Dựa trên kết quả nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài mối gây hại chính, dựa trên các công nghệ hiện có ở Việt Nam, chúng tôi đã tiếp tục nghiên
Trang 1Bộ Nông nghiệp và PTNT
Viện Khoa học thuỷ Lợi Trung tâm phòng trừ mối và sinh vật có hại
Báo cáo tổng kết Chuyên đề nghiên cứu
Giải pháp xử lý mối hại cây cao su, cà phê,
Ca cao và đập ở các tỉnh Tây Nguyên
Thuộc Đề tài Nghiên cứu phòng trừ mối cho cây công nghiệp
(cà phê cao su) và đập ở các tỉnh Tây Nguyên
Người viết: TS Nguyễn Tân Vương
CN Nguyễn Thúy Hiền
ThS Trần Thu Huyền
7109-2
16/02/2009
Hà nội, 12/2007
Trang 2Giải pháp xử lý mối hại cây cao su, cà phê, Ca cao và đập ở
các tỉnh Tây Nguyên
1 Mở đầu
Tây Nguyên có độ cao phổ biến từ 500m đến 800m, là vùng đất giàu tiềm năng
về nông nghiệp Nhu cầu về nước đối với Tây Nguyên là rất quan trọng Các nghiên cứu trong năm 2006, 2007 cho thấy mối là đối tượng gây hại nghiêm trọng cho đập
hồ chứa nước và các cây trồng ở Tây Nguyên Đối với cây trồng, mối thường gặm vỏ thân cây, rễ cây, cắn gẫy thân cây non Đối với đập, mối làm thành các khoang rỗng trong thân đập, tạo ra các hang giao thông có thể trở thành đường dẫn nước từ thượng lưu sang hạ lưu làm vỡ đập Thành phần loài mối hại đập và cây cà phê, ca cao, cao su tuy giống nhau là đều là các loài mối cấy nấm nhưng đối tượng gây hại chủ yếu lại khác nhau; đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất đối với đập là các loài mối Macrotermes, Odontotermes, còn gây hại nghiêm trọng nhất đới với cây cà phê,
ca cao, cao su lại là loài Microtermes pakistanicus []
Biện pháp xử lý mối hại cây trồng thường sử dụng các loại hóa chất diệt mối Các chủ vườn cà phê, ca cao, cao su thường trộn hóa chất dạng bột vào trong đất xung quanh gốc cây hoặc phun hóa chất dạng lỏng vào gốc cây và thân cây, biện pháp này ít hiệu quả và dễ gây ô nhiễm Đối với mối hại đập, trước kia người ta thường sử dụng hóa chất dạng lỏng để phun vào trong khoang tổ mối, gần đây người ta dùng chế phẩm Metarhizium dạng dịch thể (Metavina 80LS) thay thế hóa chất để phun vào tổ mối giống Thực tế cho thấy Metavina 80LS có hiệu quả Odontotermes nhưng kém hiệu quả đối với dạng tổ nổi của giống Macrotermes
Dựa trên kết quả nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài mối gây hại chính, dựa trên các công nghệ hiện có ở Việt Nam, chúng tôi đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các giải pháp xử lý mối bảo vệ cho đập và cây cà phê, ca cao, cao su ở Tây Nguyên
2 Nguyên liệu và Phương pháp nghiên cứu
2.1 Nguyên liệu
Các loại thuốc phòng trừ mối Termidor 2.5EC, Lentrek 40EC, được mua trên thị trường Việt Nam,
Chế phẩm Metavina 90DP và chế phẩm Metavina 80LS được sản xuất tại Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối (nay là Trung tâm Phòng trừ mối và Sinh vật
có hại)
Nguyên liệu sản xuất bả diệt mối Microtermes pakistanicus được lấy từ công thức bả BDM04, loại bả đang được sử dụng đối với mối Coptotermes tại Trung tâm phòng trừ mối và Sinh vật có hại nhưng có thay đổi loại thức ăn phù hợp với đối tượng cần xử lý
Ni lông dùng để ngăn mối là loại dùng để che phủ luống trồng cây trong nông nghiệp được mua trên thị trường Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu xử lý mối hại cây trồng
Biện pháp phun các chất diệt mối vào gốc cây và thân cây
Trang 3Hiệu quả phòng mối của các biện pháp mà các chủ vườn thực hiện theo hướng dẫn của các nhà nông học được thống kê trên diện tích lớn (1ha) có so đối chứng và được tính toán dựa tỷ lệ cây bị chết
Biện pháp diệt mối bằng cách trộn các chất diệt mối vào đất trồng
Thí nghiệm xử lý phòng trừ mối cho cây trồng được tiến hành bằng các cách khác nhau rồi kiểm tra hiệu quả phòng trừ mối Hiệu quả của các biện pháp xử lý phòng trừ mối cho cây được thử nghiệm trên các lô cây trồng trên nền đất bazan
được kiểm tra bằng cách thống kê tỷ lệ cây chết ở lô thí nghiệm so với tỷ lệ chết của cây ở lô đối chứng Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần có đối chứng
Biện pháp diệt mối Microtermes pakistanicus bằng bả độc
- Nghiên cứu lựa chọn thức ăn phù hợp để chế tạo bả độc: Thức ăn dùng để
chế tạo bả diệt loài Microtermes pakistanicus được nghiên cứu, lựa chọn qua các tài
liệu và quan sát tại thực địa
- Lựa chọn liều lượng hoạt chất gây độc: Liều lượng hoạt chất gây độc cho
Microtermes pakistanicus được sử dụng như là hàm lượng của hoạt chất trong bả
BDM 04 Bả này đã được sử dụng có hiệu quả diệt mối Coptotermes tại Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối từ năm 2005 []
- Bả diệt mối được chế tạo theo công thức của bả BDM04 sử dụng đối với mối Coptotermes tại Trung tâm phòng trừ mối và Sinh vật có hại nhưng có thay đổi loại thức ăn phù hợp với đối tượng cần xử lý
- Hiệu quả diệt mối được đào kiểm tra Các tổ mối được coi là chết khi trong
tổ không còn mối sống hoặc có nấm than mọc trong tổ
- Phân bố của mối được quan sát qua các hố đào ở nền vườn trước khi trồng
và ở lô cà phê trưởng thành
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu xử lý mối hại đập
Biên pháp diệt mối Macrotermes annandalei bằng bả độc
- Xác định xem mối có khai thác bả không: Chọn các tổ mối có kích thước
đường kính tổ mối từ 0,7m đến 1,0m để thử nghiệm Sau đó dùng thuốn sắt tạo 1 lỗ
đi vào khoang chính của tổ mối Cho bả với liều lượng 10g/tổ Sau 2 giờ, 5 giờ đào lên để kiểm tra xem mối có ăn bả không
- Thử khả năng diệt mối của bả độc: Dùng thuốn sắt có đường kính 24mm, tạo 4 lỗ xuyên qua thành tổ vào khoang chính, sau đó cho mỗi lỗ 10g bả Sau 6 ngày
và các khoảng 2 ngày tiếp theo đào kiểm tra xem mối trong tổ có bị tiêu diệt không
- Thử nghiệm xác định liều lượng bả sử dụng phù hợp cho 1 cỡ tổ có kích thước từ 0,7m đến 1,0m đường kính
- Thử nghiệm xác định liều lượng bả sử dụng cho các kích thước tổ khác nhau: Dựa trên liều lượng sử dụng bả đối với cỡ tổ từ 0,7m-1,0m rồi thay đổi lượng bả theo mức độ thay đổi của đường kính tổ Ví dụ, đường kính tổ mối tăng gấp đôi
so với 0,85m thì cho lượng bả tăng gấp đôi so với cỡ tổ 0,7m-1,0m Sau 15 ngày đào kiểm tra
Biện pháp diệt mối Macrotermes annandalei bằng ché phẩm Metavina 80LS
- Lựa chọn các tổ mối có kích thước 0,7-1,0m Dùng đầu bơm thường dùng
phụt thuốc diệt tổ mối Odontotermes (có 1 tia đi theo hướng đi thẳng) phun dịch lỏng có pha 3% chế phẩm Metavina 80LS với liều lượng 100lít/tổ Sau ngày đào
kiểm tra
Trang 4- Lựa chọn các tổ mối có kích thước 0,7-1,0m Dùng đầu bơm có các tia đi theo nhiều hướng phun dịch lỏng có pha 3% chế phẩm Metavina 80LS theo 4 cỡ liều lượng: 25lít/tổ, 50 lít/tổ, 75lít/tổ, 100 lít Sau các khoảng thời gian 5, 10, 15 ngày
đào kiểm tra
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Kết quả nghiên cứu xử lý mối hại cây trồng
3.1.1 Hiệu quả của biện pháp trộn hoá chất vào trong hố đất trồng cây
Thí nghiệm 1
Thí nghiệm được bố trí tại vườn cây trồng cây cà phê, các hố trồng cây có kích thước 45cmx 45cm x 50cm Chọn 3 ô thí nghiệm, mỗi ô 9 cây Sau khi trồng cây, xung quang gốc cây được tưới thuốc Lentrek 40EC với bán kính là 35cm, nồng
độ1,5%, liều lượng là 1,7lít / 1 gốc cây (thí nghiệm lặp lại 3 lần)
Thí nghiệm 2
Thí nghiệm được bố trí tại vườn cây trồng cây cà phê, các hố trồng cây có kích thước 45cmx 45cm x 50cm Chọn 3 ô thí nghiệm, mỗi ô 9 cây Sau khi trồng cây, xung quang gốc cây được tưới thuốc Termidor 2.5EC với bán kính là 35cm,
nồng độ 0,15%, liều lượng là 1,7lít/1 gốc cây (thí nghiệm lặp lại 3 lần)
Bảng 3.1 Kết quả thử nghiệm với Len trek 40EC và Termidor 25EC
nghiệm
Loại thí nghiệm Tỉ lệ chết trung bình của
cây sau 12 tháng (%)
4
Len trek 40EC
Liều lượng 25,5l/ha
8
Termidor 25EC
Liều lượng 2,55l/ha
11
Termidor 25EC
Liều lượng 5,1l/ha
Sau 12 tháng kiểm tra Tỷ lệ chết của cây ở lô thí nghiệm là 0%, trong khi đó
tỷ lệ chết ở lô đối chứng (chỉ tưới nước) dao động trong khoảng 5% Kết quả cho thấy, thuốc Lentrek 40EC có hiệu lực ngăn mối tốt trong giai đoạn kiến thiết cơ bản Với liều lượng này, đối với mật độ cây cà phê với có 1000 gốc cây/ha, thì 1ha cần sử dụng 25,5lít
Đối với thuốc thử nghiệm là Termidor 25 EC, tỷ lệ chết ở lô thí nghiệm là 0%, trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng (chỉ tưới nước) là 5% Kết quả cho thấy,
Trang 5thuốc Termidor có hiệu lực ngăn mối tốt trong giai đoạn kiến thiết cơ bản ưu điểm của loại thuốc này là liều lượng sử dụng rất thấp Với liều lượng này, đối với mật độ cây cà phê với có 1000 gốc cây/ha, thì 1ha cần sử dụng 2,55lít So với phương án sử dụng Lentrek 40EC thì phương án sử dụng Termidor có ưu điểm ở chỗ liều lượng hóa chất sử dụng ít hơn 10 lần, giá thành rẻ gấp hơn 2 lần
3.1.2 Hiệu quả của biện pháp trộn chế phẩm vi nấm vào đất trồng cây
Thí nghiệm 3
Thí nghiệm được bố trí trên 3 ô, mỗi ô 9 cây như thí nghiệm 1, chỉ khác là chế phẩm vi nấm ở dạng bột nên phải trộn khô với đất trước khi đưa vào hố để trồng cây Mỗi hố được trộn 100g chế phẩm Metavina 90DP
Sau 3 tháng kiểm tra Tỷ lệ chết ở các lô thí nghiệm là 18,5% trong khi đó tỷ
lệ chết ở lô đối chứng là 20% Ddieeuf này chứng tỏ tác dụng ngăn mối của hỗn hợp Metavina 90DP với đất kém hiệu quả Trong thí nghiệm này có sử dụng sản phẩm Metavina 90DP là dạng bào tử trần của nấm Metarhizium Sản phẩm này được trộn với cát vàng và cát đen để phòng mối trong công trình xây dựng rất hiệu quả và có kéo dài hiệu lực ngăn mối trên 6 tháng [2], thậm chí 17 tháng (tài liệu chưa công bố) Tuy nhiên, trong thí nghiệm này Metavina 90DP được trộn lẫn với đất bazan nên có thể đây là nguyên nhân gây suy giảm hiệu lực phòng mối của chế phẩm này Mặt khác, hàng rào ngăn mối trong công trình xây dựng được bảo vệ dưới mái che, còn trong điều kiện phơi nắng trực tiếp ở vườn cây, các bào tử ở lớp bề mặt bị tia tử ngoại làm bất hoạt Qua nghiên cứu đặc điểm hang giao thông đi kiếm ăn của mối cho thấy chúng thường nằm ngay dưới mặt đất 1 vài milimet (hình 1) Thực tế cho thấy hiệu lực ngăn mối ở cây trồng là không đáng kể nên mối vẫn xâm nhập vào cây
và gây chết cây với tỷ lệ tương tự như ở ô đối chứng, không nên sử dụng chế chế phẩm này để phòng mối cho cây trồng
Bảng 3.2 Kết quả thử nghiệm với chế phẩm Metavina 90DP trong đất
TT Loại thí nghiệm Tỉ lệ chết trung bình
của cây sau 3 tháng (%)
1 Lô thí nghiệm 1 18 ± 1,5
2 Lô thí nghiệm 2 17 ± 1,7
3 Lô thí nghiệm 3 18 ± 1,2
Hình 1 Hang giao thông đi ăn
của loài Microtermes pakistanicus
chỉ cách mặt đất 0,2-0,5cm
Hang đi ăn
Trang 63.1.3 Hiệu quả của biện pháp dùng các loại hoá chất khác tưới vào gốc cây và thân cây
Biện pháp này được thực hiện như các nông trường viên ở Công ty cà phê Eapok, Công ty Cà phê Tháng 10, Công ty cà phê Krông Ana thường sử dụng Khi trồng, xung quanh gốc cây được rắc thuốc Basudin 10H với liều lượng 5g/hố Tiến hành trên diện tích 1ha thí nghiệm và 1 ha đối chứng
Sau 1 tháng lại lấy Basudin 10H rắc vào gốc cây, sau khi rắc lấy đất xung quanh rắc phủ lên 1cm với liều lượng 1,5g/gốc
Sau đó khoảng 2 tháng một lần sẽ phun Subatox 40EC với liều lượng 0,14 lít/gốc, nồng độ 3% hay Confidor 100LS nồng độ 2%, liều lượng 0,14 lít xung quanh gốc và thân cây
Kết quả kiểm tra sau 5 tháng cho thấy tỷ lệ chết trung bình là 140 cây/ 1017cây (1ha) là 13,7%, còn ở nơi không xử lý là 37% Hiệu quả của biện pháp này thấp, tỷ lệ chết của cây ở lô thí nghiệm tương đối lớn Nguyên nhân gây ra hiệu quả thấp có lẽ là do việc trộn ít thuốc bột ở sát bầu khi trồng và chỉ phun một lượng dịch thuốc nhỏ (0,14lít/ cây) cho mỗi lần nên chỉ tạo ra hàng rào ngăn mối mỏng (theo tiêu chuẩn phòng mối cho công trình xây dựng đòi hỏi chiều dày của hàng rào ngăn mối tối thiểu là 30cm), hơn nữa lại không phải là loại thuốc chuyên dùng để phòng mối nên hiệu quả ngăn mối không cao Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cúu của Võ Chấp khi sử dụng Confidor 100LS, Sago-super 3G Nokaph 10H để phòng mối hại cây ca cao, ngay trong kết quả của Võ Chấp đã cho thấy ngay sau 7 ngày tưới thuốc thì mối đã có mặt ở dưới đất quanh gốc cây tuy tỷ lệ thấp hơn so với đối chứng[1] Vơi kết quả này cho thấy, nếu sử dụng hóa chất thì phải tuân thủ nồng độ
và liều lượng, Phương pháp dùng thuốc nước sẽ có ưu điểm nhất vì thuốc có thể pha vào nước tưới sau khi trồng, dễ dàng phân bố thuốc đều trong đất
3.1.4 Nghiên cứu biện pháp diệt mối bằng bả
Thức ăn của các loài mối gây hại cây
Theo kết quả đã công bố, thành phần loài mối hại cây ca cao, cây cà phê, cao
su ở Tây Nguyên chủ yếu là các loài Microtermes pakistanicus, Odototermes
ceylonicus, Odototermes angustignathus, Odototermes oblongatus và Macrotermes gilvus [] 5 loài này đều thuộc phân họ Macrotermitinae Qua khảo sát trên hiện
trường cho thấy thức ăn phổ biến của các loài này là các sản phẩm thực vật rơi rụng trong vườn cây, các phần tế bào chết trên thân cây và các phần tế bào sống của thân cây Trong các sản phẩm mô chết của thực vật, điều dễ nhận thấy là mối ưa thích khai thác các loại cành cây, lá cây đã ải, chúng thường khai thác phần đã ải bên ngoài của các cành cây, khai thác lá cây ải và để lại các phần gỗ cứng và lá mới rụng Trong tổ, mối luôn xây dựng vườn nấm bên trên để phân huỷ một phần rồi ăn phần vườn nấm đã chín ở phía dưới tức là phần thức ăn đã được phân huỷ một phần
do nấm Như vậy loài này thích loại thức ăn từ thực vật đã bị phân hủy một phần Do
đó, chúng tôi lựa chọn thức ăn dùng để chế tạo bả diệt Macrotermitinae là bột của các loại gỗ mục như bạch đàn, trám trắng (phần gỗ có thể bóp vụn được)
Chế tạo bả
Bả diệt Macrotermitinae BDM 08 được chế tạo như bả BDM 04 bằng cách
trộn 3% hoạt chất BDM 04 với 50% chất nền, rồi bổ sung bột gỗ mục với tỷ lệ 45% Sau đó cán mỏng, cắt thành các thanh nhỏ, sấy khô, đóng gói vào 2 lớp túi ni lông
để bảo quản trong tủ lạnh 50C (xem hình 2)
Trang 7Phân bố của mối
Trên bề mặt của vườn cây, hãn hữu mới thấy sự xuất hiện của các tổ mối nổi,
kể cả tổ mối của loài thường làm tổ nổi là Macrotermes gilvus và Macotermes
annandalei, nhưng có rất nhiều dấu hiệu hoạt động của chúng trên thân cây, trên
thảm bổi của vườn cây Như vậy, mối trong vườn cây chủ yếu ở dạng tổ chìm Qua quan sát các hố đào để trồng cây chúng tôi thấy rất nhiều hố có gặp các vườn nấm
của các loài Microtermes pakistanicus, Odototermes angustignthus, hãn hữu gặp khoang tổ của loài Macrotermes gilvus Khoang tổ nông nhất mà chúng tôi đã gặp ở
chiều sâu 5cm Điều đó chứng tỏ trong vườn trồng cây mối thường cư trú dưới lòng
đất Tại các vườn cà phê kinh doanh, quanh gốc cà phê, trong các hố để giữ nước cho thấy bên dưới không có khoang tổ mối, các khoang tổ chỉ có ở dải đất giữa các cây cà phê Dựa trên kết quả này, chúng tôi chỉ đặt các trạm nhử mối ở dải đất nổi nằm giữa các cây cà phê
Khả năng nhử mối để đánh bả
Từ trước tới nay, việc nhử mối để tiến hành phun thuốc lây nhiễm hoặc đánh bả thường chỉ thực hiện thành công đối với các loài mối gỗ ẩm (Coptotermes) Tuy nhiên, để có thể tiến hành xử lý các loài mối Macrotermitinae bằng bả chúng tôi đã tiến hành thử các biện pháp nhử mối
Sử dụng các sản phẩm là thân cây điền thanh, cành cây điền thanh, thân cây muồng đen, thân cây muồng vàng, cành cây cao su (các loại sản phẩm phổ biến trong khu vực trồng cà phê và ca cao, cao su), tất cả được cắt thành các đoạn dài 30cm Bố trí thí nghiệm như sau:
Giữa các hàng cây, tại điểm thẳng với 2 cây ở 2 hàng đặt các mồi nhử mối, mồi nhử gồm 6 loại thức ăn xếp xen kẽ nhau (hình 3), gồm:
Loại 1 là đoạn điền thanh có đường kính 3 đến 4cm cắm đứng ứng sâu 10cm, Loại 2 là 1 đoạn điền thanh có đường kính 3 đến 4cm đặt nằm,
Loại 3 là bó cành điền thanh đặt nằm có đường kính 8cm,
Loại 4 là bó cành muồng đen đặt nằm có đường kính 8cm,
Loại 5 là bó muồng vàng đặt nằm có đường kính 8cm,
Loại 6 là bó cành cây cao su đặt nằm có đường kính 8cm
Hình 2 Bả diệt mối BDM08 trong túi bảo quản và các thanh rời
Trang 8Mỗi loại gồm 20 đơn vị Sau 3 ngày đến quan sát mức độ mối xâm nhập của mối vào các mồi nhử Kết quả thể hiện trên bảng 1 Cũng trong thí nghiệm này, chúng tôi đã thử nhấc các mồi nhử lên để kiểm tra mức độ ổn định của mối ở nguồn thức ăn như khi đánh bả (đưa bả vào nơi mối đang khai thác thức ăn) Sau 30 phút quay lại kiểm tra cho thấy, tỷ lệ mối còn lại ở nguồn thức ăn cắm đứng là cao nhất là 52% (bảng 1)
Bảng 3.3 Tỷ lệ mối xâm nhập và mức độ ổn định của mối ở các nguồn thức
ăn khác nhau Loại thức ăn Loại 1 Loại 2 Loại 3 Loại 4 Loại 5 Loại 6
Tỷ lệ có mối đến
ăn (%)
55 50 59 55 60 60
Tỷ lệ còn mối
(%)
52 8 8 10 14 15
Dựa trên kết quả trên, chúng tôi sử dụng gỗ cây cao su là loại sản phẩm phụ sẵn có trong khu vực nghiên cứu và ở Tây Nguyên Để không làm xáo trộn khi đánh bả, phương án đặt bả được lựa chọn là phương án chôn mồi nhử thẳng đứng Do mối
có các đường đi ăn ở độ sâu 0,2 đến 20cm nên chúng tôi lựa chọn cách chôn mồi nhử từ 10-15cm
Hiệu quả diệt mối của biện pháp bả
Để thử hiệu quả diệt mối của bả diệt mối chúng tôi chọn các ô thí nghiệm
rộng 2.000m2 (3 ô TN, 3 ĐC)
Để thử hiệu quả diệt mối của bả diệt mối chúng tôi chọn các ô thí nghiệm rộng 2000m2 Xung quanh lô cây trồng được đào rãnh sâu 50cm sau đó dùng ni lông dạng ống dựng thành tường ngăn cao hơn mặt đất 5cm Bên trong ô được đánh bả Các mồi nhử bằng bó chặt 3 mẩu gỗ cao su có chiều dài 15cm-20cm, bó gỗ được chôn thẳng đứng sâu từ 10 đến 15cm ở giữa các hàng cây Sau khoảng 3 ngày đến kiểm tra Tại các mồi nhử mà mối đã ăn lên phía trên mẩu gỗ cao su thì đưa bả vào nơi mối đang ăn từ 1 đến 3 thanh bả (mỗi thanh nặng khoảng 1g) vào phần khe rỗng
do mối tạo ra giữ đất và các thanh gỗ Kết quả cho thấy mối có ăn bả, nhiều điểm mối ăn gần hết hoặc hết bả và nhiều điểm thấy hết mối Còn những nơi không đánh bả thì mối vẫn còn và ăn gỗ mạnh hơn Việc đánh bả được tiến hành nhiều đợt sau các khoảng thời gian 1 tuần Các loài mối đến ăn gỗ ở mồi nhử và bả là
Microtermes pakistanicus, Odontotermes sp Macrotermes gilvus Tuy nhiên, qua
Hình 3 Bó cành điền thanh được sử dụng làm mồi nhử đang bị mối tấn
công
Vết mối đắp
Trang 9thử nghiệm cho thấy có nhiều điểm mối khai thác rất ít, mối thường chỉ ăn trên diện tích nhỏ và bả nhanh chóng bị mốc sau 1 đến 2 ngày, lượng bả do mối khai thác trung bình từ 0,3 thanh/ mồi nhử Nguyên nhân mối khai thác ít bả có lẽ là do khi
đưa bả vào trong đất, bả bị đất tiếp xúc làm cản trở mối tiếp xúc và khai thác bả
Dựa trên đặc điểm mối cần đắp kín để bảo vệ khu vực khai thác thức ăn, không gian khai thác bả được tạo ra bằng cách bó chặt 2 mẩu gỗ cao su với 1 ống tre nhỏ có đường kính lỗ rỗng bên trong từ 1cm-1,5cm Khi mối đắp kín miệng ống tre thì tiến hành cho 3 thanh bả (hình 5) Kết quả cho thấy mối thường ăn hết từ 1,5-3 thanh bả trong 1 ống tre, lớn hơn nhiều lần so với phương án sử dụng mồi nhử không
có ống tre Sau 1 tuần cho bả, kiểm tra tình hình mối hoạt động trong ống tre, nếu mối ăn hết bả hoặc còn bả và mối vẫn hoạt động thì gắp bỏ bả cũ bổ xung thêm 2
đến 3 thanh bả Sau 7 tháng xử lý, thống kê cho biết không thấy hiện tượng cây chết
do mối ở lô thí nghiệm, còn tỷ lệ chết ở lô đối chứng là 5% Kết quả cho thấy phương án đặt mồi nhử mối gồm gỗ 2 mẩu gỗ cao su và 1 ống tre có ưu hiệu quả hơn phương án dùng mồi nhử là bó 3 mẩu gỗ cao su
Bảng 3.4 Hiệu quả diệt mối của biện pháp bả
TT Lô thử nghiệm Tỉ lệ chết TB của cây (%)
3.2 Kết quả nghiên cứu xử lý mối hại đập
3.2.1 Xử lý mối Macrotermes annadalei bằng bả độc
3.2.1.1 Thử nghiệm khả năng diệt mối Macrotermes annandalei của bả độc
Thử khả năng mối khai thác bả độc
Chọn 3 tổ mối có kích thước đường kính tổ mối từ 0,7m đến 1,0m để thí nghiệm Trên mỗi tổ, đục 1 lỗ vào khoang tổ, sau đó bỏ vào đáy lỗ 5 thanh bả (5g) rồi lấy đất bịt lại Sau các khoảng 2h, 4h, 6h đào kiểm ttra xem mức độ mối khai
Hình 5 Mồi nhử có ống tre đã được mối vít kín
miệng
Gỗ cao
su
Nơi cho bả
Trang 10thác bả Kết quả cho thấy sau 2 giờ mối đã đang khai thác bả, sau 6 giờ mối đã ăn hết 0,5g bả Điều đó chứng tỏ bả độc được mối khai thác rất mạnh
Thử khả năng diệt mối của bả độc
Chọn 5 tổ mối có kích thước đường kính tổ mối từ 0,7m đến 1,0m để thí nghiệm Dùng thuốn sắt có đường kính 24mm, tạo 4 lỗ xuyên qua thành tổ vào khoang chính, sau đó cho mỗi lỗ 10g bả rồi lấy đất bịt lại Sau 6 ngày và các khoảng
2 ngày tiếp theo đào kiểm tra xem mối trong tổ có bị tiêu diệt không
Kết quả cho thấy, 6 ngày đầu đàn mối vẫn khỏe mạnh, ngày thứ 8 mối có yếu
đi, ngày thứ 12 thì cả 2 tổ cuối cùng đều bị tiêu diệt Điều đó chứng tỏ bả BDM 08
có thể diệt chết đàn mối Macrotermes annandalei sau 10-12 ngày cho bả
Xác định liều lượng bả sử dụng phù hợp cho các tổ có kích thước từ 0,7m đến 1,0m
đường kính
Lựa chọn ngẫu nhiên 18 tổ mối có kích thước đường kính từ 0,7m đến 1,0m Xếp thành 6 nhóm, mỗi nhóm 3 tổ Dùng thuốn sắt có đường kính 24mm, tạo 4 lỗ xuyên qua thành tổ vào khoang chính, sau đó cho đều bả vào 4 lỗ rồi lấy đất bịt lại Liều lượng bả cho vào các tổ là10g,15g 20g, 30g, 40g, 50g Sau 15 ngày cho bả, tổ mối được đào để kiểm tra mức độ sống sót của tổ mối Kết quả thể hiện trên bảng 1
Kết quả bảng 1 cho thấy, ở các liều lượng nhỏ hơn 20g bả/ tổ đối với các tổ
cỡ 0,7m-1,0m đường kính chưa đạt hiệu quả diệt mối 100% sau 15 ngày Liều lượng bả ≥ 30g/tổ với cỡ tổ 0,7m-1,0m đường kính đạt hiệu quả diệt mối 100%
Xác định liều lượng bả sử dụng cho các kích thước tổ khác nhau
Chúng tôi lựa chọn 5 cỡ đường kính tổ mối (D): D1 ≤ 0,3m, 0,7m > D2 > 0,3m; 1,0m ≥ D3 > 0,7m; 1,5m ≥ D4 >1,0m; D 5 > 1,5m để đưa vào làm thí nghiệm Từ liều lượng bả đã xác định cho cỡ tổ có đường kính 0,7m- 1,0m, các liều lượng đã được tăng giảm theo đường kính tổ Sau khi cho bả 15 ngày, tổ mối đã
được đào kiểm tra Kết quả được trình bày trên bảng 2
Bảng 3.5 Hiệu lực diệt mối của bả BDM08 đối với các tổ Macrotermes
annandalei có đường kính tổ từ 0,7m đến 1m
TT Lượng bả (g) Số tổ TN Tình trạng tổ mối
1 10 3 3 tổ vẫn sống, còn ít cá thể mối
3 20 3 1 tổ chết, 2 tổ hoạt động yếu
4 30 3 3 tổ chết, trong tổ có nấm khuẩn than mọc
5 40 3 3 tổ chết, trong tổ có nấm khuẩn than mọc
6 50 3 3 tổ chết, trong tổ có nấm khuẩn than mọc
Bảng 3.6 Hiệu lực diệt mối của bả BDM08 với các cỡ tổ khác nhau
TT Cỡ đường
kính tổ (m)
Số tổ thử nghiệm
Lượng bả
(g)
Tình trạng tổ mối