Nghiên cứu cho thấy chủ hộ chủ yếu là nam chiếm 81,9%, tỉ lệ chủ hộ thuộc dân tộc thiểu số đang chiếm tỉ lệ cao với 53,6%, trình độ học vấn của chủ hộ còn thấp và chủ yếu là không đi học, tiểu học chiếm tới 78,9%, độ tuổi trung bình của chủ hộ là 38,64
± 10,46 đều thuộc nhóm dân số trong độ tuổi lao động Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính với bộ dữ liệu thu thập được từ 166 hộ gia đình ở huyện Bù Gia Mập cho thấy các yếu tố tuổi chủ hộ, dân tộc, số người phụ thuộc, số người lao động, diện tích đất sản xuất, vay vốn có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nghèo ở huyện Bù Gia Mập Các yếu tố này giải thích được 76,6% sự thay đổi thu nhập bình quân của
hộ gia đình Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nghèo trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, bao gồm: (1) hỗ trợ vay vốn, tạo nguồn vốn cho hộ dân; (2) giải quyết việc làm và hỗ trợ dạy nghề cho hộ dân; (3) Hỗ trợ cây giống vật nuôi và tập huấn kỹ thuật cho hộ dân
Trang 6Descriptive statistics such as frequency, percentage are used to describe qualitative variables; Mean values and standard deviations were used to describe the quantitative variables The multivariable linear regression was used to establish the relationship between the independent and dependent variables The results are presented in the form of tables and graphs
The study shows that the head of household is mainly male, accounting for 81.9%, the percentage of household heads belonging to ethnic minorities is high at 53.6%, the education level of the household head is still low and mostly not going to school, primary school accounts for 78.9%, the average age of the household head is 38.64 ± 10.46, all of them are in the working age group The results of the linear regression model with the dataset collected from 166 households in Bu Gia Map district show that the age of the household head, ethnicity, number of dependents, number of em-ployees, and land area production and borrowing have an impact on the income of poor households in Bu Gia Map district These factors explain 76.6% of the change
in average household income The research results can serve as a basis for proposing some solutions to improve income for poor households in Bu Gia Map district, in-cluding: (1) loan support, creating capital sources for households’ people; (2) create
Trang 7jobs and support vocational training for households; (3) Support animal seedlings and technical training for households
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN……… ii
TÓM TẮT ……… iii
MỤC LỤC……… vi
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ………… ……… ……… ix
DANH MỤC HÌNH……….x
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT……… xi
MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài……….3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 3
4 Những đóng góp mới của đề tài luận văn……… 4
5 Kết cấu của luận văn……… 4
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài……… 5
1.1 Cơ sở lý luận về đói nghèo………5
1.1.1 Nghèo và các khía cạnh của nghèo nói chung……… 5
1.1.2 Phương pháp xác định……… ……….7
1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường nghèo………10
1.1.4 Các lý thuyết liên quan đến nghèo đói và tăng trưởng kinh tế………11
1.2 Cơ sở lý luận về thu nhập………15
1.2.1 Khái niệm về thu nhập……… 15
1.2.2 Đặc điểm về thu nhập……….16
1.2.3 Phân loại thu nhập……… ………17
1.2.4 Vai trò của thu nhập đối với người nghèo……… 18
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu về thực trạng thu nhập của hộ nghèo trên thế giới và tại Việt Nam………18
Trang 91.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới……… 19
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam………19
1.4 Tổng quan các yếu tố tác động đến thu nhập… ………20
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu……… 26
2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu………26
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên……… 26
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội……… 27
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Bù Gia Mập……….…….29
2.2 Phương pháp thu thập thông tin……… 30
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp……… 30
2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp………31
2.3 Phương pháp phân tích………34
2.3.1 Đối với số liệu thứ cấp………34
2.3.2 Đối với số liệu sơ cấp……… 34
Chương 3: Kết quả nghiên cứu……… 35
3.1 Thực trạng về thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……… 35
3.1.1 Một số đặc điểm cơ bản hộ nghèo đã điều tra trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……… 35
3.1.2 Đặc điểm về sản xuất và thu nhập, nguồn vốn của hộ dân……….39
3.1.3 Đặc điểm khó khăn thường gặp của hộ dân ảnh hưởng đến thu nhập………41
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân nghèo……… 43
3.3 Đánh giá tác động của các chính sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước………… 48
3.3.1 Đánh giá thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020……… 48
Trang 103.3.2 Đánh giá chương trình giảm 1.000 hộ nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn
huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……….55
Chương 4: Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nghèo trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……….……….60
4.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển của huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……….……….60
4.1.1 Quan điểm……….……… 60
4.1.2 Mục tiêu……….……….60
4.1.3 Định hướng phát triển……….………61
4.2 Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ dân nghèo huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……… ……….61
4.2.1 Yếu tố lao động trong hộ gia đình……… ……….61
4.2.2 Yếu tố người nghèo tiếp cận nguồn vốn vay……… ……….61
4.2.3 Yếu tố diện tích đất sản xuất……….……… 63
4.2.4 Yếu tố dân tộc……… ………… 63
4.2.5 Yếu tố người phụ thuộc ………64
4.3 Kết luận……… 65
4.4 Kiến nghị……….66
4.4.1 Đối với nhà nước……….66
4.4.2 Đối với chính quyền……… 66
Tài liệu tham khảo……….……….68
Phụ lục 1……….71
Phụ lục 2……….75
Trang 11DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1: Chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn……… 11
Bảng 2: Tổng hợp các nhân tố tác động tới thu nhập hộ gia đình…….………… 23
Bảng 3: Sự phát triển kinh tế theo các năm 2015, 2016, 2021……….28
Bảng 4: Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu……….32
Bảng 5: Thông tin chung về mẫu nghiên cứu theo giới tính………35
Biểu đồ 1: Biểu đồ thống kê mẫu nghiên cứu theo giới tính………35
Bảng 6: Thông tin chung về mẫu nghiên cứu theo dân tộc……….….36
Bảng 7: Thông tin chung về mẫu nghiên cứu theo trình độ học vấn………36
Biểu đồ 2: Biểu đồ thống kê mẫu nghiên cứu theo dân tộc……… 36
Bảng 8: Thông tin về mẫu nghiên cứu theo tuổi của chủ hộ………37
Biểu đồ 3: Biểu đồ thống kê mẫu nghiên cứu theo trình độ học vấn………37
Bảng 9: Thông tin về mẫu nghiên cứu theo quy mô hộ gia đình……….38
Bảng 10: thông tin về đặc điểm diện tích đất sản xuất……… ………… 39
Bảng 11: Nguồn tạo thu nhập cho các chủ hộ……… 39
Biểu đồ 4: Biểu đồ thống kê mẫu nghiên cứu theo nguồn tạo thu nhập 40
Bảng 12: thông tin về đặc điểm thu nhập trung bình hàng năm của hộ dân………40
Bảng 13: thông tin về đặc điểm vay vốn và nguồn vay vốn của hộ dân………… 41
Biểu đồ 5: Biểu đồ thống kê mẫu nghiên cứu theo nguồn vay vốn… ………41
Bảng 14: thông tin về đặc điểm vay vốn và nguồn vay vốn của hộ dân………… 42
Biểu đồ 6: Biểu đồ thống kê mẫu nghiên cứu theo khó khăn ảnh hưởng thu nhập 42
Bảng 15: Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước……… 44
Bảng 16: Số hộ nghèo giảm qua các năm 2016 – 2020……… 51
Biểu đồ 7: Biểu đồ số hộ nghèo được thống kê qua các năm từ 2016 – 2020…… 51
Biểu đồ 8: tỷ lệ phần trăm hộ nghèo là dân tộc thiểu số thống kê qua các năm từ 2016 – 2020 52
Bảng 17: Số căn nhà được hỗ trợ xây, sửa qua các năm 2016 – 2020……….52
Trang 12Biểu đồ 9: biểu đồ số căn nhà được xây, sửa thống kê qua các năm từ 2016 –
2020……….… 53 Bảng 18: Số phần quà và số tiền vận động được qua các năm 2016 – 2020………53
DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 1: Vòng lẩn quẩn của nghèo đói 15 Hình 2: Mô hình các yếu tố liên quan đến thu nhập của hộ nghèo 25
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đói nghèo trên thế giới đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần dây do tác động của các cuộc xung đột, tình trạng biến đổi khi hậu và nhất là tác động nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 Trên thế giới hiện có khoảng 1,2 tỷ người đang sống trong cảnh nghèo đói (Tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc - UNDP, Báo cáo phát triển con người năm 2020, 2021) Vấn đề này không chỉ đơn thuần là của từng quốc gia mà
nó trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao, cứ ba hộ nghèo thì có một
hộ tái nghèo, chênh lệch nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn khá lớn, đời sống của người nghèo vẫn còn nhiều khó khăn (Nguyễn Thị Thu Hà & cộng sự, 2015) Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo nhiều yếu tố như lạm phát, bão giá…trong khi mức thu nhập của người nghèo còn quá thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân Do đó việc nâng cao thu nhập cho người nghèo là vấn
đề đáng được quan tâm trong tiến trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước hiện nay Tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VII), Đảng
ta đã đề ra chủ trương về xóa đói giảm nghèo: “…phải hỗ trợ người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong và ngoài nước, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo…”
Thực hiện chủ trương trên của Đảng, trong suốt nhiều năm qua, Chính phủ đã triển khai thực hiện nhiều chính sách và phương thức khác nhau về tín dụng ưu đãi đối với người nghèo, trong đó Chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách giữ vai trò hết sức quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, nâng cao đời sống kinh tế của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, từng bước tiếp cận với các điều kiện của kinh tế thị trường Đồng thời góp phần vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cho đất nước, ổn định an sinh xã hội
Bù Gia Mập là một huyện thuộc tỉnh Bình Phước, ngày 01/8/2015 huyện Bù Gia Mập được chia tách thành 02 huyện: Bù Gia Mập (gồm 08 xã gồm: Đắk Ơ, Bù Gia Mập,
Trang 15Bình Thắng, Đức Hạnh, Phú Văn, Phú Nghĩa, Đa Kia và Phước Minh) và huyện Phú Riềng (gồm 10 xã) theo Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Huyện Bù Gia Mập có đường biên giới giáp Campuchia dài trên 60km, hơn 36% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số Huyện có 1.064 km2 diện tích
tự nhiên và dân số trung bình năm 2020 là 85.277 người (trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số có 27.122 người) Huyện Bù Gia Mập nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi cao nguyên và vùng đồng bằng, có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng cả về kinh
tế, chính trị và an ninh quốc phòng (Chi cục Thống kê huyện Bù Gia Mập, 2021) Với đặc thù là huyện có địa bàn rộng có đường biên giới tiếp giáp Campuchia chiều dài khoảng 64 km Trình độ dân trí còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, dân cư phân
bố không tập trung Điều kiện cơ sở hạ tầng với xuất phát điểm thấp Toàn huyện có 03
xã và 22 thôn đặc biệt khó khăn, có tổng số hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao Những năm gần đây, với việc triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách đầu tư, hỗ trợ, tỉnh Bình Phước nói chung và huyện Bù Gia Mập nói riêng đã và đang có những đột phá mạnh
mẽ trong công tác giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện biên giới Bù Gia Mập
đã giảm từ 20% năm 2015 xuống còn 9,8% năm 2020
Bên cạnh đó, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước được cải thiện rõ rệt Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế gia đình ổn định có của ăn, của để, xây nhà, mua sắm xe ô tô, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất
và sinh hoạt gia đình, đầu tư cho con cái học tập, tích lũy tài sản Tuy nhiên, bên cạnh
đó vẫn còn một số hộ rất nghèo (hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số là 1.398 hộ, chiếm 38,2% tổng số hộ nghèo toàn huyện, chiếm 52% tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số của toàn huyện), còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số không có và thiếu đất sản xuất theo định mức chung quy định của tỉnh (0,5ha/hộ), đất ở, nhà ở tạm bợ, thiếu nước sinh hoạt, mức sống còn quá chênh lệch so với mức bình quân chung cả tỉnh, đang cần được sự hỗ trợ của Nhà nước và sự giúp đỡ của cộng đồng, xã hội
Với các lý do đó, tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao thu nhập đối với hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước” làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế Và cũng nhằm tìm ra giải pháp giúp người dân nghèo tại địa bàn nghiên cứu nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
Trang 162 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng thu nhập của hộ nghèo và một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập đối với hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước năm 2021
2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Đánh giá thực trạng thu nhập của hộ nghèo ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước năm 2021
(2) Xác định và phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các
hộ nghèo ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước năm 2021
(3) Phân tích tác động của các chính sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
(4) Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập đối với hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hiện trạng thu nhập của hộ nghèo ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước hiện nay như thế nào?
- Xác định các yếu tố và tác động của các yếu tố đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập?
- Tác động của các chính sách nhà nước đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước giai đoạn 2016 - 2020 như thế nào?
- Cần phải làm gì để nâng cao thu nhập đối với hộ nghèo tại huyện Bù Gia Mập?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của là các hộ nghèo trong huyện Bù Gia Mập
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên phạm vi 04 xã: Xã Bình Thắng, Phú Nghĩa, Đa Kia, Phước Minh của huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
Trang 173.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện sau khi được xét duyệt đề cương từ tháng 8/2021 đến tháng 3/2022
4 Những đóng góp của đề tài luận văn
Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nghèo ở địa bàn huyện Bù Gia Mập, Bình Phước Đồng thời chỉ ra được các yếu
tổ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nghèo và các yếu tố này phù hợp với các nghiên cứu đã được chứng minh ở trong và ngoài nước
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích giúp cho các cơ quan ban ngành của huyện
Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước trong việc hoạch định các chính sách góp phần nâng cao thu nhập cho người nghèo ở huyện Bù Gia Mập đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn; giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở khoa học của nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nghèo trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về đói nghèo
1.1.1 Nghèo và các khía cạnh của nghèo nói chung
Theo Liên hợp quốc (2008) nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn (Tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc - UNDP, Báo cáo phát triển con người năm 2007, 2008)
Trước năm 2015, việc đánh giá nghèo ở Việt Nam chỉ dựa vào thước đo duy nhất là thu nhập hay chi tiêu đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả
và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo Đến tháng 9 năm 2015, chính phủ đã phê duyệt đề án tổng thế “Chuyển đổi phương án tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”, như vậy nghèo sẽ được xác định không chỉ từ thu nhập mà còn dựa trên các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin (Quyết định số 1614/QĐ-TTg, 2015)
Theo báo cáo nghèo đa chiều ở Việt Nam (2018), nghèo được định nghĩa là sự thiếu thốn không thể chấp nhận được trong đời sống Nhưng đời sống có thể bao hàm vô số khía cạnh và có nhiều yếu tố cấu thành nên một mức sống chấp nhận được (hay không chấp nhận được) Theo báo cáo phát triển Việt Nam (2000): Tấn công nghèo đói” miêu
Trang 19tả đặc điểm chính của các hộ nghèo thâp kỷ 90 gồm người nghèo sống ở nông thôn và chủ yếu là nông dân với trình độ học vấn thấp và khả năng tiếp cận thông tin và các kỹ năng chuyên môn bị hạn chế; hộ nghèo thường ít đất hoặc không có đất, họ không thể kiếm sống nhờ đất có rất ít cơ hội tạo thu nhập phi nông nghiệp ổn định; hộ nghèo thường đông con và ít lao động đặc biệt dễ tổn thương trước chi phí y tế và giáo dục gia tăng và đa dạng; các hộ nghèo cũng thường rơi vào vòng nợ nần (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Phân tích và Dự báo (CAF/VASS), Tổng Cục Thống kê, Viện Nghiên cứu phát triển Mê Kông, & UNDP, 2018)
Theo World Bank (WB) (2020), nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực Tại Hội nghị về chống nghèo đói do
Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại kok, Thailand vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia đã thống nhất cao và cho rằng:
Bang-“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” Tuy có nhiều khái niệm về nghèo nhưng quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng
về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không
có sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia (World Bank, 2020)
Như vậy, định nghĩa nghèo của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, thay đổi cách đánh giá đo lường để tiếp cận được với quan niệm cũng như là phương pháp tiếp cận
đa chiều của quốc tế, từ đó xác định đối tượng nghèo, đặc biệt là những đối tượng nghèo nhất và các thiếu hụt của họ để đặt mục tiêu, thiết lập ưu tiên, xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hiệu quả, phù hợp với các đối tượng và nhu cầu khác nhau
Trang 201.1.2 Phương pháp xác định (World Bank, 2020)
Không có một định nghĩa duy nhất về nghèo và do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo để đo được nó Trong Báo cáo Phát triển Việt Nam về Nghèo (2009) (World Bank, 2020) đã đưa ra các phương pháp sử dụng nhằm đo mức độ nghèo và xác định đối tượng nghèo ở Việt Nam có thể được phân loại thành những nhóm sau: (1) dựa vào nhu cầu chi tiêu của hộ, (2) Vẽ bản đồ nghèo, (3) Dựa vào thu nhập, (4) Phân loại của địa phương và (5) Xếp hạng giàu nghèo
1.1.2.1 Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu
Đây là phương pháp do các chuyên gia WB (WB) khởi xướng và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia Nội dung của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chi tiêu để đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Áp dụng theo phương pháp này bao gồm 3 bước: Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm (nhu cầu ăn uống để tồn tại)
Để xác định nhu cầu này người ta xác định rổ hàng hóa để bình quân hàng ngày một người có được 2.100 Kcal, rổ hàng hóa này khoảng 40 mặt hàng và xếp thành 16 nhóm hàng hóa Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu phi lương thực (7 nhu cầu cơ bản còn lại) Đối với nhóm giàu chi cho lương thực, thực phẩm là 50%, còn 50% chi cho nhu cầu phi lương thực Đối với người nghèo tỷ lệ tương ứng là 70% và 30% Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm Tổng nhu cầu đó là chuẩn nghèo, người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo chung được xếp vào nhóm người nghèo, tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ dân số có mức chi tiêu dưới chuẩn nghèo Ưu điểm của phương pháp này là có cơ sở khoa học tin cậy, độ chính xác cao, phản ánh sát thực trạng cuộc sống, nhiều quốc gia công nhận và sử dụng, có
cơ sở để so sánh với các quốc gia khác Trong khi nhược điểm của phương pháp là việc thu thập thông tin các mặt hàng và chi tiêu thực tế của dân cư phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí Khi xác định mức độ nghèo theo phương pháp này phải tổ chức điều tra chọn mẫu, mẫu điều tra phải lớn để tránh sai số và do đó phương pháp này chỉ có độ đáng tin cậy khi xác định đối tượng nghèo từ cấp tỉnh trở lên, không thể dùng được ở cấp huyện, chưa nói đến cấp xã hay cấp hộ
Trang 211.1.2.2 Vẽ bản đồ nghèo
Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số Những cuộc điều tra hộ như điều tra mức sống hộ gia đình sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu của hộ mà còn cả về một loạt các biến khác, như quy mô
và thành phần của hộ, trình độ học vấn của các thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản của hộ, …Còn tổng điều tra dân số không hỏi về chi tiêu, nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến số kể trên Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là gắn hai công cụ thống kê này thông qua ba bước chính Bước thứ nhất là xác định một loạt các biến số chung giữa cuộc điều tra hộ chi tiết và cuộc tổng điều tra dân số cùng kỳ Thứ hai, tiến hành phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân đầu người với những biến số này Bước thứ ba là sử dụng những kết quả từ phân tích này để dự báo chi tiêu của những hộ có trong tổng điều tra dân số Mức chi tiêu dự báo này sẽ được dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo không Về mặt này, vẽ bản đồ nghèo cho phép tính được tỷ lệ nghèo ở các cấp thấp, được đo bằng tỷ lệ hộ nghèo trong tổng điều tra dân số của mỗi tỉnh, huyện, thậm chí cả xã Nhưng phương pháp này cũng không phải là thực sự hoàn hảo bởi lẽ chi tiêu “dự báo” chỉ có thể ước tính với sai số
1.1.2.3 Phương pháp dựa vào thu nhập
Phương pháp này khoa học và tương đối đơn giản được một số nước ở Châu Á và Mỹ
đã áp dụng, phương pháp này cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không
đủ để chi phí cho lương thực, thực phẩm và các dịch vụ xã hội Do vậy người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 thu nhập bình quân đầu người Việc lấy chuẩn nghèo bằng 1/2 hay 1/3 bình quân thu nhập đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, song biên độ dao động của chuẩn nghèo sẽ nằm trong 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân; nước phát triển thu nhập cao có thể lấy mức 1/2, nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3; nước đang phát triển nên lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, ít tốn kém kinh phí có thể sử dụng số liệu có sẵn, các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình Phương pháp này có nhược điểm là sự điều chỉnh của chuẩn nghèo có khoảng dao động lớn (từ mức 1/2 đến 1/3 mức thu nhập) do
Trang 22đó dễ bị chi phối bởi ý muốn chủ quan của người tính và việc so sánh giữa các quốc gia, giữa các vùng không trên một mặt bằng
1.1.2.4 Phân loại của địa phương
Trên thực tế, các địa phương không tuân theo một cách cứng nhắc phương pháp dựa vào thu nhập nêu trong tài liệu hướng dẫn Điểm căn bản trong việc xác định đối tượng nghèo và phân bổ các khoản trợ giúp trên thực tế ở cấp địa phương là có sự chi phối của một thiết chế theo tập tục truyền thống Mỗi ấp sẽ lên danh sách những hộ nghèo và hộ đói Danh sách này được cập nhật một hai lần trong một năm, khi mà những lợi ích như miễn học phí và thẻ khám chữa bệnh được cung cấp Những hộ được coi là không nghèo
có thể không tham gia vào những hội đồng này, vì họ ít có khả năng nhận được lợi ích
gì Nhiều khi số kinh phí có được không cho phép phân bổ những khoản trợ giúp cho tất cả những hộ được xếp vào diện nghèo Vấn đề là ai sẽ nhận được những trợ giúp đó, cộng thêm những đánh giá chủ quan của những hộ khác, ngoài những con số về thu nhập Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định hộ nghèo Vì thảo luận ở cấp ấp có thực sự thành công trong việc xác định ai là người cần trợ giúp nhất hay không vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ Một nhược điểm nữa là nó hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét phân loại Những hộ bị coi là không chịu chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm xã hội hiếm khi được nhận trợ giúp và thậm chí còn không được liệt vào danh sách các hộ nghèo Trên thực tế việc không trợ cấp cho những hộ này có thể gây thiệt thòi cho con cái của họ, là những người không
hề có lỗi
1.1.2.5 Xếp hạng giàu nghèo
Phương pháp này thường được sử dụng nhiều nhất trong việc đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân, bao gồm một tập hợp những nhận xét về hiện trạng của tất cả các hộ trong một cộng đồng Ở Việt Nam, cộng đồng tiêu biểu chính là ấp Một tỷ lệ đáng kể các hộ trong cộng đồng sẽ tập hợp nhau lại để xếp thứ tự, hoặc thường là phân loại tất cả các hộ trong số đó Trong những cuộc đánh giá nghèo có sự tham gia người dân được thực hiện, những người tham dự được chọn sao cho có đủ nam, nữ, người già, người trẻ, người nghèo và người không nghèo Đại diện của chính quyền địa phương, thường có cả trưởng ấp cũng tham gia Những cán bộ xã hội từ những tổ chức phi chính
Trang 23phủ, hoặc các tổ chức nghiên cứu trong nước đã làm quen với xã và những vấn đề chính ảnh hưởng đến đời sống của các hộ trong đó, đứng ra làm đầu mối liên hệ Việc phân loại hộ thường được thực hiện thông qua phân loại nhóm nhằm chỉ ra những đặc tính của người nghèo Sau đó, những tờ phiếu có ghi tên tất cả các hộ trong thôn được phân phát cho các đại biểu tham dự để họ tự phân loại các hộ vào các nhóm Cuối cùng, trường hợp những hộ được phân loại khác nhau bởi ít nhất hai thành viên sẽ được đem
ra thảo luận trong cả nhóm Việc thảo luận nhằm tìm hiểu nguyên nhân của sự khác nhau và tìm kiếm sự nhất trí liên quan đến phân loại phù hợp cho mỗi trường hợp Do vậy công tác xếp hạng giàu nghèo mang tính toàn diện hơn những phương pháp chỉ dựa vào chi tiêu hay thu nhập không thôi và khách quan hơn phương pháp tự đánh giá hay phân loại bởi chính quyền địa phương Nhược điểm chính của phương pháp xếp hạng giàu nghèo là chi phí cao
1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường nghèo
1.1.3.1 Chuẩn nghèo của Thế giới
Năm 2018, WB đưa ra Chuẩn nghèo xã hội (SPL), dựa trên nghiên cứu cơ bản của Dean Jolliffe- Espen Prydz, để nắm bắt các khía cạnh tương đối của đói nghèo và đáp ứng khuyến nghị của Ủy ban về Nghèo đói Toàn cầu Theo đó, SPL kết hợp chuẩn nghèo tuyệt đối 1,90 USD/ngày với một khoản được dự đoán tương đối tăng khi tiêu dùng hoặc thu nhập trung bình của một nền kinh tế tăng lên SPL khác nhau giữa các quốc gia và khác nhau ngay trong nội tại một quốc gia Về mặt hình thức, có thể hiểu là thu nhập trung bình hàng ngày hoặc tiêu dùng bình quân đầu người trong một hộ gia đình
và được giới hạn dưới chuẩn nghèo quốc tế là 1,90 USD/ngày (World Bank, 2020)
1.1.3.2 Chuẩn nghèo ở Việt Nam
Theo quan điểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, chuẩn nghèo là thước đo
để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp trợ giúp Dựa vào chuẩn nghèo đề xuất của WB và căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nhiều lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau (giai đoạn 2001-2005, 2006-
2010, 2011-2015, 2016 – 2020, 2021 - 2025)
Trang 24Bảng 1: Tóm tắt chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn
Theo Quyết định/Nghị định
2006 -
170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Chính phủ
2011 -
Quyết định số TTg ngày 30/1/2011 của Chính phủ
xã hội cơ bản trở lên
Quyết định số TTg ngày 19/11/2015 của Chính phủ
xã hội cơ bản trở lên
Nghị định số
07/2021/NĐ-CP, đồng thời tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Chính phủ
Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2021)
1.1.4 Các lý thuyết liên quan đến nghèo đói và tăng trưởng kinh tế
1.1.4.1 Lý thuyết về phát triển kinh tế
Trang 25Theo Nguyễn Trọng Hoài (2005), phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ, thường bao hàm những thay đổi toàn diện, liên quan đến những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội và thể chế (Nguyễn Trọng Hoài, 2005) Một khái niệm khác thường được đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đó là phát triển bền vững Trong hội nghị Rio de Janerio, 1992, khái niệm này được nhấn mạnh như sau: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Muốn cho dân giàu, nước mạnh và xã hội phồn vinh thì Chính phủ phải duy trì được mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn Đây là điều kiện tiền đề để thực hiện các mục tiêu khác của quá trình phát triển Nền kinh tế có tăng trưởng thì ngân sách nhà nước ngày càng mở rộng, thu nhập của người dân cũng nâng lên và như vậy mới có điều kiện nâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần cho người dân (thông qua tăng cường ngân sách cho đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, chăm sóc y tế, xóa đói giảm nghèo …)
Mặt trái của phát triển kinh tế có thể gặp phải đó là, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng chỉ một bộ phận nhỏ dân cư được hưởng lợi từ sự tăng trưởng này, trong khi phần lớn bộ phận dân cư khác vẫn trong tình trạng thu nhập thấp và nghèo đói, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng về thu nhập trong phân phối không những là hệ quả cần thiết của tăng trưởng kinh tế mà còn là nguyên nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Do đó, bất kỳ một
sự “hấp tấp, vội vã” nào trong chính sách nhằm nhanh chóng xóa bỏ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của giai đoạn đầu phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia
1.1.4.2 Lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn
Rao và ctg (1991) tranh luận về mối quan hệ này như sau: Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức chủ yếu được thực hiện là quảng canh (tăng sản lượng
do mở rộng diện tích) và thâm canh (tăng năng suất trên đơn vị diện tích bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào do ngành công nghiệp hóa chất sản xuất) (Rao, C.H.H and Chopra, & K., 1991)
Trang 26Phương thức quảng canh, do bóc lột chất dinh dưỡng tự nhiên trong đất, mở rộng diện tích do phá rừng thì tăng trưởng nông nghiệp có thể đạt trong ngắn hạn, nhưng khi môi trường tự nhiên bị suy thoái, sản lượng và thu nhập sẽ sụt giảm trong khi dân số tăng và
hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện Phương thức thâm canh, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh trong nông nghiệp, tình trạng lạm dụng các hóa chất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng làm suy thoái tài nguyên đất và nước Khi sự suy thoái này xuất hiện thì năng suất và thu nhập giảm dần, trong khi dân số tăng, nông thôn không thu hút được việc làm và hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện Shepherd (1998) cho rằng ngay cả việc đảm bảo không suy thoái tài nguyên môi trường bằng kỹ thuật tốt cũng xuất hiện sự nghèo đói, do đặc điểm tự nhiên khác nhau theo vùng và hiệu quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng đem lại kết quả khác nhau Giai đoạn đầu áp dụng kỹ thuật mới, do đòi hỏi tăng nhanh đầu tư về giống, phân bón, thuốc sâu, làm đất, thủy nông nội đồng, … nên cũng gắn với rủi ro cao, và như vậy chỉ các hộ giàu
ở vùng nông thôn mới có khả năng thực hiện và hưởng lợi ích lớn từ việc đi tiên phong đầu tư các kỹ thuật mới Sau đó, với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua tài trợ giá đối với các yếu tố sản xuất đầu vào và ưu đãi về tín dụng thì nông dân nghèo mới có điều kiện áp dụng rộng rãi những kỹ thuật đó Tuy nhiên, khi đại bộ phận nông dân có thể
áp dụng được mô hình này, sản lượng sẽ tăng nhanh và giá sẽ rớt xuống làm giảm hiệu quả đầu tư của nông dân Nếu quá trình này tiếp tục, họ sẽ bị rơi vào gánh nặng nợ nần,
từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số tăng, làm tăng thất nghiệp và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng Trong bối cảnh như vậy, những người nông dân sẽ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tự nhiên của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn lực tự nhiên (hàng hóa công) như săn bắn, phá rừng để tăng thu nhập Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục bị suy thoái, thu nhập người dân giảm, và lại rơi vào vòng lẩn quẩn của nghèo đói
Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể nào là hệ thống nông nghiệp bền vững được Hay nói cách khác, mô hình nông nghiệp bền vững là mô hình sử dụng các phương thức sản xuất tiến bộ như ng không làm suy thoái môi trường, mất cân bằng tự nhiên và vẫn đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho nông dân Biểu
Trang 27hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đo lường bằng các chỉ tiêu: tỷ
lệ hộ nghèo đói, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở nông thôn
1.1.4.3 Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp nếu xét theo đối tượng sản xuất của nó sẽ bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản
Vẫn còn một bộ phận lớn dân cư sống ở vùng nông thôn với thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp vẫn ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và công nghiệp chưa đủ sức để lôi kéo hết lao động thặng dư trong nông nghiệp thì nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển Nông nghiệp chỉ có thể phát huy được vai trò tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế khi được quan tâm đầu tư đúng mức và thoát khỏi sự trì trệ lạc hậu Do đó, phát triển nông nghiệp cũng đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế
Những năm qua, nông nghiệp là “lá chắn” vững chắc bảo vệ nền kinh tế nước ta trước các tác động bất lợi từ bên ngoài Ngay cả trong những thời điểm đất nước gặp khó khăn nhất, nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn có mức tăng trưởng đều và là nhân tố tạo
sự bình ổn cho kinh tế - xã hội của nước nhà Michael Porter, chuyên gia về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Đại học Harvard, Hoa Kỳ, khi được hỏi điều gì đáng nói nhất về Việt Nam, Ông đã trả lời: Lao động và nông nghiệp
Ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt, nên việc bảo tồn quỹ đất và nâng cao chất lượng đất là vấn đề tồn tại của nông nghiệp Nông nghiệp
có địa bàn sản xuất rộng lớn, nhưng lại mang tính khu vực nên các chính sách kinh tế
xã hội cho phát triển nông nghiệp phải thích hợp cho từng khu vực
Lý giải cho tình trạng tụt hậu của nhiều nước đang phát triển, các nhà kinh tế mô tả
“Vòng lẩn quẩn của nghèo đói”
Trang 28Nguồn: Ngân hàng Thế giới (1995)
Hình 1: Vòng lẩn quẩn của nghèo đói
Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho dân cư là cơ sở để thoát khỏi vòng lẩn quẩn này Trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, nông nghiệp cũng được chọn là một lĩnh vực sản xuất quan trọng để tác động đến tăng trưởng Điều này càng quan trọng hơn đối với những nước có ưu thế về tiềm năng
tự nhiên gắn với nông nghiệp Nông nghiệp tham gia giải quyết những khó khăn của tình trạng kém phát triển ở các nước đang phát triển thông qua vai trò kích thích tăng trưởng và đóng góp của nông nghiệp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận về thu nhập
1.2.1 Khái niệm về thu nhập
Đã có nhiều khái niệm thu nhập được đưa ra, cụ thể như:
Từ điển kinh tế thị trường đưa ra khái niệm thu nhập: “Thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đạt được từ các nguồn khác nhau của cá nhân trong thời gian nhất định, thu nhập
cá nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ nguồn thu nhập quốc dân Thu nhập là sự phân phối và tái phân phối thu nhập quốc dân đến từng người, bất kể lao động, trong cơ quan đơn vị để làm ra sản phẩm vật chất hay không”
Trang 29Theo Robert J Gorden - nhà kinh tế học người Mỹ, Giáo sư trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn Northwesten: “Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các cá nhân nhận được từ mọi nguồn bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển nhượng Thu nhập
cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế thu nhập cá nhân”
Khoản chuyển nhượng là những khoản tiền cá nhân nhận được nhưng không phải trả tiền cho lao động sản xuất nào Hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta, hộ gia đình được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ Thu nhập của hộ là toàn bộ các khoản thu nhập bằng tiền và giá trị hiện vật (kể cả các khoản phúc lợi xuất hiện không mất tiền)
mà người lao động cũng như gia đình nhận được trong một thời gian nhất định
Theo từ điển kinh tế học của tác giả Nguyễn Văn Ngọc: Thu nhập là khoản thu mà các nhân tố sản xuất nhận được như tiền lương, tiền công, phí và hoa hồng, lợi nhuận, tiền
tô, lợi tức và lãi suất hay: thu nhập là các khoản lợi tức thu được từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong một thời kỳ Các khoản lợi tức thu được từ lao động, tư bản, đất đai và năng lực kinh doanh là tiền lương, lãi suất, địa tô và lợi nhuận
Trong lý thuyết về nhu cầu thì trợ cấp cũng được coi là thu nhập vì nó cũng tham gia quy định giới hạn ngân sách như các khoản thu nhập khác
Trung tâm thông tin Tư liệu- Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng: thu nhập có thể hiểu là cơ hội tiêu dùng và tiết kiệm mà một đối tượng có được trong một khung thời gian cụ thể Với đối tượng là hộ gia đình và các nhân thì thu nhập là tổng của tiền lương, tiền công, lợi nhuận, tiền lãi, địa tô và những lợi tức khác mà họ có được trong một khoảng thời gian nhất định
=> Thu nhập: là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
mà chủ thể nào đó trong nền kinh tế xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là một năm)
1.2.2 Đặc điểm về thu nhập
Thu nhập biểu thị bằng một lượng giá trị hoặc hiện vật mà người lao động nhận được bằng hoạt động lao động của mình Như vậy, với nền kinh tế quốc dân, thu nhập là tổng
Trang 30giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một đơn vị thời gian Với chủ doanh nghiệp tư nhân, thu nhập là lợi nhuận ròng mà họ có được sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh Với người công nhân, thu nhập của họ chính là tiền lương mà
họ nhận được Với người lao động nông thôn, thu nhập có hai phần cơ bản:
- Thu nhập tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền công do làm thuê
- Các khoản hỗ trợ từ người thân, họ hàng, các khoản trợ cấp
Trong cơ cấu thu nhập của lao động nông thôn, phần thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, làm thuê…chiếm tỷ lệ tuyệt đối lớn và có vai trò quyết định đến sự phát triển của kinh tế nông thôn Phần được hỗ trợ chiếm tỷ lệ nhỏ bé và không thường xuyên, nó chỉ có vai trò giúp cho lao động nông thôn giảm phần nào gánh nặng của cuộc sống trong thời kỳ khó khăn
Trong thời kỳ hiện nay, thu nhập của lao động nông thôn nước ta có hai biểu hiện rất rõ nét:
- Thứ nhất: Thu nhập của lao động nông thôn là rất thấp và có khoảng cách khá
xa so với thành thị Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là do cơ hội việc làm ở thành thị lớn hơn, năng suất lao động hay hiệu quả công việc ở thành thị cao hơn Đây là lý do hình thành luồng di dân từ nông thôn ra thành thị với mức độ ngày càng tăng Điều đó tạo ra yêu cầu khách quan là phải có giải pháp hợp lý nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn và nâng cao hiệu quả của lao động nông thôn, hạn chế sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa nông thôn
và thành thị từ đó khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực do sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị gây ra
- Thứ hai: Thu nhập của lao động nông thôn không ổn định Đa số người dân ở nông thôn đều làm nông nghiệp do đó phụ thuộc vào tính mùa vụ trong nông nghiệp Trong kỳ thời vụ, nhu cầu thuê lao động tăng nhưng thuê nhân công vừa khó vừa phải trả tiền công cao Ngược lại, thời kỳ nhàn rỗi nhu cầu thuê lao động thấp, người nông dân không có việc làm nên họ sẵn sàng làm thuê với mức tiền công thấp
1.2.3 Phân loại thu nhập
Trang 31Về bản chất, theo nghĩa rộng, thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: Thù lao cần thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương) và phần có được
từ thặng dư sản xuất hoặc lợi nhuận
Căn cứ vào nhiều tiêu chí người ta phân loại thu nhập như sau:
- Thu nhập cá nhân: là thuật ngữ đề cập đến tất cả các khoản thu nhập của một cá nhân kiếm được trong một niên độ thời gian nhất định từ tiền lương, đầu tư và các khoản khác
- Thu nhập hộ gia đình: là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
1.2.4 Vai trò của thu nhập đối với người nghèo
Thu nhập đóng vai trò quan trọng đối với tất cả mọi người dân, đặc biệt là người nghèo
Họ là những hộ gia đình có thu nhập thấp hoặc rất thấp so với thu nhập chung của xã hội Thu nhập đối với người nghèo chủ yếu là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hằng ngày của họ như ăn, mặc, ở, đi lại, … điện, nước
Ngoài ra thu nhập còn đáp ứng nhu cầu y tế cho hộ nghèo: Cuộc sống không tránh được những rủi ro do đó khi ốm đau bệnh tật thì người nghèo có thể sử dụng thu nhập của mình để chi trả, tự chăm sóc cho bản thân mình
Thu nhập tạo cơ hội cho người nghèo tích lũy được khoản tiền giúp họ phát triển kinh
tế hoặc dùng khoản tiền đó tạo nguồn vốn để thực hiện những nhu cầu trong cuộc sống của họ
Thu nhập như là động lực giúp họ vươn lên thoát nghèo, vượt qua khó khăn để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân và gia đình của họ
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu về thực trạng thu nhập của hộ nghèo trên thế
giới và tại Việt Nam
Trang 321.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu ở vùng nông thôn Trung Quốc năm 2017, quy mô hộ gia đình trung bình là
6 người, trình hộ học vấn của hộ nghèo thấp với 90% người học dưới tiểu học và mù chữ, 60,08% hộ gia đình có ít nhất một thành viên là bệnh nhân hoặc người khuyết tật, thu nhập trung bình năm của hộ nghèo là 3000 NDT trong khi thu nhập trung bình năm của hộ nông dân là 10000 NDT (Zhou, Y., Guo, Y & Liu, Y , 2020)
Một nghiên cứu ở nông thôn của Kenya, tỉ lệ thu nhập dưới chuẩn nghèo chiếm tỉ lệ cao tới 77%, những hộ nghèo có các đặc điểm như bình quân quy mô hộ gia đình là 4, 95%
có học vấn từ bậc trung học cơ sở trở xuống, thu nhập trung bình hằng ngày là 1,1 USD trong khi thu nhập hàng ngày chuẩn nghèo vùng nông thôn là dưới 1,52 USD (Noah Kibet, Job Lagat and Gideon Obare, 2019)
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong báo cáo giảm nghèo ở Việt Nam “thành tự và thách thức” năm 2011 cho thấy đặc tính của hộ nghèo gồm quy mô hộ trên 5 người, 40,7% là dân tộc thiểu số, thiếu đất đai canh tác, kinh nghiệm làm việc rất hạn chế, trình độ học vấn thấp thường bỏ học và không học hết bậc tiểu học và khả năng không biết chữ cao, về thu nhập thì không ổn định đi cùng với việc nợ nần chồng chất, vay tiền ngân hàng để mua lương thực thực phẩm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Phân tích và Dự báo (CAF/VASS), Tổng Cục Thống kê, Viện Nghiên cứu phát triển Mê Kông, & UNDP, 2018)
Nghiên cứu của Hoàng Minh Cường về đánh giá thu nhập của hộ nghèo năm 2019 cho thấy, tỉ lệ hộ nghèo trong địa bàn nghiên cứu chiếm 44,02%, thu nhập trung bình hàng năm khoảng 21 triệu đồng, trung bình nhân khẩu/hộ là 5,62, 80% mỗi hộ có từ 2 đến 3 lao động tạo ra thu nhập cho hộ gia đình, diện tích đất trung bình của một hộ nghèo khoảng 400 m2 (Hoàng Minh Cường, 2019)
Nghiên cứu của Dương Thị Ngọc Thương năm 2016 đưa ra kết quả thu nhập trung bình hàng năm khoảng 19 triệu đồng, trung bình nhân khẩu/hộ là 5,22, số lao động tạo ra thu nhập cho hộ gia đình bình quân là 2,13, diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nghèo khoảng 350 m2 (Dương Thị Ngọc Thương, 2016)
Trang 33Nghiên cứu của Lê Đình Hải năm 2017 ở huyện Ba Vì, Hà Nội cho thấy độ tuổi trung bình của hộ nghèo là 38,35, số nhân khẩu bình quân hộ là 4,35, số người lao động chính bình quân là 2,1, thu nhập trung bình một năm của hộ là 29,2 triệu đồng (Lê Đình Hải, 2017)
Nghiên cứu của Võ Thành Khởi năm 2015 ở tỉnh Bến Tre đưa ra các đặc điểm của hộ nghèo với 70% hộ nghèo có số nhân khẩu từ 4 người trở lên, trình độ họ vấn chủ yếu là tiểu học và trung học cơ sở với 89,7%, số người tạo ra thu nhập từ 1 đến 2 người chiếm 67,7%, thu nhập trung bình hàng tháng của cả hộ gia đình dưới 5 triệu chiếm 87,2% (Võ Thành Khởi, 2015)
1.4 Tổng quan các yếu tố tác động đến thu nhập
Nghèo đói đã trở thành một trong những chỉ số rộng hơn để đo lường phúc lợi và mức sống của một quốc gia Tại Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội ban hành hướng dẫn quy trình ra soát hộ nghèo và các tiêu chí để xác định số người hoặc hộ gia đình sống dưới mức thu nhập để có thể hỗ trợ người nghèo Chính phủ ban hành các hướng dẫn, chính sách để các UBND tỉnh tiếp tục rà soát và hỗ trợ các cá nhân và gia đình sống trong cảnh nghèo đói bằng cách cung cấp các dịch vụ và chuyển thu nhập thông qua các chương trình và sáng kiến cải cách nâng cao thu nhập khác nhau Để tạo
ra các chương trình hỗ trợ có ý nghĩa cần xem xét các yếu tố góp phần tăng tỷ lệ nghèo đói cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo và điều quan trọng là phải phân tích và hiểu các yếu tố đó Tổng quan tài liệu này thảo luận và tóm tắt các yếu tố cơ bản tác động đến thu nhập được đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu ở trên thế giới cũng như trong nước, để cung cấp cái nhìn tổng quát về các yếu tố khác nhau góp phần tác động đến thu nhập của hộ nghèo Mục đích của tổng quan các nhân
tố tác động đến thu nhập là khảo sát các tài liệu hiện có về các yếu tố khác nhau tác động đến thu nhập của người nghèo và các nhân tố tác động đến thu nhập được tổng hợp sau đây
Yếu tố vay vốn
Sử dụng mô hình chỉ số tài chính toàn diện của Sarma (2008), Sethi và ctg (2018) đã phân tích những ảnh hưởng tích cực của tài chính toàn diện đến mức sống của người
Trang 34dân trên 31 quốc gia cho thấy việc cung cấp các dịch vụ tài chính với giá cả phải chăng làm gia tăng thu nhập của nhóm người thu nhập thấp và dễ bị tổn thương Với các nhóm người thu nhập thấp, việc áp dụng phí suất tín dụng thấp (low-cost credit) kích thích người dân vay vốn và tự tổ chức các hoạt động sản xuất tại địa phương, làm gia tăng sản xuất, tăng số lượng việc làm Phân tích kĩ hơn trong lĩnh vực nông nghiệp, có thể thấy rõ những tác động của tài chính toàn diện đến sự phát triển của ngành này Tăng cường tài chính toàn diện góp phần giúp người nông dân dễ dàng tiếp cận đến các nguồn vốn, giảm thiểu nợ, từ đó giúp họ có thể áp dụng các thiết bị, quy trình công nghệ mới trong trồng trọt, chăn nuôi và làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng Sự tăng trưởng trong sản lượng sản xuất góp phần gia tăng sản lượng quốc dân, dẫn đến những tăng trưởng cao ở cấp độ vĩ mô
Yếu tố nhân khẩu học
Sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng việc tạo ra thu nhập
và tiết kiệm bị ảnh hưởng bởi các biến nhân khẩu học của Fernandez và ctg (2009) (Fernandez, et al., 2009) Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, học vấn hoặc địa vị trong
xã hội được thể hiện là những khía cạnh quan trọng trong việc tạo thu nhập hộ gia đình
Ví dụ, Fernandez và ctg (2009) điều tra các yếu tố quyết định mức tiết kiệm từ 8 quốc gia ở Châu Âu, giới tính có ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tiết kiệm (Fernandez, et al., 2009) Các nghiên cứu gần đây chỉ ra mức độ sợ rủi ro cao hơn ở phụ nữ của Pan và ctg (2010) (Pan, C., Statman, & M., 2010) Nhân khẩu học cũng được trích dẫn rộng rãi là yếu tố quyết định chính của các lựa chọn nguồn thu nhập của Galvez và ctg (2011) (Galvez, M., Kleit, & R., 2011) Các yếu tố nhân khẩu học như vậy đã được các học giả trích dẫn là chìa khóa các yếu tố quyết định thu nhập hộ gia đình bao gồm giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, mối quan hệ nghề nghiệp và trình độ học vấn của chủ hộ, quy
mô gia đình, thành phần hộ gia đình và mức chi tiêu của hộ gia đình (Galvez, M., Kleit,
& R., 2011) Đặc biệt là quy mô gia đình cụ thể là số người phụ thuộc và số người lao động Hộ gia đình có số người phụ thuộc nhiều thì chi phí phải chi trả rất nhiều đồng thời khả năng tăng cao thu nhập rất thấp có nguy cơ dẫn đến đói nghèo
Yếu tố trình độ học vấn
Trang 35Trình độ học vấn của chủ hộ cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin, ra quyết định, thu nhập và do đó là an ninh sinh kế của hộ gia đình Do đó, thu nhập của một hộ gia đình sự kiến sẽ tăng lên khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng Điều này là
do chủ hộ có trình độ học vấn thường có thu nhập cao hơn, các cơ hội kiếm thu nhập tiềm năng tăng Theo Wasonga (2009), giáo dục tạo cơ hội cho hộ gia đình đa dạng hóa danh mục đầu tư sinh kế của họ Ngoài ra, quy mô của một gia đình cũng tỉ lệ thuận với nhu cầu của nó về thực phẩm và thu nhập để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu khác Trong nghiên cứu này, kích thước của một hộ gia đình là tổng số người trong hộ, người lao động và người phụ thuộc (Wasonga & V.O., 2009) Theo Nguyễn Quốc Nghi và ctg (2011) (Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trịnh, 2011) và Mai Văn Nam (2009) (Mai Văn Nam, 2008) cũng cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, số nhân khẩu trong gia đình có tác động đến thu nhập của hộ gia đình
Yếu tố dân tộc
Dân tộc cũng được coi là yếu tố quyết định chính đến thu nhập và nghèo đói của hộ gia đình Các hộ gia đình dân tộc thiểu số nghèo hơn nhiều so với các hộ gia đình đa số dân tộc ở hầu hết các quốc gia của Barnard và ctg (2011) (Barnard, Helen, & Claire Turner, 2011) Bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng các nhóm dân tộc thiểu số nghèo hơn nhiều
so với nhóm đa số người Hán ở Trung Quốc và các nhóm dân tộc thiểu số cũng nghèo hơn nhiều so với nhóm dân tộc thiểu số theo đạo Hindu ở Ấn Độ của Bhalla và ctg (2012) (A Bhalla & D Luo, 2013) Các phát hiện tương tự cũng đã được tìm thấy ở các nước phát triển Ví dụ, một nghiên cứu của Weiss (1970) ở Hoa Kỳ cho thấy rằng trung bình, người Mỹ gốc Phi có thu nhập thấp hơn người Mỹ da trắng với cùng số năm đi học (Weiss & Randall, 1970) Ở Anh, khoảng hai phần năm số dân tộc thiểu số sống trong tình trạng nghèo về thu nhập, gấp đôi tỷ lệ của người da trắng của Kenway và ctg (2007) (Kenway & Peter and Guy Palmer, 2007) Một trong những lý do chính có thể giải thích cho thu nhập thấp và nghèo đói cao của các dân tộc thiểu số là sự loại trừ xã hội Theo ghi nhận của Thorat và ctg (2007) (Thorat, Sukhadeo, & Katherine Newman, 2007), các dân tộc thiểu số có nhiều khả năng bị gạt ra ngoài lề xã hội về kinh tế và chính trị Loại trừ có thể có một số hình thức như hình thức kinh tế, xã hội, chính trị và
Trang 36luật pháp Người dân tộc thiểu số có thể phải chịu cả sự phân biệt đối xử giữa thị trường
và phi thị trường
Yếu tố khác
Một số đặc điểm khác của hộ gia đình, cụ thể là tài sản sản xuất, khả năng tiếp cận tín dụng và đất đai cũng có mối liên hệ tích cực với thu nhập của hộ gia đình Việc tiếp cận của các hộ gia đình nông thôn đối với cả tín dụng chính thức và phi chính thức đã cải thiện mức sống của họ ở một số nước đang phát triển Cường (2008) (Nguyễn Việt Cường, 2008) Đặc biệt, bằng chứng thực nghiệm khẳng định rằng đất đai có tác động tích cực đến thu nhập hộ gia đình ở một số nước đang phát triển của Carletto và ctg (2007) (Carletto, et al., 2007)
Như vậy, thông qua các nghiên cứu trong nước và ngoài nước được thực hiện trong thời gian, không gian khác nhau và các đặc điểm của địa bàn nghiên cứu khác nhau nhưng các nghiên cứu này cho thấy một số nhân tố chung ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo như: Giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số người phụ thuộc trong gia đình, số nhân khẩu, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay chính thức, độ tuổi của lao động trong hộ, dân tộc khả năng tiếp cận với các chính sách hỗ trợ, thời gian nông nhàn,
có người làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp và nỗ lực của chính quyền địa phương;
do vậy, các nhân tố này là đáng tin cậy để đưa vào mô hình nghiên cứu của đề tài
Bảng 2: Tổng hợp các nhân tố tác động tới thu nhập hộ gia đình
trong nghiên cứu
Diện tích đất sử dụng canh
tác
Carletto và ctg (2007), Nguyễn Việt Cường (2008), Mai Văn Nam (2009) +
Số người trong gia đình
tham gia lao động tạo thu
nhập
Nguyễn Quốc Nghi và ctg (2011),
Số người trong gia đình
không tạo ra thu nhập
Galvez và ctg (2011), Nguyễn Quốc
Trang 37Hộ có vay vốn theo nguồn
chính sách hỗ trợ
Nguyễn Quốc Nghi và ctg (2011)
+ Tuổi của chủ hộ Fernandez và ctg (2009), Galvez và ctg
+
Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2021)
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài thì trong nghiên cứu này vẫn tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu từ lược khảo các đề tài nghiên cứu trước đây, nhưng có sự điều chỉnh và bổ sung để phù hợp với địa bàn nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, từ các tài liệu chỉ ra các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp với địa bàn nghiên cứu:
Trang 38Hình 2: mô hình các yếu tố liên quan đến thu nhập của hộ nghèo
Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2021)
Trang 39Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (Ủy ban nhân dân huyện Bù Gia Mập,
Trang thông tin điện tử Huyện Bù Gia Mập, n.d.)
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Bù Gia Mập là một huyện thuộc tỉnh Bình Phước được thành lập vào ngày 11 tháng 8 năm 2009 theo nghị quyết số 35-NQ/CP và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/11/2009 (gồm 18 xã), trên cơ sở phần còn lại của huyện Phước Long cũ, sau khi thành lập thị xã Phước Long Ngày 01/8/2015, một lần nữa huyện Bù Gia Mập được chia tách thành 02 huyện: Bù Gia Mập (gồm 08 xã) và huyện Phú Riềng(gồm 10 xã) theo Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Vị trí địa lý, diện tích dân số:
Huyện Bù Gia Mập gần như bao quanh Thị xã Phước Long, các tuyến đường ĐT chạy qua, cách thị xã Đồng Xoài 65 km, mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện khá hoàn chỉnh nối liền từ trung tâm huyện đến các xã đều được trải nhựa và nối liền với các huyện trong tỉnh Trong đó có một số trục giao thông quan trọng là tỉnh lộ ĐT741 nối liền với trung tâm tỉnh lỵ
- Phía Đông giáp huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông và huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Phía Tây giáp huyện Hớn Quản, huyện Lộc Ninh và huyện Bù Đốp
- Phía Nam giáp huyện Phú Riềng và Thị xã Phước Long
- Phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài hơn 60km
- Huyện có 106.428,15 ha diện tích tự nhiên và dân số trung bình (năm 2020) là 87.233 người (trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 35% dân số toàn huyện) và
có 08 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Đắk Ơ, Bù Gia Mập, Bình Thắng, Đức Hạnh, Phú Văn, Phú Nghĩa, Đa Kia và Phước Minh
Đặc điểm địa hình
Trang 40Huyện Bù Gia Mập có vườn Quốc gia Bù Gia Mập với diện tích rừng và đất rừng khá lớn, khoảng 26.032 ha, địa hình núi thấp có độ cao dưới 1.000m đặc trưng cho sự chuyển tiếp từ vùng Tây Nguyên xuống đồng bằng Nam Bộ
Huyện Bù Gia Mập nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi cao nguyên và vùng đồng bằng, có vị trí chiếm lược vô cùng quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng
Đặc điểm khí hậu – thủy văn
Tỉnh Bình Phước nói chung và huyện Bù Gia Mập nói riêng nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và ổn định từ 25,8 - 26,2C Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, song chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thì khá lớn, khoảng 7 - 9C nhất là vào các tháng mùa khô
Trên địa bàn huyện có Sông Bé chảy qua theo hướng Bắc Nam, lưu vực rộng khoảng 4.000 km2 Với 3 chi lưu chính: Suối Đăk Huýt dài 80 km, Suối Đắk Lung dài 50 km, suối Đắk Lap dài 9 km lưu lượng dòng chảy trung bình đạt khoảng 100m3/s Trên Sông
Bé quy hoạch 4 công trình thủy lợi, thủy điện lớn theo 4 bậc thang: Thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Sóc Phú Miêng, và Phú Hòa
Đất ở huyện Bù Gia Mập chủ yếu là đất đỏ Bazan rất màu mỡ, có khả năng thích nghi đối với nhiều loại cây trồng đặc biệt là các loại cây công nghiệp như: cao su, cà phê, điều và tiêu là vựa cao su, cây điều lớn nhất của tỉnh Bình Phước
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh tác động nhiều mặt của đại dịch covid-19, sản xuất kinh doanh trì trệ, nhiều hoạt động văn hóa, xã hội bị ảnh hưởng; trước tình hình đó, với phương châm thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh Covid-19 vừa phát triển kinh tế -
xã hội UBND huyện với tinh thần chủ động, linh hoạt đã tập trung điều hành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với các giải pháp phù hợp, xây dựng các kịch bẻn điều hành theo từng thời điểm cụ thể nhất là kịch bản thích ứng an toán, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19 nhằm đảm bảo thực hiện phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ